Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2017
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 9
 Lượt truy cập: 8361808

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 25.06.2017 10:30
Việt Nam Cộng Hòa và những định mệnh xui xẻo
29.04.2017 10:52

TS Nguyễn Tiến Hưng
Cựu Tổng trưởng VNCH, từ Virginia, Hoa Kỳ
Nhìn lại lịch sử, chúng tôi thấy câu ngạn ngữ "hoạ vô đơn chí, phúc bất trùng lai" sao nó đúng quá: tai bay vạ gió thì luôn theo nhau mà đến với Việt Nam Cộng Hòa, còn những cái may mắn thì ít khi nó trở lại.

Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa Đại Hàn Lý Thừa Vãn và Tổng thống Đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm vào năm 1958Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Đệ nhất Cộng hòa Đại Hàn Lý Thừa Vãn và Tổng thống Đệ nhất VNCH Ngô Đình Diệm vào năm 1958

Thời Tổng thống Ngô Đình Diệm: sau bao nhiêu gian lao với Pháp, ông đã khai sinh ra nền Cộng Hòa.

Sau đó xây dựng được những thành tích vẻ vang của "Năm Năm Vàng Son 1955-1960," (độc giả xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 13). Nhưng vừa tới năm 1961 thì ông phải đối đầu ngay với những giao động khôn lường: nửa năm đầu thì Tổng thống John F. Kennedy hết sức ủng hộ, tới nửa năm sau, bang giao Việt - Mỹ rơi vào khủng hoảng.

Sau cùng thì trong bối cảnh dầu sôi lửa bỏng vào dịp Lễ Phật Đản thứ 2507 (ngày 8/5/1963), TT Kennedy gửi ông Henry Cabot Lodge sang làm Đại sứ thay thế ĐS Frederick Nolting về hưu.

"Năm năm vàng son" của Việt Nam Cộng Hòa

Tổng thống Diệm: Độc tài hay nhân trị?

Tháng Tư những mất và còn

Nolting là người ủng hộ ông Diệm. Ông Lodge là người mưu mô, nham hiểm, có nhiều thành kiến về ông Diệm. Vì tham vọng muốn lập thành tích để ra ứng cứ tổng thống vào năm 1964 cho nên ông đã dùng đủ mọi mưu lược triệt tiêu Tổng thống Diệm với hậu quả là phá nát nền Đệ Nhất Cộng Hòa mùa Thu 1963. Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY I.

Tới Đệ Nhị Cộng Hòa, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lại gặp ngay một tay HENRY nữa - Henry A. Kissinger. Về ông này, ta có thể đặt câu hỏi: ở một cường quốc vĩ đại như Hoa Kỳ, biết bao nhiêu người vừa tài, vừa đức, vừa có tâm, vừa có tầm mà lại không lên được tới địa vị quyền hành như ông Kissinger?

Ông này còn mưu lược, gian dối hơn Cabot Lodge gấp mấy lần. Kissinger đã đạo diễn chính sách của Hoa Kỳ về Việt Nam trong gần sáu năm rưỡi, tức là trên hai phần ba thời gian của Đệ Nhị Cộng Hòa.

Cái nguy hiểm cho cả Mỹ lẫn Miền Nam là ông này thích hành động bí mật và một mình.

Giá trị tinh thần lập hiến Việt Nam Cộng Hòa

USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

'Hòa giải phải trên cơ sở của sự thật'

Trong một cuộc phỏng vấn với nữ ký giả người Ý, bà Oriana Fallaci, ông giải thích rằng sở dĩ ông có sức mạnh là nhờ ở lối hành động một mình:

"Điểm chính là lúc nào tôi cũng hành động một mình. Người Mỹ thích cái đó vô cùng. Người Mỹ thích hình ảnh một gã chăn bò dẫn đầu một toán di dân, một mình trên lưng ngựa, đi đầu, thủng thẳng tiến vào một tỉnh lỵ, một thị xã; chỉ mình với ngựa thôi, không có gì khác. Có thể là không có cả súng nữa, là vì gã ta không cần bắn. Gã chỉ hành động bằng cách là ở đúng chỗ, vào đúng lúc, thế thôi. Nói gọn hơn, gã là một cao bồi miền Tây."

Tôi gọi ông này là Đao phủ HENRY II.

Nhân dịp 30 tháng Tư, chúng tôi xin chia sẻ với đồng hương một vài cảm nghĩ về số phận long đong của cả hai nền Cộng Hòa vào lúc hoàng hôn thê lương ảm đạm.

Khi Đệ Nhất Cộng Hòa sụp đổ

Những cái xui xẻo đã xảy ra liên tục cho Tổng thống Ngô Đình Diệm trong ba ngày cuối cùng của cuộc đời ông (xem Khi Đồng Minh Nhảy Vào, Chương 22).

Ngày 3/03/1963 Tòa Bạch Ốc gửi mật điện chỉ thị cho Đại sứ Lodge là: "phải thông báo đầy đủ cho Tướng Harkins (tư lệnh quân đội Mỹ ở Miền Nam) trong mọi giai đoạn, và sử dụng những khuyến cáo của cả Harkins lẫn Smith," và "tất cả chỉ thị cho Conein (người trung gian với nhóm tướng lãnh đảo chính) cũng phải được thông qua ý kiến của Harkins và Smith." Nhưng vào những giờ phút chót, ông Lodge đã trái lệnh Tổng thống, không chịu bàn bạc, thông báo gì với ông Harkins (vì Harkins hết sức bênh vực TT Diệm);

Cố vấn Ngô Đình Nhu, người bị sát hại cùng anh ông, Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa năm 1963Bản quyền hình ảnhYOUTUBE
Image captionCố vấn Ngô Đình Nhu, người bị sát hại cùng anh ông, Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa năm 1963

Cùng ngày 30/03, Đại sứ Lodge hoãn chuyến đi Washington. Ông đã định đi vào ngày 31 tháng 10. Chỉ thị từ Washington là khi ông Lodge đi vắng thì Tướng Harkins sẽ thay thế ông để điều khiển ở Sàigòn. Nếu ông Harkins ở lại thì khó có thể đảo chính. Sau cùng, Washington lại quyết định cho phép ông Lodge hoãn chuyến đi vài ngày. Lodge muốn ở lại Sàigòn để theo rõi đảo chính ngày hôm sau.

Ngày 31 tháng 10 là ngày trước đảo chính. Vì ngày đảo chính (mồng 1 tháng 11) là ngày Lễ Các Thánh, ngày lễ của người Công giáo, nên ông Diệm có thể đi kinh lý hoặc thăm viếng chỗ này chỗ kia. Cho nên Tướng Trần Văn Đôn đề nghị với TT Diệm là ông nên tiếp xã giao Đô đốc Harry Felt (Tư lệnh quân lực Mỹ Thái Bình Dương) vừa tới Sàigòn. Đề nghị như vậy là để có cớ thuyết phục TT Diệm ở lại Dinh Gia Long trong ngày đảo chính cho chắc ăn.

Chính ông Đôn đã viết lại trong cuốn hồi ký Our Endless War - Inside Vietnam:

"Sáng ngày 31 tháng 10, tôi vào dinh gặp Tổng thống Diệm để hỏi về vấn đề Đô đốc Felt đến Sàigòn, và dò hỏi xem có phải vì ông không có mặt ở Sàigòn vào ngày mai nên không tiếp ông Felt được hay không? Ông Diệm ngạc nhiên vì không biết tin ông Felt tới Sàigòn."

Vì Tướng Đôn đề nghị, TT Diệm đã quyết định ở lại Sài gòn để tiếp Đô đốc Felt vào ngày 1/11.

Buổi sáng ngày 1 tháng 11, khi TT Diệm tiếp hai ông Felt và Lodge, ông bất chợt hỏi ông Lodge rằng ông biết đang có âm mưu đảo chính nhưng không biết rõ tướng tá nào muốn đảo chính. Ông Lodge trả lời một cách quanh co: "Tôi không nghĩ rằng Tổng thống phải lo ngại gì cả." Như vậy là để đánh lừa ông Diệm;

Một chuyện nữa hết sức quan trọng, đó là cuối cùng, như đã đề cập trên đây, Tổng thống Diệm đã muốn làm một nghĩa cử ôn hòa với cả Đại sứ Lodge, cả Tổng thống Hoa kỳ. Vì biết ông Lodge sắp lên đường về Washington, ông dặn ông Lodge là khi về tới Washington thì nên gặp hai ông Colby (trưởng trạm CIA ở Sàigòn trước đây) và Nolting (cựu Đại sứ) để bàn bạc về vấn đề giải quyết chuyện ông Nhu cho ổn thỏa.

Rồi ông gửi một thông điệp cho TT Kennedy nói:

"Tôi bằng lòng chấp nhận tất cả những đề nghị của Tổng thống Kennedy một cách hết sức nghiêm chỉnh, và muốn thực sự thi hành những điều này, chỉ còn vấn đề thời gian tính."

Tổng thống JF Kennedy bị ám sát ngày 22/11 cũng trong năm 1963Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống JF Kennedy bị ám sát ngày 22/11 cũng trong năm 1963 ở Dallas

Chắc ông Lodge cũng còn một chút lương tâm và cho rằng như vậy là đã có thể đi tới chỗ hòa hoãn với ông Diệm được rồi, nên ông có báo cáo về Washington thông điệp này.

Thế nhưng, vô tình hay hữu ý, theo Mark Moyar thì ông Lodge lại gửi điện tín này theo thủ tục 'ưu tiên thấp nhất' nên khi thông điệp này tới Washington thì tiếng súng đã bắt đầu nổ ở Sàigòn rồi. Theo một tác giả khác, James W. Douglas trong cuốn JFK and The Unspeakable thì Lodge đã trì hoãn để khi Kennedy nhận được điện tín này thì đã quá trễ.

Ngày 1 tháng 11 cũng là ngày sinh nhật của Đại tá Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân, là người trung thành với TT Diệm và đã cứu ông trong dịp đảo chính tháng 2 năm 1962.

Sau khi chơi quần vợt với một số đồng đội, họ mời ông dùng cơm trưa để mừng sinh nhật thứ 36 của ông. Thoạt đầu, ông đã từ chối. Buổi sáng hôm ấy, ông cũng đã chột dạ vì thấy có những cuộc chuyển quân hơi lạ nên muốn theo dõi để báo cáo cho ông Diệm. Nhưng rồi viên sĩ quan phụ tá cố nài ép nên ông nể lòng. Lúc đang trên đường đi tới một quán nhậu ở ngoại ô Sàigòn, ông đã bị sát hại. Như vậy là ông Quyền đã đi trước và dọn đường tới nghĩa trang cho hai ông Diệm-Nhu.

Theo tác giả Mark Moyar (trong cuốn Triumph Forsaken) thì "khi cuộc đảo chính sắp bắt đầu, một viên sĩ quan chỉ huy lữ đoàn Lực lượng Đặc biệt đề nghị với Tổng thống Diệm cho ông dùng xe thiết giáp tấn công tổng hành dinh của nhóm đảo chính để bắt trọn ổ số Tướng lãnh đang họp hành. Thành công là chắc chắn, viên sĩ quan cố thuyết phục ông Diệm, vì chỉ có một số lính đang tập sự đứng gác ở Tổng Tham Mưu, và đúng như vậy.

Tháng Tư những mất và còn

Lệnh rút khỏi Huế của Tổng thống Thiệu

Lịch sử có nợ gì Tướng Dương Văn Minh?

Nếu những tướng chủ mưu bị bắt thì quân đội đảo chính tất sẽ bị rối loạn.

Nhưng TT Diệm không cho phép, ông nói: "Quân đội phải tiết kiệm súng đạn để chống Cộng, và tránh đổ máu," rồi thêm: "Chỉ cần bảo vệ Dinh Gia Long, nhà Bưu điện và Tổng Nha Ngân khố."

GS Nguyễn Tiến Hưng gọi ông Henry Kissinger (bìa trái hình) là Đao phủ Henry IIBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionGS Nguyễn Tiến Hưng gọi ông Henry Kissinger (bìa trái hình) là Đao phủ Henry II

Như đề cập trên đây, sau khi tiếng súng đảo chính đã vang dội, Tổng thống Diệm gọi giây nói cho Đại sứ Lodge vào lúc 4 giờ 30 chiều (ngày 1 tháng 11) để hỏi về thái độ của Hoa kỳ. Ông Lodge trả lời lơ mơ là ông không biết gì để nói nhưng có đề nghị với ông Diệm là sẽ cho xe cắm cờ Mỹ đến Dinh Gia Long đưa ông Diệm ra phi trường, rồi dùng máy bay riêng của đại sứ để chở ông ra khỏi nước, nhưng TT Diệm từ chối. Nhưng trái với điều mà nhiều tác giả đã viết, cuộc điện đàm này không phải là trao đổi cuối cùng giữa hai người. Vẫn còn một cú điện thoại khác nữa.

Cú điện thoại thứ hai là lúc ở tại nhà thờ Cha Tam, ông Diệm đã gọi ông Lodge để yêu cầu giúp đỡ phương tiện để ra đi, vì ông Lodge đã hứa rằng "Nếu tôi có thể làm được gì để giúp cho an toàn của Ngài thì Ngài cứ gọi tôi." Nhưng bây giờ ông Lodge lại trả lời là Tòa Đại sứ Mỹ chỉ có thể cho ông trú ẩn và bất cứ điều gì khác, nhưng không thể giúp phương tiện chuyên chở ông ra khỏi nước. Như vậy là trái hẳn với đề nghị của ông Lodge chiều hôm trước. Ông Mike Dunn, Phụ tá trưởng của đại sứ - là người đứng bên ông Lodge khi ông này nói diện thoại với ông Diệm - đã xin tự nguyện đến chở hai ông Diệm, Nhu đi để bảo vệ cho hai ông, nhưng ông Lodge đã không đồng ý! "Tôi thật ngạc nhiên là ta đã không làm gì để giúp cho hai anh em họ Ngô," ông Dunn phàn nàn.

Một nhân chứng nữa cũng khẳng định về việc này là nhà báo Joseph Fried của tờ New York Daily News trong một báo cáo vào ngày 5 tháng 11, 1963.

Sau khi ông Lodge từ chối giúp đỡ, Tổng thống Diệm hoàn toàn thất vọng, khoảng 7 giờ sáng ngày mồng 2 ông quyết định gọi điện thoại cho Bộ Chỉ huy Đảo Chánh thông báo là ông đã ra lệnh cho lính phòng vệ Phủ tổng thống ngưng bắn và ông đầu hàng vô điều kiện.

Đây là một việc không may mắn nhất cho TT Diệm vì cho tới ngày đảo chính, nhóm tướng lãnh vẫn còn nghi ngờ nhau, chưa có sự tin tưởng và đồng ý hoàn toàn. Chính TT Thiệu đã kể lại (với Phụ Tá Nguyễn Văn Ngân) là "nếu ông Diệm và ông Nhu không ra trình diện (gọi điện thoại) vào sáng ngày 2 tháng 11, chỉ cần nán lại tới trưa cùng ngày thì các tướng lãnh sẽ lên máy bay chạy hết vì lo sợ và nghi ngờ lẫn nhau" là đã mắc mưu ông Nhu.

Trước đó, trong giai đoạn chuẩn bị đảo chính, Tướng Paul Harkins, Tư lệnh Mỹ ở Việt Nam cũng báo cáo về cho tướng Maxwell Taylor, Chủ tịch Tham Mưu Liên Quân về nhóm tướng lãnh:

Bà Nhu, Trần Lệ Xuân cùng con gái trong một chuyến công du nước ngoàiBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionBà Nhu, Trần Lệ Xuân cùng con gái trong một chuyến công du nước ngoài

"Tôi thấy chúng ta có một tổ chức của nhóm người thật hoang mang trong đó mọi người nghi ngờ mọi người khác."

Các tướng lãnh yêu cầu Conein sắp xếp máy bay, nhưng CIA trả lời là cần 24 giờ thì mới thu xếp được, nhưng thật ra là đã có sẵn một chiếc máy bay ở Sàigòn để chở Đại sứ Lodge về Washington và ông này đã hoãn chuyến đi. Dù sao, khi nghe thấy nói đến 24 giờ, Tướng Minh gắt lên "Chúng tôi không giữ họ lâu thêm được nữa."

Sau này, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu (lúc đó là Đại tá) còn kể lại với chúng tôi rằng:

"Khi được lệnh đánh Dinh Gia Long, ông đã có ý định tìm TT Diệm và mời ông lên xe jeep mở mui để về Bộ TTM rồi đưa ông đi ra ngoại quốc, nhưng khi chiếm Dinh xong thì thấy ông Diệm đã đi rồi. Ông Thiệu thêm: "Nếu như TT Diệm đi xe jeep mui trần như vậy thì không ai dám sát hại ông..."

Đến khi ông Thiệu được tin TT Diệm gọi điện thoại về Bộ Tổng Tham Mưu, ông còn đề nghị với Tướng Minh để cho ông đi đón TT Diệm từ nhà thờ Cha Tam, nhưng ông Minh gạt đi và nói "Khỏi phải lo, đã có người rồi."

Bất hạnh cuối cùng của Đệ Nhị Cộng Hòa

Tháng 2/1972, TT Nixon đi Bắc Kinh gặp Chủ tịch Mao. Dịp này ông đã đảo ngược "chính sách ngăn chặn Trung Quốc" (containment of China). Khi mở cửa Bắc Kinh thì ông đóng cửa Sàigòn, và khi bắt tay với ông Mao thì buông ngay tay ông Thiệu (như chúng tôi đã viết trong cuốn Tâm Tư Tổng Thống Thiệu).

Sau đó Nixon - Kissinger áp lực Miền Nam ký Hiệp Định Paris (1/1973). Từ đó những cái xui xui xẻo tới dồn dập:

Ngược lại với những cam kết của TT Nixon là sẽ tiếp tục viện trợ, VNCH vừa ký kết một hiệp định hết sức bất lợi thì lại bị cắt xén viện trợ thật bất ngờ và thật nhanh;

Còn được chút ít viện trợ thì lại bị ngay cú 'sốc' siêu lạm phát (do chiến tranh Israel - Ai Cập vào tháng 10/1973) làm tiêu hao mãi lực của viện trợ. Một thùng dầu thô đang từ 4USD vọt lên 12 USD.

Tới khi viên trợ bị cắt hết, Miền Nam xoay xở đi vay Quốc Vương xứ Saudi để mua tiếp liệu. Vua Saud al Faisal vừa đồng ý cho vay 300 triệu USD thì lại bị người cháu ruột hạ sát thê thảm ngay trong hoàng cung. Ông nằm xuống vào đúng ngày cố đô Huế bị bỏ ngỏ.

Tổng thống Johnson và Tổng thống ThiệuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Johnson và Tổng thống Thiệu tại hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Việt 20/07/1968 ở Honolulu

Trên chiến trường, lúc bị tấn công, Ban Mê Thuột gọi không quân đến yểm trợ. Phi vụ vừa tới thả bom thì một trái rơi trúng ngay Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23;

Mất Ban Mê Thuột, có lệnh rút Pleiku. Ngày 18 tháng 3, quân dân hoảng hốt rút trên con đường 7B đẫm máu. Vừa về tới Phú Bổn thì bị kẹt ngay vì công binh chưa làm xong cây cầu nổi như đã dự tính: đoàn người di tản chịu thêm một trận pháo kích bên bờ sông Ea Pha. Sau này Tổng Thống Thiệu kể lại cho tôi rằng ông vẫn còn thắc mắc về chuyện tại sao Công Binh không làm xong cái cầu nổi? Đại tướng Viên cũng cho rằng "Sư đoàn 320 của cộng sản sẽ không bao giờ truy kích kịp đoàn quân nếu chúng ta có được cầu qua sông thiết lập đúng lúc, và giữ đuợc trật tự trong đoàn dân quân di tản." Vì cầu không xong, cho nên:

Hai ngày sau mới rời đuợc Hậu Bổn. Đoàn dân quân vừa tiến được chừng 20 cây số là khựng ngay, vì "trước mặt đoàn di tản là Phú Túc đả bị địch chiếm."

Khi không quân tới cứu,"một trái bom nữa rơi vào đoàn quân đi đầu, gây thương vong cho gần một tiểu đoàn Biệt Động Quân."

Tôi đang dự một buổi họp đầy căng thẳng tại Dinh Độc Lập sau cuộc rút lui thảm hại này thì Đại Tá Cầm (Chánh Văn phòng Tổng Thống) bước vào đưa một tin bất hạnh: ông Paul Léandri, trưởng phòng thông tấn xã Agence France Presse ở Sàigòn bị cảnh sát bắn chết.

Léandri loan tin "có số lính người Thượng (Montagnards) đã nổi loạn ở Hậu Bổn, chống lại quân đội VNCH'. Nha Cảnh Sát mời ông đến để thẩm vấn. Sau vài tiếng đồng hồ bị giữ lại, Leandri bỗng nhiên bước ra khỏi phòng, nhảy lên xe và lái vút đi. Khi cảnh sát huýt còi ngừng, ông cứ tiếp tục phóng. Cảnh sát rút súng bắn vài phát vào bánh xe để giữ lại. Chẳng may một viên đạn lạc trúng ngay vao người. Leandri gục chết tại chỗ.

Phóng viên ngoại quốc vô cùng phẫn uất, phản kháng kịch liệt. Trong một tình hình vô cùng bất lợi cho Miền Nam về tất cả mọi phương diện quân sự, chính trị, kinh tế, và bộ mặt Miền Nam đã bị bôi nhọ bởi những hình ảnh dã man, độc tài, tham nhũng, bây giờ hình ảnh Leandri bị bắn gục chết lại phóng đi khắp thế giới! Tổng Thống Thiệu nghe tin này đã tái mặt. Ông liền chấm dứt, bước ra khỏi phòng họp.

Mấy ngày hôm sau, trong một phiên họp khác ở Văn Phòng Thủ Tướng, lại có tin chiếc máy bay vận chuyển C-5A chở đám trẻ em mồ côi vừa cất cánh ở Tân Sơn Nhất đã bị nổ tan. Chết trên 200 trăm em bé! Vào chính lúc đó lại đang có những chống đối ngay tại Washington về việc di tản người Việt Nam bằng máy bay Mỹ.

Ôi sao tin tức nó dồn dập, bi đát đến thế vào lúc con thuyền Miền Nam nghiêng ngửa sắp chìm đắm!

Suy gẫm như vậy, nhiều nguời trong đó có tác giả, cũng chỉ còn có cách là nghĩ đến chữ 'mệnh'.

...Ngày nay nhìn lại, riêng phần tác giả thì cũng chỉ có một mong ước, đó là những thế hệ con cháu được sống trong thời đại kỹ thuật, có nhiều phương tiện và hoàn cảnh thuận lợi để liên lạc nên sẽ có thể gần gũi nhau hơn, thông cảm nhau hơn để rồi từng bước có thể giúp cho vận mệnh đất nước trở nên tươi sáng hơn, tốt đẹp hơn.

Chúng tôi nghĩ rằng đây cũng là niềm hy vọng của đại đa số người dân Việt Nam hôm nay.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Giáo sư Nguyễn Tiến Hưng. Sinh năm 1935 ở Thanh Hóa, tác giả từng giữ chức Tổng trưởng Kế hoạch của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa kiêm cố vấn của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu trước 1975 ở Sài Gòn. Ông là tác giả cuốn 'Khi Đồng minh Tháo chạy' và là đồng tác giả cuốn The Palace Files- Hồ sơ Dinh Độc Lập, viết cùng Jerrold L. Schecter bằng tiếng Anh. Hiện ông định cư tại Virginia, Hoa Kỳ.

Vì sao VNCH mất nước

Sự thật sau 40 năm bí mật


All files in the "Title" column are in PDF format.
Due to the large file sizes, we recommend that you save them
rather than try to open them directly.


Đầu mùa hè năm 2011, thế giới lên cơn sốt về việc Trung Cộng tạo căng thẳng ở Biển Đông thì ai nấy đều ngóng trông nơi Hoa Kỳ với niềm hy vọng Hoa Kỳ sẽ là cứu tinh giúp họ đối phó với mộng bành trướng của Trung Cộng. Nhưng ngày 14/6/2011, Văn Khố Quốc Gia (National Archives) của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ cho giải tỏa (declassify7000 trang hồ sơ về những vấn đề của Việt Nam và Đài Loan hơn 40 năm trước làm cho niềm tin của nhiều người vào Hoa Kỳ tan thành mây khói. Sau đó, National Security Archive ở George Washington University đưa ra thêm 28,000 trang hồ sơ, trong đó có những mẫu đối thoại đi vào chi tiết giữa hai Ngoại Trưởng Henry Kissinger và Chu Ân Lai càng làm cho nhiều người nhìn ra sự thật phũ phàng Hoa Kỳ đã bán đứng Việt Nam Cộng Hòa và Đài Loan để đổi lấy sự làm hòa và giao thương với Trung Cộng.

Tài liệu này tung ra làm cho hồi ký của Kissinger xuất bản năm 1979 (The Memoirs) không còn giá trị vì nhiều điều trong hồi ký của Henry Kissinger viết đều sai với những chi tiết trong tài liệu này. Hồi ký của Henry Kissinger viết là để 
đánh bóng cá nhân và để chạy tội cho bàn thân. Tài liệu lịch sử của Văn Khố cho thấy chính sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ là đặt quyền lợi nước Mỹ là tối thượng cho dầu chính sách này đưa đến sự phản bội những đồng minh cũng như phải dấu diếm và lừa cả chính dân chúng và Quốc Hội Hoa Kỳ.

Đầu thập niên 1970s, Hoa Kỳ thay đổi sách lược bắt tay với Trung Cộng đối phó với Liên Xô buộc Hoa Kỳ phải hất Đài Loan ra khỏi Liên Hiệp Quốc và đưa Trung Cộng vào thay thế vị trí này. Cách đây 40 năm, Hoa Kỳ đã công nhận chỉ có một nước Trung Quốc, và Đài Loan cũng chỉ là một tỉnh của Trung Quốc với một thể chế đặc biệt!! Hoa Kỳ đã theo đuổi chính sách này 40 năm và sẽ tiếp tục theo đuổi chính sách này cho đến khi Đài Loan danh chính ngôn thuận thống nhất với Trung Quốc, và thường thì khi sự thống nhất xảy ra, Trung Quốc lúc đó có thể chế đa đảng.

Tài liệu cũng cho thấy 
Trung Cộng đặt điều kiện giải quyết vấn đề Đài Loan đi đôi với giải quyết chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ quyết định bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa, để cho Cộng Sản Việt Nam chiếm cả nước, và Hoa Kỳ phủi tay trong một thời gian vài thập niên bỏ ngõ Đông Nam Á và Biển Đông cho Trung Cộng tạo ảnh hưởng. Tài liệu cho thấy khi ấy Bắc Việt rất bối rối và chuẩn bị đầu hàng vì không chịu nổi B52 bỏ bom ở Hà Nội, và nếu Hoa Kỳ tiếp tục bỏ bom thêm 2 tuần nữa thì Hà Nội có lẽ đã đầu hàng, nhưng vì đã thỏa thuận với Bắc Kinh nên Henry Kissinger và Tổng Thống Richard Nixon ngưng bỏ bom như một hình thức vất đi chiến thắng đang ở trong tầm tay! Cũng vì chính sách này nên tháng Giêng năm 1974, Trung Cộng đưa hải quân đánh Hoàng Sa, Hải Quân VNCH chiến đấu và kêu gọi Đệ Thất Hạm Đội của Hải Quân Hoa Kỳ đang ở gần đó tiếp cứu nhân đạo thôi thì 
Đệ Thất Hạm Đội nhận đủ tín hiệu xin cấp cứu nhưng vẫn làm ngơ để mặc cho các thương binh VNCH chết đau thương và oan ức tại Biển Đông.
Tại sao Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ tiết lộ những bí mật này? Có phải họ có lòng thành tiết lộ những bí mật đầy lừa lọc và phản trắc đối với các đồng minh của họ? Bí mật lịch sử đã vén màn, liệu những đồng minh của Hoa Kỳ có còn tin tưởng nơi Hoa Kỳ như họ đã có trước đây?

Thật ra 
Hoa Kỳ ở trong tình thế không thể giữ bí mật lâu dài được nữa vì trước đây những chi tiết này đã rò rỉ ra ngoài hầu hết rồi và nếu cứ tiếp tục dấu diếm những điều mà mọi người đã đoán biết thì hệ quả của nó còn tai hại hơn cả việc tiết lộ. Cách đây 40 năm, ông Daniel Ellsberg đã tiết lộ những bí mật này cho The Washington Post, the Times, New York Times, và nhiều cơ quan truyền thông khác tạo một cú sốc trong quần chúng Hoa Kỳ. Ngày hôm nay, Văn Khố Quốc Gia tung ra những tài liệu cách đây 40 năm chỉ là để xác nhận cách chính thức những tài liệu ông Daniel Ellsberg tung ra trước đó là chính xác, thôi, mọi người đừng đoán già đoán non nữa.


Ông Daniel Ellsberg là người gốc Do Thái, sinh trưởng tại Chicago (sinh ngày 7/4/1931), là một người phân tích tình báo chiến thuật chiến lược của quân đội. Ông từng là nhân viên của RAND Corporation. Rand là chữ viết tắt của Research and Development, một công ty bất vụ lợi chuyên phân tích tình hình cho Quân Đội Hoa Kỳ và Doughlas Air Company là một công ty chế tạo các vũ khí cho Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ. Rand có 1600 nhân viên và trong 1600 nhân viên này có những người làm cho tình báo Hoa Kỳ.
Năm 1954, sau khi tốt nghiệp ở Harvard, Daniel Ellsberg gia nhập Hải Quân Hoa Kỳ. Ông ra trường đứng đầu lớp cả 1000 người. Mang lon Thiếu Uý, ông trở thành tiểu đội trưởng. Sau 2 năm phục vụ cho Hải Quân, ông được trở về công việc dân sự, ông tiếp tục học ở Harvard và tham gia giúp Rand chuyên phân tích tình hình quân sự. Năm 1964, ông chính thức làm cho Bộ Quốc Phòng và ông tham gia biến cố hạm đội USS Maddox xảy ra ở Vùng Vịnh Bắc Việt (Gulf of Tonkin) năm 1964. Khi ấy Hoa Kỳ nói rằng Bắc Việt tấn công hạm đội USS Maddox để lấy cớ đó tấn đánh Bắc Việt nhưng bây giờ tài liệu đã giải mã, chính Hoa Kỳ dàn dựng vụ này hơn là Bắc Việt. Năm 1965, ông được chuyển sang làm Bộ Ngoại Giao đặc trách phân tích tình hình Việt Nam. Năm 1967, ông trở về làm cho Rand và cho Bộ Quốc Phòng, trực tiếp chịu trách nhiệm với Bộ Trưởng Quốc Phòng.

Năm 1969, ông không có thiện cảm sách lược của Hoa Kỳ với Cuộc Chiến Việt Nam và sau khi nghe 
Randy Kehler (sinh năm 1944), một trong những người phản chiến thuyết trình cách hùng hồn, ông Daniel Ellsberg trở thành một trong những người chống chiến tranh. Sau khi đã có thiện cảm với nhóm phản chiến và ở cương vị là một người có thể tiếp xúc được những tài liệu tối mật của quốc gia, cùng với Anthony Russo (1934-2008) làm ở Rand, Daniel Ellsberg bí mật sao lại (copy) nhiều tài liệu tối mật và rò rỉ ra ngoài cho báo chí biết. Tài liệu rò rỉ bí mật này được giới truyền thông Hoa Kỳ đặt tên cho là Pentagon Papers. Năm 1970, Daniel Ellsberg cố gắng ảnh hưởng trên các Thượng Nghị Sĩ bằng cách thuyết phục các đổng lý văn phòng (chiefs-of-staff) của các Thượng Nghị Sĩ những tàn hại về Chiến Tranh Việt Nam.


Chủ Nhật ngày 13/6/1971, lần đầu tiên báo Times đăng trích đoạn từng phần 7000 trang. Tổng Thống Richard Nixon và Henry Kissinger bị cú đấm bất ngờ, lập tức phản ứng cách hung hãn, cách chức nhiều người họ nghi hoặc. Tổng Thống Nixon nói: “Hãy cách chức ngay những tên đầu não.” Nội các của Tổng Thống Nixon nộp đơn khẩn cấp xin Tối Cao Pháp Viện ngăn cấm không cho Times và các báo chí tiếp tục đăng tải những tin tối mật của Quốc Phòng. Times và các cơ quan truyền thông báo chí nhất quyết không chịu tiết lộ Daniel Ellsberg là nguồn gốc nhận tin của họ. Daniel Ellsberg phải trốn chui trốn nhủi trong bí mật cả 2 tuần. Sau 2 tuần, Tối Cao Pháp Viện phán quyết Times có quyền tiếp tục đăng tải những thông tin tối mật của Bộ Quốc Phòng được rò rỉ tới họ vì đây là Tự Do Ngôn Luận được bảo vệ bởi Tu Chính Án Thứ Nhất. Phán quyết này như một cú tát tai vào mặt nội các của Tổng Thống Richard Nixon.

Ngày 28/6/1971, Daniel Ellsberg và bạn đồng nghiệp Anthony Russo nộp mình cho FBI ở Boston Massachussett. Chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ truy tố 2 người vi phạm Đạo Luật Tình Báo Năm 1917 (Espionage Act 1917). Sau 2 năm điều tra và nhiều biến chuyển, vào tháng 5 năm 1973, chánh án William M. Byrne, Jr. ra lệnh bãi nại vụ án này. Sau vụ án này, Daniel Ellsberg đi thuyết trình nhiều nơi về các đề tài chính trị cũng như những bí mật lịch sử liên quan đến Việt Nam và Đài Loan.
Daniel Ellsberg và Anthony Russo đã tiết lộ những bí mật cách đây hơn 40 năm và hiện nay Daniel Ellsberg còn sống và còn đi thuyết trình những vấn đề đó nên Văn Khố Quốc Gia chấp nhận bạch hóa hồ sơ. Khi bạch hóa hồ sơ thì một hình thức nào đó họ cũng xác nhận chính sách của Hoa Kỳ là “quyền lợi của Hoa Kỳ là tối thượng” nên sẵn sàng bất chấp cả sự phản bội đối với đồng minh để đạt mục tiêu. Trong tương lai, những ai muốn làm đồng minh với Hoa Kỳ thì phải biết điều này mà trong luật họ gọi đó là caveat emptor – let the buyer beware, làm bạn với Mỹ và nếu Mỹ đâm sau lưng cách bất ngờ thì đừng có than trời trách đất.
Lời Kết:
Hoa Kỳ là siêu cường số 1 trên thế giới hiện nay nên không giao dịch hoặc làm bạn với Hoa Kỳ thì thiệt hại rất nặng nề. Làm bạn với Hoa Kỳ thì phải biết được ưu và khuyết điểm của Hoa Kỳ, đừng đặt quá nhiều kỳ vọng nơi Hoa Kỳ để rồi không biết tự xây dựng thực lực cho chính bản thân mình thì có ngày vì quyền lợi của Hoa Kỳ, họ bán đứng không kịp trở tay thì đau lòng vô cùng. Trở lại vấn đề Biển Đông, chắc Hoa Kỳ và Trung Cộng đã có một thỏa thuận ngầm gì ở đàng trong rồi nên Bộ Trưởng Quốc Phòng của Trung Cộng là Trì Hạo Điền mới dám mạnh miệng tuyên bố với Hoa Kỳ là “hãy chia đôi Thái Bình Dương” và trong tháng 6/2011 Bắc Kinh đổ hơn 1000 tỷ Mỹ Kim mua công khố phiếu của Hoa Kỳ.



Sự tàn ác của Tập Đoàn Do Thái đối với VNCH

BS Đặng Vũ Ái, Paris

Kính Thưa,

Tôi ở trong nhóm ANAI (Association Nationale des Anciens de l’Indochine : Hội cuả những người đã ở Đông Dương), do Trung Tướng SIMON làm Chủ Tịch. Đa số Hội Viên là những Sĩ Quan , Hạ Sĩ Quan PHÁP đã từng đụng độ với Việt Minh (1946-1954). Về phiá VN , thì là những Boat People, có nhiều người chạy ” Bác” tới 2 lần : 1954 và 1975……

Tôi là Bắc Kỳ Di Cư, và đã được mắt thấy, tai nghe những sự tàn ác của Việt Minh : thủ tiêu , tản cư bao nhiêu lần , và mỗi lần , lại nghèo thêm , và nhất là thấy tận mắt , những điều trái với luân lý , trái với tình người (cháu thủ tiêu chú ruột , bắt qùy ,đọc bản án viết tay , lấy đá đập vào đầu chú cho đến chết. Chết trong đau đớn , vì phải ” để dành đạn bắn quân thù” , theo lời dậy dỗ cuả Bác. Sau đó , cho xác chú vào bao bố, bỏ thêm vài hòn đá cho nặng .Và cho xác chú đi mò tôm…. Tất cả , chỉ vì tin đồn , chụp mũ , không chứng cớ :chú là Việt Gian !).

UNESCO ,vào những năm 1980…. có nhiều người Phi Châu giữ những chức vụ quan trọng , rất thân phe CS , và mỗi kỳ họp là MỸ bị đem ra chửi , hoặc chế diễu. MỸ chống CS, vậy kỳ ấy , MỸ rút ra khỏi UNESCO là danh chính ngôn thuận , khác với vụ PALESTINE kỳ này.

Hơn thế nữa , trong kỳ ấy, MỸ đã báo trước cho UNESCO 1 thời gian, mãi sau khi các yêu cầu chính đáng cuả MỸ bị bọn cầm quyền UNESCO bác bỏ , thì mãi đến lúc ấy MỸ mới đường đường chính chính , rút ra khỏi UNESCO .

OBAMA được NOBEL hoà bình 2009 là để cố chấm dứt chiến tranh PALESTINE – DO THÁI , kéo dài từ 1948 cho đến nay . Ngay chính KISSINGER , DO THÁI khi làm Ngoại Trưởng MỸ cũng đã phải nói : Đây là 2 bên cùng phải (cùng có lý) gặp nhau (Palestine và Do Thái) .Nó khó khăn ở chỗ đó. OBAMA , dù có muốn rút ra khỏi UNESCO , dẫu rằng ” danh không chính , ngôn không thuận” , cũng nên giữ phong độ và có 1 chút liêm sỉ và tự trọng. Đằng này , nhắm mắt vâng lời BỐ MẸ ngay lập tức ,rút khỏi UNESCO trước tất cả các nước , cốt ý để được BỐ MẸ xoa đầu : “Con tôi ngoan quá “. OBAMA đã thiên vị DO THÁI 1 cách thái qúa , không biết ngượng ngùng , chỉ vì ý đồ muốn tái ứng cử . Anh Sinh Viên Harvard ,không xứng với giải NOBEL ,như những người nổi tiếng khác : ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA, Bà AUNG SANG SIU KY, Ông LÝ HIỂU BA đang bị TRUNG CỘNG nhốt trong tù . MỸ rút ra khỏi UNESCO 72 giờ trước Do Thái !! TT PHÁP là Do Thái ra lệnh cho Đại Sứ PHÁP ở UNESCO bỏ phiếu chấp thuận việc gia nhập UNESCO cuả PALESTINE. Ngoài ra, PHÁP vẫn ở lại UNESCO.

Cũng từ 1988, Trung Tướng SIMON cho biết là tụi thân CS trong UNESCO , theo lời yêu cầu của chính phủ Hà Nội sẽ cho tổ chức 100 năm Sinh Nhật HCM vào năm 1990. Chúng tôi họp liên miên , và nhờ rất nhiều nhân vật có Thế Lực để phản đối . Lý do : HCM làm chính trị , không làm văn hoá . Và cứ nhìn hình ảnh các Boat People thì Văn Hoá và Giáo Dục ở đâu ?

1990 , cũng là kỷ niệm 100 năm của De GAULLE ,người được dân PHÁP hết sức kính nể , vì đã 2 lần cứu nước PHÁP , vậy mà người PHÁP có bắt UNESCO làm trò hề như vậy đâu.

Ngay từ đầu năm 1990 ,Tổng Giám Đốc UNESCO phải tiếp , trung bình 1 tuần 2, 3 lần , những người có quyền thế ở PHÁP, chống đối Tuồng Cải Lương HCM. Sự tranh đấu kiên trì , với những tên PHI CHÂU thiên tả , đã đem lại kết quả : UNESCO không tổ chức Lễ trăm năm HỒ.

Tuy nhiên vì đã ghi vào chương trình nghị sự rất nhiều lần , và đã hứa , nên UNESCO đành phải cho thuê 1 cái phòng nhỏ , với tư cách tư (privé, private).

Các ép buộc của UNESCO :

– không có 1 dấu hiệu UNESCO ,

– không được treo cờ VC , và ảnh HCM,

– tất cả các Thiệp Mời, dù đã in xong , cũng phải bỏ , và in lại Thiệp mới vì không được lấy danh nghiã UNESCO trên các En – Tête, mà phải in là do chính phủ HÀNỘI mời .

Nói dối là nghề của chàng : VC khoe ầm ĩ ở trong nứơc : UNESCO tổ chức lễ tưởng niệm 100 năm HCM . Tôi chỉ đóng góp 1 phần nhỏ bé để ngăn cản cái màn kịch tiếu lâm và bất xứng này.

Thiết nghĩ, VNHN nên ghi ơn những người Pháp, có quyền thế, có đạo đức tinh thần ( autorité morale ) không ưa CS , không ưa VC, đã đứng về phe VN Quốc Gia và đã nhiệt tình giúp đỡ chúng ta trong việc này. Tôi nghĩ rằng , lòng biết ơn là 1 giá trị tinh thần cao qúy, và là căn bản cũa Đạo Đức và tình người. Giá trị của lòng biết ơn vượt rất xa những lời xuyên tạc sự thật và những câu nói có vẻ ” móc họng ” ,khiếm nhã , không thể chấp nhận được .

Nay xin trở qua vấn đề Do Thái – VNCH :

1 – Do Thái không bao giờ công nhận VNCH .

Tất cả các đồng minh cuả Mỹ đều có tòa Đại Sứ ở Sàigòn, trừ 1 đồng minh thân cận nhất và mang ơn nước Mỹ nhiều nhất là Do Thái thì lại không có Đại Sứ . ( Do Thái thiết lập bang giao cấp Đại Sứ với VC sau 1975 ). Tôi còn nhớ, vào những năm 1958, 1959 ở trường CVA có 1 giáo sư Anh ngữ rất giỏi là Linh Mục Long ( ? ) GS sống ở Mỹ nhiều năm, biết rõ Mỹ và vấn đề geo – politics của Mỹ, thời ấy. Đại khái, GS dậy chúng tôi là New York City khác với New York State, có con sông Hudson với những khu Manhattan, Bronx, Brooklyn, Queens ….

Một buổi sáng, sau khi đã dậy xong giờ Anh ngữ, các bạn cùng lớp với tôi đã ra ngoài đến quá nửa, GS nói với độ 10 người còn ở lại và đứng gần GS : các anh nên biết là Do Thái mới là quan trọng nhất với các chính khách Mỹ chứ không phải là VNCH .

Tôi ghi nhớ điều này , vì hay có tính xấu : tò mò , và muốn kiểm chứng.

Moshe Dyan2- Moshe DAYAN, Tướng độc nhỡn Do Thái , sang thăm chiến trường VN, không thèm xin phép chính phủ VNCH , mà xin thẳng với chính phủ Mỹ. Ông ta đi thăm vài chiến trường với 1 vài tướng của Mỹ. Mục đích duy nhất của việc viếng thăm này, là để ông ta chứng tỏ đã quan sát kỹ lưỡng, với những điều mắt thấy tai nghe trên chiến trường VNCH và những thẩm định của 1 danh tướng Do Thái, không phải là cuả 1 người ngồi trong Tháp Ngà , mà là của 1 người đã đến tận nơi quan sát. Mấy tháng sau, ông ấy viết 1 bài nhận xét, mà trên nguyên tắc chỉ cố để phổ biến ở Do Thái, nhưng vì lẽ Do Thái nắm trọn tất cả các Médias trên thế giới cho nên nó có tiếng vang mạnh mẽ trong dư luận, và nhất là trong các chính quyền Mỹ và Đồng Minh.

Tôi xin được phép không nhắc đến những chi tiết mà chỉ nhắc lại câu kết luận hùng hồn ( và đểu cáng với VNCH ) ” MỸ không thể thắng được , vậy cách hay nhất là rút quân đội Mỹ khỏi South of VN “.

Xin lưu ý quý vị, bản báo cáo của Moshe DAYAN ( 1966 ), gây 1 cú shock cho những nhà lãnh đạo quân sự Mỹ và Đồng Minh, xuất hiện chỉ có 1 năm , sau ngày Mỹ trực tiếp tham gia chiến tranh VN. Thật là khốn nạn, đê tiện và bẩn thỉu đối với VNCH . Mặc dầu vậy,Do Thái bất chấp, các Médias của Do Thái bất chấp. Đối với Do Thái, VNCH phải chết để cho Do Thái sống ( với nguyên tắc : Mỹ không thể lưỡng đầu thọ địch ).

3- TT Lyndon Baines JOHNSON ( 1908 – 1973 ) là vị TT mà tôi rất quý vì là người đã ra lệnh :

– cho bỏ bom miền Bắc,

– cho Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng tháng 8 – 1965,

– gửi thường xuyên 3.000 máy bay trực thăng đến VN . Mỗi khi có những máy bay trực thăng bị phá hủy thì cho thay ngay lập tức , để cho con số máy bay trực thăng vẫn ở mức 3.000,

– gửi tới 500.000 quân Mỹ sang tham chiến tại VN ,và lập rất nhiều căn cứ quân sự, nhiều phi trường ở VN.

– lập 3 căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan để chi viện thêm cho chiến trường VN.

– huy động được các nước Đồng Minh gửi tổng cộng 100 000 quân sang VHCH : Đại Hàn, Úc , Tân Tây Lan, Thái Lan ……

– ra lệnh cho các pháo đài bay B52 từ đảo Guam hàng ngày đi bỏ bom các mật khu VC và đường mòn HCM : mối đe dọa khủng khiếp đối với VC. VC bị thiệt hại về quân số cũng như về võ khí rất nhiều trong những cuộc ném bom của pháo đài bay B52,

– ra lệnh cho 4 hàng không mẫu hạm Mỹ đậu thường xuyên ở ngoài khơi VNCH . Trong trường hợp có 1 chiếc rời đi nơi khác , thì lập tức 1 chiếc hàng không mẫu hạm khác đến thay thế , để vẫn ở mức 4 hàng không mẫu hạm,

– ra lệnh cho quân đội Mỹ mở các cuộc tấn công VC trong chiến thuật truy lùng và tiêu diệt VC (Searchs and Destroys ).

Médias Mỹ, nhưng Do Thái nắm trọn quyền, thường xuyên đả kích TT JOHNSON và đã gọi JOHNSON là vị TT đắt tiền nhất của Mỹ, vì đã giúp đỡ quá nhiều cho chiến tranh VN (thay vì để giúp Do Thái !) Hơn 1 lần , TT JOHNSON đã nói với báo chí : nhiều đêm tôi không ngủ được vì nghĩ tới chiến trường VN.

Médias Do Thái và Médias Mỹ tấn công TT liên tục, khiến ông phải từ bỏ ý định ra tái tranh cử để dành hết tâm lực cho VNCH mà ông coi là vấn đề chính. TT rất trong sạch, không hề có tiếng tăm xấu trong suốt thời gian tại chức. Ngoài ra, TT rất ngay thẳng và không ưu đãi người thân của mình : 2 con rể của ông đều bị gửi sang chiến trường VN . Hai người con gái của ông ta khóc lóc nức nở và nói về 2 người con rể của ông ta với cách dùng động từ trong thời quá khứ.Ông rất đau lòng vì khi 2 người con gái dùng những động từ trong thời quá khứ, thì có nghiã là các cô ấy coi như chồng của họ đã chết rồi. Ông nói tôi rất xúc động, tôi thông cảm với 2 con gái tôi, nhưng việc công là việc công. Thực là 1 TT Mỹ có lòng nhất với VNCH ( nhưng người VNCH lại thích NIXON , vì ông ấy chống Cộng !! ).

Ông gặp nhiều điều không may : sự tấn công cuả các Médias MỸ (tức là Do Thái ), rất nhiều cuộc biểu tình phản chiến ở các nước ÂU MỸ (Do Thái giật dây), Biến Động Miền Trung do Đồng Chí THÍCH TRÍ QUANG (chắc quý vị còn nhớ bức hình Đồng Chí TTQ , người mảnh khảnh ,ngồi trên xích lô, nét mặt cưng cưng đăng trên trang bià TIMES, hay NEWSWEEK ? với tựa đề : người đã làm rung chuyển nước MỸ), với dự định tách rời vùng 1 cuả Tướng NGUYỄN CHÁNH THI, sau đó là những vụ Thuyết Pháp liên tục của Phật Giáo Ấn Quang, sực mùi chống MỸ. ( viết đến đây , tôi không khỏi đau lòng, khi nghĩ tới sự thành công của Thiếu Tướng NGUYỄN CAO KỲ trong vụ đập tan BĐMT, sau nhũng thất bại của 2, 3 Tướng trước đó. TCK têt mậu thân , tướng KỲ đích thân chỉ huy các vụ phản công VC , vì TTL NVT đi ăn tết ở MỸ THO . ” Việt Gian NCK ” , với tính bộc trực, đã nhiều lần phản đối MỸ khi họ đi quá đà , coi thường QLVNCH).

Có lúc chán ngấy , TT JOHNSON đã phải kêu lên : Nước MỸ không thể cứu 1 Dân Tộc, khi họ cứ nhất định lao đầu xuống vực thẳm ! Như đã viết ở trên : lòng biết ơn là 1 giá trị tinh thần cao qúy , và là căn bản cuả ĐẠO ĐỨC và TÌNH NGƯỜI . Tôi không muốn, và không dám thuyết phục ai về việc này. Riêng cá nhân tôi , hết sức cảm tạ và ghi ơn công của TT JOHNSON , hết lòng chung thuỷ đối với VNCH.

4 – Trong khi đó tên nghiện rượu , đầy tớ vô liêm sỉ của Do Thái, tên BUSH con , nhờ thế lực của bố, trốn đi lính ở VN và chỉ phục vụ trong lãnh thổ Mỹ để được an toàn tối đa. Hèn nhát thay cho BUSH con. Hắn là 1 đại họa cho nước Mỹ và thế giới. Hắn làm uy tín của Mỹ thụt lui xuống rất sâu. Khi rời chức vụ, TT CLINTON đã để lại 1 ngân quỹ thặng dư tới 200 Billions of USD. Vâng lệnh Bố Mẹ Do Thái, bất chấp LHQ, bất chấp dư luận toàn thế giới ( tổng cộng có tới 7, 8 triệu người đi biểu tình ở các nước Tây Âu chống lại hành động ngu xuẩn của BUSH con, của Đế Quốc Mỹ, con ngoan của Do Thái ), BUSH con đã lạm dụng quyền hành tấn công 1 nước đồng minh ( với TT REAGAN ) .

Nhưng tất cả các Médias của Do Thái có chi nhánh khắp Âu Châu , ở các đài truyền thanh và truyền hình ở Tây Âu cũng như ở Mỹ đều nói rất ngắn về những cuộc biểu tình này và giảm rất nhiều số người thực sự đi biểu tình, hoặc đơn giản hơn, họ không nói gì hết.

BUSH con gây chiến tranh IRAQ, tốn kém hơn chiến tranh VN rất nhiều về chi phí . Ngoài ra , có trên 4.000 lính MỸ chết, 40.000 người bị thương nặng, phải nuôi họ suốt đời.

BUSH con ngu xuẩn, và không dám cưỡng lời Bố Mẹ, chứ nếu hắn cứ để Saddam HUSSEIN, đồng minh của TT Ronald REAGAN trong việc chống lại IRAN , tại chức , hắn chỉ cần đòi đặt 10 căn cứ quân sự ở IRAQ . Chắc chắn, nếu được Mỹ để cho Saddam HUSSEIN tại chức, HUSSEIN sẽ chấp nhận ngay .

Nếu BUSH con , đừng quá sợ sệt ,chịu khó thưa với Bố Mẹ Do Thái như đã nói ở trên, thì Quân đội Mỹ sẽ được đón tiếp nồng nhiệt ở IRAQ và IRAQ sẽ có dân chủ nhiều hơn.

Không người lính Mỹ nào chết. Hơn thế nữa , vì ở sát IRAN, MỸ có nhiều phương tiện để kiểm soát IRAN hơn , dễ làm áp lực với IRAN hơn. Nhưng Do Thái muốn là MỸ phải theo , và không có sự ngược lại. Ngân quỹ thặng dư 300 Billions USD khi mãn nhiệm kỳ cuả TT CLINTON.

BUSH con không khéo quản trị , và vì chiến tranh IRAQ, đến nỗi ngày nay nước Mỹ là nước nợ nhiều nhất trên thế giới ( Mỹ chỉ còn giữ được AA, trong khi đó Pháp, Đức Thụy Sĩ … vẫn giữ được AAA là điểm cao nhất ).

Mặc dầu Mỹ còn mạnh nhưng Mỹ bị coi thường trên thế giới, nếu không muốn nói là bị coi khinh.

5-Thái độ thiên vị 1 cách máy móc và đê tiện đối với dân chúng của PALESTINE đã gây thù oán 1 cách vô ích với trên 1 tỷ người Muslims và là nguyên do độc nhất của thảm họa ngày11 September 2001 ( 2 Tween Tours của World Trade Center bị phá tan , với 3000 người chết , trong đó có 2 người VN, Ngũ Giác Đài bị phá sập 1 đoạn , và nếu không có sự hy sinh qủa cảm và chết hết của gần 100 người Mỹ trên chiếc máy bay Boeing thì White House cũng bị phá tan ).

IRAN sắp làm xong bom nguyên tử, Mỹ và Do Thái bất lực. IRAN thù ghét cả Mỹ lẫn Do Thái.

6 -Do Thái đã tổ chức rất lâu việc MỸ phải bỏ rơi VNCH.

Tuyên truyền cho dân chúng VN mạnh nhất thời ấy là Đài Phát Thanh. MỸ , với những phương tiện kỹ thuật và truyền thông tối tân , nhưng Đài Phát Thanh SAIGON lại chỉ nghe được ở SAIGON mà thôi ( Lệnh của Bố Mẹ Do Thái ).

Khi đơn vị tôi ở HUẾ , tôi không có cách nào nghe được đài SAIGON, vì nó kêu rè rè, trái lại đài HÀNỘI và đài GIẢI PHÓNG, nghe rõ mồn một. Vì thế, đầu năm 1969, tôi được nghe thơ chúc Tết của HCM , với những câu như : Đánh cho MỸ cút, đánh cho NGỤY nhào….

Khi VC có AK54, và B40, rất tối tân, quân đội VNCH xài súng ống thời 1945. Chúng ta rất xa với những missiles USA M72 , mà MỸ cung cấp cho Do Thái năm 1973 để tiêu diệt những xe tăng lớn của LIÊN XÔ và tiêu diệt tất cả những hỏa tiễn SAM của LIÊN XÔ (bán cho Ai Cập) .

Trong cuộc TCK Tết Mậu Thân 02 – 1968, dưới quyền chỉ huy tài ba của Tổng Tư Lệnh NVT, 80% quân lực VNCH đi phép, kể cả NVT . Cuộc TCK rất to lớn,xẩy ra ở trên 50 tỉnh và thành phố VNCH , đặc biệt là ở SAIGON và HUẾ ( HUẾ bị chiếm trong gần 1 tháng với số nạn nhân 8.000 người và rất nhiều mồ chôn tập thể ). Trong khi quân đội VN, theo sự cam kết nghiêm trọng của VC và Bắc Việt là ngưng chiến trong 4 ngày Tết, nên có đến 80 % quân đội đi phép, thì không 1 người lính Mỹ nào đi phép.

Nói khác đi, quân đội Mỹ có đầy đủ trong tất cả các căn cứ quân sự Mỹ.Lệnh trên ban xuống : Mỹ không được làm gì cả trong 36 giờ, mặc sức cho lính VC tấn công, chiếm đóng như vào chỗ không người.Tại sao là đồng minh với nhau mà lại có cái lệnh kỳ cục, quái đản, ác đức như vậy ?

Thiết nghĩ đó là lệnh của Bố Mẹ Do Thái mà quyền hành, trong nhiều trường hợp, đã hơn 1 lần chứng tỏ, còn cao hơn cả quyền hành của TT Mỹ. C’était le début de la fin ( Đó là thời điểm bắt đầu của sự kết liễu của VNCH ) .

Viết đến đây, tôi rớt nước mắt, thương cảm những người chiến binh của VNCH, những thường dân VNCH đã bị chết hoặc bị thương nặng do những mánh lới bất nhân, giết người, có tính toán của tập đoàn 15 triệu người Do Thái trên khắp thế giới, áp đặt lên trung tâm quyền lực quân sự Mỹ.

Xin nhắc lại, vũ khí của quân lực VNCH rất lỗi thời. Phải đợi cuộc TCK Tết Mậu Thân 02 – 1968, và còn phải chờ thêm 3 tháng nữa, những khẩu M16 mới bắt đầu được trao rất từ từ cho Quân Lực VNCH . Nếu quân đội Mỹ can thiệp ngay từ phút đầu tiên thì VC làm sao dám ” múa gậy vườn hoang ” như thế. Không những thế, mệnh lệnh tối cao của quân đội Mỹ ban xuống cho tướng WESTMORELAND là cấm tấn công, mà chỉ được phản ứng tự vệ mà thôi.

Lệnh gì mà kỳ cục thế, nếu không phải là của Bố Mẹ Do Thái ? Bởi lẽ quân đội Mỹ rất tài giỏi, có nhiều vũ khí tối tân và nhiều tướng lãnh tài ba. Mỹ luôn luôn thắng trận. Cái lệnh quái đản ban xuống cho tướng WESTMORELAND như thế, nếu không là áp lực của Lobby Do Thái thì do ai ?

Do Thái nắm hết các Médias Âu Mỹ, tổ chức các cuộc xuống đường chống chiến tranh VN , nhờ các cơ quan truyền thông mà Tập đoàn Do Thái làm chủ cổ võ ,và xúi dục .Do Thái chịu mọi phí tổn cho rất nhiều cuộc xuống đường ở các nước Âu Mỹ chống lại chiến tranh VN .

Do Thái Henry KISSINGER khuyên NIXON bỏ VNCH để đi với Trung Cộng. Chính hắn chủ trương cho cuộc gặp gỡ NIXON – MAO TRẠCH ĐÔNG . NIXON đã từng nói với MAO TRẠCH ĐÔNG và CHU ÂN LAI ( 1972 ): nếu chúng tôi là bạn của 1 nước CS lớn ở Á CHÂU thì tại sao tôi lại không chấp nhận cho 1 nước CS nhỏ ở Á CHÂU ( VC ). Tuy nhiên, nước chúng tôi là nước dân chủ nên không thể thay đổi ngay tức khắc , hãy để cho chúng tôi chuẩn bị trong 3 năm. Quả nhiên, 3 năm sau, 1975, VNCH không còn tồn tại. Do Thái rất mạnh ở trong Quốc Hội Mỹ, phản chiến và bỏ rơi VN cũng ở Quốc Hội Mỹ.

Trong hành pháp thì Do Thái KISSINGER ( mà TT CARTER gọi là Tổng Thống Mỹ về ngoại giao, tức là có ý coi TT Gérald FORD để mặc KISSINGER toàn quyền quyết định những việc ở bên ngoài nước Mỹ, mà quan trọng nhất là VN ). Để giữ đúng lời với MAO TRẠCH ĐÔNG cho VNCH chết vào khoảng 1975, quốc Hội Mỹ do Do Thái nắm quyền, cùng với Hành Pháp Mỹ, do Do Thái KISSINGER lèo lái, TT Gérald FORD chuẩn bị bức tử VNCH.

Ngay từ đầu năm 1974, viện trợ Mỹ về kinh tế giảm 1 nửa, viện trợ về quân sự giảm 1 nửa. Đến năm 1975 lại còn cắt giảm nhiều hơn nữa. Tỉnh lỵ PHƯỚC LONG bị VC chiếm trọn cuối năm 1974. Do Thái KISSINGER khuyên TT FORD mặc kệ cho VNCH . Ngày 10 – 03 – 1975 mất BAN MÊ THUẬT, tinh thần quân lực VNCH xuống thấp. Trong lúc nguy khốn, VNCH xin Mỹ viện trợ gấp 700 triệu USD (món tiền này chỉ là 1 khoản rất nhỏ so với số viện trợ của Mỹ cho Do Thái)

Do Thái bầy mưu để cướp không 700 triệu USD vũ khí, ưu tiên cho VN :

Đầu tiên, quốc hội Mỹ bằng lòng bỏ ra 700 triệu USD về vũ khí.

Giai đoạn 2 , quốc hội Mỹ bloquer (block) món tiền này với lý do hết sức khốn nạn là : ” cho VNCH bao nhiêu cũng không đủ, vậy giữ lại để tiết kiệm ” . Xin nhắc lại, Quốc Hội MỸ chịu ảnh hưởng cuả Do Thái rất nhiều.

Khốn nạn thay quyết định của tập đoàn Do Thái trước 1 đồng minh gặp cơn nguy khốn hiểm nghèo.

Chính phủ VNCH hết sức lo sợ vì tinh thần quân đội xuống thấp, VC đã tới tận PHAN RANG , PHAN THIẾT.

Chính phủ VNCH, lạy van Mỹ đến mức , nếu Mỹ không cho 700 triệu USD đã tháo khoán thì chỉ xin các ông 1 lời nói trước báo chí để gây lại tinh thần cho quân đội và nhân dân VNCH :

” 700 triệu USD về võ khí cho VNCH sẽ được chấp thuận, nhưng còn phải nghiên cứu thêm vài chi tiết “. Tức là chúng ta chỉ xin Mỹ 1 lời hứa cuội. Quốc Hội MỸ (dưới ảnh hưởng cuả Do Thái) họp báo nói ” không có 1 cent cho VNCH “. Đau đớn thay !

Cái bẩn thỉu của Do Thái với VNCH ở chỗ : đối với các nước dân chủ pháp trị , 1 khi 700 triệu USD võ khí đã được quốc hội tháo khoán thì chính phủ bắt buộc phải tiêu. Nhưng Quốc Hội Mỹ lại cố ý không cho gửi các võ khí đó sang VN, như đã nói ở trên.

VNCH mất ngày 30 – 04 – 1975.

Ba tháng sau, Lobby Do Thái biết rõ nguyên tắc ấy và quốc hội Mỹ cho TT FORD xử dụng 700 triệu USD võ khí, không phải để gửi sang VN , vì VNCH không còn nữa, mà là để gửi sang cho Do Thái !! Khi ấy, tôi đã sang tới Pháp, và khi đọc những tin này trên báo chí, tôi giận điên người. Lính Mỹ, gỡ các nhãn hiệu gửi sang VNCH trên các thùng võ khí, sau đó dán lại nhãn hiệu gửi sang ISRAEL. Do Thái không có chiến tranh, và cũng không ở thế cực kỳ nguy hiểm như VNCH . Có cần nói thêm là cô đào cởi truồng DO THÁI Jane FONDA, là 1 trong nhũng lãnh tụ phản chiến VN rất dữ dội, đã sang tận HÀNỘI để gặp HCM và tuyên bố hoàn toàn ủng hộ VC. Do Thái Henry KISSINGER thường hay nói : Tại sao chúng nó (dân, quân VNCH ) không chết phứt hết đi cho rồi.

Khi tình hình VNCH nguy ngập , lúc ấy là 2 giờ sáng ở WASHINGTON , và TT FORD còn đang ngủ. Kissinger cho đánh thức TT Gerald FORD , còn đang ngái ngủ . Kissinger khuyên TT FORD bỏ rơi VNCH. Kissinger nói gì mà TT FORD chẳng nghe , vì TT FORD là 1 con người rất tầm thường. Và MỸ bỏ rơi VNCH như cái giẻ rách.

Độc hại hơn , Kissinger khuyên TT FORD bỏ hẳn dự định làm hàng rào an toàn , bởi lính Marines MỸ , và các phương tiện thừa thãi cuả MỸ cùng với QLVNCH còn lại . Con đường hàng rào an toàn ấy sẽ nối liền SAIGON và Vũng Tầu để cho các gia đình VNCH đi thoát (tương tự như 1954-1955, PHÁP giữ 2 thành phố Hànội và Hải Phòng trong 1 năm cho Bắc Kỳ Di Cư).

PHÁP , mặc dầu thua to ở ĐIỆN BIÊN PHỦ, và số thương vong cao hơn MỸ ,lại eo hẹp rất nhiều về phương tiện , đã cư xử với ĐỒNG MINH VNQG 1 cách rất trung hậu , có tư cách, có phong độ ,và có tình. MỸ giầu hơn , mạnh hơn PHÁP rất nhiều, lại dư phương tiện , nhưng KISSINGER vâng lời TẬP ĐOÀN 15 triệu người DoThái , khuyên TT FORD bỏ ngay VNCH , không thương tiếc.

Do Thái KISSINGER khuyên TT FORD tài tình đến nỗi , mấy ngày trước khi SAIGON mất , TT FORD , trả lời 1 cuộc phỏng vấn cuả mấy ký giả trên đường đi đánh Tennis về thái độ và quyết định cuả TT trước tình hình VNCH đang xụp đổ . FORD trả lời dứt khoát , không cần suy nghĩ : “Xin các ông tránh ra , để cho tôi đi đánh Tennis cho kịp giở “

Trong khi đó, bên kia bờ Thái Bình Dương , hàng trăm ngàn gia đình , hàng triệu người VNCH đang than khóc , đang lo lắng ……

Tập Đoàn Do Thái đã thành công rực rỡ, vẻ vang (trên hàng triệu người chết ) vì tài ba , nhưng không có đức độ của họ. Nạn nhân là QLVNCH , nhân dân VNCH , QUÂN LỰC MỸ , các Phi Công MỸ , QUÂN LỰC của các nươc Đồng Minh …. Tuy nhiên , đấy chỉ là những con số , không lấy gì làm quan trọng, làm mủi lòng tiếc thương của họ.

Vấn đề chính yếu :

1- Tập đoàn Do Thái mạnh , ISRAEL bình an , MỸ phãi viện trợ cho Do Thái (hàng chục Billions USD mỗi năm , trực tiếp và gián tiếp, với tiền đóng thuế cuả dân chúng MỸ).

2- Quốc Hội MỸ theo Do Thái , và các chính khách MỸ , CỘNG HOÀ hay DÂN CHỦ đều dặt quyền lợi Tối Cao của Do Thái trước quyền lợi tối cao của MỸ , ngay cả trong trường hợp đi ngược lại quyền lợi cuả MỸ.(tôi được đọc nhiều tài liệu liên quan đến thái độ Phản Quốc , phục vụ ngoại bang cuả các chính khách MỸ.

Xin Quý Vị ở MỸ kiểm chứng , có lẽ sẽ dễ dàng hơn ).

Còn nhiều chi tiết nữa , nhưng thư đã quá dài, viết thêm chỉ thêm đau lòng cho VNCH

Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam Năm 1975


 Miền nam Việt Nam đã mất vào tay cộng sản đến nay cũng đã 42 năm. Biết bao nhiêu cuốn sách đã viết để nói lên sự thất trận của miền nam. Câu hỏi mà nhiều người đặt ra là tại làm sao một quân đội gồm một triệu quân binh hùng tướng mạnh như thế lại có thể sụp đổ chỉ trong vòng có 55 ngày. Có phải quân cộng sản miền Bắc quá tài giỏi chăng? Chắc chắn là không phải như vậy, quân miền Nam đã đương đầu ngang ngửa với miền Bắc trong suốt bao nhiêu năm trời. Quân đội miền Nam đã từng tái chiếm tỉnh Quảng Trị từ tay Bắc quân, từng giữ vững An Lộc trong khi bị mỗi ngày từ 8000 đến 10000 trái đạn pháo, thế thì tại sao miền Nam lại sụp đổ quá mau chóng trong trận chiến năm 1975. Phải chăng có một âm mưu bức tử miền Nam? Câu hỏi này đã có nhiều người nói đến nhưng chưa ai trưng ra được bằng chứng cụ thể về chuyện bức tử miền nam. Bài viết này nhằm tiết lộ một bí mật lịch sử nhằm trả lời cho câu hỏi đó.

Tôi đến Mỹ năm 1980 . Tình cờ đi thuê phòng ở gia đình một người Việt Nam trong vùng Los Angeles thì gặp được người chủ nhà người Nam tên HTH. Ở chung nhà với nhau anh có kể cho tôi nghe chuyện anh ra khỏi Đà Nẵng trong những ngày cuối tháng 3 năm 1975 như thế nào và những lời anh kể đúng là chứng liệu lịch sử giúp người Việt nhìn lại biến cố 1975 với tất cả những sự thật trần trụi, phũ phàng của nó.

Anh H kể rằng lúc Đà Nẵng bị tràn ngập thì anh tìm cách đi xà lan ra khơi để cặp vào tàu lớn.(Anh vốn là một thanh tra hành chánh, đang làm công việc thanh tra tại Đà nẵng vào những ngày chiến trận sôi động tại Đà Nẵng.) Lúc lên tàu thì anh gặp được Trung tướng Ngô quang Trưởng đang ở trên tàu. Theo như anh nghe lại những người trên tàu kể lại là lúc tướng Trưởng lên tàu, ông bị ngất xỉu. Ông được một bác sĩ quân y tên Ngô quang Nghiêm chích cho một mũi thuốc khỏe và tướng Trưởng tỉnh lại. Lúc gặp anh H bạn tôi trên tàu, tướng Trưởng có nói một câu như thế này " Tôi không ngờ tình tình chính trị đi nhanh hơn tình hình quân sự." Có thể giải thích câu nói này một cách đầy đủ là " Sự sụp đổ quá nhanh chóng của vùng 1 là do sự dàn xếp chính trị chứ tình hình quân sự không thể nào diễn tiến tồi tệ đến như vậy". Tướng Trưởng hiện nay định cư tại Virginia và Bác sĩ Ngô quang Nghiêm hiện đang ở tiểu bang Texas. Ai muốn tìm hiểu sự trung thực của câu chuyện kể trên, xin liên lạc để kiểm chứng với tướng Trưởng và Bác sĩ Nghiêm.

Trung tướng Ngô quang Trưởng là một trong những tướng lãnh giỏi và xuất sắc nhất của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Tài nghệ dụng binh của ông đã để lại những câu chuyện trở thành huyền thoại. Năm 1968, cộng sản chiếm thành phố Huế trong vòng 25 ngày. Ông Trưởng lúc ấy đóng tại đồn Mang Cá tại Huế. Những cuốn sách của Cộng sản xuất bản sau 1975 nói về trận đánh Huế cho biết Cộng sản đã nhiều lần cho quân xung phong để chiếm cho được đồn Mang cá do Ngô quang Trưởng chỉ huy nhưng lần nào cũng thất bại và bị thiệt hại nhân mạng khá nhiều. Ông Trưởng giữ vững đồn Mang Cá cho đến khi thành phố Huế được quân đội Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm trở lại.

Đại tướng Mỹ Norman Schwarzkopf, một anh hùng của Mỹ trong trận chiến vùng vịnh với Saddam Hussein, sau khi về hưu có viết một cuốn hồi ký tên " It does not take a hero " ( Không cần có một anh hùng) kể lại cuộc đời binh nghiệp của ông từ nhỏ cho đến khi ông về hưu. Ông không quên nhắc đến tướng Ngô quang Trưởng với sự thán phục về tài điều khiển hành quân của tướng Trưởng . ( Lúc qua Việt Nam, tướng Schwarzkopf là thiếu tá, làm cố vấn cho Đại tá Ngô quang Trưởng). Trong cuốn hồi ký có những đoạn đề cập đến Tướng Trưởng như sau:

" ...Colonel Ngo Quang Truong was General Dong's chief of staff. He did not look like my ideas of a military genius: o­nly five feet seven, in his midforties, very skinny, with hunched shoulders and a head that seemed too big for his body. His face was pinched and intense, not at all handsome, and there was always a cigarette hanging from his lips. Yet he was revered by his officers and troops- and feared by those North Vietnamese commanders who knew his ability. Any time a particular tricky operation came up, Dong put him in commamnd. ( Trang 122)

" Tạm dịch : Đại tá Ngô Quang Trưởng là tham mưu trưởng của tướng Đống ( Dư quốc Đống). Ông ta không giống hình ảnh một thiên tài quân sự mà tôi thường nghĩ đến : cao chỉ 5 bộ 7 ( chừng 1m70), ở lứa tuổi giữa bốn mươi, rất ốm, với lưng gù và có cái đầu dường như quá to so với thân hình của ông. Gương mặt ông nhăn nhúm và rắn rỏi, không đẹp trai tí nào cả, và trên miệng ông luôn có điếu thuốc lá nằm ở đó. Thế mà ông được những viên chức và binh lính của ông kính nể - và làm kinh sợ những cấp chỉ huy của miền Bắc, những người biết khả năng của ông. Bất cứ khi nào có một chuyện hành quân mưu mẹo đặc biệt nào đó xảy ra, Đống đặt ông vào nhiệm vụ chỉ huy).

" ....Simply by visualizing the terrain and drawêing o­n his experience fighting the enemy for fifteen years, Truong showed an uncanny ability to predict what they were going to do."

( Trang 123)

" ... Chỉ đơn giản hình dung ra địa thế và moi lại kinh nghiệm chiến đấu chống kẻ thù trong mười lăm năm, Trưởng đã chứng tỏ khả năng kỳ lạ của ông trong chuyện tiên đoán chúng sẽ làm gì."

" I'd never heard anything like this at West Point. I was thinking, " What's all this about eight o'clock and eleven o'clock? How can he schedule a battle that way?" But i also recognized the outline of his plan: Truong had reinvented the tactics Hannibal had used in 217 B.C when he enveloped and annihilated the Roman legions o­n the banks of Lake Trasimene."

( Trang 123) 

" Tôi chưa từng nghe thấy điều gì như thế này tại trường võ bị West Point. Tôi nghĩ " Cái gì mà 8 giờ và 11 giờ thế này ? Ông ta sắp xếp trận đánh kiểu gì đây? " Nhưng tôi cũng nhận ra được nét đại cương của kế hoạch của ông : Trưởng đã tái sáng chế ra cái chiến thuật mà Hannibal đã dùng vào năm 217 trước Công Nguyên khi ông bao vây và tiêu diệt quân đoàn La Mã trên những bờ hồ Trasimene."

Những lời ca ngợi của đại tướng Schwarzkopf về tướng Trưởng nói trên đủû để xác định tướng Trưởng là một thiên tài quân sự. Tướng Ngô Quang Trưởng cũng chính là người chỉ huy quân đội Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm lại thành phố Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa năm 1972. Thế thì vùng 1 sao lại mất quá dễ dàng vào tay cộng sản trong tháng 3 năm 1975. Nhìn lại tình tình lúc đó thì rõ ràng tướng Trưởng đã lọt vào một " mê hồn trận " do Saigòn đề ra khiến ông không còn chủ động để điều binh khiển tướng được nữa. Những lệnh bất nhất từ Sài gòn đưa ra như bảo giữ Huế rồi lại ra lệnh bỏ Huế, bảo giữ Đà Nẵng rồi lại ra lệnh bỏ Đà Nẵng. Những lệnh quái gỡ như thế đã trói tay thiên tài quân sự Ngô Quang Trưởng và kết quả là vùng 1 đã mất vào tay Cộng Sản mà quân đội miền Nam tại vùng 1 chưa có dịp để đánh trận nào cả. Với con mắt của người chỉ huy quân sự chuyên nghiệp, tướng Trưởng đã nhìn thấy rất rõ âm mưu giật sập miền Trung của Sàigòn cho nên ông mới thốt ra câu nói " Tôi không ngờ tình hình chính trị đi nhanh hơn tình hình quân sự"với anh bạn tôi.

Mấy năm trước đây, báo chí Việt ngữ hải ngoại có tìm gặp Trung tướng Ngô quang Trưởng để tìm hiểu về chuyện tan rã của quân đoàn 1 vào tháng 3 năm 1975, tướng Trưởng đã thẳng thắn kể lại những chuyện xảy ra đối với quân đoàn 1 do ông chỉ huy. Những lời kể của ông được nghệ sĩ Lê bá Chư ghi lại trong bài viết mang tên " Vì sao tôi bỏ quân đoàn 1" có nội dung như sau:

Ngày 13 tháng 3 năm 1975, được lệnh vào Sài Gòn họp, tôi vào đến Sài Gòn nhưng với sự ngạc nhiên là chỉ có mình tôi vào gặp tổng thống và thủ tướng ( Trần thiện Khiêm) mà thôi. Ngoài tôi ra, không có ai khác. Thường lệ, khi được lệnh về Sài Gòn họp thì đều có đầy đủ mặt các vị tư lệnh quân đoàn và tư lệnh các quân binh chủng khác. Lần này, thì chỉ có một mình tôi thôi. Tôi thắc mắc lo lắng. Nhưng khi Tổng thống Thiệu cho biết ý định của ông là phải rút bỏ Quân đoàn 1 ngay hôm nay thì tôi mới vỡ lẽ, cay đắng và uất ức vì lệnh ra quá đột ngột ngoài sức tưởng tượng và ngoài ước muốn của tôi. Thật ra, lúc đó tình hình tại Huế, Quảng Ngãi, và Đà nẵng tuy có hơi nặng nề vì địch tấn công liên tiếp, tuy nhiên tôi đủ sức chống giữ và sẽ tăng cường Sư đoàn Dù cùng với Thủy Quân Lục Chiến ra những vùng đó để lấy lại ưu thế. Tôi trình bày cặn kẽ những ý kiến cũng như dự định của tôi lên tổng thống và thủ tướng nhưng không được chấp thuận. Lệnh bất di bất dịch là: Phải rút Quân đoàn 1 càng sớm càng hay.

Trở ra quân đoàn 1, tôi cho triệu tập tất cả các vị tư lệnh sư đoàn, tỉnh trưởng, tiểu khu trưởng, và các sĩ quan tham mưu quân đoàn để họp. Thái độ khác thường của tôi làm các sĩ quan trong buổi họp hôm đó có vẻ nghi ngờ, thắc mắc. Nhưng rốt cuộc tôi chỉ hỏi sơ qua tình hình và nói vu vơ quanh quẩn. Chứ làm sao tôi có thể ra lệnh thẳng khi chỉ với một mình tôi là tư lệnh quân đoàn mà thôi. Vì vậy cuộc họp hôm đó cũng chẳng mang lại kết quả nào như ý tôi mong muốn. Lệnh của Tổng thống Thiệu yêu cầu tôi rút khỏi Quân đoàn 1 vào ngày 13 tháng 3, và rút Quân đoàn 2 vào ngày 14 tháng 3. Ông Thiệu cho biết là rút hết về Phú Yên, lấy Quốc lộ 22 làm ranh giới. Việt Nam thu gọn sẽ chạy dài từ Phú Yên đến Hà Tiên. 

Cái sai lầm của Trung ương là không cho các thuộc cấp biết ý định của mình. Nghĩa là các vị tư lệnh các quân binh chủng, tổng bộ trưởng, tư lệnh sư đoàn v..v đã không biết gì về lệnh rút quân của Quân đoàn 1 và 2 cả. Lệnh này chỉ có tổng thống, thủ tướng, Đại tướng Cao văn Viên, tôi ( tư lệnh Quân doàn 1), và tư lệnh Quân đoàn 2 ( tướng Phạm văn Phú) biết mà thôi. Do đó thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa tham mưu và các cấp, không có kế hoạch rút quân đàng hoàng, lệnh đột ngột không có cả thì giờ để xếp đặt kế hoạch, gây hoang mang cho binh sĩ, nhất là khi gia đình họ cũng không được bảo vệ đúng mức thì làm sao tránh khỏi hoang mang? Ai cũng lắng nghe tin tức thân nhân ở bên ngoài doanh trại. Thêm vào đó, tin tức Ban mê Thuộc, Pleiku, Kontum bị chiếm, Huế bỏ ngỏ, dân chúng Huế chạy vào Đà Nẵng ngày một đông gây cảnh xáo trộn kinh hoàng cho dân Đà Nẵng. Rồi sau đó là Chu Lai bị áp lực nặng. Tôi ra lệnh cho tướng Trần văn Nhựt rút Sư đoàn 2 từ Chu Lai ra trấn tại Lý Sơn ( Cù Lao Ré) để kiểm soát đường biển, sợ địch ra chiếm đóng thì đường biển sẽ bị khó khăn. Trong khi đó, cảnh hỗn loạn đã xảy ra phần lớn do dân chúng hốt hoảng từ chỗ này sang chỗ khác làm cho binh sĩ nao núng và cũng chạy theo thân nhân. Mở miệng ra lệnh cho họ rút quân, trong khi mới hôm qua, tuyên bố với lòng dạ sắt đá, nói cứng rắn với anh em là quyết giữ để không mất một tấc đất ở vùng 1 là một chuyện thật khó làm. 

Sau đó tôi suy nghĩ kỹ hơn và quyết định gọi Đại tướng Cao văn Viên nhờ xin tổng thống Thiệu cho tôi được dùng mọi cách để giữ Huế và vùng 1. Làm sao tôi có thể bỏ Huế và vùng 1 ? Làm sao tôi bỏ được vùng đất sỏi đá này khi bao nhiêu chiến hữu của tôi đã đổ máu để gìn giữ ? Nhất là trong vụ Mậu Thân, máu anh em đã đổ nhiều.

Tổng thống Thiệu rung động, chấp thuận cho tôi giữ Huế. Sáng 18 tháng 3 năm 1975, tôi ra Huế gặp tướng Lâm quang Thi ( tư lệnh phó Quân đoàn 1) vốn là người đang chỉ huy tại Huế. Tôi chỉ thị: Giữ Huế cho thật vững. Chiều hôm đó về đến Đà Nẵng, tôi nhận được một lệnh do Đại tướng Cao văn Viên thừa lệnh tổng thống yêu cầu tôi " bỏ Huế". Lệnh đó làm cho tôi chết lặng người. Vì mới buổi sáng nay ở Huế, tôi đã ra lệnh cho tướng Thi giữ Huế. Bây giờ đột nhiên được lệnh bỏ thì tôi biết ăn nói làm sao với tướng Thi và anh em binh sĩ đây. Nhưng tôi vẫn phải đành thi hành theo lệnh trên. Tôi gọi điện thoại thông báo lệnh bỏ Huế cho tướng Thi. Tướng Thi trả lời ngay, " Ở Huế bây giờ xã ấp phường khóm tốt quá, đâu đâu tình hình cũng tốt cả, mà tại sao anh bảo tôi bỏ là bỏ làm sao? Tôi buồn bã trả lời, " Tôi biết rồi, nhưng xin anh bỏ Huế dùm tôi, đó là lệnh trên, không bỏ là không được." Kết quả là tướng Thi thi hành lệnh bỏ Huế, và dồn quân đến cửa Thuận An để tàu Hải quân chở lính về Đà Nẵng.

Trong khoảng thời gian từ 13 đến 18 tháng 3, hàng đêm tôi gọi điện thoại cho Thủ tướng Khiêm và báo cáo mọi biến chuyển, từ công việc hành chánh đến quân sự.. Tình hình khó khăn, địch tấn công mà lại thêm cái lệnh " phải rút càng sớm càng tốt " lan truyền rỉ rả cho nên binh sĩ và công chức hết sức xôn xao. Tôi báo cáo mọi việc và xin thủ tướng ra quan sát tình hình. Sáng 19 tháng 3 năm 1975, Thủ tướng Khiêm đến, tôi cho tập họp tất cả các vị tư lệnh sư đoàn, tỉnh trưởng, thị trưởng, bộ tham mưu và các trưởng phòng sở hành chánh để thủ tướng nói chuyện. Trước khi thủ tướng đến, tôi đã nói chuyện với anh em có mặt tại hôm đó rằng tình hình khẩn trương, anh em phải nói lên sự thật đang xảy ra trong thực tế tại nơi này để thủ tướng biết rõ tình hình mà giải quyết cấp thời, chứ đừng có giữ thái độ " trình thưa dạ bẩm" trong lúc này nữa. Phải thẳng thắn mà nói lên sự thật. Nhưng sau khi thủ tướng nói chuyện xong đến phần thắc mắc thì cũng có ai nói gì cả. Tôi rất buồn vì anh em không chịu nghe lời tôi để nói cho thủ tướng biết những sự thật về tình hình hiện tại. Duy chỉ có một mình Đại tá Kỳ, tình trưởng Quảng Trị, có hỏi một câu, " Thưa thủ tướng, trong mấy ngày vừa qua, có một số công chức đã tự ý bỏ nhiệm sở, không đến làm việc, thế thì phải dùng biện pháp gì để trừng phạt những người đó? Câu hỏi thật hay nhưng thủ tướng không trả lời và nói lảng sang chuyện khác. Vì thủ tướng làm sao nói được khi lệnh trên đã muốn giải tán Quân Đoàn 1 và Quân khu 1 càng sớm càng tốt. 

Đúng ngày 22 tháng 3 năm 1975, tôi được lệnh rút sư đoàn Dù và sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến về giữ Nha Trang. Ngày 29 tháng 3 năm 1975, Cộng quân tràn vào Đà Nẵng với những trận giao tranh nhỏ. Tôi được chiến hạm HQ 404 đưa về Sài Gòn. Trên tàu cũng có một lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến. Khi tàu đang chạy ngoài khơi, Tổng thống Thiệu liên lạc yêu cầu tôi ra tái chiếm Đà Nẵng? Lính tráng đã phân tán mỗi người một nơi. Cấp chỉ huy thì mạnh ai nấy thoát, làm sao tôi có thể làm chuyện tái chiếm đó được ( tái chiếm Đà Nẵng) ?Sau đó tôi được lệnh cho hạm trưởng ghé tàu vào Cam Ranh, bỏ hết Thủy Quân Lục Chiến xuống, rồi chỉ cho một mình tôi về Sài Gòn. Tôi không chịu mặc dù lúc đó tàu đã cập bến Cam Ranh rồi.

Tôi nhờ hạm trưởng gọi về bộ Tổng tham mưu xin cho anh em Thủy Quân Lục Chiến được về Sài Gòn tĩnh dưỡng, nghĩ ngơi cùng tôi. Còn không thì tôi sẽ ở lại Cam Ranh và đi theo anh em Thủy Quân Lục Chiến để cùng nhau chiến đấu. Sau đó, Sài Gòn bằng lòng cho tàu chở tất cả về Sài Gòn.

Về đến Sài Gòn, tôi được bổ nhiệm vào Bộ Tư Lệnh Hành Quân lưu động ở Bộ Tổng Tham Mưu. Khi vào đây tôi gặp phó đề đốc Hồ văn Kỳ thoại ( tư lệnh Hải Quân vùng 1 Duyên Hải) và Chuẩn tướng Nguyễn văn Khánh ( tư lệnh sư đoàn 1 không Quân) và Trung tướng Thi thì bị phạt quản thúc về tội bỏ Huế. Tôi không hiểu vì sao lại có chuyện kỳ lạ như vây. Họ đâu có tội gì, họ chỉ thi hành theo đúng lệnh mà lại bị phạt thì quả thật là bất công. Tướng Thi thật sự là một người chống lại việc bỏ Huế. Lúc trước khi nghe tôi cho biết là tồng thống đã ra lệnh bỏ Huế thì tướng Thi đã trả lời thẳng với tôi rằng, " Xã ấp còn tốt quá mà bỏ chạy là sao?" Vậy mà bây giờ ông lại bị phạt giam quản thúc. Những vị tướng như tướng Thi bị phạt oan uổng trong khi họ còn xứng đáng hơn gấp mấy trăm lần những ông tướng phè phỡn ở Sài Gòn.

Hôm sau trong buổi họp tại Bộ Tổng tham Mưu, tôi có nói rằng, " Việc phạt tướng Thi cùng hai tướng Thoại và Khánh và không đúng, họ chỉ là thuộc cấp của tôi, họ chỉ làm theo chỉ thị của tôi mà thôi. Họ không có tội gì cả, nếu có phạt thì xin phạt tôi đây này." Phòng họp lặng ngắt. Đại tướng Viên nhìn qua tướng Trần văn Đôn. Tướng Đôn mới đi Pháp về, mới đảm nhận chức tổng trưởng quốc phòng. Có thể vì vậy nên tướng Đôn mới không biết là Tổng thống Thiệu đã trực tiếp ra lệnh cho tôi bỏ Huế, nên tướng Đôn mới đề nghị phạt tướng Thi vì đã bỏ Huế để rút lui. Mà Tổng thống Thiệu lại không dám nói sự thật với tướng Đôn, và chỉ ký lệnh phạt. Sau đó, tướng Lê nguyên Khang buột miệng nói với giọng giận dữ, " Anh em chúng tôi không có tội tình mẹ gì cả! " Tiện đây, tôi cũng xin nói về trường hợp của tướng Thoại và tướng Khánh. Với chức tư lệnh trong tay, có hàng ngàn lính, hàng trăm chiến hạm lớn nhỏ, nhưng tội nghiệp thay, sau khi hỗn loạn, tướng Thoại đã bị bỏ quên, không ai chở đi khỏi bộ tư lệnh ở Tiên Sa, và ông đã phải đi bộ qua dãy núi phía sau bờ biển. May nhờ có một chiếc tàu nhỏ của Hải Quân mà anh em trên tàu lúc đó cũng còn giữ kỷ luật, khi họ thấy Đề đốc Thoại ở đó, họ liền ghé vào chở tướng Thoại đi chứ nếu không thì cũng chẳng biết sau này sẽ ra sao. Còn tướng Khánh , tư lệnh sư đoàn 1 Không Quân, đã không đủ nhiên liệu để bay xa mà phải đáp trực thăng tại một bãi cát ở Sơn Trà rồi lội ra tàu. Cũng may lúc đó gặp tàu HQ 404 và đã cùng tôi về Sài Gòn."

Lời trần tình của tướng Trưởng như thế cũng đã quá rõ ràng và đầy đủ. Những lệnh bất nhất từ Sài Gòn do Thiệu đưa ra không phải là do Thiệu bối rối mà là một sự tính toán tinh vi để giật sập Quân Đoàn 1 mà tướng tài giỏi Ngô quang Trưởng đành phải bó tay, không xoay sở gì được. 

Không những đánh giặc giỏi, tướng Ngô quang Trưởng lại là một người cực kỳ thanh liêm, được sự quý mến của dân và quân dưới quyền, ông không bao giờ dính dáng vào những chuyện tham nhũng xấu xa như những tướng lãnh khác. Quân lực Việt Nam Cộng Hòa thật hãnh diện khi có những tướng lãnh vừa cầm quân hay vừa thanh liêm như Ngô quang Trưởng, Nguyễn khoa Nam. Nếu Mỹ không bỏ cuộc thì vùng 1 do tướng Trưởng nắm và vùng 4 do tướng Nam chỉ hay sẽ không bao giờ thất thủ trước quân đội Cộng sản. 

Rõ ràng là lệnh giật sập miền Trung là do từ Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu, có điều câu hỏi đặt ra ở đây là Thiệu giật sập miền Trung là do nghe lệnh của Mỹ hay tự ý một mình hành động?

Có người còn cho rằng Thiệu bị " tháu cáy " lúc giật sập Quân đoàn 1 và 2 vì Thiệu tưởng khi để mất vùng 1 và 2, chính phủ Mỹ sẽ xúc động và viện trợ khẩn cấp nhiều hơn, không ngờ Mỹ quyết định bỏ rơi luôn Miền Nam. Và vì lý do đó mà Thiệu lên truyền hình chửi rủa Mỹ thậm tệ vào ngày 21 tháng 4 năm 1975 khi Thiệu biết mình bị " tháu cáy" trong ván bài cân não với Mỹ. Dù sao đây cũng chỉ là một sự phỏng đoán. Hy vọng với thời gian sẽ có nhiều tài liệu được công bố thì mới biết được chuyện Thiệu có bị " tháu cáy" hay không? 

Trước khi vùng 1 thất thủ, thì ở vùng 2, toàn bộ Quân đoàn 2 đóng tại Pleiku được lệnh di tản về Tuy Hòa bằng liên tỉnh lộ số 7. Đại tá Lê khắc Lý, tham mưu trưởng Quân đoàn 2, sau này ra hải ngoại có lên một đài phát thanh và kể chuyện lại rằng, khi nhận được lệnh rút quân, một tướng lãnh của quân đoàn 2 là tướng Cẩm đã nhận xét với ông, " Thôi rồi, bàn cờ đã sắp xếp xong, chẳng còn gì để nói chuyện đánh đấm nữa." Một thiếu tá pháo binh bày tỏ sự tức giận với ông Lý, " Súng đạn còn đầy đủ, quân lính còn đông, sao lại bỏ chạy như thế này." Chuyện kể của tham mưu trưởng Quân đoàn 2 Lê khắc Lý cho thấy khi Quân đoàn 2 được lệnh rút từ Pleiku về Tuy Hòa thì coi như số phận của Quân đoàn 2 cũng được sắp xếp xong cho phù hợp với kế hoạch giật sập vùng 1 và vùng 2 của Sài gòn.

Ông Thiệu giật sập vùng 1 và vùng 2 với dụng ý gì? Phải chăng là tạo sự xúc động trong chính trường Mỹ để quốc hội Mỹ viện trợ khẩn cấp để cứu miền Nam hay còn vì một lý do nào khác? Ông tự ý hành động hay làm theo lời của Mỹ? Có phải Mỹ muốn ông Thiệu giật sập miền nam càng sớm càng tốt để thế giới khỏi trong thấy thêm những cảnh thương tâm do chiến tranh gây ra để rồi lên án Mỹ thêm? Nếu ông một mình tự ý hành động, phải chăng đây là hành động " tái phối trí " và " di tản chiến thuật " để co cụm lại sức lực quân đội miền Nam nhằm đối phó với cuộc tổng tấn công của cộng sản? Nếu hành động theo lời Mỹ thì tại sao ngày 21 tháng 4 năm 1975 ông lên đài truyền hình chửi Mỹ thậm tệ, nào là bất tín, nào là bội ước, thất hứa, để rồi sau đó vài ngày ông và gia đình được Mỹ " bồng" ra ngoại quốc một cách nhẹ nhàng êm thắm. Liệu chuyện chửi Mỹ có phải là một vở kịch mà ông đóng quá hay không? Những câu hỏi này chỉ có Mỹ và ông Thiệu mới có thể trả lời nhưng ông Thiệu và Mỹ có lẽ sẽ không bao giờ trả lời những bí mật đen tối của lịch sử này. Lúc cùng gia đình đi phi cơ tới Đài Loan, được báo chí hỏi về trách nhiệm của ông trước sự hấp hối của miền Nam, Tổng thống Thiệu trả lời: " Đó là tất cả tôi có thể làm cho quê hương của tôi!" Lời nói vô liêm sỉ này của Thiệu được Trần văn Trà, thượng tướng của Việt Cộng, nhắc lại trong hồi ký " Kết thúc cuộc chiến tranh 30 năm " và phê bình lời nói trên của Nguyễn văn Thiệu như sau, " Đó là khẩu khí của một tên tổng thống ngụy quyền !"

Cách đây mấy năm lúc được Đài radio Bolsa của Việt Dzũng phỏng vấn nhân ngày 30 tháng 4. Ông Thiệu không dám để cho Việt Dzũng tự ý hỏi mà bắt Việt Dzũng phải đưa cho ông những câu hỏi trước rồi ông chọn câu hỏi mà trả lời. Phải chăng ông ngại là sẽ có những câu hỏi bất ngờ sẽ làm ông lúng túng khi trả lời và không khéo sẽ làm lòi ra cái tội giật sập miền Nam của ông ?. Có điểm cần lưu ý thêm là ông Thiệu đã giật sập luôn Tổng đoàn Bảo An của Phật giáo Hòa Hảo trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975, đây là một lực lượng chống cộng quyết liệt tại miền Tây. Điều này càng chứng tỏ âm mưu giật sập miền Nam của Nguyễn văn Thiệu quá sức rõ ràng. Thiệu giật sập miền Nam theo lệnh Mỹ hay giật sập miền Nam theo sự suy tính của mình và với mục đích gì thì phải cần thêm thời gian và tài liệu được công bố mới có thể trả lời được câu hỏi hóc búa này.

Trong cuốn " Đại thắng mùa xuân " của Đại tướng cộng sản Văn tiến Dũng, mặc dù huênh hoang khoe tài chỉ huy quân sự của y nhưng y cũng tiết lộ thêm là khi mở đầu trận đánh vào Ban-Mê-Thuộc vào ngày 10 tháng 3 năm 1975, bộ chính trị của Đảng cộng sản cũng chỉ tiên liệu rằng cũng phải mất 2 năm 1975 và 1976 mới dứt điểm được miền Nam. Không ngờ sau trận Ban-Mê- Thuộc, quân Cộng Sản tới đâu thì quân Cộng Hòa đã chạy trước rồi, thành ra thời gian tiên liệu chiến thắng miền Nam trong vòng 2 năm thì thu ngắn lại còn 55 ngày. Sự ngỡ ngàng của Văn tiến Dũng đã phần nào nói lên sự giật sập quân đội miền Nam có tính toán của chính quyền Nguyễn văn Thiệu. Quân đội cộng sản chỉ khựng lại ở mặt trận Xuân Lộc vì ở đây sư đoàn 18 của quân đội Việt Nam Cộng Hòa, dưới sự chỉ huy của tướng Lê minh Đảo đã được lệnh đánh và đã cầm chân ngay 3 sư đoàn Bắc quân. Và khi quân đội miền Bắc muốn tiến mau hơn nữa thì ăn ngay mấy trái bom hút không khí CBU làm kinh hoàng cán binh cũng như cấp lãnh đạo cộng sản tại mặt trận. Mỹ muốn dằn mặt bộ đội cộng sản là họ cần thì giờ để di tản số người Mỹ còn lại ở Saigòn. Cho nên mặt trận Xuân Lộc cứ dằng dai cho đến khi Mỹ rút gần hết số nhân viên ở Sài gòn thì mới " được lệnh " thất thủ. 

Không phải đợi đến những ngày cuối tháng 4 toàn dân miền Nam mới thấy được bộ mặt tồi bại, xấu xa, hèn hạ và vô liêm sĩ của Nguyễn văn Thiệu. Gần mười năm ăn trên ngồi trốc trong dinh Độc Lập, khi giặc đến gần kề thì cùng gia đình và tài sản thu tóm được trong những năm cầm quyền lên phi cơ và ca bài " Được làm vua, thua chạy trước." Trong thời chiến tranh Việt Nam, báo chí Mỹ phanh phui là Thiệu cùng với đàn em là Trung tướng Đăng văn Quang, đã buôn bán Bạch phiến làm giàu. Thứ trùm ma túy như Thiệu thì làm gì mà có chuyện yêu nước thương dân. Gặp thời loạn lạc, làm cai thầu chống cộng, Thiệu chỉ có một việc duy nhất là vơ vét cho đầy túi tham mà thôi. Đến khi quốc gia hưng vong thì lòi ngay ra bản chất ti tiện hèn nhát, đúng là " có cháy nhà " mới " lòi mặt chuột " Nguyễn văn Thiệu. Phó tổng thống Nguyễn cao Kỳ cũng chẳng có gì khá hơn, trong cuốn hồi ký " Việt Nam máu lủa quê hương tôi" , cựu thiếu tướng Đỗ Mậu đã chỉ ra rằng ông Kỳ và bà chị ruột là Nguyễn thị Lý đã buôn lậu thuốc phiện từ Lào về bán. Đúng là hai gương mặt cai thầu chống cộng do Mỹ dựng nên là Nguyễn văn Thiệu và Nguyễn cao Kỳ chẵng có tay nào sáng sủa, toàn là thứ buôn lậu ma túy.. Phải đợi tới những ngày cuối tháng 4 năm 1975 mới thấy rõ tư cách hèn kém của hai tay này. Bỏ quân, bỏ dân leo phi cơ mà chạy không một chút liêm sĩ và danh dự của người lãnh đạo. Thiệu và Kỳ sẽ còn bám víu quyền lực nếu ngày nào còn viện trợ của Mỹ mà thôi. Công tâm mà nói, đúng ra vào những ngày cuối tháng 4 năm 1975, Nguyễn cao Kỳ tính làm một cuộc đảo chánh chính phủ Dương văn Minh mới thành lập để đối đầu với Bắc quân. Dĩ nhiên là người Mỹ biết chuyện đó và trùm CIA ở Saigòn lúc đó là ông Polgar đã cảnh cáo Kỳ là không được lộn xộn, Kỳ nghe như thế thì riu ríu vâng lời vì đã nhiều năm làm việc với người Mỹ, Kỳ hiểu rằng nếu cứng đầu, bướng bỉnh cãi lại Mỹ thì chỉ mang họa vào thân. Trước đây khi ép buộc Tổng thống Thiệu ký hiệp định Paris vào tháng 1 năm 1973, Tổng thống Nixon cũng gửi nhiều bức thư cho Thiệu, cảnh cáo xa gần là Thiệu là nên nghe lời Mỹ mà ký, chứ nếu không thì sẽ chịu số phận thê thảm của Tổng thống Diệm. Những lời hù dọa úp mở này đã có kết quả: Nguyễn văn Thiệu đồng ý ký vào hiệp định Paris dù bản thân Thiệu cũng biết đây là hiệp định bán đứng miền Nam cho Cộng sản . ( Xin đọc kỹ cuốn sách " Hồ sơ mật Dinh Độc Lập " của Nguyễn tiến Hưng để coi lại những bức thư mà Nixon viết cho Thiệu nhằm thuyết phục và hăm dọa Thiệu ký ). Trùm xịa Polgar không muốn Kỳ đảo chánh để đối đầu với Bắc quân vì làm như thế là cản trở chuyện giật sập miền nam của Mỹ thế thôi.

Vào khoảng năm 1977, lúc đang còn ở Anh quốc, khi được những ký giả hỏi về tình cảnh của những người Việt đi vượt biển thì Nguyễn văn Thiệu trả lời một câu bạc bẽo, bất cận nhân tình và cạn tàu ráo máng với đồng bào Việt Nam như thế này: " Tôi không có dính dáng gì đến họ cả "( I have nothing to do with them). Cuộc đời của Nguyễn văn Thiệu được coi là một cuộc đời tốt số: vợ đẹp, con ngoan, quyền thế, giàu có nhưng Nguyễn văn Thiệu có một chỗ ngồi khá buồn trong lịch sử, đó là :thùng rác của lịch sử. Đối với những kẻ việt gian bán nước hại dân như Thiệu, thiết tưởng không còn chỗ ngồi nào sạch sẽ hơn dành cho ông ta. 

Miền nam sụp đổ năm 1975, nhân dân miền Nam đau đớn đã đành, thế nhưng ở tại miền Bắc, có một người tù tên Nguyễn chí Thiện đã tỏ bày những tình cảm đau đớn, uất hận như sau:

Khi Mỹ chạy, bỏ miền Nam cho cộng sản 
Sức mạnh toàn cầu nhục nhã kêu than 
Giữa tù lao, bệnh hoạn, cơ hàn 
Thơ vẫn bắn, và thừa dư sức đạn! 
Vì thơ biết một ngày mai xa xôi nhưng sáng lạn 
Không giành cho thế lực yêu gian 
Tuyệt vọng dẫu lan tràn 
Hy vọng dẫu tiêu tan 
Dân nước dẫu đêm dài ai oán 
Thơ vẫn đó, gông cùm trên ván 
Âm thầm, thâm tím,kiên gan 
Biến trái tim thành " chiếu yêu kính" 
giúp nhân gian 
Nhận rõ nguyên hình cộng sản 
Tất cả suy tàn, sức thơ vô hạn 
Thắng không gian, và thắng cả thời gian 
Sắt thép quân thù năm tháng rỉ han! 
Khi Mỹ chạy (1975)

Miền Nam chiến đấu chống Cộng sản trong suốt 21 năm ( 1954-1975) . Miền nam được sự hỗ trợ kinh tế và quân sự của Mỹ, tiếc rằng Mỹ không đóng vai trò một đồng minh tin cẩn, nhiệt thành mà Mỹ là hiện thân của một ông chủ thô bạo, thô bỉ, tiền hậu bất nhất để rồi mới đưa đến thảm kịch 30 tháng 4. Tổng thống Nixon trong những cuốn sách của ông đã có lần nhắc lại lời nói của một vài lãnh tụ của những nước ở Đông nam Á đã có một nhận định phũ phàng cay đắng về Mỹ : " Thà là kẻ thù của Mỹ hơn là bạn của Mỹ." Nếu chúng ta đánh giá Cộng sản là bọn " lừa thầy phản bạn" thì cũng có thể nói Mỹ là một thứ " phản bạn lừa thầy ". Cứ xem chuyện Mỹ bỏ rơi Nam Việt Nam và chuyện Mỹ đá Đài Loan ra khỏi Liên hiệp Quốc để dành chỗ cho Trung Cộng thì mới thấy người ta phê phán Mỹ bằng những danh từ bẩn thỉu, tàn tệ nhất cũng không có gì là quá đáng. Thật ra Mỹ quốc mới lập quốc mới trên 200 năm, dân lập nghiệp toàn là dân tha hương tứ xứ, ăn ở theo lối " ăn xổi ở thì" thì làm sao nước Mỹ gây dựng nổi một truyền thống ăn ở theo lối thủy chung, trước sau như một được. Hy vọng dần dà qua ngày tháng người Mỹ sẽ nhận ra rằng có những điều danh dự, tính thủy chung bè bạn, sự tự trọng của một quốc gia còn quí giá hơn nhiều những lợi nhuận nhất thời trước mặt. Không xây dựng được một uy tín thì trước sau gì cũng thất bại trên mặt trận ngoại giao và sẽ dẫn đến những thất bại khác. Đầu óc thực dụng của Mỹ chỉ thành công trong thời gian hiện tại và đôi khi sẽ gây mầm nguy hại về lâu về dài. Sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam là một bài học nhục nhã và người Mỹ sẽ tiếp tục bị thất bại nếu không rút tỉa ra những sai lầm nghiêm trọng mà họ đã phạm trong chiến tranh Việt Nam. Điều cần nhất là Mỹ phải hiểu rõ những điều điện văn hóa, nhân sinh của một nước trước khi dính líu đến nước đó. Mỹ thất bại với Việt Cộng là vì đánh giá quá thấp khả năng chiến đấu của Việt Cộng, đã không làm tròn vai trò đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa mà chỉ muốn độc đoán điều hành mọi chuyện, kể cả chuyện đưa quân Mỹ vào miền Nam làm mất chính nghĩa của miền Nam mà Tổng Thống Ngô đình Diệm lúc còn đương quyền đã cực lực phản đối. Người lính Mỹ mắt xanh mũi lõ có mặt trên đất nước Việt Nam có lẽ cũng không khác gì hình ảnh của lính Pháp viễn chinh ngày xưa. Thêm vào đó, Mỹ không muốn tìm một người lãnh đạo quốc gia có tư cách để cùng chống cộng vì những người này đôi khi xung khắc với đường lối của Mỹ, cho nên Mỹ chỉ muốn tìm tay sai để sai bảo cho dễ và những tên tay sai thì thường mất tư cách, tham nhũng, làm suy yếu tiềm năng chống cộng. Viện trợ của Mỹ trước đây đổ vô miền Nam như đổ vô cái thùng không đáy vì tệ nạn tham nhũng mà đứng đầu là vua tham nhũng Nguyễn văn Thiệu. Thượng bất chánh thì hạ tắc loạn, toàn miền Nam trở thành những ổ tham nhũng khắp mọi ngành làm tiêu hao sinh lực trong chuyện chống cộng. Phó tổng thống Trần văn Hương hồi đó cũng đã than thở về chuyện tham nhũng một cách cay đắng, " Diệt hết tham nhũng thì lấy ai ra mà làm việc." Miền Nam ngày xưa sụp đổ phần nào cũng vì tệ nạn tham nhũng và Việt Nam bây giờ cũng chẳng có gì khá hơn. Câu nói của cộng sản " Người người thi đua, ngành ngành thi đua " trở thành " Người người tham nhũng, ngành ngành tham nhũng" . Mức độ tham nhũng bây giờ còn khủng khiếp hơn trăm ngàn lần ngày xưa, đến nỗi cộng sản phải thú nhận chuyện tham nhũng trở thành quốc nạn. Cộng sản rồi cũng sẽ sụp đổ một phần nào cũng do quốc nạn này. Quả thật, nếu không học những bài học của lịch sử thì sẽ phải lập lại những vết xe đổ của lịch sử và cộng sản Việt Nam hôm nay sẽ bị bánh xe lịch sử nghiền nát vì những lỗi lầm của chế độ miền Nam mà họ đã đánh ngã.

Sau khi miền Nam sụp đổ năm 1975, có nhiều dư luận tìm cách đưa ra những nguyên nhân khiến Mỹ bỏ rơi Nam Việt Nam. Một trong những lý lẽ đưa ra là Mỹ, sau khi bắt tay được với Trung Cọng mà điển hình cho chuyện này là chuyến công du Trung Cộng của Tổng thống Nixon nên Mỹ không còn quan tâm đến chủ thuyết Domino ở Đông nam Á nữa. Hơn nữa, thị trường thương mại của 1 tỉ người Trung quốc sẽ béo bở hơn nhiều so với 17 triệu dân miền Nam Việt Nam. Đây cũng là một cách giải thích nhưng chuyện Mỹ quyết định rút khỏi miền Nam đã được nói rõ trong hồi ký của Tổng thống Nixon trong hồi ký của ông. Lúc ông Nixon đang làm tổng thống thì trung bình quân Mỹ thiệt hại chừng 400 người mỗi tuần. Có lần tờ báo Life đã đăng hình 400 người lính Mỹ thiệt mạng trong một tuần ở chiến cuộc Việt Nam và điều này làm cả nước Mỹ xúc động lớn lao. Mạng Mỹ bao giờ cũng có giá hơn mạng Việt Nam, máu của Việt Nam bao giờ cũng rẻ hơn máu Mỹ. Ngày xưa, trong thời gian đánh Pháp, Hồ chí Minh có tuyên bố với báo chí ngoại quốc rằng, " Nếu mười người Việt Nam chết đi để lấy mạng một binh sĩ Pháp thì cuối cùng rốt cuộc Pháp cũng sẽ là phía thua trận. " Chuyện người Việt Nam chết bao nhiêu trong chiến tranh là chuyện không đáng quan tâm đối với những nhà lãnh đạo Bắc bộ phủ nhưng số tổn thất sinh mạng của lính Mỹ dần dà trở nên một sự mất máu mà Pháp trước đây và Mỹ ngày nay không thể chịu đựng nổi. Phong trào phản chiến ngày càng lan rộng khắp nước Mỹ, nhân tâm càng ly tán. Rồi lại còn trên 500 tù binh Mỹ đang mỏi mòn trong tù ngục tại Bắc Việt. Cao điểm trong chuyện biểu tình phản chiến là chuyện vệ binh quốc gia bắn chết 4 sinh viên tại đại học Kent làm cả nước Mỹ xôn xao, xúc động . Lãnh tụ đa số của thượng viện Mỹ lúc đó là Thượng nghị sĩ Mike Mansfield đến gặp Tổng thống Nixon và nói " Tổng thống phải chấm dứt ngay cuộc chiến tranh Việt Nam. Nước Mỹ không thể chịu đựng thêm được nữa. " Ghi nhận lời nói của lãnh tụ đa số thượng viện Mansfied, ông Nixon quyết định chấm dứt cuộc chiến Việt Nam. Ông kêu gọi Bắc Việt trở lại hòa đàm Paris. Cộng sản làm cao không nhân nhượng. Ông Nixon quyết định dùng pháo đài bay B52 dội bom suốt 12 ngày đêm vào dịp lễ Giáng Sinh năm 1972. Hà Nội thấm đòn bom B52, bắn tiếng với Mỹ xin hòa đàm trở lại. Và thế là hiệp định hòa bình Paris năm 1973 ra đời. Mỹ chỉ muốn rút khỏi Việt Nam " trong danh dự " và họ đã hoàn thành nguyện ước. Hiệp định Paris năm 1973 được coi như bản văn Mỹ bán đứng miền Nam cho Cộng Sản. Tổng thống Thiệu thấy rõ điều ấy, lúc đầu dùng dằng không chịu ký, nhưng rồi dưới áp lực của Mỹ , Thiệu cũng đành ký với hy vọng mong manh rằng Mỹ sẽ giữ lời hứa tái can thiệp trở lại nếu cộng sản vi phạm hiệp định. Tất cả những chuyện này có trình bày rõ trong cuốn sách " Hồ sơ Dinh Độc Lập" ( The Palace File) của tiến sỹ Nguyễn tiến Hưng, một tổng trưởng của Tổng thống Thiệu. Sau khi hiệp định ký xong, Mỹ lấy được tù binh về thì cộng sản tiến hành ngay cuộc tổng tiến công để chiếm lấy miền nam vì chúng biết rằng Mỹ không bao giờ trở lại Việt Nam nữa. Lúc Trần văn Trà ra Hà Nội họp để chuẩn bị cuộc tổng tấn công, Phạm văn Đồng nhận xét như thế này " Bây giờ có cho kẹo Mỹ cũng không trở lại Việt Nam nữa." ( 1). Phạm văn Đồng đã nhận xét đúng. Lúc cộng sản đánh chiếm tỉnh lỵ Phước Long là nhằm thăm dò phản ứng của Mỹ. Mỹ bất động không phản ứng và chuyện này làm cho Hà Nội thêm vững niềm tin trong chuyện mở ra chiến dịch tiến chiếm miền Nam.

Biến cố 30 tháng 4 năm 1975 là một cơn đại hồng thủy đối với nhân dân miền Nam. Cả miền Nam vỡ tung ra như một đàn o­ng vỡ tổ, gia đình nào cũng tan tác, đau thương. Mấy trăm ngàn sĩ quan và viên chức hành chánh miền Nam chết dần chết mòn trong những trại tù tập trung cải tạo tàn ác của cộng sản. Hai mươi lăm năm trôi qua đủ để cho người miền Nam thấy rõ bản chất thâm độc, lưu manh của bạo quyền Hà Nội. Nhưng dân tộc Việt Nam không phải là một dân tộc dễ bị khuất phục. Những hoạt động chống đối âm ỉ vẫn tiếp tục và cho đến giờ phút này thì Phật giáo Hòa Hảo đã coi như tuyên chiến với Cộng Sản. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo đã mổ bụng phản đối bạo quyền. Máu tranh đấu của người dân Việt đã đổ, hy vọng sự đứng dậy tranh đấu của Phật giáo Hòa Hảo là cái mồi lửa châm vào thùng thuốc súng đã nén lại trong 25 năm qua để rồi có thể nổ tung và đốt cháy bạo quyền trên toàn quốc. Chế độ đàn áp của cộng sản đến giờ phút này dường như không còn hiệu quả trong chuyện trấn áp quyền sống, quyền tự do của con người. Càng đàn áp thì lại càng rút ngắn thời gian cai trị của bạo quyền. Khi người dân hết tin chính quyền thì chính quyền dứt khoát phải đổ, vấn đề bây giờ là chuyện thời gian mau hay chậm thế thôi. Bùa phép, mưu ma chước quỷ của cộng sản đến giờ này không còn hiệu nghiệm vì nói chung tâm thức của bộ đội và cán bộ ngày càng rã rời tê liệt đến mức không còn huy động vào chuyện đàn áp được nữa. Ai cũng thấy rõ kẻ thù của dân tộc là những tên đầu nậu nằm tại Bắc bộ phủ chứ không phải là thành phần dân tộc đang tranh đấu.

Cụ Phan bội Châu, một nhà đại văn hào cách mạng cả cuộc đời lo chuyện cứu nước, lúc về tuổi xế chiều, đã căn dặn lại cho quốc dân, " Vọng ngoại tắc tử " , đừng bao giờ mong mỏi người ngoại quốc đến cứu nước mình. Miền nam vì hoàn cảnh nghiệt ngã, đã phải dựa vào sự viện trợ của Mỹ để tồn tại, rốt cuộc c ũng bị Mỹ bỏ rơi một cách không thương tiếc và cuối cùng bị bức tử một cách đau đớn vì nhu cầu quyền lợi của Mỹ. Trong công cuộc đánh đổ cộng sản để cứu nước hôm nay, chuyện tranh thủ những lực lượng quốc tế là chuyện cần làm, nhưng không vì thế mà trở thành tay sai của những thế lực ngoại bang, vì làm như thế chúng ta sẽ trở thành một Lê chiêu Thống thứ hai, đi làm chuyện " cõng rắn cắn gà nhà", làm hại quê hương và đồng bào. Công tác ngoại vận không thể biến thành sự nô lệ các thế lực ngoại bang mà lịch sử dân tộc Việt Nam trong mấy chục năm vừa qua đã cho chúng ta thấy rõ điều đó. Và khi thấy rõ sự nguy hại của nó thì phải tránh bằng mọi giá. Trong thời điểm bây giờ, phải tận lực để theo đuổi chuyện đánh đổ cộng sản ở quê hương, đừng có ngồi mà trông ngóng Mỹ nói riêng và các nước Tây phương nói chung bật " đèn xanh , đèn đỏ". Ngồi đó mà trong ngóng ngoại bang bật " đèn xanh, đèn đỏ" chỉ càng tỏ lộ thêm " tâm thức nô lệ" mà thôi. Còn mang tâm thức nô lệ hèn kém này trong người thì ngày quang phục quê hương sẽ còn xa xôi diệu vợi.

Miền nam mất là một vết thương đau đớn của chúng ta ( Miền nam ơi từ buổi tiêu tan. Ta sống trọn vẹn ngàn cơn thác loạn (2) ). Vết thương đau theo thời gian rồi cũng sẽ lành. Sự đau thương than khóc giờ đây đã nhường lại cho sự khôn ngoan tỉnh táo để tìm ra những phương cách nhằm quật ngã bạo quyền đang trên bờ vực thẳm. Mỗi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước, đều phải đổ sức, đổ công, đổ máu vào cuộc chiến đấu quyết liệt cuối cùng này để quê hương Việt Nam còn có một ngày mai. Cuộc đời rồi ai cũng phải chết, nếu được chết đễ gỡ xích xiềng cho đồng bào ruột thịt, cho tổ quốc có một tương lai tươi sáng thì chuyện chết không phải là một chuyện phải ngại ngần. Bóng tối u ám, chết chóc của chủ nghĩa cộng sản đã bao trùm lên quê hương Việt Nam thương đau đã trên nửa thế kỷ, ngày đồng bào vùng lên một mất một còn với bạo quyền cộng sản là ngày vầng dương lại ló dạng trên đất nước thương yêu. 

Những tia nắng le lói đầu ngày đó sẽ là những niềm hy vọng trào dâng trong lòng mỗi người Việt Nam sau bao tháng năm đau thương, tàn lụi....

Lawndale, một sáng đầu xuân lành lạnh trung tuần tháng 4 năm 2002 
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
(1) Hồi ký " Kết thúc cuộc chiến 30 năm"của Trần văn Trà 
(2) Trich từ bài thơ " Vì ấu trĩ " của Nguyễn chí Thiện 


Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973, nguyên nhân làm VNCH thất thủ

Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris 1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới ngày nay.
Nguyễn Quốc Khải 
Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.
Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.
Ảnh tư liệu

Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973

Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.  Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.

Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.

Trong khi đàm phán, Hoa Kỳ tiếp tục rút quân và thi hành chương trình Việt Nam hóa để quân lực VNCH dần dần thay thế quân lực Hoa Kỳ.

Khoảng cách chạy tội

image003-250.jpg
Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973. Hiệp Định Paris được ký kết ngày 27-1-1973.
Việc mất miền Nam Việt Nam ít người Việt thời đó có thể dự đoán, nhưng không phải là điều ngạc nhiên đối với Hoa Kỳ mặc dù đã có Hiệp Định Paris. Thật vậy, chánh quyền Nixon không muốn thấy miền Nam Việt Nam sụp đổ trước cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972, vì như thế có nghĩa là hi vọng thắng cử nhiệm kỳ II của Ông Nixon cũng sẽ sụp đổ theo.

Vì muốn bảo vệ thanh danh cho Hoa Kỳ và sự nghiệp chính trị của mình, Ông Nixon đã làm đủ mọi thứ để giữ miền Nam Việt Nam khỏi phải rơi vào tay CSVN trong nhiệm kỳ I (1969-1972). Trong cuộc họp bí mật đầu tiên với Thủ Tướng Chu Ân Lai vào tháng 7, 1971 tại Bắc Kinh, Ông Kissinger bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng Sản.

Trên một tài liệu thuyết trình cho chuyến đi Bắc Kinh bí mật đầu tiên, Ông Kissinger ghi chú rằng Hoa Kỳ cần một thời gian chạy tội. Trung Quốc có sự cam kết của Hoa Kỳ. Ông Kissinger viết nguyên văn như sau:

“We need a decent interval. You have our assurance.”

Theo những tài liệu do các phụ tá của Ông Kissinger ghi chép lại những lời đối thoại của ông với Thủ Tướng Chu Ân Lai, Ông Kissinger nói rằng Hoa Kỳ sẽ ấn định thời hạn chót cho việc rút quân và trong thời gian rút quân sẽ có ngưng bắn trong khoảng 18 tháng và đàm phán. Nếu thỏa hiệp thất bại, dân Việt Nam sẽ tự giải quyết. Nếu chính phủ miền Nam Việt Nam không được quần chúng ưa chuộng, lực lượng của Hoa Kỳ càng rút nhanh, chính phủ này càng sớm bị lật đổ và Hoa Kỳ sẽ không can thiệp.

Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

“We will set a deadline for withdrawals, and during withdrawals there should be a cease-fire, and some attempt at negotiations. If the agreement breaks down then it is quite possible that the people in Vietnam will fight it out. If the [South Vietnamese] government is as unpopular as you seem to think, then the quicker our forces are withdrawn the quicker it will be overthrown. And if it is overthrown after we withdraw, we will not intervene. We can put o­n a time limit, say 18 months or some period [for a cease-fire].  National Security Advisor Henry Kissinger, Beijing, July 9, 1971.

Hoa Kỳ cũng không muốn miền Nam Việt Nam mất nhanh chóng trong vòng sáu tháng sau khi Hiệp Định Paris ký kết để Hoa Kỳ không bị mang tiếng thua trận. Nhưng nếu là hai năm, sẽ không có vấn đề gì cả.  VNCH cần phải tự lực chiến đấu trong một thời gian đủ dài để chịu trách nhiệm về cuộc bại trận cuối cùng. Sau đây là phần phát biểu thâu băng của Ông Nixon về vấn đề này:

“The country would care if South Vietnam became Communist in a matter of six months. They will not give a damn if it’s two years.” President Richard M. Nixon, March 17, 1973.

Ông Kissinger trước đó cũng có quan điểm tương tự về việc mua thời gian để tháo chạy mà không bị bẽ mặt:

“ We’ve got to find some formula that holds the thing together a year or two, after which – after a year, Mr. President, Vietnam will be a backwater. If we settle it, say, this October, by January ’74 no o­ne will give a damn.” National Security Adviser Henry A. Kissinger, August 1972.

Cả hai ông Nixon và Kissinger đều đồng ý rằng VNCH có thể sẽ mất sau cuộc bầu cử tại Hoa Kỳ vào tháng 11, 1974. Nếu xẩy ra vào mùa xuân 1975, thời điểm này tốt hơn là mùa xuân 1976.

Nhà Sử Học Ken Hughes thuộc University of Virginia nhận xét rằng:

“Nhiều người có tư tưởng phóng khoáng nghĩ rằng Ông Nixon thật sự cương quyết muốn ngăn chặn Cộng Sản thắng ở Việt Nam. Nhưng Ông ta chỉ cương quyết ngăn chặn Đảng Dân Chủ thắng tại Hoa Kỳ mà thôi.” Sử Gia Ken Hughes, June 2010.

Vào tháng 2, 1972, Ông Nixon viếng thăm Bắc Kinh lần đầu tiên, làm thân với Trung Quốc, khởi sự thảo luận với Chủ Tịch Mao Trạch Đông và Thủ Tướng Chu Ân Lai về chính sách một nước Trung Hoa, và đạt được sự bảo đảm của Bắc Kinh về giải pháp hòa bình trong danh dự đối với Việt Nam với một khoảng cách chạy tội (decent interval).

Kéo dài chương trình Rút Quân và Việt Nam Hóa chiến tranh

Những tài liệu mới giải mật cũng cho thấy Ông Nixon và Ông Kissinger tin rằng:

1.    Chương trình Việt Nam hóa chiến tranh sẽ không làm cho miền Nam Việt Nam có đủ khả năng để tự bảo vệ.

2.    Những điều kiện “hòa bình” mà Ông Kissinger đã thương thuyết sẽ làm miền Nam Việt Nam sụp đổ sau một thời gian một hoặc hai năm (khoảng cách chạy tội).

Để che đậy sự thất bại của chiến lược Việt Nam Hóa và thương thuyết, Ông Nixon với sự khuyến cáo của Ông Kissinger, kéo dài cuộc chiến tranh đến năm thứ tư (1972) của nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên – dài đủ để tránh sự sụp đổ của VNCH trước ngày bầu cử nhiệm kỳ II.  Chính vì vậy mà Ông Nixon kéo dài chương trình rút quân qua nhiều năm.

Trong cuốn băng thâu bí mật tại phòng bầu dục trong Tòa Nhà Trắng, Ông Nixon nói:

“We’ve got dates in mind. We’ve got dates everywhere [from] July to August to September [to] October [to] November to December [to] January of 1973.” President Richard Nixon, September 4, 1971.

Quân số Hoa Kỳ ở Việt Nam bắt đầu giảm từ cao điểm 543,000 người vào năm 1968 và đến đầu năm 1973 mới chấm dứt, tức là sau cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 11, 1972.

Đối với công chúng, Ông Nixon phải rút một số quân về nước đủ để thỏa mãn hai mục tiêu:

1.    Chứng tỏ chương trình Việt Nam hóa thành công.

2.    Giữ lời hứa khi tranh cử.

Đối với sự nghiệp chính trị, Ông Nixon hoàn toàn bám vào lịch trình tranh cử để hoạch định chương trình rút quân, dù có đạt được thỏa thuận với Hà Nội hay không (Theo Ông Nixon sắc xuất chỉ có 40% - 55 %) và bất kể VNCH có đứng vững sau khi quân Hoa Kỳ rút về nước hay không.

Hãy nghe cuộc đối thoại giữa Tổng Thống Nixon và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Kissinger vào ngày 11-3-1971:

Nixon: “We’ve got to get the hell out of there.”

Kissinger: “No Question.”

Tuy nhiên trước công chúng Hoa Kỳ, Ông Nixon vẫn hứa một giải pháp hòa bình trong danh dự. Theo đó, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam chỉ khi nào chương trình Việt Nam hóa hoặc cuộc thương thuyết thành công – khi miền Nam Việt Nam có thể tự bảo vệ và tự quản trị.

Hoa Kỳ thất hứa không can thiệp trong trường hợp Hiệp Định Paris bị vi phạm

Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu tin rằng những điều kiện Hoa Kỳ cho phép 150,000 quân CSBV ở lại miền Nam sẽ khiến VNCH sụp đổ. Theo tài liệu mới được bạch hóa, trong buổi họp với Tướng Alexander Haig, phụ tá Cố Vấn An Ninh Quốc Gia, tại Saigon vào ngày 4-10-1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu tuyên bố rằng theo đề nghị của Hoa Kỳ, chính phủ VNCH tiếp tục tồn tại. Nhưng đây chỉ là giải pháp đau lòng và sớm muộn chính phủ này sẽ sụp đổ và theo đó Ông Thiệu sẽ phải tự sát.

Nguyên văn bằng tiếng Anh như sau:

“In the proposal you have suggested, our Government will continue to exist. But it is o­nly an agonizing solution, and sooner or later the Government will crumble and Nguyen Van Thieu will have to commit suicide somewhere along the line.” President Nguyen Van Thieu, Saigon, October 4, 1972.

Ông Thiệu cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả tạo của Hoa Kỳ làm cho cuộc hòa đàm ở Paris ngưng lại. Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CSBV tấn công. Đồng thời Ông Nixon đe dọa sẽ cắt viện trợ để buộc Ông Thiệu phải chấp nhận đề nghị của Hoa Kỳ. Một tài liệu mới được bạch hóa cho thấy rằng Ông Nixon đe dọa đến cả tính mạng của Ông Thiệu:

“I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.” President Richard Nixon, January 20, 1973.

image005-250.jpg
Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris. Ông Lê Đức Thọ và Ông Henri Kissinger tại cuộc hòa đàm Paris.
Hiệp Định Paris chỉ giúp Hoa Kỳ rút được quân ra khỏi Việt Nam an toàn, chấm dứt việc can thiệp trực tiếp của Hoa Kỳ vào cuộc chiến tại Việt Nam, nhưng đã không mang lại hòa bình cho Việt Nam. Thật vậy, khoảng một năm sau, vào tháng 1, 1974, Tổng Thống Thiệu tuyên bố Hiệp Định Paris không còn giá trị sau khi Cộng quân lợi dụng cuộc ngưng chiến trong năm 1973, tiến hành những trận đánh nhỏ để chiếm những vùng xa xôi hẻo lãnh.

Trong khi đó Quốc Hội Hoa Kỳ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973, 1.1 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho tài khóa 1975. Tình trạng miền Nam Việt Nam trở nên nghiêm trọng hơn vào cuối năm 1974 khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ không thể thể dùng không lực để trợ giúp miền Nam Việt Nam khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris.

Sau khi Đạo Luật Viện Trợ Ngoại Quốc 1974 ban hành ít lâu, CSBV tiến đánh và chiếm tỉnh Phước Long vào ngày 6-1-1975 và tỉnh Bình Long vào ngày 7-1-1975. Khi không thấy Hoa Kỳ có phản ứng nào cả, ngày 8-1-1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công để giải phóng miền Nam bằng cách ngang nhiên xua quân vượt qua biên giới Bắc Nam, tấn công toàn diện Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và cuối cùng chiếm Saigon vào 30-4-1975 đúng với thời hạn mà hai Ông Nixon và Kissinger dự đoán.

Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ James Schlesinger điều trần trước Quốc Hội vào ngày 14-1-1975 rằng Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu. Bẩy ngày sau, Tổng Thống Gerald Ford, người thay thế ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, tuyên bố rằng Hoa Kỳ không sẵn sàng tái tham chiến tại Việt Nam. Tại New Orleans vào ngày 23-4-1975, Ông Ford tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt.

Vào buổi trưa ngày 29-4-1973, Đài Phát Thanh Saigon truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua dọng ca của Bing Crosby, báo hiệu cuộc di tản cuối cùng của Hoa Kỳ bắt đầu.

Phục hồi Hiệp Định Paris 1973?

Gần đây, có vài nhóm người Việt tại hải ngoại chủ trương vận động quốc tế để phục hồi lại Hiệp Định Paris 1973, đặc biệt mới đây nhất là Ủy Ban Lãnh Đạo Lâm Thời VNCH (UBLĐLTVNCH), một hình thức chính phủ lưu vong nhưng không dùng danh xưng tổng thống hay thủ tướng, của Ông Nguyễn Ngọc Bích (75 tuổi). Các tổ chức này tin rằng nếu vận động quốc quốc tế làm sống lại Hiệp Định Paris 1973 (nhưng không nói gì đến Hiệp Định Geneva 1954 mà chính VNCH đã xé bỏ), Hà Nội sẽ phải trả lại miền Nam Việt Nam cho VNCH.

Giả sử rằng UBLĐLTVNCH có khả năng làm chuyện này, mặc dù tôi nghĩ là không có một cơ may nào cả, UBLĐLTVNCH sẽ không thâu tóm toàn bộ phần đất dưới vĩ tuyến thứ 17 ngay được. Hiệp Định Paris đòi hỏi tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam, UBLĐLTVNCH sẽ phải ra tranh cử với Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (chính thức bị giải tán vào ngày 25-4-1976) . Nhưng trước hết, UBLĐLTVNCH sẽ phải đưa hàng triệu người Bắc 75 về nguyên quán ngoại trừ 150,000 quân CSBV được Ông Kissinger và Ông Chu Ân Lai cho phép ở lại miền Nam từ 1973 đến nay. Tóm tắt lại để đỡ tốn giấy mực, ý tưởng phục hồi Hiệp Định Paris là hoang tưởng nếu không muốn nói là bệnh hoạn. Ngay cả nước Mỹ cũng muốn quên Hiệp Định Paris 1973 đau lòng này do chính họ dựng lên.

Kết luận

Hoa Kỳ dưới thời Nixon đã bỏ rơi đông minh của mình là một điều đáng hổ thẹn đối với một quốc gia biết tôn trọng những giá trị cao quý. Nhưng may thay, những sử gia và những nhà phân tách Hoa Kỳ ngày nay đã phanh phui ra sự thật và lên án nặng nề những lỗi lầm đó. Đặc biệt GS Larry Berman đã viết hai cuốn sách được nồng nhiệt đón nhận:

1.    Planning Tragedy: The Americanization of the War in Vietnam (1982).

2.    No Peace No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (2001).

Về phía người Việt, hơn ai hết, chúng ta có trách nhiệm lớn về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam và đưa phần đất này vào tay Cộng Sản. Nếu Ông Hồ Chí Minh khôn ngoan đã không du nhập chế độ Cộng Sản vào Việt Nam và nếu người dân Việt Nam, kể cả một thành phần không nhỏ trí thức, khôn ngoan đã không đi theo Cộng Sản để reo rắc đau thương triền miên cho đất nước trong một nửa thế kỷ và làm đất nước chậm tiến như ngày nay. Một bài học lớn là đừng bao giờ chui vào vòng nô lệ của bất cứ ngoại bang nào dù là đồng minh.

Tài liệu tham khảo:

1. Larry Berman, “No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam,” The Free Press, 2001.

2. Finding Dulcinea, “On this Day: Paris Peace Accords Signed, Ending American Involvement in Vietnam War,” January 27, 2012.

3. Trọng Đạt, “Nixon và Hòa Bình Trong Danh Dự,” 27-01-2012.

4. Kennedy Hickman, “Vietnam War end of conflict, 1973-1975,” Military History.

5. Ken Hughes, “Fatal Politics: Nixon’s Political Timetable For Withdrawing From Vietnam,” Diplomatic History, Vol. 34, No. 3, June 2010.

6. Stanley Karnow, “Vietnam A History,” Penguin Books, 1997.

7. Jeffrey Kimball, “Decent Interval or Not? The Paris Agreement and the End of the Vietnam War,”December 2003.

8. Henry Kissinger, “Years of Renewal,” Simon & Schuster, 1999.

9. Richard Nixon, “No More Vietnam,” Arbor House, New York 1985.

10. Frank Snepp, “Decent Interval,” Random House, 1977.

11. Global Security, “A Decent Interval – Who Lost Vietnam?” May 7, 2011.

12. Bách Khoa Toàn Thư Wikipedia, “Hiệp Định Paris 1973.”

Nếu VNCH Thắng?

S VN money

GNA: Trong bài phỏng vấn Riêng Tư ngày 30/1/2014 của phóng viên Trần Lương, Alan Phan có trả lời như sau về một câu hỏi:

Hỏi: Tuy nhiên, T/S có thực sự nghĩ rằng chế độ cũ của miền Nam trước 1975 có thể đem lại cho đất nước một đời sống vật chất hay văn hoá khả quan hơn cho phần lớn người dân?

Đáp: Tôi không biết. Muốn phán xét thật công bằng, phải đem cân 2 chế độ theo rất nhiều chuẩn mực; rồi phải có sự đồng thuận về giá trị của từng chuẩn mực. Nếu khả thi, thì đây phải là một nghiên cứu sưu tầm rất công phu, khoa học, tốn nhiều thập niên và cần sự đóng góp của cả ngàn chuyên gia tại khắp mọi lãnh vực.

Nhưng tôi nhìn nhận một điều: tôi rất hạnh phúc với môi trường sống trước 1975. Thành phố còn ít người, rác và ô nhiễm không tràn ngập, cảnh quan còn xanh đẹp với những kiến trúc nửa Âu nửa Á, con người đối xử với nhau tình tự hơn, sự khoan thai và thư giãn luôn hiện diện dù chiến tranh bao quanh…Nhiều yếu tố cấu thành có thể không khách quan; nhưng Saigon hay Đà Lạt, Nha Trang ngày xưa nơi tôi sống chứa đựng những vần thơ trong từng hơi thở; lênh láng những sắc màu đơn giản hài hoà trong mỗi bước đi.

Bây giờ, tại những nơi đó, nhất là Saigon và Hà Nội, toàn các hiện tượng văn hoá thật chướng tai gai mắt, thái độ tham lam chụp giật chen lấn hiện diện trên từng khuôn mặt, từng hành xử…cảnh quan thành phố thì lộn xộn không quy hoạch, vỉa hè bị chiếm, cây xanh bị chặt…Mỹ có thành ngữ “it’s really ugly” (thật là xấu xí)…

 

Một bạn đọc gởi đến bài viết này như một phản bác. Xin ghi nhận và post nơi đây một góc nhìn khác.

Tác giả: Lê Phú Nhuận 14 Mar 2014

Vừa nhận được một e-mail đề cập đến câu hỏi: “TRONG TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM CỘNG HOÀ THẮNG QUÂN CỘNG SẢN VIỆT NAM, THÌ LIỆU TÌNH HÌNH CÓ KHÁC HƠN CHÚT NÀO CHĂNG? ” Tôi là lính, nên xin trả lời rất nhanh và rất đơn giản, ngay bây giờ, và dễ nhận thấy.

1. Trước hết, dù là giả thuyết, câu hỏi sai từ trong căn bản . Miền Nam không tấn công miền Bắc, nên không thể có chiến thắng. Sau khi ký hiệp định đình chiến 1954 , miền Nam lo xây dựng đất nước, ổn định đời sống toàn dân, chỉ muốn sống trong hoà bình ..

Ngay từ lúc đó , cộng sản VN đã gài người ở lại , nằm vùng , chuẩn bị sẵn cho cuộc xâm chiếm miền Nam , với sự viện trợ tối đa của cả Nga, lẫn Tầu như đã thấy . Mầm mống chiến tranh , cội nguồn của bao tội ác , hi sinh hàng triệu sinh mạng đồng bào cả Nam lẫn Bắc , xương máu chất chồng , bom đạn khói lửa ngút trời . . . xuất phát từ kẻ chủ chiến , từ kẻ xâm lăng , không phải từ phía chống đỡ , phải tự vệ . Rõ như ban ngày !

Đặt câu hỏi theo kiểu này là một lối lập lờ đánh lận con đen, để lừa bịp, để đánh tráo , nhì nhằng giữa hai phe đánh nhau. Vì vậy phải bác bỏ câu hỏi ấy ngay từ đầu , trước khi thử đi vào giả thuyết chỉ để cho rõ bản chất của hai chế độ ..

2. Giả dụ rằng, trong trường hợp mà miền Nam thắng vào tháng Tư 1975, thì tôi đoan chắc tình hình tốt hơn nhiều, nhiều lắm, và ai cũng có thể hiểu được, không chút gì ngụy biện. Tôi nói theo kiểu lính nên rất dễ hiểu.

- Này nhé. Lúc ấy người dân miền Nam giàu hơn người dân miền Bắc rất nhiều. Dân miền Nam không thể nào có ý nghĩ quái đản là ra Bắc để vơ vét , lấy về , mà trái lại sẽ rất vui vẻ mang quà ra Bắc cho thân nhân, đồng bào mình ngoài đó. Sẽ không có cảnh đày, đồng, đạp như đã thấy. Hàng triệu dân miền Bắc di cư vào Nam năm 1954 chắc chắn sẽ hối hả mang đủ thứ về quê cho bà con mình. Cuộc tương phùng sẽ rất cảm động, rất thân tình, rất vui mừng, chứ không phải ngỡ ngàng như đã thấy.

- Chính quyền miền Nam là một đồng minh trong thế giới Tự Do , tôn trọng quyền tư hữu , nên cũng sẽ không có cảnh đánh tư sản , kiểm tra , cướp của , cướp nhà như CS đã làm đối với dân miền Nam. Nếu chưa thể nâng mức thu nhập ở miền Bắc lên ngang với đời sống ở miến Nam thì cũng không có cảnh chặt ngang cho tất cả nghèo như nhau. Cũng không có cảnh đuổi dân đi vùng kinh tế mới để chiếm nhà, cướp đoạt tài sản, như đã thấy .

- Các cơ sở nhà nước, các khu vực quân sự sẽ không bị ai chiếm đoạt vì luật pháp VNCH không thừa nhận quyền sở hữu cho bất cứ cá nhân hay đảng phái nào. Do đó sẽ không có cảnh con ông, cháu cha nào chiếm đoạt công thự, đất đai nhà nước làm của riêng, như đã thấy .

- Miền Nam đang được nhiều nước tân tiến, giàu có ủng hộ, nên họ sẵn sàng viện trợ để tái thiết sau chiến tranh. Lúc ấy , nền kinh tế miền Nam tự nó đã không hề thua sút các nước tại Á Châu , lại có dịp vươn mình lên, phát triển hơn, ngay tức khắc , không hề bỏ lỡ cơ hội hàng chục năm, để dân phải thiếu cả gạo để ăn, phải ăn bo bo, bột mì . . . như đã thấy ..

- Điều quan trọng nhất là Tình Người trong thời kỳ chuyển tiếp. Sẽ không bao giờ có một tinh huống tàn nhẫn, vô nhân đạo như đã thấy. Điều này thuôc về bản chất của hai chế độ. Cộng sản là giết lầm hơn bỏ sót, đào tận gốc, trốc tận rễ, truy cứu lý lịch ba , bốn đời , dù chỉ là đứa bé mới cắp sách đi học, dù là thầy tu, dù là giáo viên, là bác sĩ, y tá . . ..

Miền Nam thì khác hẳn, nên mới có nhiều Việt cộng nằm vùng trong mọi cơ quan, ngay cả trong thời gian chiến tranh.

Thế thì miền Nam sẽ giải quyết cách nào đối với các cán binh , cán bộ miền Bắc ?

Đang khi còn chiến tranh mà miền Nam còn áp dụng chính sách Chiêu Hồi, hễ buông súng, bỏ ngũ, cam kết lương thiện làm ăn, thì tự do sinh sống như mọi người. Dĩ nhiên phải trình diện, giao nộp toàn bộ vũ khí, khai báo lý lịch để thiết lập hồ sơ cá nhân, xác định nơi cư trú và lần lượt trả về nguyên quán với gia đình, như thủ tục chiêu hồi vẫn làm trong nhiều năm, như đã thấy.

Và dù có người nào bị tạm giữ trong một thời gian chắc cũng không phải đói mờ, đói mịt , khoai sắn cũng không đủ no như dưới thời công sản. Gia đình cũng sẽ không bị cấm đoán, hạn chế việc tiếp tế thăm nuôi như đã thấy. Và chắc chắn sẽ không có màn lừa bịp mười ngày thành ba năm, rồi bảy, tám, mười, mười lăm năm, như đã thấy! Và sẽ không có hàng ngàn nhà tù từ Nam tới Bắc như đã thấy!

Cần nhấn mạnh một điểm rất nhân bản của miền Nam là thủ tục bảo lãnh người thân. Gia đình nào có người thân bị bắt vì hoạt động cho cộng sản, nếu chịu đứng ra bảo lãnh trách nhiệm, thì phần lớn sẽ được cứu xét cho về với gia đình, ngay trong lúc chiến tranh. Hầu như gia đình nào cũng có thân nhân ở bên này hay bên kia.

Sau chiến tranh, bà con miền Nam sẽ được khuyến khích đứng ra bảo lãnh cho thân nhân trong hàng ngũ cộng sản, trở về với gia đình. Chế độ cộng sản không khuyến khích thủ tục ấy, ngay cả cha-con, vợ-chồng, anh-em. Trái lại, họ khuyến khích, thúc đẩy thân nhân đi vào tù “học tập ” cho tốt , “lao động” cho giỏi , để khỏi bị đảng nghi ngờ , như đã thấy !

Nhìn sự kết hợp hai miền đông-tây của Đức , người ta có thể hình dung ra phần nào cảnh kết hợp hai miền Nam-Bắc , dù không nhất thiết phải giống y như thế .

Phần quan trọng hơn nữa là Tổ Quốc Việt Nam đã không bị mất nhiều phần lãnh thổ về tay Tầu cộng , vì không bị lệ thuộc vào “đồng chí vĩ đại” phương bắc , – kẻ thù truyền kiếp của dân tộc Việt. Sẽ không mất ải Nam Quan, không mất một phần thác Bản Giốc , không phải dấu giếm đồng bào mình , lén lút ký kết hiệp ước biên giới với rất thiệt thòi cho dân tộc mình , như đã thấy !

Tóm lại, theo cái nhìn của một người lính già, rất đơn giản nhưng rất thật, từ đời sống vât chất đến đời sống tinh thần, theo giả thuyết trên, thì nếu miền Nam thắng , thực tế tốt hơn rất nhiều.

Tôi cố tình lập lại nhiều lần ba chữ “như đã thấy” để chứng minh đó là một thực tế rất dễ nhận thấy ..

Và nếu (vẫn nếu) như thế, thì giờ này tớ đang nghỉ hưu ở Sàigòn !./-

LÊ PHÚ NHUẬN

42 năm sau ngày 30/4/1975 qua cái nhìn của người trẻ

Cát Linh
Những người trẻ sinh ra sau khi chiến tranh chấm dứt có sự hiểu biết về ngày 30 tháng 4 năm 1975 như thế nào và họ nhìn thấy gì trong sự thay đổi của đất nước mấy mươi năm qua ?

3041

Người Sài Gòn di tản hôm 29/4/1975. AFP photo

Cách gọi

Cứ đến tháng Tư của mỗi năm, tấm ảnh đen trắng về những đứa trẻ đứng nhìn ra ngoài ô cửa nhỏ xíu trong một chiếc phi cơ đã được tháo hết những băng ghế ngồi, trên mặt sàn máy bay thì chật kín những đứa trẻ khác đang nằm, ngồi lẫn lộn, lại xuất hiện trên các diễn đàn như một lời nhắc nhở…

42 năm, kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, sẽ là quá nửa đời người với những cậu bé cô bé trong tấm ảnh ấy. 42 năm sau, họ sẽ nhớ lại ngày đó với một ký ức mang màu sắc của "số phận", là cách nói của một người trên mạng xã hội khi xem tấm ảnh ấy.

Nhưng, với những người sinh năm 80, 90, sẽ là một thời đại hoàn toàn độc lập, về tư tưởng, thể chế, chung hơn hết là ý thức hệ.

Họ là những người được tiếp nhận từ ngữ mới, văn hoá mới, phong cách xã hội mới. Họ không trải qua giai đoạn gọi là "chuyển giao chế độ". Chính vì vậy, không ít người ở lứa tuổi này nhìn về ngày 30 tháng 4 với một tâm thế hoàn toàn trung dung.

Sao Mai, thế hệ 9X, là một trong số những người ấy. Rất đơn giản, cô gọi đó là ngày giải phóng, theo văn hoá giáo dục mà cô được truyền dạy.

"Tức là thường thì từ khi đi học đến khi lớn lên, em được biết 30 tháng 4 là ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, ngày 1 tháng 5 là ngày Lễ Lao động. Nếu đi học hay đi làm thì sẽ được nghỉ hai ngày đó".

Cụ thể hơn, nhưng cũng không kém phần đơn giản khi Sao Mai hiểu về ngày giải phóng.

"Ngày trước thì có thể là miền Bắc được giải phóng trước, không bị ách đô hộ cũng như không bị giặc ngoại xâm lấn chiếm, được hoà bình trước. Miền Nam thì vẫn phải chống chọi với giặc ngoại xâm, với kẻ thù. Ngày 30 tháng 4 là ngày đánh dấu mốc miền Nam cũng được hoà bình như miền Bắc và thống nhất đất nước".

Không phải chỉ riêng Sao Mai, mà tất cả những ai trải qua nền giáo dục dưới mái trường Xã hội chủ nghĩa đều biết đến cách gọi của cụm từ "Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước".

Nguyễn Khang, một thế hệ 9X khác, từ Sài Gòn cho biết anh không xa lạ với cách nói ấy :

"Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đó là theo quan niệm của em thời còn đi học".

Còn cho đến bây giờ, Khang cho biết anh chỉ chấp nhận một nửa của cách gọi ấy, vì không thể phủ nhận sự thật là Nam, Bắc một nhà từ sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

"Còn cho tới thời điểm bây giờ, em gọi nó là ngày thống nhất đất nước. Gọi là giải phóng miền Nam thì không hợp lý vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu. Nhưng không thể phủ nhận được ngày đó là ngày thống nhất đất nước".

Cũng chia ra hai thời điểm để có hai sự hiểu biết và chấp nhận, là ý kiến của Sỹ Bình, thế hệ 8X.

"Ở thời điểm ngày xưa, ngồi trên mái nhà trường đó, gọi ngày 30 tháng 4 là ngày giải phóng. Nhưng mãi sau này, hiểu ra được vấn đề, thì ngày 30 tháng 4 là ngày buồn của dân tộc Việt Nam. Là một ngày gọi là thấm máu, nhuộm máu quê hương. Người ta thường gọi là Tháng Tư đen".

Tính chất

3042

Bên trong một chiếc phi cơ của chương trình Babylift tháng 4/1975. Bên trong một chiếc phi cơ của chương trình Babylift tháng 4/1975.

‘Cái sự hiểu ra vấn đề’ đó được Sỹ Bình cho biết là từ lúc internet phát triển, truyền thông nhà nước và báo chí không còn là "nhà trường thứ hai" của người dân. Thay vào đó, các bạn trẻ như Sỹ Bình nói rằng họ đã tìm thấy "sự thật khác ẩn chứa trong đó".

"Một cái ngày gọi là người Cộng sản Bắc Việt đã vào đánh cướp giết đất quê hương của người miền Nam. Những trận đánh mà cộng sản cho là giải phóng đó thì chính là những trận đánh giúp cho Tàu Cộng và Liên Xô".

Cho dù các bạn trẻ ấy đều nhìn nhận có hai sự hiểu đến từ hai thời điểm khác nhau, dẫn đến hai cách gọi khác nhau, thế nhưng, theo Nguyễn Khang thì có một điều mà anh cho rằng không thể phủ nhận.

"Không phủ nhận là Cộng sản đã thắng. Việt Nam Cộng hoà đã thua. Nhưng những hệ luỵ của nó thì thật sự ngày đó là một ngày đen tối, một ngày đáng buồn".

Còn với quan điểm của Sỹ Bình, anh nói rằng khi sự thật được phơi bày, nhìn quay lại những gì đã học, tất cả hoàn toàn được tô vẽ, cùng với sự trợ giúp của những ngòi bút mà anh gọi là "dối trá"

"Để cố tình xây dựng những sự học và truyền thông dối trá để mị dân. Khi hiểu ra thì rất đau khổ, gọi là vỡ oà cảm xúc".

Nếu với Sỹ Bình là một cảm xúc vỡ oà đau khổ thì Nguyễn Khang gọi đó là "một ngày đau thương" :

"Bởi vì em biết được hệ lụy, hậu quả của ngày đó, những người chết trong trại cải tạo. Em biết cuộc sống sau 1975 như thế nào, nên em biết được ngày đó là một ngày đau thương. Cái ngày không tồn tại luật pháp, thậm chí họ có thể giết người công khai mà không cần chờ đợi đến pháp luật….

Nếu mà không có ngày đó thì sẽ tốt hơn".

Tích cực và tiêu cực

Những câu chuyện về cuộc chiến được vẽ lại trong sách vở hào hùng, oanh liệt thật sự đã lấy đi khá trọn vẹn niềm tin của thế hệ trẻ khi còn ngồi trên mái trường. Hình ảnh "cô du kích nhỏ giương cao súng" và "Thằng Mỹ lom khom bước cúi đầu" hay "ngọn đuốc sống Lê Văn Tám" từng là những hình ảnh tự hào đi trong tâm trí của những đứa trẻ hát quốc ca vào mỗi buổi sớm.

Niềm tự hào ấy trong trí nhớ của của các bạn trẻ, nó đã được xây dựng và lớn lên từng ngày với niềm tin đất nước mình "rừng vàng, biển bạc".

VIETNAM-WAR-TANKS-VIETCONG

Lính bắc việt trên những chiếc xe tăng tràn vào thành phố Sài Gòn sáng 30/4/1975. AFP photo

Không ít người thuộc thế hệ 8X, 9X, qua mạng internet, họ biết đến câu nói nổi tiếng của cố Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Lê Duẩn từng tuyên bố nhân dịp Têt 1976, một năm sau ngày Giải phóng :

"Trong vòng mười năm nữa, mỗi gia đình ở Việt Nam sẽ có một radio, một Tivi và một tủ lạnh".

Những thanh niên tham gia buổi nói chuyện trong bài viết này đều chưa ra đời vào thời điểm ông Lê Duẩn vạch ra tiêu chuẩn đời sống của một gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, như Nguyễn Khang đã nói, anh không chấp nhận gọi là giải phóng miền Nam vì không thể nào một thằng nghèo đi giải phóng một thằng giàu.

Có lẽ qua kho tàng internet, Khang đã tìm hiểu cuộc sống của người miền Nam trước 1975 có được tủ lạnh và radio hay chưa.

Thế nhưng, chính Khang vẫn nhận thấy những điểm tích cực của cột mốc 30 tháng 4 năm 1975. Anh đưa ra cái nhìn có tính chất khá nhân sinh quan, đó là những mất mát trong chiến tranh sẽ không còn nữa.

"Ít nhất người dân không còn hoang mang khi mỗi sáng thức dậy thấy cái chết. Những chết chóc của chiến tranh sẽ không còn nữa. Không còn chiến tranh là mặt tích cực rồi".

Thế nhưng, cũng theo Khang, bên mặt tích cực vẫn tồn tại những tiêu cực. Khang muốn nói đến cuộc bỏ phiếu bằng chân lớn nhất lịch sử Việt Nam.

"Hệ luỵ của vấn đề không còn chiến tranh lại khác đi. Không còn tự do. Không còn quyền được sống. Có người phải bỏ quê hương, bỏ cha mẹ, con cái để ra đi".

Tuy nhiên, nói rằng cần phải nhìn nhận khách quan, Nguyễn Khang cho biết anh vẫn thấy có điểm tích cực trong 42 năm kể từ ngày 30 tháng 4 năm 1975.

"Sự thay đổi đến thời điểm bây giờ, giống như thời bao cấp thì không thể sống được. Hay nếu không thống nhất thì cũng giống như với Triều Tiên hay Hàn Quốc thôi.

Sự chuyển biến tốt nhất bây giờ là đã có những công ty nước ngoài vào. Việc mở cửa cho những công ty nước ngoài vào trong 42 năm vẫn là chuyển biến em cho là tốt nhất, để cho công ty nước ngoài vào đầu tư rồi dần dần cuộc sống người dân từ đó có những nhận thức khác đi".

Không đồng ý với ý kiến này, Sỹ Bình phản biện bằng cách đưa ra nhìn nhận ở nhiều khía cạnh khác trong xã hội hiện tại. Theo anh, không thể nhìn vào một góc phát triển của một sự vật mà có thể đưa ra đánh giá toàn diện. Sỹ Bình cho rằng cần phải nhìn thêm ở các vấn đề khác bên cạnh kinh tế.

"Không phải mình nhìn thấy xây dựng, giao thông, các quy trình kiến trúc hạ tầng đồ sộ mà nói phát triển được.

Ví dụ an ninh quốc phòng, tại sao người dân ngoài biển bị quân giặc Tàu cưới giết nhiều như vậy ? Giáo dục thì học trò đánh nhau hội đồng gây tử vong hàng năm, hằng tháng. Y tế thì xuống cấp, trẻ em chết rất nhiều.

Tại sao lại có những ngôi nhà đồ sộ như vậy ? thứ nhất, có thể của nhà đầu tư nào đó ở nước ngoài hoặc những nhà tham nhũng, tư bản đỏ dùng đồng tiền bất chính, lấy ngân khố của đất nước trái pháp luật để xây dựng lên những công trình cá nhân làm lợi ích riêng".

Cuộc sống của người dân Việt Nam có thật như trong bài giảng là ‘dân giàu, nước mạnh’ hay không ? Sự phát triển của xã hội Việt Nam như thế nào trong hơn 40 năm qua ? Thế hệ trẻ có tự hào về một Việt Nam hùng cường từng ‘đánh cho Mỹ cút, đánh cho Nguỵ nhào" hay không ? Câu trả lời"Không có gì phát triển ngoài hiểu biết của người dân về sự thật lịch sử sau 42 năm", và "phải chi đừng có ngày ấy", là nhận định chung của những bạn trẻ thế hệ 8X, 9X, những người được sinh ra và lớn lên khi chiến tranh đã chấm dứt.

Cát Linh, phóng viên RFA


Nông dân đặt quan tài đầu làng quyết giữ đất 

Nhóm phóng viên tường trình từ VN - RFA

Lực lượng công an cưỡng chế lấy đất ở Đồng Cốc vào hôm 20 tháng 4 năm 2017.


Vụ người dân xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức quyết giữ đất và đụng độ với nhà cầm quyền Hà Nội chưa lắng xuống thì ngày 20 tháng 4, người dân xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã mang quan tài ra đồng và để sẵn nhang khói, tuyên bố sẽ quyết giữ đất tới cùng. Nguyên nhân vụ việc bởi nhà cầm quyền xã này đã bất minh, thậm chí tỏ ra gian dối một cách lộ liễu khi để quĩ đất đồng Cốc của người dân rơi vào tay nhà đầu tư một cách vô lý và không có đền bù thỏa đáng.

Một cán bộ công an xã Yên Trung, huyện Yên Phong chia sẻ: “Cái vụ này thì còn liên quan đến việc ruộng của người ta họ lại đào đất sét mang bán, đào sâu 5 mét, 7 mét với số lượng lớn. Mà theo luật định thì không được làm vậy vì đây là tài nguyên.”

Theo cán bộ công an này, vấn đề đất của bà con nông dân xã Yên Phong trên Đồng Cốc không những dừng ở chuyện cán bộ xã và cán bộ thôn toa rập với nhau bán đất một cách bất minh, ép bà con nhận khoản đền bù chưa bằng 10% giá đền bù ruộng đất mà bên cạnh đó, vấn đề khai thác mất nguồn tài nguyên đất sét của các cánh đồng ở đây mới là vấn đề đáng nói.

Bởi hầu hết người dân nơi đây đều sống dựa vào nông nghiệp, tình trạng khai thác đất sét (tức đất cao lanh) từ những đám ruộng sẽ dẫn đến hệ quả toàn bộ cánh đồng thành một cái ao chiêm trũng, ngập nước và môi sinh bị phá hỏng. Và những diện tích khác cũng ở Đồng cốc bị biến thành lhu công nghiệp với giá đền bù rẻ mạt không đảm bảo cho người nông dân tồn tại về sau cũng là nguyên nhân dẫn đến bất mãn và đấu tranh giữ đất.

Cũng theo cán bộ công an giấu tên này, hôm 20 tháng 4,đã có gần 1.000 người gồm công an và lực lượng chức năng tiến vào khu đất 14 mẫu của thôn Vọng Đông xã Yên Trung huyện Yên Phong Bắc Ninh để cưỡng chế với lý do thu hồi đất mà người dân không được đền bù đồng nào.

Đồng Cốc, nơi trồng trọt canh tác bao đời nay, với diện tích là 14 mẫu, tương ứng 5,040 m2. Đây là khu ruộng màu mỡ nhất trong thôn. Năm 2014, khu trường mẫu giáo của thôn bị dột nát, ông trưởng thôn và bí thư xã tổ chức họp dân mượn khu đất Đồng Cốc bán thầu ba năm lấy tiền sửa chữa. Theo nghị quyết họp dân, trong quá trình bán thầu, nếu khu công nghiệp cần đến quĩ đất nông nghiệp thì xã phải trả lại cho dân.

Khi hợp đồng bán thầu mới 18 tháng thì tỉnh Bắc Ninh và huyện Yên Phong mở rộng khu công nghiệp Yên Phong. Ông trưởng thôn và Bí thư xã tự ký biên bản biến số ruộng 14 mẫu trên thành ruộng công ích để bán mà không tổ chức họp dân, đương nhiên không có chữ ký đồng ý của người dân. Việc biến số ruộng trên thành đất công ích khiến cho giá trị đền bù mỗi sào chỉ chưa đến 30 triệu đồng so với giá luật định là 158 triệu đồng. Người dân Vọng Đông đang có nguy cơ mất trắng số tiền lên đến xấp xỉ 22 tỷ đồng. Việc chính quyền xã Yên Trung đưa các thửa ruộng ruộng khu đồng Cốc vào diện đất công ích là sai với luật đất đai 2013.

Chính quyền cấp xã và các tổ chức liên quan đến việc đền bù giải phóng mặt bằng đã nhiều lần yêu cầu người dân bàn giao số đất trên nhưng không được người dân đồng ý. Sau nhiều lần đối thoại, cơ quan liên quan có nghị định mới bổ sung chi trả với giá 21,000 đồng mỗi m2, mức giá này quá rẻ mạt làm cho nhân dân vô cùng bức xúc.

Những người đứng lên đại diện cho người dân lo việc đối thoại, khởi kiện đã bị đe dọa trắng trợn, thậm chí đe dọa đến tính mạng từ phía công an và nhà cầm quyền cấp xã cũng như cấp huyện.

Người dân đang khốn đốn và bất an

18010485_1228860393893590_658708269949130237_n-400.jpg
Người dân xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh mang quan tài ra đồng tuyên bố sẽ quyết giữ đất tới cùng. Photo: facebook

Một nông dân tên Sơn, người có diện tích bị nhà cầm quyền địa phương trưng thu bất minh, chia sẻ: “Đương có biểu tình, vì họ bán cho công ty cám Mitraco đấy nhưng giá thấp quá, dân không đồng ý. Thời này có thông tin đại chúng chứ có phải là anh cứ cậy lực anh đến lấy đâu. Trả giá không phải thì người ta không giao đất đâu. Nhà nước lấy thì cũng phải trả giá cho đúng chứ. Các thứ, cò mồi rồi ăn từ trên xuống dưới, trên ăn một ít, xuống dưới chấm một ít, xuống dưới nữa mút một chút... về tới dân thì chẳng còn mấy đồng.”

Ông cho biết thêm, ngày hôm trước, tức ngày 19 tháng 4, nhà cầm quyền quyền đã đưa nhiều công an về làng và tuyên bố 6h30 sáng ngày 20 tháng 4 sẽ cưỡng chế san đất. Nhưng do người dân quyết tâm giữ đất, nhà cầm quyền đã giả bộ hòa hoãn lừa dân trưa về họp để thương lượng, sau đó lại hơn 500 cảnh sát cơ động vào cưỡng chế người dân. Có một số người già bị ngất và gãy tay. Một số người bị bắt lên xe, bị an ninh quay phim, chụp hình.

Hiện nay, có nhiều người trong thôn bị bắt giam ở trụ sở ủy ban nhân dân xã mà không rõ lý do. Cũng có người cho rằng người bị bắt nhốt vì trước đó đã mua chiếc quan tài đặt ở cổng vào thôn. Và bà con nông dân trong thôn cũng đã cùng nhau kéo lên trụ sở ủy ban xã để đòi người vào chiều ngày 21 tháng 4.

Cũng xin nói thêm, vị trí mà bà con nông dân đặt chiếc quan tài vào chiều hôm 20 tháng 4 đã bị nhà cầm quyền mang máy xúc đến múc thành một con mương sâu. Và không có xe cơ giới hay bất kì loại phương tiện giao thông nào có thể vào bên trong khu đất. Điều này cũng đồng nghĩa với việc các nông dân không thể đưa phương tiện vào bên trong khu sản xuất Đồng Cốc để thu hoạch nông sản được nữa.

Một bầu không khí nặng nề, mệt mỏi và u ám đang vây bủa những người nông dân vốn lâu nay quen chân lấm tay bùn, quen với mảnh ruộng, con trâu. Bây giờ dường như mọi sự thay đổi, sự việc đã đi quá xa và khó bề gượng lại được.

Hiện tại, tình trạng nhà cầm quyền lấn lướt và có dấu hiệu đàn áp người dân 

mạnh tay vẫn chưa có gì là lắng xuống. Người dân vẫn đang túc trực canh giữ đất. 

Hơn bao giờ hết, người dân xã Yên Trung, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh cần 

sự hiệp thông và chia sẻ của cộng đồng!

http://phoviet.ca/article.930


Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử Chương 1. - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=tnSAeX-e7Vg
Oct 5, 2010 - Uploaded by ViViHue1
Việt Nam Cộng Hòa Bị Bức Tử Chương 1. ViViHue1. Loading .... Chân Dung Người Lính VNCH - Lý Viên và Lù Tắc ...

Phỏng vấn Thiếu tướng Lê Minh Đảo: Quân lực VNCH bị bức tử ...

https://www.youtube.com/watch?v=Av5uz_Sm-qQ
Jan 17, 2017 - Uploaded by HatbuiVitran
https://www.facebook.com/100005085215837/videos/656348577877977



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
30-04 ngày ô nhục, thành Hồ bị cầm đốt pháo hoa [Đã đọc: 8628 lần]
Tàu Lạ (TQ) cố tình đâm Chìm Tàu Cá VN Ngư Dân 1 Chết, 1 Bị Thương [Đã đọc: 7885 lần]
Tình sử của Tân Tổng thống Pháp: chuyện bây giờ mới kể [Đã đọc: 7788 lần]
Cách rải cờ và truyền đơn không bị phát giác, tự chế khinh khi cầu [Đã đọc: 7463 lần]
Việt Nam Cộng Hòa và những định mệnh xui xẻo [Đã đọc: 6472 lần]
Đừng mua hàng made in China do tù nhân khổ sai làm: Khách hàng Mỹ tìm thấy thư kêu cứu bằng tiếng Trung trong túi xách [Đã đọc: 6348 lần]
30/4: Hứa hẹn ngày ấy và bây giờ [Đã đọc: 6190 lần]
Bàn về hoạt động tình báo của Trung Cộng tại Việt Nam [Đã đọc: 4982 lần]
Học đạo đức bác Hồ dân Việt thời CS chơi bẩn nhau! [Đã đọc: 4400 lần]
Lực lượng hỏa tiển quốc phòng của CSVN [Đã đọc: 4399 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.