Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười một 2017
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 15
 Lượt truy cập: 9344356

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 19.11.2017 08:02
Hồ sơ mật về Đại Tướng Dương Văn Minh người gốc Hoa tiếp tay CSVN
02.11.2017 18:52

ĐẠI HÈN TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH, TỘI ĐỒ DÂN TỘC!

Trương Minh Hòa


    Sau ngày đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, miền nam Việt Nam trải qua thời kỳ khủng hoảng chính trị triền miên, do những kẻ đảo chánh gây ra, từ đó tạo thời cơ cho Việt Cộng vùng dậy sau 9 năm cầm quyền của chí sĩ Ngô Đình Diệm.



Những người mệnh danh là" hội đồng quân nhân cách mạng", thật sự chỉ là đám phản tướng, loạn tá nầy,  phải hoàn toàn chịu trách nhiệm trước lịch sử và dân tộc, chính họ là nguyên nhân đưa đến thảm họa 30 tháng 4 năm 1975. Nhìn lại 35 năm đất nước bị nhuộm đỏ và tập đoàn" thái trú Trung Cộng gốc khỉ ở Việt Nam" đang đưa dần đất nước thành một huyện của Trung Cộng, để thấy được những" thủ phạm" gây ra thảm cảnh ngày nay là ai?.


-Trung tướng Dương Văn Minh: người cầm đảo cuộc phản loạn ngày 1 tháng 11 năm 1963.

-Trung tướng Nguyễn Khánh: sau khi chỉnh lý Dương Văn Minh, lên làm quốc trưởng và sau đó chính vợ của Nguyễn Khánh đã " lập công" với Việt Cộng, đưa vợ tên kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát vào mật khu, nên bị loại ra khỏi chính quyền, sống lưu vong. Tuy nhiên, trong những ngày cuối cùng cuộc chiến, sau hiệp định Paris, chính Nguyễn Khánh cũng là người lên tiếng " yêu cầu Mỹ rút quân, không viện trợ cho Miền Nam",  để Việt Cộng được thắng lợi, phù hợp với mưu đồ của đảng Cộng khỉ" đánh cho Mỹ cút, ngụy nhào". Sau nầy, Nguyễn Khánh, với cấp bậc đại tướng, trở thành quốc trở chính phủ Nguyễn Hữu Chánh, một tổ chức mang nhiều tai tiếng gần đây, chỉ đứng sau Mặt Trận Hoàng Cơ Minh về lừa bịp hải ngoại.

-Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ: chủ tịch Uỷ Ban Hành Pháp Trung Ương, một kẻ bốc đồng, hay phô trương, lớn tiếng hô hào" bắc tiến" nhưng sau nầy, khi ở Hoa Kỳ, lại" tiến về Bắc" trở thành con bài tuyên vận, tà lọt, cút cung tận tụy cho những thằng dốt như Nguyễn Tấn Dũng, Phạm Thế Duyệt....

-Trung tướng Nguyễn Văn Thiệu: là người phá nát đại quân trấn giữ vùng địa đầu giới tuyến bằng các lịnh lạc bất nhất: sớm tái phối trí lực lượng, chiều di tản, tái chiếm...khiến các lực lượng tổng trừ bị là Thủy Quân Lục Chiến, Dù... đành phải trở thành" bất khiển dụng", trói chân, tay trung tướng Ngô Quang Trưởng, đưa đến thất thủ quân khu 1 và lan đến quân khu 2, thiếu tướng Phạm Văn Phú đành bó tay và đưa đến thất thủ Miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Miền Nam nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung, gặp phải những phản tướng như thế, nên đưa đến thảm họa mất nước ngày nay, thật là bất hạnh vô cùng. Thế mà ngày nay vẫn còn một số kẻ " thuộc hạ" thân tín như tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng, tìm cách" tháo chạy trách nhiệm" của ông Thiệu, đổ hết trách nhiệm cho Hoa Kỳ, tung hỏa mù, nhưng lối lý luận của ông tiến sĩ khó thuyết phục được người Việt hải ngoại, dù có bằng cấp cao.

    Nguyên nhân chánh trong vụ thất thủ miền Nam là bắt đầu từ cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, do trung tướng Dương Văn Minh cầm đầu. Chính Dương Văn Minh và đám phản tướng, loạn tá... sau khi đảo chánh, giết hại tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Ngô Đình Nhu một cách dã man; một công lớn đối với Việt Cộng là Dương Văn Minh  đã thả hầu hết những tên siêu điệp Việt Cộng bị bắt như Mười Hướng ( Nguyễn Ngọc Ban), nên sa đó, mạng lưới gián điệp càng lớn mạnh qua 2 cục: nghiên cứu và đặc công, hoạt động khủng bố mạnh hơn bao giờ hết. 

   Cũng chính Dương Văn Minh là người bỏ cả" mạng lưới miễn nhiễm siêu vi Việt Cộng" là quốc sách ấp Chiến Lược, tạo cơ hội cho Việt Cộng vùng dậy ở các vùng nông thôn. Dương Văn Minh là người ảnh hưởng rất sâu đậm các tên Việt Cộng nằm vùng khối Ấn Quang, nhất là sau vụ tự thiêu của Thích Quảng Đức, cái chết gây phân hóa dân tộc Việt Nam ở miền nam, là cơ hội để Việt Cộng nằm vùng xuyên tạc về" sự đàn áp Phật Giáo" một cách lếu láo trong nước, ở hải ngoại, được tên thiền sư Nhất Hạnh, cư sĩ Võ Văn Ái....thổi phồng ở các nước Tây Phương. Nên 6 tháng sau sự kiện" tự thiêu", xảy ra cuộc đảo chánh tai hại, do tác động phần lớn từ đám ác tăng Ấn Quang và các phản tướng như: Mai Hữu Xuân, Trần Thiện Khiêm, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Đổ Mậu....vì bọn phản tướng nầy e ngại tổng thống Ngô Đình Diệm đang có kế hoạch trẻ trung hóa hàng tướng lãnh để chuẩn bị chiến trường, đối phó với Việt Cộng, trong tinh thần tự cường, nên cùng đứng dưới trướng của trung tướng Dương Văn Minh, cùng ắt tay nhau đi theo sự chỉ đạo của khối Ấn Quang, làm tan tành cả miền nam sau nầy.

    Cái chết của Thích Quảng Đức còn bao phủ nhiều giả thuyết về những hành vi mờ ám của Ấn Quang, với tăng thống Đôn Hậu, thượng tọa Trí Quang....có giả thuyết cho là: vụ tự thiêu nầy là do những tên ác tăng, Việt Cộng nằm vùng đội lớp cao tăng chỉ đạo, mà Thích Quảng Đức chỉ là nạn nhân. Vụ tự thiêu nầy là cảnh dàn dựng của bọn ác tăng, Ấn Quang, thuộc Tứ Diệu Xú:" tham, gian, dâm, ác", theo vài nguồn tin cho là: tự thiêu là bốc thăm, lúc đó trúng thăm tự thiêu là Thích Nhật Thường ( tục danh Lê Văn Sua), là người xuất gia, lên hàng cao tăng mà có hai, ba vợ...con là Lê Văn Lâm, sau làm đại úy tuyên úy Phật Giáo ( cũng có vợ con). Đêm cuối cùng, do các bà vợ đến vấn kế, nên Thích Nhật Thường bỏ trốn,  sau cùng Thích Quảng Đức thay thế. Cái chết của Thích Quảng Đức được các tờ báo nằm vùng như tờ Tin Sáng của Ngô Công Đức, thổi phồng:" trái tim bất diệt". Cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, chủ động là do ảnh hưởng của đám giặc Cộng mặc áo cà sa Ấn Quang, nên khi cái gọi là" cách mạng thành công" thì bọn gian tăng lộng hành, khuynh đảo cả chính quyền miền Nam mãi đến sau nầy; nên ngay thời Nguyễn Khánh, dưới áp lực của đại ác tăng, Việt Cộng nằm vùng Thích Trí Quang, chúng giết hại người em út trong gia đình chí sĩ Ngô Đình Diệm là Ngô Đình Cẩn, để trả thù những cơ sở nằm vùng miền trung đã bị Ngô Đình Cẩn triệt hạ gần như toàn bộ.

     Bọn Việt Cộng, gian tăng Ấn Quang, với thế lực bao trùm từ thời sau 1 tháng 11 năm 1963 đến khi Việt Cộng vào cướp bốc, giết người ngày 30 tháng 4 năm 1975, nên khi nghe nói bất cứ tên thầy cúng, thợ tụng, hoặc" chuyên gia ma chay" nào thuộc gốc Ấn Quang, nay được" di tu" ở nước ngoài, là đáng nghi ngờ, nhìn lại, gần như toàn bộ những kẻ mặc áo cà sa, mang những chức sắc" tư biên tự diễn" như đại đức, thượng tọa, huề thượng... đều là chủ nhân của các TIỆM PHẬT" hoành tráng" ở các nước Tây Phương, có tên làm chủ vài tiệm Phật, trị giá nhiều triệu Mỹ Kim... chính những cơ sở tiệm Phật nầy là nơi xuất phát các cuộc đánh phá sự yên bình của người tỵ nạn, là nơi công an, gián điệp xâm nhập hợp pháp, móc túi qua chiêu bài từ thiện, cúng dường và nhất là chúng đang có mưu đồ dùng uy tín lãnh đạo tôn giáo, trong tay có số Phật tử Tam Tạng thời đại, đễ hổ trợ cho băng đảng Việt Tân, thành lập các" cộng đồng người Việt Tự Do Quốc Doanh", là điều cần phải cảnh giác, khi thấy bọn giặc cà sa nhảy vào làm chính trị ( bình thường chúng chối dài: tôn giáo không làm chính trị)....nên đa số kẻ mặc áo cà sa thuộc Ấn Quang là không bao giờ tin được, chúng xuất ngoại dễ dàng sau 1975, nhất là ra đi an toàn dưới chương trình" xuất khẩu người tỵ nạn" vào những năm 1976 đến 1978, với người Hoa, phương tiện tàu bè ra đi tương đối tốt. Hình như chúng được đảng chỉ thị để trà trộn vào cộng đồng hải ngoại, mượn lớp áo cà sa để làm" lãnh đạo tinh thần" một cách" không người lái", tái diễn màng kịch nói cũ như ở Việt Nam trước 1975, nay lập lại tại hải ngoại?.

    Nếu không có tên đại hèn tướng Dương Văn Minh đảo chánh, thì miền Nam đứng vững, dưới tài lãnh đạo và tinh thần ái quốc của chí sĩ Ngô Đình Diệm, người mà thời ấy được thế giới đánh giá là một trong các nhà lãnh đạo tài ba nhất ở Á Châu, không thua gì Lý Quang Diệu ở Tân Gia Ba. Cuộc đảo chánh ngày 1 tháng 11 năm 1963, đánh sập hoàn toàn những công trình chống Cộng, bảo quốc an dân mà tổng thống Ngô Đình Diệm đã bỏ ra nhiều công sức từ sau ngày trở về chấp chánh, thay Bảo Đại, vốn không còn hợp thời nữa trong công cuộc lãnh đạo đất nước. Do đó Dương Văn Minh cùng đám phản tướng, lũ súc sanh Ấn Quang chỉ đạo, chính là những tội đồ dân tộc, làm cho đất nước đi dần vào suy thoái, dọn đường cho Việt Cộng làm cái gọi là" đại thắng mùa xuân 1975". Rồi cũng chính Dương Văn Minh, nhảy ra vào giờ phút chót, làm công tác cho giặc lần cuối: ban lịnh đầu hàng vô điều kiện, cùng với tên tướng nội gián Nguyễn Hữu Hạnh, làm tan hàng cả một quân đội hùng mạnh tại Đông Nam Á.

    Dương Văn Minh đúng là hèn tướng" tham sinh quí tử", khi hắn mới lên làm tổng thống bất hợp pháp, do áp lực của nhiều phía, thì cho thủ tướng Vũ Văn Mẫu đuổi Mỹ, qua cơ quan D.A.O ( Defense Attach Office) trong 24 giờ, đó là thành tích giống như" chống Mỹ cứu nước" mà gần đây, trên vài tờ báo, một tùy viên của Dương Văn Minh tự hào về thành tích" đuổi Mỹ" của tên đại tướng hèn nầy. 

    Cái hèn của Dương Văn Minh là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, được Việt Cộng ban cấp quyền công dân của cái gọi là" Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", nên trong lần bầu cử đầu tiên năm 1976 để chọn ra những" đại biểu quốc hội bù nhìn, do đảng cử và dân chỉ bỏ phiếu hợp thức hóa, công dân Dương Văn Minh rất là cảm động, hèn hạ lếu láo:" đây là lần đầu tiên trong đời, được cầm lá phiếu bầu cử dân chủ..", hình ảnh hắn, cùng lời nói rất hèn nầy được hầu hết các tờ báo quốc doanh đăng tải. So với cụ Trần Văn Hương, dù ông có đầy đủ phương tiện để ra đi như đại tướng Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm....nhưng ông nhất định ở lại, Việt Cộng màu mè, giả nhân giả nghĩa, đề nghị cấp cho gia đình cụ 100 kí gạo hàng tháng, thì Trần Văn Hương thẳng thừng trả lời:" tôi không thể nhận, trong khi anh em binh sĩ bị đói trong tù". Hạ sĩ danh dự Trần Văn Hương quả hiên ngang gắp triệu lần đại tướng hèn Dương Văn Minh.

     Sau khi được hưởng đầy đủ" chế độ" ưu đãi của đảng và nhà nước Việt Cộng qua công lao:

-Gìết hại anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm: một đối thủ mà Hồ Chí Minh và đảng cướp Việt Cộng sợ nhất, chúng cay cú ấp chiến lược, luật chống khủng bố 10/59...

-Tạo điều kiện cho Việt Cộng vùng lên khắp nông thôn sau cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963.

-Làm vô hiệu hóa sức kháng cự của quân lực VNCH qua lịnh đầu hàng vô điều kiện, nếu không thì các đơn vị vẫn tử thủ đến hơi thở cuối cùng, nhất là quân khu vẫn đứng vững, có thể được lực lượng Hòa Hảo miền tây ủng hộ mạnh, thì Việt Cộng gặp rất nhiều khó khăn và thiệt hại nặng nề, có khả năng đảo ngược tình hình sau nầy. Đây là công lao rất lớn của Dương Văn Minh đối với Việt Cộng.

     Sau nầy Dương Văn Minh được Việt Cộng cho xuất ngoại để được hưởng bơ sửa, hay là có mưu đồ làm cuộc bàn giao khác hải ngoại cho Việt Cộng?. Dù Dương Văn Minh nổi tiếng là đuổi Mỹ, hay Nguyễn Văn Thiệu cũng chửi Mỹ trước khi" trở thành chiến sĩ ra khơi, trung tướng đào ngũ" thì cả hai cũng đã qua Mỹ để sống những ngày cuối cùng và chết ở đất Mỹ cho sướng. Đó là sự mâu thuẫn giữa những kẻ đuổi, chửi Mỹ, trong đó có một số kẻ được Mỹ cứu qua chương trình H.O, được Mỹ giúp thời các trại tỵ nạn, nếu không có Mỹ, là thân xác họ trở thành những bửa tiệc linh đình cho loài cá mập...thế mà vẫn cho là: thằng Mỹ điếm, thằng Mỹ xấu....mà không nhìn lại bản thân mình như thế nào?

     Đất nước tàn tạ như ngày nay là do tên hèn tướng Dương Văn Minh và đám phản tướng, cùng lũ giặc Cộng đội lớp tôn giáo Ấn Quang, bầy quạ đen linh mọp Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, Trần Bá Cương...Việt Cộng cũng" chống Mỹ cứu nước, đế quốc Mỹ là kể thù số một.." thế mà ngày nay bám sát" thằng Mỹ" để đớp, liếm láp" bơ thừa sữa cặn", gom góp tiền của dân, cấp viện để qua Mỹ đầu tư, mua nhà, cho con cháu du học và tìm cách ở luôn, bộ chúng không sợ con cháu học được" thói hư tật xấu của đế quốc Mỹ?". Chúng cho xã hội chủ nghĩa là tốt đẹp" độc lập, tự do, hạnh phúc" tại sao không đầu tư, mang tiền gởi ngân hàng nhà nước, cho con cháu học hành tại các trường đại học do đảng và nhà nước đào tạo...lại bỏ thiên đàng, đi theo bọn tư bản phản động?../.
    
   

Trương Minh Hòa

 

Image result for bí mật


nguồn Hồn Việt Quốc Học 5/29/2009


Phạm Văn Hùng/ Hồn Việt báo CSVN


http://sachhiem.net/LICHSU/N/NgvHung.php


28 tháng 2, 2010


L.T.S: Hồn Việt số 11 (tháng 5/2008) đã đăng một số ý kiến về Tướng Dương Văn Minh. Đó là một số ý kiến bước đầu quan trọng, giúp ta tìm hiểu sâu hơn một sự kiện lịch sử, một con người. Kỳ này, Hồn Việt xin công bố bản tóm tắt của một công trình nghiên cứu công phu, nhiều tư liệu mới với độ tin cậy cao của ông Phạm Văn Hùng. Hi vọng rằng, với công trình nghiên cứu này, sự kiện về Tướng Dương Văn Minh sẽ được sáng tỏ thêm. Nó chứng minh thêm tầm vóc của ngày 30/4 lịch sử dưới sự lãnh đạo toàn diện, sâu sát, kiên trì… của Bộ Chỉ huy tối cao đứng đầu là Lê Duẩn và của những người trực tiếp tham gia ở chiến trường miền Nam, của Trung Ương Cục miền Nam. Nó cũng chứng tỏ sự phối hợp tuyệt đẹp giữa quân sự - chính trị - địch vận… trong cuộc chiến tranh giải phóng. Nó nói lên sự phong phú vô tận của cuộc sống, của cuộc đấu tranh cho độc lập dân tộc của lòng yêu nước Việt Nam…

Chúng tôi mong nhận được thêm nhiều ý kiến. (HV)

THÂN THẾ VÀ GIA ĐÌNH

- Ông Dương Văn Minh sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Cha là ông Dương Văn Huề, khi đi học mướn lấy tên là Dương Văn Mau (tên của người bà con), làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi đốc phủ sứ (hàm).

Ông Dương Văn Huề và bà Nguyễn Thị Kỹ có bảy người con: bốn trai, ba gái. Ông Minh là con cả. Dương Thanh Nhựt là con trai kế, có tham gia hoạt động cách mạng từ trước Cách mạng tháng Tám (năm 1944) và suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, là đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam. Dương Thanh Sơn, em trai thứ năm, là sĩ quan chế độ cũ.

Gia đình ông Minh theo đạo Phật, lễ giáo, nề nếp.

- Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sĩ quan dự bị của Pháp. Năm 1942 vào quân đội Pháp.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Dương Văn Minh tham gia lực lượng vũ trang cách mạng chống Pháp xâm lược. Pháp trở lại, gia đình ông Minh tản cư về Chợ Đệm (Tân An). Lần đó, ông về thăm nhà, đơn vị rút đi, ông bị kẹt lại chưa tìm được đơn vị thì bị Tây bắt, buộc ông trở lại làm việc cho quân đội Pháp. Năm 1946, Dương Văn Minh là thiếu úy, đại đội phó quân đội Pháp. Lần lượt lên đến cấp tá, rồi qua Pháp học trường võ bị, là một trong những sĩ quan đầu tiên của quân đội “Việt Nam Cộng Hoà”.

Ông Minh cũng theo đạo Phật, nhân từ, thương người. Sợ sát sinh, sợ phải giết người. Thấy ai bị nạn thì ra tay cứu như can thiệp cho em trai bà Bùi Thị Mè (1) là thiếu tá chế độ cũ bị tình nghi hoạt động cho “Việt Cộng” được thả ra; giúp ông Nguyễn Minh Triết (Bảy Trung), cán bộ của ta và là em bạn dì ruột bị địch bắt giam ở nhà lao Phú Lợi, được ra tù…

- Ông Minh là người rất tự trọng. Sau ngày 30/4/1975, ông được về nhà (98 đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3) sống với tư cách một “công dân của một nước độc lập” (2). Đời sống khó khăn, ông lại bị bệnh tiểu đường, bị đau dạ dày. Có lúc lãnh đạo Thành phố (đồng chí Võ Văn Kiệt) nhờ bà Bùi Thị Mè gợi ý khéo là Đảng và chính quyền thành phố muốn hỗ trợ ông trong cuộc sống. Nhưng ông Minh từ chối với lý do: “Các anh các chị sống được thì tôi cũng sống được nếu chưa quen thì phải tập lại cho quen”.

Năm 1983, ông Minh được Chính phủ ta chấp thuận để ông sang Pháp trị bệnh và thăm con. Toà Tổng Lãnh sự Pháp ở Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Bộ Ngoại giao Pháp giúp ông Minh vé máy bay và tiền gửi hành lý nhưng ông Minh từ chối, nói rằng “đã có Chính phủ Việt Nam lo rồi”.

Khi đi, ông Minh chỉ xin mang theo một ít đồ cổ trong nhà. Sang Pháp, ông không nhờ vả gì Chính phủ Pháp, không xin trợ cấp xã hội Pháp.

QUÁ TRÌNH BINH ĐỊCH VẬN ĐỐI VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

Công tác binh địch vận đối với tướng Dương Văn Minh bắt đầu từ năm 1962, với nhiều lực lượng, nhiều ban ngành tham gia: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 (Sài Gòn - Gia Định), Trí vận…

1/ Ban binh vận Trung Ương Cục miền Nam

Năm 1960, theo yêu cầu của Ban binh vận Xứ ủy Nam bộ (sau này là Trung Ương Cục miền Nam), đồng chí Võ Văn Thời, Cục trưởng Cục địch vận Tổng Cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam đề nghị và được cấp trên đồng ý điều động đồng chí Dương Thanh Nhựt (3) về Cục để giao nhiệm vụ về miền Nam vận động Dương Văn Minh. Đồng chí Nhựt được đặt bí danh là Mười Ty. Cuối tháng 12/1960, đồng chí Mười Ty lên đường.

Tháng 8/1962, đồng chí Mười Ty móc được với gia đình, trước hết là với ông Nguyễn Văn Di, cậu ruột; qua cậu, móc vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội Sài Gòn và em thứ tám là Dương Thu Vân.

Thấy tình hình thuận lợi, đồng chí Mười Ty hướng dẫn cán bộ mật đem ý kiến của lãnh đạo trao đổi với Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. Trong lúc Tướng Minh đang bực tức Ngô Đình Diệm độc tài, gia đình trị, phủ nhận công lao của mình (tảo thanh Bình Xuyên và các giáo phái Hoà Hảo). Tướng Minh hứa sẽ tìm cách làm.

Ngày 01/11/1963, Trung tướng Dương Văn Minh nhân danh Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng phát lệnh đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm và lên làm Quốc trưởng Việt Nam Cộng Hòa lần thứ nhất. Đồng chí Mười Ty nắm được ý định Tướng Minh chuẩn bị đảo chính Diệm và có báo cáo về Ban binh vận Trung Ương Cục.

Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, đồng chí Mười Ty có vào nhà Dương Văn Minh (98 Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai), sau đó qua nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, đồng chí Mười Ty cho rằng Tướng Minh trước đây mơ hồ về Mỹ là tên xâm lược, nay thì hết tranh cãi về điều này, nhưng vẫn còn cho là Mỹ có giúp đỡ miền Nam. Tướng Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược, cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà.

Trong thời gian làm Quốc trưởng lần thứ nhất. Dương Văn Minh có một số hành động tiến bộ có lợi cho cách mạng:

+ Quyết định hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược. Đại sứ Mỹ Cabot Lodge hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế? Ông trả lời, đại ý: Người Việt Nam có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình.

+ Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng. Miền Bắc sẽ bị lũ lụt mất mùa, người dân sẽ đói… Dương Văn Minh lắc đầu từ chối.

+ Tháng 1/1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Quốc trưởng Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A (hoạt động gián điệp, biệt kích chống miền Bắc). Dương Văn Minh không trả lời.

+ Theo lời kêu gọi của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam (4) Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do, thực hiện một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp. Nhưng Mỹ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập.

- Do những chủ trương và hành động của Dương Văn Minh không theo đúng ý đồ “Bắc tiến” của Mỹ, theo chỉ thị của Tổng thống Mỹ Johnson, cuối tháng 01/1964, chính quyền Mỹ đã đưa Nguyễn Khánh lên làm Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng kiêm Thủ tướng Chính phủ Cộng Hòa Việt Nam bằng một cuộc đảo chính. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay Cộng sản”.

Mỹ thấy Dương Văn Minh có hậu thuẫn ở miền Nam, nhưng khó điều khiển nên chỉ thị cho Chính quyền Sài Gòn phong Dương Văn Minh làm đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan. Mỹ mời ông Minh qua Mỹ một thời gian rồi cho lưu vong ở Thái Lan (từ đầu năm 1965) có sự giám sát của CIA, làm con bài dự trữ.

Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, đồng chí Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân qua Pháp. Có thời gian Mười Ty ở nhà Dương Minh Đức (con trai Dương Văn Minh). Được biết, khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng vì bọn CIA bảo trung tá Đẩu (sĩ quan tùy viên của Tướng Minh) kêu ông Minh về Thái Lan, nên không ở lâu hơn được nữa.

Khi chị Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là ông Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua em (Dương Thu Vân) và cháu (Dương Minh Đức) truyền đạt ý kiến của cấp trên cho Dương Văn Minh. Sau đó Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần là khó lắm, cần đánh cho văng Thiệu, Mỹ phải rút đi là hết chiến tranh. Tôi có ra làm chính phủ ba thành phần khi bầu cử thì ông Thọ (Luật sư Nguyễn Hữu Thọ) cũng thắng cử, tôi có thất cử cũng không nghĩa lý gì, miễn có lợi cho đất nước là hơn”. Dương Minh Đức nói thêm: Ba cháu không còn lực lượng, không biết làm chính trị, không giỏi bằng ông Thọ; ra ngoài (ra khu) lúc này là không có lợi, ở trong này khi cần có lợi hơn…

Sau đó, đồng chí Mười Ty về Hà Nội, được đồng chí Lê Duẩn gặp và mời cơm (với đồng chí Võ Văn Thời). Sau khi nghe đồng chí Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, đồng chí Lê Duẩn khen và nói: “Dương Văn Minh trả lời như vậy là thành thật, nói như vậy là làm được, chứ hứa hết có khi không làm được…”

Cuối năm 1970,… theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận vận động Dương Văn Minh. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của ta trong sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh. Đồng chí Nguyễn Tấn Thành (tức Tám Vô Tư), bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh.

Tháng 3 và 4/1975, đồng chí Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đồng chí Tám Vô Tư gợi ý ông Hạnh nên tiếp cận và vận động Dương Văn Minh nếu lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến có lợi cho nhân dân.

Khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28/4/1975, từ Cần Thơ, ông Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Sài Gòn gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng. Với các cương vị này, ông Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Sài Gòn “án binh bất động”, tan rã tại chỗ, không nổ súng và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao chính quyền cho cách mạng.

2/ Thâm nhập vào “nhóm Dương Văn Minh”

Tháng 9/1972, Ban An ninh T4 (Thành phố Sài Gòn - Gia Định) thành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng điệp báo bí mật trong một số đối tượng, trong đó có lực lượng thứ ba, đặc biệt là “nhóm Dương Văn Minh”… (các thành viên bộ tham mưu nhóm Dương Văn Minh, ban biên tập bản tin nội bộ nhóm Dương Văn Minh, thư ký tòa soạn báo Điện Tín, báo Đại dân tộc…).

Đầu năm 1975, đồng chí Trần Quốc Hương (Mười Hương), Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo A10 tìm cách thâm nhập vào lực lượng thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động lực lượng này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Thời gian này, Cụm điệp báo A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành) ở luôn trong nhà Dương Văn Minh; tham gia viết và in tuyên cáo “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức (Tổng thống).

Ngày 01/3 và cuối tháng 3/1975, đồng chí Huỳnh Bá Thành (lần sau có thêm các đồng chí Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…) vào căn cứ báo cáo với đồng chí Mai Chí Thọ (Bí thư thành ủy), Trần Thanh Vân (Phó trưởng Ban An ninh T4). Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ đạo: “…Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của Đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”.

3/ Tác động vào Chính phủ Dương Văn Minh

Cụm điệp báo VĐ2 thuộc phòng tình báo chiến lược M22, cục tham mưu Miền cũng có chỉ đạo vận động tác động nội các Dương Văn Minh đầu hàng thông qua kỹ sư Tô Văn Cang trong những ngày cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Theo ông Tô Văn Cang, sáng ngày 28/4/1975, ông Cang đến gặp Đại tá Nguyễn Văn Khiêm (Sáu Trí) ở nhà ông Ba Lễ (cơ sở tình báo) hẻm đường Triệu Đà, Sài Gòn, để báo ý kiến của ông Nguyễn Văn Diệp (trong Chính phủ Dương Văn Minh) muốn tìm gặp đại diện Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam để xin ý kiến xử trí tình hình Sài Gòn. Đồng chí Sáu Trí phân tích tình hình và “khuyên Chính phủ Dương Văn Minh chấp nhận đầu hàng vô điều kiện”. Ý kiến này được ông Cang phản ánh lại cho ông Diệp và sau đó ông Diệp có báo cáo lại cho bộ ba Dương Văn Minh – Nguyễn Văn Huyền – Vũ Văn Mẫu.

4/ Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị

Sau hiệp định Paris (1973), Hội nghị lần thứ 21 Ban chấp hành Trung Ương (tháng 7/1973) đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng lực lượng thứ ba ở đô thị”; “mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc Giải phóng gồm mọi giai cấp, tôn giáo, lực lượng hòa bình, độc lập, dân chủ ở miền Nam và Việt kiều ở nước ngoài”.

Năm 1974, theo chỉ đạo của đồng chí Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh), Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam, đồng chí Quốc Hương (Mười Hương), Ủy viên Thường vụ, Trưởng Ban An ninh T4 đã chọn một số thanh niên, sinh viên cài vào hoạt động trong lực lượng thứ ba.

Trên thực tế thì lực lượng ta đã hình thành trước khi có hiệp định Paris qua tổ chức “Lực lượng quốc gia tiến bộ” do luật sư Trần Ngọc Liễng và nhà tư sản dân tộc (ngành vật liệu xây dựng) Phan Văn Mỹ thành lập tháng 6/1969 với mục tiêu là: đòi các lực lượng ngoại nhập (Mỹ và đồng minh) phải rút khỏi miền Nam, thành lập chính phủ hòa giải dân tộc. Sau đó, lợi dụng lúc Thiệu đi nước ngoài, luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Lực lượng hoà giải dân tộc”. Sau hiệp định Paris, tháng 02/1974, nhóm luật sư Trần Ngọc Liễng lập “Tổ chức nhân dân đòi thi hành hiệp định Paris”, xác định mình là lực lượng thứ ba, mục tiêu chính là đòi thi hành hiệp định Paris, Mỹ rút quân, thành lập Chính phủ hoà giải dân tộc.

Thành viên của “nhóm Dương Văn Minh” gồm một số trí thức, dân biểu đối lập, ký giả, tướng lĩnh . Hằng tuần, nhóm họp bàn về tình hình thời sự chính trị (lúc tình hình sôi động mỗi tuần họp hai lần). Cạnh tướng Dương Văn Minh có Văn phòng báo chí. Lúc báo Điện tín bị đóng cửa, “nhóm Dương Văn Minh” ra bản tin bán công khai để phát cho các tổ chức, đoàn thể, báo chí trong và ngoài nước.

- Theo ông Lý Quý Chung (Hồi ký), tuần lễ đầu tháng 4/1975, tướng Dương Văn Minh và “nhóm Dương Văn Minh” đã họp tại Dinh Hoa Lan (nhà ông Minh) bàn và quyết định công bố ý định thay thế Nguyễn Văn Thiệu để góp phần chấm dứt chiến tranh.

5/ Phối hợp phong trào đấu tranh chính trị của nhân dân Sài Gòn

Với các khẩu hiệu “đuổi Mỹ, lật Thiệu”, đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hình hiệp định Paris, hòa bình, chấm dứt chiến tranh, đòi dân chủ, cải thiện dân sinh… các cuộc xuống đường diễn ra liên tục, mạnh mẽ thu hút hàng ngàn, hàng vạn người. Như cuộc xuống đường của 200 ký giả Sài Gòn ngày 10/10/1974, ngày “ký giả đi ăn mày” lôi cuốn gần hai vạn quần chúng tham gia đã có tiếng vang lớn cả trong và ngoài nước. Cuộc tuần hành ngày 20/4/1974 của hàng vạn công nhân lao động, sinh viên, học sinh, trí thức, thương phế binh… đòi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, đòi thi hành hiệp định Paris, đòi hòa bình, cơm áo, chống sa thải, chống thuế VAT…, là cuộc đấu tranh lớn nhất từ sau hiệp định Paris.

MỸ, PHÁP VỚI TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH

* Mỹ: Năm 1971, Mỹ yêu cầu Dương Văn Minh ra tranh cử Tổng thống với Nguyễn Văn Thiệu để tỏ ra chế độ Cộng hòa miền Nam có dân chủ, nhưng phải thất cử để trở thành lãnh tụ của phe đối lập trong nghị viện. Tướng Dương Văn Minh từ chối. Đại sứ Mỹ Bunker còn trắng trợn hỏi ông Minh cần bao nhiêu đô-la cho cuộc tranh cử. Ông Minh cố nén giận, nhưng giữ lịch sự, đưa tay chỉ đại sứ Mỹ về phía của phòng (không tiếp đại sứ Mỹ nữa). Cuộc bầu cử đó, Tướng Dương Văn Minh có ra ứng cử, nhưng đến giờ chót quyết định rút lui, chỉ còn Nguyễn Văn Thiệu trở thành ứng cử viên Tổng thống “độc diễn”, làm bẽ mặt Mỹ – Thiệu.

Sau khi Thiệu từ chức, Phó tổng thống Trần Văn Hương lên thay tổng thống, tuyên bố “cương quyết tử thủ dù phải hi sinh đến nắm xương tàn”, đã bị nhân dân và báo chí Sài Gòn đấu tranh đòi Chính phủ Trần Văn Hương từ chức ngay lập tức. Trần Văn Hương trì hoãn việc giao quyền cho Dương Văn Minh, mãi đến ngày 26/4/1975, lưỡng viện Sài Gòn đã bầu Dương Văn Minh làm Tổng thống Việt Nam Cộng hòa với 147/151 phiếu.

* Pháp: Theo đồng chí Phan Nhẫn, ngày 27 (hoặc 28/4/1975), Bộ Ngoại giao Pháp gặp đồng chí Phạm Văn Ba (Giám đốc Trung tâm thông tin Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam) gợi ý Chính phủ Cách mạng lâm thời nên đi vào đàm phán. Lúc đó, Pháp hi vọng “giải pháp Dương Văn Minh” và khả năng thương lượng với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam.

Theo chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, sáng ngày 30/4/1975, tướng tình báo Pháp Vanuxem đến Phủ thủ tướng (số 7 Thống Nhất, nay là đường Lê Duẩn) gặp Tổng thống Dương Văn Minh, gợi ý ông Minh nên kêu gọi Trung Quốc can thiệp để cứu miền Nam không rơi vào tay Cộng sản Bắc Việt. Ông Minh từ chối, nói rằng: “Tôi đã từng làm tay sai cho Pháp rồi cho Mỹ, đã quá đủ rồi. Tôi không thể tiếp tục làm tay sai cho Trung Quốc”.

TƯỚNG DƯƠNG VĂN MINH VỚI 3 NGÀY LÀM TỔNG THỐNG

15 giờ chiều ngày 28/4/1975, Tướng Minh làm lễ nhậm chức Tổng thống, cử Nguyễn Văn Huyền làm Phó tổng thống, Vũ Văn Mẫu làm Thủ tướng.

Tổng thống Dương Văn Minh cử một số Bộ trưởng và người phụ trách quân đội, cảnh sát, trong đó có đảng viên và cơ sở của ta là: Luật sư Triệu Quốc Mạnh, Giám đốc Nha cảnh sát đô thành, và chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, phụ tá Tổng tham mưu trưởng sau là quyền Tổng tham mưu trưởng.

Về Bộ quốc phòng, Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định Giáo sư Bùi Tường Huân, Giáo sư Đại học Huế (không phải tướng tá) làm Bộ Trưởng. (Theo ông Lý Quý Chung, việc Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định ông Bùi Tường Huân làm Bộ trưởng quốc phòng để chứng tỏ chính phủ này không muốn chiến tranh).

17 giờ ngày 28/4/1975, phi đội 5 chiếc A37 của Nguyễn Thành Trung ném bom sân bay Tân Sơn Nhất.

Theo ông Hồ Ngọc Nhuận (Hồi ký), tối hôm đó, Tướng Minh giao cho ông chuẩn bị chiếm đài phát thanh (đề phòng Nguyễn Cao Kỳ làm đảo chính).

Đêm 28/4, Tướng Dương Văn Minh và gia đình dời đến ở nhà một người bạn của tướng Mai Hữu Xuân ở đường Phùng Khắc Khoan do sợ Nguyễn Cao Kỳ ném bom dinh Hoa Lan (nhà ông Minh).

Theo cựu dân biểu Dương Văn Ba (Hồi ký), đêm 28/4/1975, hai đại tá phi công lái hai máy bay trực thăng phục vụ tổng thống đậu trên nóc dinh Độc Lập, gặp Tổng thống Dương Văn Minh đề nghị đưa Tổng thống và tất cả những người trong bộ tham mưu tổng thống và gia đình bay ra Đệ Thất Hạm Đội. Ông Minh trả lời: “Hai em có thể yên lòng lái máy bay ra Đệ Thất Hạm Đội, bất cứ ai có mặt ở đây muốn đi theo thì có thể ra đi. Phần tôi, tôi nhất quyết không đào ngũ bỏ chạy; không thể nào bỏ dân chúng Sài Gòn, không thể nào bỏ miền Nam như con rắn mất đầu”.

Ngày 29/4/1975

Tổng thống Dương Văn Minh, Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu bàn và ra lệnh cho Giám đốc Nha cảnh sát đô thành Triệu Quốc Mạnh thả tù binh chính trị; gửi công văn yêu cầu Đại sứ Mỹ Martin cho cơ quan Viện trợ quân sự Mỹ (DAO) rời khỏi Việt Nam trong vòng 24 giờ để giải quyết hòa bình ở Việt Nam.

Đến 16 giờ chiều ngày 29/4, đã thực hiện xong việc trả tù binh chính trị (trong đó có Huỳnh Tấn Mẫm). Chỉ huy các ban và cảnh sát 18 quận, huyện đã tan rã (trừ bộ phận biệt phái).

Tổng thống Dương Văn Minh chỉ thị không được di chuyển quân, không được phá cầu. Dựa vào chỉ thị trên, chiều ngày 29/4/1975, phụ tá Tổng tham mưu trưởng Nguyễn Hữu Hạnh đã ra lệnh cho các đơn vị không được phá cầu. Đơn vị nào muốn phá cầu phải có lệnh của Bộ Tổng tham mưu.

Sau đó, khoảng 15 giờ, phái đoàn do Luật sư Trần Ngọc Liễng cầm đầu có Linh mục Chân Tín, Giáo sư Châu Tâm Luân vào Trại David, được đồng chí Võ Đông Giang, Phó trưởng phái đoàn ta tiếp. Ông Liễng đã thông báo với phái đoàn ta về chủ trương “không chống cự” của Tổng thống Dương Văn Minh, mà ông coi là niềm vui sướng nhất trong đời ông, vì đã thông báo cho bên trong biết “Sài Gòn không chống cự” vào giờ chót của cuộc chiến tranh. Theo Luật sư Liễng, Tổng thống Dương Văn Minh đã chấp nhận đầu hàng từ buổi trưa hôm đó (ngày 29/4/1975).

Từ chiều và tối ngày 29/4, cũng có một số người tác động Tổng thống Dương Văn Minh hướng “Thành phố để ngõ”, đầu hàng. Như ông Lý Quý Chung, họa sĩ Ớt (Huỳnh Bá Thành). Thông qua ông Phan Xuân Huy và ông Đoàn Mai, thượng tọa Thích Trí Quang nói điện thoại trực tiếp với Tổng thống Dương Văn Minh: “còn chờ gì nữa mà không đầu hàng”.

Ngày 30/4/1975

- 6 giờ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh quyền Tổng tham mưu trưởng (tướng Vĩnh Lộc, Tổng tham mưu trưởng đã chuồn) và tướng Nguyễn Hữu Có đến báo cáo với Tổng thống Dương Văn Minh về toàn bộ tình hình quân sự. Sau đó, ông Minh (cùng các ông Hạnh và Có) đến Phủ Thủ tướng (số 7 Thống nhất, nay là đường Lê Duẩn).

Tổng thống Dương Văn Minh họp với Phó Tổng thống Nguyễn Văn Huyền, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và một số người trong nội các “nhóm Dương Văn Minh”, bàn và quyết định không nổ súng và giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam. Thủ tướng Vũ Văn Mẫu soạn bản thảo tuyên bố này.

- 9 giờ, Tổng thống Dương Văn Minh đọc vào máy ghi âm.

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh đề nghị và được Tổng thống Dương Văn Minh đồng ý có nhật lệnh cho quân đội. Ông Hạnh soạn thảo nhật lệnh này. Đồng thời tướng Nguyễn Hữu Hạnh gọi điện thoại cho tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư lệnh Quân khu 4 yêu cầu cố gắng thi hành lệnh của Tổng thống trên đài phát thanh.

9 giờ 30: Đài phát thanh phát tuyên bố của Tổng thống Dương Văn Minh: “Đường lối của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc”; “yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Cộng Hòa ngưng nổ súng, và ở đâu thì ở đó”; “Chúng tôi chờ gặp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam để thảo luận về lễ bàn giao chính quyền trong vòng trật tự, tránh sự đổ máu vô ích cho đồng bào”.

Sau đó, cả các ông Dương Văn Minh, Nguyễn Văn Huyền, Vũ Văn Mẫu cùng nội các đến Dinh Độc Lập để chờ bàn giao chính quyền cho cách mạng.

Sau khi đọc tuyên bố “đầu hàng” xong, Tướng Dương Văn Minh nói với mọi người (trong Chính phủ): “Mọi việc coi như đã xong. Bây giờ ai muốn đi hay ở thì tùy”.

11 giờ 30, xe tăng quân giải phóng vào Đinh Độc Lập. Xe quân giải phóng đưa ông Dương Văn Minh và ông Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh để đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.

KẾT LUẬN

1/ Tướng Dương Văn Minh là người có tinh thần dân tộc, yêu nước. Từ chỗ lúc đầu còn mơ hồ về việc Mỹ xâm lược miền Nam, cho rằng Mỹ có giúp đỡ miền Nam, dần dần tỏ thái độ chống Mỹ: chống Mỹ đưa quân viễn chinh Mỹ và đồng minh vào miền Nam, kéo dài và mở rộng chiến tranh, muốn có hòa bình, độc lập và hòa hợp dân tộc.

2/ Theo ông Nguyễn Hữu Hạnh và ông Lý Quý Chung, Tướng Dương Văn Minh lên làm Tổng thống không có ý để thương thuyết với cách mạng vì đã thấy không còn khả năng thương thuyết; cũng không có ý để tiếp tục chiến tranh vì lâu nay ông Minh chủ trương hoà bình, chấm dứt chiến tranh. Điều này thể hiện rõ ở Tổng thống Dương Văn Minh chỉ định hai cơ sở của ta (chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh và luật sư Triệu Quốc Mạnh) nắm hai lực lượng vũ trang: quân đội và cảnh sát; cử một người dân sự (giáo sư Bùi Tường Huân) làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; chưa đầy một ngày sau khi nhậm chức thì ngày 29/4/1975, đã ra lệnh thả tù chính trị, đuổi phái đoàn DAO của Mỹ; không di chuyển quân, không phá cầu v.v..

3/- Trong điều kiện cuộc tổng tiến công quân sự của các binh đoàn chủ lực kết hợp với cuộc tiến công và nổi dậy của các lực lượng vũ trang và quần chúng ở thành phố Sài Gòn – Gia Định đã tạo sức ép quân sự lớn; công tác vận động, binh địch vận của nhiều lực lượng ta với Tướng Dương Văn Minh; được sự đồng tình, tác động tích cực của những người chủ yếu trong nội các, lực lượng thứ ba và “nhóm Dương Văn Minh”; Tổng thống Dương Văn Minh đã quyết định “không chống cự”, tuyên bố “ngưng nổ súng và ở đâu ở đó vào 9g30 (sau đó tuyên bố “đầu hàng vô điều kiện” vào 11g30) ngày 30/4/1975 là hành động thức thời, làm giảm ý chí đề kháng của đại bộ phận quân đội Sài Gòn vào những giờ chót của cuộc chiến tranh, tạo thuận lợi cho quân giải phóng tiến nhanh vào giải phóng hoàn toàn thành phố Sài Gòn còn nguyên vẹn và không đổ máu. Nhiều thành phố và thị xã khác cũng được giải phóng nguyên vẹn, ít tổn thất. Chúng ta biết rõ giành được thắng lợi to lớn này, cuộc tổng tiến công của các quân đoàn kết hợp với các cuộc tiến công và nổi dậy của lực lượng vũ trang và quần chúng địa phương đóng vai trò quyết định. Tuy nhiên, công bằng mà nói, hành động thức thời của Tổng thống Dương Văn Minh và nội các của ông đã góp phần làm cuộc chiến kết thúc sớm, tránh đổ nhiều xương máu của binh sĩ và nhân dân, thành phố Sài Gòn và nhiều đô thị còn nguyên vẹn. Đó là nghĩa cử yêu nước, thương dân của ông Dương Văn Minh.

Tp. Hồ Chí Minh, ngày 30/10/2004

____________

(1) Nguyên Thứ trưởng Bộ Y tế – xã hội – thương binh Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam.

(2) Phát biểu của ông Dương Văn Minh trong cuộc Thượng tướng Trần Văn Trà, Chủ tịch Ủy ban quân quản TP. Hồ Chí Minh tuyên bố trả quyền công dân cho toàn bộ viên chức Chính phủ “Việt Nam Cộng Hoà”.

(3) Bộ đội Nam bộ tập kết ra Bắc, ở Sư đoàn 330. Sau đó chuyển ra nông trường quân đội.

(4) Sách “Gởi người đang sống” (tr 334-335) của Thượng tướng Trần Văn Trà.


 DƯƠNG VĂN MINH, TÊN VC NỘI TUYẾN, TỘI ĐỒ CỦA DÂN TỘC.



" BAO GIÀN chính phủ BÀN GIAO giặc.
TƯỚNG GIAN nội tuyến, TÁN DƯƠNG lầm".


 Nhân vật Dương Văn Minh, được coi là có quan hệ vô cùng mật thiết đến vận mệnh lịch sử, nhất là những việc làm của hắn ta, có tác động đến sự suy vong, tang tóc của nước Việt Nam qua hai cuộc biến động lịch sử miền nam tự do trước 1975. 

    Là một tướng lãnh hàng đầu trong quân lực VNCH, chỉ đứng sau cố thống tướng Lê Văn Tỵ, tuy nhiên đại tướng Dương Văn Minh là kẻ gây ra hai cuộc biến động lịch sử, tác động sâu xa, hệ quả đến  ngày nay là: cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 và ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Dương Văn Minh, cùng với chuẩn tướng" nội tuyến" Nguyễn Hữu Hạnh, bàn giao toàn miền nam cho giặc Cộng, đưa đất nước vào xiềng xích thống trị của bầy súc vật Việt Cộng. 

    Trong thời gian miền nam tự do trước năm 1975, hình ảnh đại tướng Dương Văn Minh được một số người lầm lẫn là người theo Phật Giáo, có lòng nhân từ, hiền đức… dù là theo khối Ấn Quang, trong thời kỳ thượng tọa Thích Trí Quang được nhiều Phật tử tôn vinh như là" thánh tăng", ở Huế gọi là Ôn, thay gì ông, bình thường. 

 Đại tướng Dương Văn Minh gây ra nhiều tội ác đối với dân tộc và đóng góp tích cực cho súc vật Việt Cộng, đưa đến sự sụp đổ miền nam từ đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 đến 30 tháng 4 năm 1975; tội ác của Dương Văn Minh, cộng với Nguyễn Văn Thiệu quá lớn, mỗi tên mỗi cách, gây ra cái chết của rất nhiều người, nhưng từ lâu, bình phong sĩ quan cấp tướng của hai người khỏa lấp tội ác, nhưng họ khó có thể che đây được lâu, khi mà:" những lừa thầy phản bạn, thường hay giả dạng kẻ nhân từ" đã bị phanh phui theo dòng thời gian.

" Nguyễn Văn Thiệu, máu xương di tản.
Dương Văn Minh, tội ác bàn giao".


 Sau khi làm những việc thầm kín, móc nối với Việt Cộng qua hai biến động lịch sử 1 tháng 11 năm 1963 và 30 tháng 4 năm 1975, chính Dương Văn Minh và một số thuộc cấp thân tính, biện minh là:" chuyện đầu hàng vô điều kiện với Việt Cộng chỉ nhằm để tránh đổ máu cho dân chúng". Nhưng thực ra, nếu Việt Cộng với các sư đoàn chánh qui bắc việt và du kích miền nam tràn vào, thì bài học trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968 tái diễn, chính Việt Cộng mới bị đổ máu nhiều và tình hình có khả năng đảo ngược do: quân lực VNCH có nhiều kinh nghiệm, dân chúng biết quá rõ Việt Cộng từ năm 1968, có thêm lực lượng nhân dân tự vệ ( có khả năng giữ xóm làng, phường xã..dù vũ khí thời đệ nhị thế chiến, cũng bắn chết địch), nếu khi chiến trận ác liệt diễn ra, thì quốc tế, các nước trong khối tự do nhìn thấy sự quyết tâm chiến đấu của quân dân miền Nam, họ sẽ không làm ngơ, nhất là về mặt nhân đạo là cảnh Việt Cộng tấn công vào khu đông dân cư, có lợi cho miền nam nhiều về mặt công luận quốc tế. 

 Những biện bạch, tung hỏa mù của tên tướng nội tuyến Dương Văn Minh và thuộc cấp thân tín, không thể nào thuyết phục dân chúng, nhất là quân nhân VNCH, nên chiến thuật chạy tội theo kiểu" chén úp đầu voi" để dấu con coi là không có tác dụng. 

    Bức màn lịch sử lần lượt được vén lên, dưới ánh mặt trời không có gì là bí mật, ngay cả những chuyện thuộc loại" thâm cung bí sử" cùng phơi bày sau thời gian dài dấu kín. Đại tướng Dương Văn Minh, tội đồ dân tộc, tên Việt Cộng nội tuyến vô cùng nguy hiểm, chính là một trong những thủ phạm đưa đến sự thất thủ miền nam, nhất tướng công thành vạn cốt khô và Dương Văn Minh là:" nhất tướng đầu hàng, triệu thác oan". 

     Sự đầu hàng, bàn giao miền nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, là theo ý muốn của đảng súc vật Việt Cộng qua việc móc nối bí mật từ nhiều năm, đưa đến cái chết của hàng ngàn người bị hành quyết trong những ngày đầu tiên khi Việt Cộng tiếp thu, trả thù những chiến sĩ can trường trong cuộc chiến bảo vệ tổ quốc, hàng trăm ngàn quân nhân cán chính miền nam bị hành hạ trong các trại tù dã man, ngụy trang là" cải tạo", hàng triệu người bị lùa đi kinh tế mới, tài sản bị cướp hàng triệu người chết trên đường tìm tự do….nên con số người chết sau khi bị Dương Văn Minh và Nguyễn Hữu Hạnh bàn giao miền nam cho giặc Cộng, còn cao rất nhiêu so với con số người chết trong cuộc chiến của miền nam. Thà rằng tử chiến, một mất một còn, hơn là bị giặc Cộng cầm tù, hành hạ. 

  Đó là tội ác của tên phản quốc, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh đối với dân tộc, nhất là quân nhân cán chính miền nam. Những kẻ nầy không còn xứng đáng, tư cách đứng chung trong hàng ngũ quốc gia, chúng là những tên Việt Cộng nằm vùng vô cùng nguy hiểm hơn kẻ thù ngoài chiến trường. Nhất là chúng là tướng lãnh, quyền lực, tác hại khôn lường, nên trên thế giới nầy, không có một quân đội hùng mạnh nào tồn tại, nếu cấp chỉ huy là nội ứng cho giặc.

   Đại tướng Dương Văn Minh cũng là tổng thống" vi hiến" sau cùng nước Việt Nam Cộng Hòa, sinh năm 1916 ở tỉnh Mỹ Tho. Thân phụ là ông Dương Văn Huề, gốc Hoa, khi đi học, mượn tên của một người bà con là Dương Văn Mau, đầu tiên làm thầy giáo, sau làm tri phủ, rồi hàm đốc phủ sứ. 

     Ông Dương Văn Huề kết hôn với bà Nguyễn Thị kỷ, ăn ở nhau có 7 mặt con : 4 trai, 3 gái. Dương Văn Minh là con cả, kế là Dương Thanh Nhựt là người tham gia hoạt động cho Việt Minh Cộng Sản từ năm 1944, là một tên Cộng Sản nguy hiểm, thâm niên, có mặt trong cái gọi là:" đánh Tây giành độc lập và đánh Mỹ cứu nước", nên tên Dương Thanh Nhựt được đảng súc vật Việt Cộng phong quân hàm đại tá, đóng góp một phần rất lớn qua công tác móc nối, quan hệ mật thiết trong công tác binh vận với anh là Dương Văn Minh, trong thời gian là tướng lãnh miền Nam. Đứa em thứ 5 trong gia đình tên là Dương Thanh Sơn, là sĩ quân lực VNCH

      Năm 1940, Dương Văn Minh học trường đào tạo hạ sĩ quan và sau đó trở thành  sĩ quan dự bị của Pháp từ năm 1942. Năm 1946 mang cấp bậc thiếu úy, chức vụ đại đội phó, sau đó lần lượt thăng cấp tá, được gởi sang học trường Võ Bị Pháp. 

      Trong thời gian làm lớn, Dương Văn Minh đã từng giúp cho Việt Cộng nằm vùng thoát khỏi mạng lưới an ninh, điển hình như can thiệp cho người em trai của bà Bùi Thị Mè, là thiếu tá trong quân lực VNCH, đang bị tình nghi, điều tra có quan hệ hoạt động nội tuyến cho Việt Cộng. Do tàng lộng lớn từ tướng Dương Văn Minh, nên người đang bị điều tra thoát được, nhưng thực tế thì đây là đường dân gián điệp có quan hệ đến tên Nguyễn Minh Triết, tức là Bảy Trung.

     Trung tướng Dương Văn Minh là người cầm đầu cuộc đảo chánh phản loạn ngày 1 tháng 11  năm 1963, hạ sát tổng thống Ngô Đình Diệm và em trai là ông Ngô Đình Nhu, là hai đối tượng hàng đầu mà Việt Cộng cũng như súc vật Hồ Chí Minh muốn thanh toán, Dương Văn Minh lập công đầu và rất lớn đối với Việt Cộng. Rồi sau đó, những cuộc tranh quyền từ chỉnh lý Nguyễn Khánh đến chính phủ Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu, cuối cùng chính Dương Văn Minh lại nhảy ra để bàn giao miền nam cho giặc Cộng ngày 30.4.1975, được an toàn, bình an sống tại căn nhà ở số 98 Đường Hồng Thập Tự, nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai. 

 Một tên nằm vùng nguy hiểm, lộ rõ bản chất vô liêm sĩ, phản bội đê hèn sau khi bàn giao đất nước cho Việt Cộng, muối mặt nhận" quyền công dân" của các gọi là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, đoạn trân tráo tuyên bố trong lần bầu cử quốc hội bù nhìn đầu tên cả hai miền năm 1976:" lần đầu tiên trong đời, được cầm lá phiếu trong cuộc bầu cử dân chủ" (sic). 

    Trong khi đó, cụ Trần Văn Hương, hạ sĩ danh dự, từ chối không thèm nhận quyền" công dân" và cả 100 kí gạo hàng tháng của VC, ông khẳng khái nói là: " anh em binh sĩ bị đói trong tù". 

    Công Dân Dương Văn Minh sống rất là thoải mái, bình thản, dù trong lúc bị mang chứng tiểu đường, thường quan hệ mật thiết với lãnh đạo bí thư thành ủy là Võ Văn Kiệt qua trung gian của bà Bùi Thị Mè, là người có thân nhân Việt Cộng nằm vùng, từng được Dương Văn Minh giải cứu trước đây. 

Năm 1983 Dương Văn Minh được " bố trí" xuất ngoại, đầu tiên sang Pháp với lý do chửa bịnh và thăm con, dù chính phủ Pháp đề nghị giúp vé phi cơ, chi phí, nhưng hắn từ chối và cho là:" đã có chính phủ Việt Nam lo rồi". Ông sống ở Pháp thoải mái, không cần trợ cấp của chính phủ…hình như ông cũng có" lương" của Việt Nam?

      Nhìn hai cuộc biến động lịch sử năm 1963 và 1975, một số người lầm tưởng là Dương Văn Minh chỉ làm theo cảm tính cá nhân là ghét chính phủ Ngô Đình Diệm, hay chịu ảnh hưởng phe Ấn Quang, nhất là cái chết của tổng thống Ngô Đình Diệm, em là Ngô Đình Nhu, có nhiều nghi ngờ, tin đồn là do một số tướng như Mai Hữu Xuân, Đổ Mậu…thù hằn cá nhân mà giết để trả thù. Nhưng thực ra, trung tướng Dương Văn Minh đã làm nội ứng cho Việt Cộng từ năm 1962, được móc nối với một số tổ chức tình báo, gián điệp Việt Cộng là: Binh vận Trung Ương Cục, Tình báo, An ninh T4 ( phụ trách vùng Saigon-Gia Định), ban Trí vận...nên có thể là Dương Văn Minh là thủ phạm giết Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, theo chỉ thị của đảng Cộng Sản Việt Nam để loại trừ hai đối tượng nguy hiểm hàng đầu của VC. Một điều không ai phủ nhận là: sau khi đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963, Dương Văn Minh đã thả hầu hết những tên gián điệp Việt Cộng nằm vùng về bưng, trong đó có tên trùm tình báo là Mười Hướng ( Nguyễn Ngọc Ban).

     Được biết, vào tháng 9.1972, Ban An ninh T4, phụ trách vùng Saigon-Gia Định, tiến hành việc hành lập Cụm điệp báo mới, bí số là A10, với nhiệm vụ xây dựng lực lượng gián điệp nằm vùng bí mật trong một số đối tượng, mà trong đó có thành phần thứ ba, đặc biệt là có nhóm Dương Văn Minh, bao gồm các thành viên trong bộ phận đầu não của nhóm nầy, gồm có các báo Điện Tín, Đại Dân Tộc….

    Đầu năm 1975, tên Trần Quốc Hương, bí danh Mười Hương, là Trưởng Ban An ninh T4, chỉ đạo cho cụm tình báo chiến lược A10 tìm cách thâm nhập vào thành phần thứ ba và nhóm Dương Văn Minh để tác động, vận động thành phần này chống đối, cô lập, chia rẽ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Thời gian này, Cụm tình báo chiến lược A10 tiếp cận, bám sát “nhóm Dương Văn Minh”, có lúc họa sĩ Ớt, tức là Huỳnh Bá Thành được bố trí ở luôn trong nhà Dương Văn Minh để chỉ đạo công tác và tham gia viết và in tuyên cáo, từng bước từ việc “chống Chính phủ Thiệu không có Thiệu”, đòi Trần Văn Hương từ chức tổng thống, đoạn đưa Dương Văn Minh lên cầm quyền, hầu tiến hành công tác cuối cùng là chiếm trọn miền nam mà không bị thiệt hại lớn như trận tổng công kích tết Mậu Thân 1968 trước đây, điều Việt Cộng rất sợ, vì lần nầy thất bại, thì Việt Cộng bị thiệt hại rất lớn, có khả năng đưa đến sự sụp đổ miền bắc. Công tác nội tuyến cuối cùng của tên Dương Văn Minh là:" bàn giao miền nam cho Việt Cộng", là công rất lớn đối với đảng súc vật Việt Cộng.

     Kể từ ngày 1 tháng 3 và đến cuối tháng 3 năm 1975, tên Huỳnh Bá Thành còn được tăng cường thêm một số tên Việt Cộng như Trần Thiếu Bảo, Huỳnh Huề…để thực thi theo chỉ thị của súc vật Mai Chí Thọ, lúc đó là bí thư thành ủy, được góp ý của tên Trần Thanh Vân, phó ban an ninh T 4, nên Mai Chí Thọ khẳng định:

“...Phải bằng mọi cách để Dương Văn Minh thay Nguyễn Văn Thiệu, rồi giao chính quyền cho cách mạng. Đó là chủ trương của đảng nhằm tránh đổ máu, tránh tổn thất cho nhân dân”. 

Nhưng thực ra thì chúng rất sợ bị hỏa lực của quân lực VNCH tiêu diệt, khi chúng dốc toàn lực vào toàn thành thị, thôn ấp miền nam như là" trận cuối là trận nầy", khi dân quân miền nam một lòng tử chiến để sống còn.

    Công tác nằm vùng của tên Dương Văn Minh đã được chuẩn bị khá kỷ từ năm 1960, theo yêu cầu của Ban Binh Vận Xứ Ủy Nam Bộ, là tiền thân của Trung Ương Cục Miền Nam, đề cử tên Việt Cộng là Võ Văn Thời, cục trưởng cục chính trị quân đội Nhân Dân Việt Nam trong việc điều động tên Dương Thanh Nhựt, bí danh Mười Ty, là em ruột của Dương Văn Minh, về công tác tại cục, với mục đích để móc nối với tướng Dương Văn Minh làm nội ứng. 

    Đến cuối tháng 12 năm 1960, thì Dương Văn Nhựt mới chính thức hoạt động và làm công tác móc nối. Do tình cảm anh em, nên công tác binh vận không gặp khó khăn, nhất là Dương Văn Minh là sĩ quan cấp tướng trong quân lực VNCH. 

    Đến tháng 8 năm 1962 tên Mười Ty móc được với gia đình qua tiến trình sau đây: trước hết là liên lạc với ông Nguyễn Văn Di, là cậu ruột. Qua người cậu nầy, tiến hành móc nối vợ là Sử Thị Hương, nhắn vợ về thăm mẹ và tìm hiểu thái độ của anh hai Dương Văn Minh. Sau đó Mười Ty bí mật thăm em trai là Dương Thanh Sơn, sĩ quan quân đội VNCH và em thứ tám là Dương Thu Vân.

     Sau khi dàn dựng công tác có hệ thống, nhận thấy tình hình thuận lợi, nên tên Mười Ty hướng dẫn cán bộ, bí mật đem ý kiến của lãnh đạo đảng súc vật Việt Cộng để thảo luận với trung tướng Dương Văn Minh về việc đảo chính Chính phủ Ngô Đình Diệm. 

    Khai thác sự bất mãn của Dương Văn Minh, sau khi dẹp Bình Xuyên và Hòa Hảo, bị chính phủ Ngô Đình Diệm không tin cậy, cho ngồi chơi xơi nước, vì sau khi đánh chiếm được căn cứ địa của Bình Xuyên, chính Dương Văn Minh đã tịch thu nhiều tiền, vàng của Bảy Diễn, nhưng lại ém nhẹm, không chịu giao nộp chiến lợi phẩm cho chính phủ để dùng vào việc công ích; đây là điều mà chính phủ Ngô Đình Diệm không ưa, chứ không phải là chính phủ Ngô Đình Diệm phủ nhận công lao của hắn. Tuy nhiên, Dương Văn Minh tung hỏa mù để khỏa lấp bản chất tham lam của hắn, hầu được tiếng tốt và gây thù hằn, phân hóa trong hàng ngũ quân đội, chính quyền miền nam.

    Do sự móc nối và chỉ đạo của Việt Cộng, nên ngày 01 tháng 11 năm 1963, Trung tướng Dương Văn Minh, kết hợp cùng với một số phản tướng, phản tá, đảo chánh thành công và lên làm Chủ tịch Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Được biết, kế hoạch đảo chánh đã được tên Mười Ty nắm vững và đã báo về Ban binh vận Trung Ương Cục trước khi hành động. Như vậy, cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 là do chỉ đạo của Việt Cộng qua tên đại tá Mười Ty, em ruột của Dương Văn Minh.

    Sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm một thời gian, tên Mười Ty có bí mật vào nhà Dương Văn Minh cư trú, và sau đó sang nhà em là Dương Thanh Sơn ở mười ngày. Qua nhiều lần gặp và trao đổi với Dương Văn Minh, tên Mười Ty được Dương Văn Minh hứa hủy bỏ ấp chiến lược…thực thi lịnh của Việt Cộng, nhưng bề ngoài, tên Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh biện bạch, ngụy trang là:" cho nhân dân về nhà cũ với ruộng vườn, mồ mả ông bà..".

Sau đó, Dương Văn Minh ra lịnh hủy bỏ 16.000 ấp chiến lược, khiến đại sứ Mỹ Cabot Lodge ngạc nhiên hỏi Dương Văn Minh vì sao làm thế ?  Ông trả lời, đại ý:  "Người VN có phong tục tập quán riêng, không người nào muốn xa rời mảnh đất đã gắn bó đời mình và mồ mả ông cha. Dồn dân vào ấp chiến lược là chủ trương sai, vì lẽ đó, tôi giải tán ấp chiến lược để người dân trở về quê cũ của mình".

     Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc Namara và Tướng Harkin yêu cầu trung tướng Dương Văn Minh để cho Hoa Kỳ ném bom ra miền Bắc, không ném ồ ạt mà ném bom nổ chậm trên đê sông Hồng, làm tê liệt kinh tế miền bắc, dân chúng có khả năng đứng dậy vì đói, chiến tranh sẽ sớm chấm dứt... nhưng Dương Văn Minh từ chối. Nếu áp dụng đúng, thì Việt Cộng đã đầu hàng và đại họa không di truyền đến ngày nay, đất nước lạc hậu và sắp rơi vào vòng nô thuộc của Trung Cộng. Tháng 1.1964, Đại sứ Cabot Lodge yêu cầu Dương Văn Minh nghiên cứu, chuẩn y và thực hiện kế hoạch 34A, gởi biệt kích ra bắc, nhưng Dương Văn Minh không phúc đáp.

     Theo sự yêu cầu của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, nên tên Dương Văn Minh tỏ ý muốn thương lượng để tuyển cử tự do theo mưu đồ của Việt Cộng, nhưng bề ngoài được ngụy trang trong vỏ bọc: miền nam với một chế độ trung lập, lập Chính phủ liên hiệp với Việt Cộng. Tuy nhiên Hoa Kỳ cự tuyệt hòa đàm, chống mọi xu hướng trung lập và hầu hết những người có kinh nghiệm với Cộng Sản đều không chấp nhận, nên mới có những câu: liên hiệp với Cộng Sản là tự sát. 

    Dương Văn Minh có những hành động có lợi cho Việt Cộng, dù các cơ quan an tinh, tình báo như C.I.A, chưa tìm ra bằng chứng. Nhưng để Dương Văn Minh càng lâu, càng tạo điều kiện cho Việt Cộng thắng lợi, nên sau đó, vào cuối tháng 01.1964, trung tướng  Nguyễn Khánh tổ chức đảo chánh, gọi là chỉnh lý và lên làm quốc trưởng. Nguyễn Khánh tuyên bố: “Tôi đảo chánh Dương Văn Minh để cứu đất nước này khỏi rơi vào tay CS”.  Dương Văn Minh trở thành đại tướng và cử làm đại sứ lưu động ở Đài Loan.  

     Cuối năm 1967, theo chỉ đạo của tên Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh, Phó Bí thư Trung Ương Cục miền Nam) và Ban binh vận Trung Ương Cục, tên Dương Văn Nhựt, tức là Mười Ty có chuyến qua Pháp, ở nhà em rể là Charlot để móc người em gái thứ 8 là Dương Thu Vân, có thời gian, tên Mười Tỵ cư trú tại nhà Dương Minh Đức ( con trai của Dương Văn Minh). Được biết, sau khi người em gái thứ 6 Dương Thu Hà bị ung thư chết, Dương Văn Minh có qua Pháp dự đám tang em gái, sau đó ở lại Pháp hơi lâu, có ý chờ tin của Mười Ty. Nhưng lúc đó cơ quan tình báo CIA nghi ngờ nên khuyên cáo Dương Văn Minh nên về Thái Lan.

     Khi Dương Thu Vân qua Paris gặp Mười Ty cho hay là Dương Văn Minh không thể qua Pháp được nữa, thì Mười Ty mới chuyển kế hoạch qua việc dùng Dương Thu Vân và cháu là Dương Văn Đức truyền đạt ý kiến của cấp trên là đảng Cộng Sản cho Dương Văn Minh. Sau đó Dương Minh Đức báo lại ý kiến của cha anh với Mười Ty như sau: “Lập Chính phủ ba thành phần". Nhưng việc nầy rất khó thực hiện khi mà Hoa Kỳ vẫn còn giúp miền nam, vì Dương Văn Minh không có quyền hành nữa

   Trước tình hình nầy, tên Mười Ty trở về Hà Nội để gặp súc vật Lê Duẩn. Trong bửa cơm với Lê Duẫn, có Mười Ty và Võ Văn Thời để bàn thảo kế hoạch. Sau khi nghe  Mười Ty báo cáo đầy đủ chuyến đi công tác ở Pháp, tên súc vật Lê Duẩn khen Dương Văn Minh có tinh thần hợp tác và có nhận định chính xác.

    Đến cuối năm 1970, theo chỉ đạo của Trung Ương và Trung Ương Cục miền Nam, Ban binh vận Trung Ương Cục tìm một người khác, để tiếp cận, tăng cường với tên nội tuyến Việt Cộng Dương Văn Minh trong việc phối hợp công tác nội gián. Đó là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, cơ sở của Việt Cộng trong hàng ngũ sĩ quan là bạn bè và thầy trò có thể tiếp cận được với Dương Văn Minh dễ dàng và thuận lợi. Đồng thời bọn Việt Cộng cử thêm tên Nguyễn Tấn Thành, tứ là Tám Vô Tư, là bác của Nguyễn Hữu Hạnh, được Ban binh vận Trung Ương Cục giao nhiệm vụ trực tiếp nắm và bồi dưỡng cho Nguyễn Hữu Hạnh trong công tác nội ứng.

     Tháng 3 và 4 năm 1975, tên Tám Vô Tư thường gặp ông Nguyễn Hữu Hạnh để giao công tác. Sau khi Nguyễn Văn Thiệu từ chức, Tám Vô Tư gợi ý với chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh để tiếp cận với Dương Văn Minh ngay,  nếu khi tên Dương Văn Minh lên làm Tổng thống thì tìm cách kết thúc cuộc chiến để tạo thắng lợi cho Việt Cộng, theo đúng ý đồ của Việt Cộng.

   Cho nên sau khi được tin ông Dương Văn Minh lên làm Tổng thống, ngày 28 tháng 4 năm 1975, từ Cần Thơ, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh bằng mọi cách, vượt mọi khó khăn lên Saigon gặp Dương Văn Minh và được ông giao làm phụ tá Tổng tham mưu trưởng, thay Tổng tham mưu trưởng ở bên cạnh ông, sau đó là Quyền Tổng tham mưu trưởng quân lục VNCH. Với các cương vị này, tên tướng nội tuyến Nguyễn Hữu Hạnh đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện lệnh của Tổng thống Dương Văn Minh làm cho quân đội Saigon “án binh bất động”, tan rã tại chỗ qua lịnh, không nổ súng làm thiệt hại lớn cho Việt Cộng trên đường tiến vào Saigon và thúc đẩy Chính phủ Dương Văn Minh sớm bàn giao cho Việt Cộng.

     Tiến trình công tác nội ứng trong việc bàn giao miền nam cho Việt Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975 còn có sự tham dự của cụm siêu điệp VĐ2, nằm trong phòng tình báo chiến lược M22, thuộc trung ương cục miền nam, chúng thúc đẩy, chỉ đạo, cố vấn để giúp cho" tổng thống vi hiến" Dương Văn Minh mau hoàn thành công tác đầu hàng, được thông qua tên kỷ sư Tô Văn Cang. 

    Do đó vào ngày 28 tháng 4 năm 1975, tên Tô Văn Cang đến tiếp xúc và" hội ý" với tên đại tá Việt Cộng là Nguyễn Văn Khiêm, bí danh Sáu Trí, đang cư trú tại nhà tên Ba Lễ ( thuộc cơ sở gián điệp nằm vùng Việt Cộng), ở một con hẻm, đường Triệu Đà, Saigòn làm trung gian, liên lạc qua một người tên là Nguyễn Văn Diệp ( thuộc chính phủ Dương Văn Minh) trong việc" liên hệ công tác" là gặp phía tổ chức Việt Cộng, của các gọi là:" chính phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam". 

    Tên đại tá Việt Công Sáu Trí chỉ đạo Dương Văn Minh thực hiện công tác đầu hàng vô điều kiện qua sự liên lạc của Nguyễn Văn Diệp, sau đó trình lại cho Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu…nên miền nam rơi vào tay giặc Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975 một cách tức tưởi, trong khi đó miền nam vẫn còn hơn 100 ngàn quân, vùng 4 chiến thuật có kế hoạch phản công và nhất là miền tây còn có lực lượng Hòa Hảo. 

    Cuộc bức tử miền nam Việt Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975 là do tên phản quốc, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh thực hiện" đầu hàng vô điều kiện" và Nguyễn Hữu Hạnh: " bàn giao trong vòng trật tự", làm gảy cả kế hoạch phản công từ vùng 4 chiến thuật do các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai…đảm trách để cứu nước, nên sau đó, các vị đã tuẫn tiết, đền xong nợ nước. 

 Kẻ phản gian, Việt Cộng nội tuyến Dương Văn Minh phè phởn sống trong niềm tự hào" công dân nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam", đoạn được bố trí xuất ngoại, hình như cũng làm công tác của đảng ở  nước ngoài? Điều nầy cũng có thể đặt ra đối với trường hợp của Dương Văn Minh, từng có quá trình làm nội tuyến cho Việt Cộng qua hai cuộc biến động lịch sử: phá nát miền nam qua đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963 và bàn giao miền nam cho giặc Cộng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Sự bàn giao miền nam" trong vòng trật tự" cho giặc Cộng của tên Dương Văn Minh, Nguyễn Hữu Hạnh và đồng bọn nằm vùng ngày 30 tháng 4 năm 1975, đưa đất nước đến tang thương, nên ngày nầy là ngày QUỐC HẬN. Tuy nhiên, bọn Việt Gian muốn xóa hết tội ác, chúng tìm đủ mọi cách thay đổi tên" từ ngày quốc kháng, ngày tỵ nạn và nay là NGÀY DIỄN HÀNH CHO TỰ DO…chúng" hồ hởi phấn khởi" phát động" diễn hành" để ăn mừng" như có bác trong ngày vui đại thắng" ngay tại vùng đất của người bỏ nước ra đi tìm tự do, là một thách thức nghiêm trọng, khinh thường mọi người. Nếu ai diễn hành là đồng bọn, cùng nhau mừng ngày Việt Cộng chiếm miền nam.

     Quân lực VNCH kiên cường, giữ đất suốt hơn 20 năm, tạo những chiến công lẫy lừng: Mậu Thân 1968, mùa hè đỏ lửa 1972..và làm chủ tình hình trên khắp chiến trường từ Quảng Trị đến Cà Mau. Tuy nhiên, cấp lãnh đạo trung ương đã làm cho miền nam sụp đổ sau vụ đảo chánh phản loạn của tên Việt Cộng nội tuyến, trong vai trò trung tướng Dương Văn Minh. Nếu miền nam không bị đảo chánh, ấp chiến lược được duy trì, thì Việt Cộng khó mà vùng dậy, miền nam có khả năng vượt xa hơn nhiều nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai…có thể sánh cùng với Nam Hàn ngày nay.

Sau đảo chánh, tình hình chính trị trung ương rối loạn, là điều mà súc vật Việt Cộng rất mong muốn, đó là công đầu của tên Dương Văn Minh, tiếp theo là thời đại tướng Nguyễn Khánh cầm quyền, nhưng ông nầy lại tìm cách móc nối với Việt Cộng bằng cách thả vợ của tên Huỳnh Tấn Phát là Bùi Thị Nga vào mật khu, có mang theo mật thư móc nối.

Sau đó là thời thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ, xảy ra cuộc tranh quyền với trung tướng Nguyễn Văn Thiệu. Cuộc bầu cử năm 1971, tên Nguyễn Cao Kỳ, vì quyền lợi cá nhân nên đã lấy 2 ngàn quả lựu đạn M-K 3 của quân đội, cung cấp cho đám Việt Cộng nằm vùng là Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi…để phá hoại phòng phiếu. 

Đến thời Nguyễn Văn Thiệu, phá nát quân đội ở quân khu 1 và 2 bằng cuộc rút quân hổn loạn, được gọi là:" tái phối trí lực lượng" và biến thành" di tản chiến thuật", gây cái chết của hơn 150.000 dân, để lại cho Việt Cộng hơn 100 phi cơ và 70 ngàn tù binh ( nhiều người bị hành quyết)…Nguyễn Văn Thiệu cũng là tội đồ dân tộc, chính hắn phá nát quân đội VNCH qua những việc làm: ban lịnh bất nhất" sáng rút, chiều tàu chiếm", rút hết các đơn vị tổng trừ bị là Thủy Quân Lục Chiến, Dù, trói chân trung tướng Ngô Quang Trưởng, sau đó mất quân khu 1, ép thiếu tướng Phạm Văn Phú rút quân, nhưng tướng Phú phản đối, nên tập đoàn Nguyễn Văn Thiệu, Cao Văn Viên, Trần Thiện Khiêm thăng cấp chuẩn tướng cho đại tá Phạm Duy Tất, chỉ huy cuộc di tản trên tử lộ là quốc lộ 7, khiến nhiều người bị chết.

Một điều đau lòng là: vấn đề an ninh, tình báo, có mặt yếu kém, khi các giới chức an ninh phát giác ra Việt Cộng nội tuyến, nhưng gốc lớn như tướng lãnh, nên người phát giác trình lên cấp trên, bị vạ lây, nhiều khi mất chức, bị đổi đi nơi khác. Do ảnh hưởng lối suy nghĩ xưa "quan lại" nên những tên Việt Cộng nằm vùng cao cấp, như trung tướng Dương Văn Minh, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh vẫn nằm vùng trong bình phong cấp tướng. Việt Cộng không tài giỏi, nhưng miền nam vấp phải những sai phạm nghiêm trọng về mặt an ninh, tình báo…hậu quả bài học nầy kéo dài đến ngày nay./.

Trương  Minh Hòa 




Cựu Sĩ quan tùy viên Đặng kim Thu:

Trần Thiện Khiêm: khuôn mặt bí ẩn hậu trường 

Trần Ngọc Giang 

 image065

Trước giờ đa số chúng ta đều cho rằng Dương Văn Minh là đầu sỏ vụ đảo chánh 01-11-1963. Thật ra, DV Minh chỉ là một hình nộm mà kẻ chính phạm đã khéo léo sắp xếp để hắn đứng ra phạm tội và chịu tội thay cho mọi người. Kẻ chính phạm là một tên CIA Việt Nam, hắn xếp người nào vào việc đó, hắn muốn giết Cụ Ngô là cha nuôi hắn, nhưng hắn biết DVMinh cũng muốn giết Ngài để che dấu tội, thế là hắn xếp DVMinh vào vị trí có thể giết được Cụ Ngô, đó là kế "mượn đao giết người". Kẻ chính phạm vô cùng thâm độc đó hiện nay vẫn còn sống, hắn là: TƯỚNG TRẦN THIỆN KHIÊM  nguyên Thủ tướng VNCH.

Kể từ biến cố lịch sử năm 1975 đến nay đã có nhiều sách báo, đoàn thể, tôn giáo cũng như hầu hết đồng bào Việt Nam đều quy trách những nhà lãnh tụ miền Nam như Tổng thống Diệm, tuớng Minh, Đôn, Thiệu, Kỳ v.v...đều là những người đã một phần chịu trách nhiệm để Cộng sản thôn tính miền Nam. Sự quy trách này trên bình diện chính trị, truyền thông đương nhiên không ai phủ nhận, nhưng trên phương diện lịch sử thì thật là phiến diện.

Do đó tiện giả sau nhiều lần suy nghĩ, trăn trở vẫn phải cầm cây viết hầu phơi bày một sự thật để phần nào giúp các sử gia sau này có những sự kiện quan trọng đưa vào dòng định mệnh của Lịch sử Việt Nam.

Ngược dốc thời gian năm 1958, Đại tá Trần Thiện Khiêm là một trong những sĩ quan được Tổng thống Diệm ưa thích vì vậy Đại tá Khiêm đã được bổ nhiệm Tư lệnh Sư đoàn 4BB. Thời gian này Đại tá Khiêm có hai người bạn thân nhất là Đại tá Nguyễn Khánh và Trung tá Nguyễn Văn Thiệu, bất cứ cuối tuần nào , Đại tá Khiêm đều lái xe đến thăm Đại tá Khánh tại đồn điền trà J'Ring, sau đó 2 người kéo lên Đà Lạt thăm Trung tá Thiệu đương là Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

image066

Tướng Trần Thiện Khiêm đứng bên trái TT Nguyễn Văn Thiệu.

Năm 1960 trong vụ đảo chánh do Trung tá Vương Văn Đông cầm đầu bị thất bại, bởi Đại tá Khiêm Tư lệnh SĐ 21BB từ miền Tây kéo về giải cứu Tổng thống Diệm, và kể từ đó Đại tá Khiêm được Tổng thống Diệm tín cẩn tuyệt đối, thăng cấp Thiếu tướng và được bổ nhiệm Tham mưu trưởng Liên quân Quân lực Việt Nam Cộng Hòa.

Sau khi nắm chức vụ trên và nhất là được sự tin tưởng của Tổng thống, Thiếu tướng Khiêm đã đề cử Trung tá Thiệu làm Tư lệnh Sư đoàn 5BB và Thiếu tướng Khánh làm Tư lệnh vùng 2 Chiến thuật. Tóm lại tất cả các chức vụ quan trọng trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa vào thới điểm này nếu có sự đề bạt của Thiếu tướng Khiêm chắc chắn sẽ được Tổng thống Diệm chấp thuận, ngoài ra TT Khiêm hơn hẳn các tướng lãnh khác là được cả ông Cố vấn Ngô Đình Nhu mến phục.

Bởi vậy tiếng nói của Thiếu tướng Khiêm với hai nhân vật then chốt của nền Đệ Nhất Cộng Hòa có một tác dụng gần như tuyệt đối, các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng trong QLVNCH biết như vậy nên mọi lệnh của TT Khiêm, Tham mưu trưởng Liên quân đưa ra đều được thi hành đầy đủ, chính xác.

Từ trước tới nay đã có nhiều sử gia và nhân vật chính trị đề cập đến cuộc đảo chánh ngày 1-11-63 nhưng nhiều sự kiện vẫn còn thiếu sót và không chính xác vì chưa ai nêu đúng nhân vật chủ chốt, hầu hết đều cho rằng các tướng Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính là những nhân tố chính. Nhưng mặt trái bên trong hậu trường thì không phải vậy, Trung tướng Đôn mặc dù là Quyền Tổng Tham mưu trưởng nhưng không được các Tư lệnh quân binh chủng tin tưởng, Tướng Minh không có thực lực trong tay còn lại Tướng Đính chỉ trong phạm vi Tổng trấn Sài Gòn mà thôi.

Đến đây tiện giả xin trình bày diễn tiến cuộc đảo chánh 1-11-63 để quý vị độc giả có thể thấu hiểu ai là người đã soạn thảo, móc nối và thi hành kế hoạch đảo chánh.

Khoảng đầu tháng 10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng cho biết sẽ có đảo chánh để lật đổ chế độ Đệ Nhất Cộng Hòa vì Thiếu tướng Khiêm được biết ông Ngô Đình Nhu đã có liên lạc với phía Việt Cộng. Đến đây tiện giả xin mở dấu ngoặc. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm tiết lộ cuộc đảo chánh cho Thiếu tá Giang vì Thiếu tá Giang đã từng là Chánh Văn phòng của Thiếu tướng Khiêm, và ngay sau nhậm chức Tham mưu trưởng Liên quân Thiếu tướng Khiêm đã yêu cầu Nha An ninh quân đội đưa Thiếu tá Giang sang giữ chức vụ Trưởng phòng An ninh Quân đội Bộ Tổng Tham mưu.

Ngày 20-10-1963 Thiếu tướng Khiêm chỉ thị Thiếu tá Giang qua gặp Đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc Nha An ninh quân đội để cho Đại tá Mậu biết là ông Cố vấn Ngô Đình Nhu vừa ra lệnh cho Thiếu tướng Khiêm tạm giữ Đại tá Mậu vì ông này đang vận động đảo chánh; và Thiếu tướng Khiêm dặn Thiếu tá Giang nói với Đại tá Mậu tạm thời lánh mặt để Thiếu tướng Khiêm dễ dàng trình lên ông Cố vấn.

Cũng trong thời gian này Thiếu tướng Khiêm tiết lộ với Thiếu tá Giang về phía tướng lãnh Thiếu tướng Khiêm đã tranh thủ được hầu hết, chỉ còn có Thiếu tướng Huỳnh Văn Cao, Tư lệnh vùng 4 là chưa hội ý, riêng Tướng Khánh và Đại tá Thiệu hoàn toàn đồng ý với Thiếu tướng Khiêm, ngoài ra các Tư lệnh quân binh chủng đã có hứa là sẽ sát cánh với Thiếu tướng Khiêm. Nói tóm lại việc vận động, tổ chức cũng như hoàn tất kế hoạch đảo chánh hầu như do Thiếu tướng Khiêm chủ động vì chỉ có tướng Khiêm hội đủ mọi yếu tố để cho các tướng lãnh và tư lệnh quân binh chủng tin tưởng.

Sáng sớm ngày 31-10-1963 Thiếu tướng Khiêm gọi Thiếu tá Giang lên văn phòng; khi Thiếu tá Giang bước vào thì thấy Đại tá Nguyễn Hữu Có ở đó, Thiếu tướng Khiêm chỉ thị cho Thiếu tá Giang cầm công điện hỏa tốc đi cùng với Đại tá Có xuống Mỹ Tho để bàn giao chức vụ Tư lệnh Sư đoàn hiện do Đại tá Đạm là tư lệnh. Sở dĩ Thiếu tướng Khiêm ra lệnh cho Thiếu tá Giang đi với Đại tá Có là để Đại tá Đạm tin tưởng là lệnh thật do chính Thiếu tướng Tham mưu trưởng ký vì Đại tá Đạm từng biết sự thân cận giữa Thiếu tướng Khiêm và Thiếu tá Giang.

Đến 11 giờ sáng cùng ngày Thiếu tá Giang trở về Bộ Tổng Tham mưu và được Thiếu tướng Khiêm cho biết đúng 12 giờ trưa Thiếu tướng Khiêm sẽ chủ tọa buổi họp các tư lệnh quân binh chủng, và sau buổi họp nếu ai chống lại đảo chánh thì thiếu tá Giang phải giữ lại trong phòng họp Bộ Tổng Tham mưu chờ lệnh của Thiếu tướng Khiêm.

Buổi họp vừa chấm dứt; trong lúc lộn xộn thì Đại úy Nhung sĩ quan cận vệ của Trung tướng Minh tự ý bắt Đại tá Lê Quang Tung, Tư lệnh Lực lượng đặc biệt dẫn đi đâu không rõ, sau đó Đại úy Nhung trở lại định bắt Đại tá Cao Văn Viên, Tư lệnh Sư đoàn nhảy dù và ông Lê Văn Tư, Giám đốc Cảnh sát Đô Thành, nhưng Thiếu tá Giang đã ngăn chặn kịp thời. Đại úy Nhung báo lên Trung tướng Minh và Trung tướng đến hỏi lý do cản trở Đại úy Nhung thì Thiếu tá Giang trả lời là thi hành lệnh Tướng Khiêm.

Khoảng 2 giờ trưa ngày 31-10-63 Đại úy Lê Quang Triệu, em ruột của Đại tá Lê Quang Tung dẫn 1 đại đội lực lượng đặc biệt cùng với 4 chiến xa đến cổng Bộ Tổng Tham mưu để hỏi tình trạng Đại tá Tung, ngay khi đó Đại úy Nhung chạy ra gặp Đại uý Triệu và yêu cầu Đại úy vào trình diện Thiếu tướng Khiêm, Đại úy Triệu nghe lệnh trình diện Thiếu tướng Khiêm nên Đại úy không nghi ngờ gì do đó mới bị chết thảm.

Khi tiếng súng đảo chánh nổ trưa 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm đã chủ động qua các diễn trình như:

- Ra lệnh cho Đại tá Có điều động Sư đoàn 7 ngăn chặn lực lượng tiếp viện từ vùng 4 chiến thuật. 

- Lệnh cho Đại tá Thiệu, Tư lệnh Sư đoàn 5 điều quân về Sài Gòn để làm chủ lực tấn công Lữ đoàn phòng vệ Phủ Tổng thống và Dinh Gia Long. 

- Cô lập tất cả Tư lệnh Quân binh chủng nào xét ra chống lại cuộc đảo chánh. 

- Ra lệnh cho Tướng Khánh, Tư lệnh vùng 2 và Tướng Trí vùng 1 chiến thuật thi hành những biện pháp cần thiết. Riêng các Tướng Minh, Đôn, Kim, Nghiêm, Xuân v.v...có mặt tại Tòa nhà chánh bộ Tổng Tham mưu chỉ có tính cách phụ giúp hơn là thực quyền vì tất cả mọi lệnh và điều hành đảo chánh đều diễn ra trong phòng làm việc của tướng Khiêm.

Tiếng chuông của chiếc điện thoại được reo đúng 3 giờ 17 phút, Thiếu tướng Khiêm nghe, đầu giây bên kia người đối thoại không ai khác là Tổng thống Diệm. Sau cuộc điện đàm Thiếu tướng Khiêm quay qua tướng Minh, Đôn nói "Tổng thống nói với các tướng lãnh đến dinh Gia Long nói chuyện. Moi trả lời để hội ý rồi sẽ trình lại Tổng thống sau" nhưng sau đó tướng Minh, Đôn, Kim và cả Khiêm không đồng ý đến gặp Tổng thống Diệm.

Tuy nhiên khoảng 4:30 chiều 31-10-63 Thiếu tướng Khiêm tự ý điện thoại cho Tổng thống Diệm với đề nghị đưa Tổng thống cùng toàn thể gia đình ông Nhu ra ngoại quốc với sự bảo đảm an ninh do chính Thiếu tướng Khiêm hứa. Khoảng 6 giờ chiều Tổng thống Diệm gọi cho tướng Khiêm để cho biết là T.T. đồng ý đề nghị nói trên nhưng khi tướng Khiêm hội ý với tướng Minh, Đôn, Kim thì tướng Minh nói ngay "Giờ này quá trễ rồi, chúng ta cứ tiếp tục". Qua các cuộc điện đàm kể từ lúc tiếng súng bắt đầu nổ cho đến khi Tổng thống Diệm chạy đến nhà thờ Cha Tam, Tổng thống Diệm chỉ có gọi điện thoại cho Thiếu tướng Khiêm mà thôi.

Đọc hết đoạn trên chắc độc giả đã nhận ra vai trò của tướng Khiêm từ tiền đảo chánh đến khi cuộc cách mạng 1-11-63 thành công, nếu tướng Khiêm không được Tổng thống Diệm tin dùng, nếu không có sự hợp tác với tướng Minh, Đôn v.v...chắc chắn là cuộc đảo chánh không thể xảy ra được vì trên cương vị Tham mưu trưởng Liên quân lại được sự tín cẩn của Tổng thống vì vậy các Tư lệnh Quân Binh Chủng đã không có phản ứng nên cách mạng 1-11-63 mới thành công một cách dễ dàng. Ngược lại nếu tướng Minh, Đôn, Đính ra lệnh cho các đơn vị chắc chắn sẽ bị chống đối hoặc không thi hành, nhất là 2 lực lượng nồng cốt do chính Thiếu tướng Khiêm điều động với SĐ7 có nhiệm vụ ngăn chặn tiếp cứu của vùng 4, và Sư đoàn 5 chủ yếu tấn công Lữ đoàn Liên Binh phòng thủ phủ Tổng thống với dinh Gia Long.

Sau cuộc cách mạng 1-11-63 thành công vai trò nổi bật là những tướng Minh, Đôn, Kim, Đính, Xuân. Riêng tướng Khiêm với chức vụ Tổng trưởng Quốc phòng hữu danh vô thực, ngoài ra tiếng nói của tướng Khiêm trong Hội đồng Quân nhân Cách mạng hầu như bị lãng quên do đó cuộc chỉnh lý mới bùng nổ mà nguyên nhân chính là do sự bất mãn của tướng Khiêm.

Người tổ chức, thảo kế hoạch do tướng Khiêm chủ động với sự trợ giúp của tướng Khánh và tướng Thiệu cùng 1 số đông các Tư lệnh quân binh chủng. Tuy nhiên vì sở trường của tướng Khiêm là không bao giờ muốn lộ mặt nên tướng Khánh được tướng Khiêm chỉ định coi như lãnh đạo cuộc chỉnh lý. Trên thực tế tướng Khánh không có thực lực, không được ai tin tưởng cho nên nếu không có tướng Khiêm đẩy ra sân khấu chắc chắn không bao giờ tướng Khánh mơ tưởng được làm Chủ tịch Hội đồng Quân nhân, Thủ tướng v.v...

Mục tiêu của cuộc chỉnh lý không ngoài mục đích của tướng Khiêm là vô hiệu hóa hết quyền hành các tướng Minh, Đôn, Kim v.v...để trả thù lại sự vô ơn của các tướng đối với tướng Khiêm sau cách mạng 1-11-63 và luôn thể đưa những người bạn thân nhất nắm chính quyền là tướng Khánh, tướng Thiệu v.v... Do đó ngay khi cuộc chỉnh lý thành công tướng Khiêm không muốn ở vị thế lãnh đạo nên đẩy tướng Khánh ra thay thế tướng Minh, đưa tướng Thiệu nắm chức Tổng Tham mưu trưởng QLVNCH.

Nhưng khi tam đầu chế Minh, Khánh, Khiêm thành hình thì tướng Khánh ham quyền lực, quên đi người đã gây dựng sự nghiệp cho mình là tướng Khiêm, nên tướng Khánh một mặt củng cố uy quyền mặt khác loại bỏ những người thân cận của tướng Khiêm. Tiện giả còn nhớ câu của tướng Khánh nói với tướng Khiêm khi tướng Khánh tống tướng Khiêm đi làm Đại sứ tại Đài Loan như sau: "Anh phải dời VN trong vòng 48 tiếng, nếu không tôi sẽ không bảo đảm tính mạng của anh".

Mặc dù sau khi tướng Khánh loại được tướng Khiêm, nhưng từ Đài Loan tướng Khiêm vẫn âm thầm tổ chức để lật đổ tướng Khánh, do đó mới có những cuộc binh biến xảy ra liên miên cầm đầu bởi tướng Dương Văn Đức, Lâm Văn Phát, Đại tá Tồn, Trang v.v... Tuy nhiên, tướng Khiêm ít nhất vẫn được người bạn trả ơn đàng hoàng là tướng Thiệu, vì ngay khi tướng Thiệu đắc cử Tổng thống thì tướng Khiêm, đương kim Đại sứ Hoa Kỳ được gọi về giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội Vụ và sau đó là Thủ tướng cho đến sát biến cố 4-1975.

Xuyên qua những sụ kiện trình bày trên tiện giả chỉ với mục đích duy nhất là đóng góp nhỏ nhoi vào kho tàng lịch sử biến động nhất của 2 nền Cộng hoà mà tiện giả nghĩ rằng nhân vật Trần Thiện Khiêm dù muốn dù không đã nắm giữ một vai trò tích cực có tính cách xoay chuyển cục diện của miền Nam v.v...

Tiện giả cũng nghĩ rằng nếu không có Trần Thiện Khiêm sẽ không có đảo chánh 1-11-63, không có chỗ cho vai trò của tướng Khánh trên sân khấu chính trị "cải lương" nhất trong giòng lịch sử Việt và chắc chắn sẽ không có một Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống nền Đệ nhị Cộng hòa, người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm làm tan rã QĐVNCH trong một thời gian kỷ lục cũng như đau khổ, tủi nhục cho hàng triệu gia đình Việt Nam./

Trần Ngọc Giang

image067image068image070image072

+++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++++

Cách mạng hay "Cướp chính quyền" Vua Bảo Đại?

image074

Truất phế cựu Hoàng Bảo Đại 


image076

Nhị Lang, tức Thái Lân

Cố vấn Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam

(Trích đoạn Tài liệu Lịch sử - Nhị Lang: Phong Trào Kháng Chiến Trình Minh Thế từ trang 298)

image077

Đúng 10 giờ sáng, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, với bộ quần áo bằng Sharskin trắng, tiến vào phòng họp sau tiếng hô của một nhân viên nghi lễ. Mặt ông nặng vẻ ưu tư, khác hẳn với gương mặt rạng rỡ thuở xưa, lúc ông vào thăm viếng chiến khu Liên Minh. Ông mở lời cám ơn tất cả mọi người, rồi tuyên bố lý do như đã trình bày đại khái trong bức thư mời trước. Chỉ một vài câu vắn tắt, xong ông lại xin phép cáo lui: “Để cho quý Ngài được tự do thảo luận!”

Cử tọa ngạc nhiên, bởi ai cũng tưởng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sẽ cùng ngồi lại với các nhân vật chính trị, để bày tỏ quan điểm của riêng ông đối với việc Bảo Đại gọi ông sang Pháp. Đây cũng là một bằng cớ cho thấy Thủ Tướng Ngô Đình Diệm khá tôn trọng tinh thần dân chủ. Việc ông đi hay ở sau này là do đại chúng toàn quyền định đoạt, chứ ông không có ý định chi phối lập trường các đoàn thể cũng như các nhân sĩ có mặt.

Hội nghị bắt tay vào việc ngay tức khắc. Ông Nguyễn Bảo Toàn được bầu làm Chủ Tọa, và ông Phạm Việt Tuyền làm Thư Ký buổi họp. Tôi liếc thấy ai nấy đều chăm chỉ nghiên cứu bức thư mời của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm, và dường như người nào cũng chỉ có ý định sẽ thảo luận chung quanh đề tài: “Nên hay không nên tán thành cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm qua Pháp theo lệnh của Bảo Đại” mà thôi.

Tôi bèn “nổ phát súng” đầu tiên:

Thưa quý vị, tôi được chỉ thị của đoàn thể chúng tôi là Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến Việt Nam, tới đây gặp quý vị không phải để nói về việc Cụ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm có bổn phận hay không có bổn phận thi hành lệnh triệu thỉnh của Bảo Đại. Mà trái lại, tôi xin thẳng thắn đặt vấn đề là đã đến lúc chúng ta cần truất bỏ quyền hành của ông Quốc Trưởng vô dụng kia đi. Là vì ông ta đang làm một việc trái với nguyên tắc lãnh đạo Quốc Gia. Thử hỏi, thành phố Sài gòn đang có biến, dân chúng xôn xao lo sợ, tại sao ông Bảo Đại lại chọn ngay chính lúc này để bắt buộc Cụ Thủ Tướng phải bỏ nước sang tận bên Pháp xa xôi, để gọi là “tham khảo ý khiến”. Tham khảo cái gì? Phải chăng đây là mưu kế nhằm lật đổ Chính phủ này? Vậy tôi xin tuyên bố dứa khoát, nếu quý vị bằng lòng thảo luận việc truất phế Bảo Đại, thì tôi ở lại. Bằng không, tôi xin phép ra khỏi phòng này ngay.

Cả cử tọa bàng hoàng trước lời đề nghị cứng rắn của tôi. Hồ Hán Sơn không chậm trễ, lên tiếng phụ họa:

“Nhân danh Việt Nam Phục Quốc Hội, chúng tôi đồng ý với Mặt Trận Quốc Gia Kháng Chiến, yêu cầu quý vị đừng bận tâm lệnh triệu thỉnh vô lý của Bảo Đại nữa, mà hãy đồng tâm làm một cuộc Cách Mạng, chấm dứt ngay vai trò của ông Quốc Trưởng kia đi cho xong. Nếu ý kiến này không được hưởng ứng, tôi cũng xin rút lui ngay tức khắc”.

Thế là hai anh em chúng tôi, kẻ “tung” người “hứng”, nhanh chóng chuyển cuộc họp đi sang một hướng khác mà không ai ngờ tới. Đáng chú ý ở chỗ ông Nguyễn Bảo Toàn là người đầu tiên lên tiếng tán thành việc truất phế Bảo Đại, khiến các nhân vật khác không ngần ngại nối gót theo ông. Nên nhớ là hồi mùa Hạ năm 1948, ông Nguyễn Bảo Toàn, Bí Thư Đảng Dân Xã (Hòa Hảo), đã là một trong số các lãnh tụ quốc gia bay sang Hong Kong, xây dựng cái gọi là “Giải Pháp Bảo Đại”, sau khi Cao Ủy Pháp Emile Bollaert lên tiếng tại Hà Đông, bày tỏ lập trường của Pháp không muốn nói chuyện điều đình với Hồ Chí Minh nữa, và muốn giải quyết vấn đề Việt Nam với cánh Quốc Gia có uy tín. Ta có thể nói ông Nguyễn Bảo Toàn đã có công với “Giải Pháp Bảo Đại” vậy mà nay chính ông lại mau chóng đồng ý phế bỏ Bảo Đại trước hết, thành thử các đoàn thể và nhân sĩ khác thấy không còn lý do gì để thắc mắc nữa.

Bầu không khí bỗng sôi nổi hẳn lên. Nhất là các đoàn thể hoặc tổ chức lâu nay vốn có lòng ủng hộ Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thì lại càng bồng bột “quá khích” hơn ai hết. Từ chỗ thụ động, họ bước sang thế chủ động, hy vọng nhờ chúng tôi đứng mũi chịu sào, họ sẽ trừ khử được một con “Ngáo Ộp” từng làm cho Thủ Tướng Ngô Đình Diệm quên ăn, mất ngủ. Ông Bùi Quang Nga, hiệu là Văn Ngọc, vừa hô to:“Đả Đảo Bảo Đại” vừa tuột giày, ném thẳng lên chân dung của Bảo Đại treo trên vách phòng Khánh Tiết. Tiếp đó, người ta đưa ý kiến triệt hạ ngay bức chân dung kia xuống, và người ta công cử cá nhân tôi đứng ra làm hai việc tượng trưng, chấm dứt một triều đại, đánh dấu một khúc quanh lịch sử. Tôi được nhiều nhân vật – đáng chú ý nhất là Luật sư Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng cuối cùng của Đệ nhị Cộng Hòa) – xúm nhau lại công kênh tôi lên vai họ, để triệt hạ bức chân dung quá sức đồ sộ của Bảo Đại. Bức chân dung ấy, hàng ngày “ngự” trong Dinh Độc Lập, nói lên cái quyền tối thượng của ông Quốc Trưởng bù nhìn, hơn một lần đã đầu hàng Cộng sản vô điều kiện, đã đem cả ấn kiếm nhà Nguyễn cúi đầu dâng cho tên cán bộ Cộng sản Trần Huy Liệu ngày 23 tháng 8 năm 1945 tại cố đô Huế, rồi còn cố che đậy sự hèn nhát của mình bằng một câu nói hài hước: “Thà làm dân một nước độc lập, còn hơn làm vua một nước nô lệ”. Ông vua thoái vị ấy tưởng đã nằm chết dí bên Hong Kong, nếu không nhờ các lãnh tụ quốc gia làm cho sống lại, để được Pháp điểm tô mày mặt đưa về hồi 1949, để cuối cùng chẳng làm nên trò trống gì cho quê hương xứ sở.

Tưởng cũng nên nhắc lại, là mùa Thu năm 1945, Bảo Đại quá khiếp sợ trước “thế lực tưởng tượng” của bè lũ Hồ Chí Minh, nên không dám có hành động nào khác là đầu hàng Cộng sản cho nhanh chóng để được yên thân. Sau khi trao ấn kiếm cho tên Trần Huy Liệu (nguyên là một thành phần quốc gia đã bán rẻ linh hồn cho Cộng sản) trong một buổi lễ vô cùng tủi nhục trước bao nhiêu tiếng khóc nức nở của Hoàng Thân, Quốc Thích nhà Nguyễn, Bảo Đại bay ngay về Hà nội, vui vẻ đóng vai “Cố Vấn Vĩnh Thụy” cho đẹp lòng Hồ Chí Minh, bằng cách tham dự tất cả cuộc hội hè do cộng sản tổ chức. Ông sống quá bình thản vô tư, cho đến nỗi anh em quốc gia rất lấy làm lo ngại cho tương lai ông. Họ âm thầm tìm cách cứu ông ra khỏi cảnh một thằng tù bị giam lỏng trong căn nhà bên cạnh bờ hồ Hoàn Kiếm.

….

Tới khi cuộc chiến Việt Nam kết liễu bằng trận Điện Biên Phủ, nước nhà bị chia đôi, con người vô trách nhiệm kia lại còn gượng gạo đứng lên đòi làm chủ miền Nam một lần thứ hai nữa. Nhưng mộng ấy không thành, khiến ông đành tạm thời giữ vai hư vị “Quốc Trưởng”, bị cầm chân vĩnh viễn trên đất Pháp, và miễn cưỡng chỉ định Nhà Cách Mạng Ngô Đình Diệm thành lập Chính phủ mới, với tất cả sụ thù hằn. Thế cho nên, khi Thủ Tướng Ngô Đình Diệm cầm quyền, dù với thái độ khiêm cung thành tín “Thừa lệnh Đức Quốc Trưởng”, Bảo Đại vẫn không ngừng quấy phá nơi hậu trường, bằng cách ngấm nhầm xúi dục Bình Xuyên chống đối vũ trang, sai Tướng Nguyễn Văn Hinh chửi rủa ngày đêm, ra lệnh cho Tướng thân cận là Nguyễn Văn Vỹ âm mưu cướp chính quyền, lén lút mặc cả với Bình Xuyên để sắp đặt cho ông Lê Văn Viễn (bảy Viễn) lên làm Thủ Tướng. Tự thủy chí chung, người ta thấy Bảo Đại không hề nghĩ gì tới số phận của nước nhà trước cái hiểm họa Cộng sản, mà chỉ mong thỏa mãn ý muốn riêng tư mà thôi.

Một con người như thế, quả thật không còn xứng đáng nắm vai chủ chốt, mà bức công hàm triệu thỉnh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm sang Pháp giữa lúc Bình Xuyên đang nổi loạn, quả là “Giọt nước làm tràn miệng ly”, không ai có thể chấp nhận được. Một cuộc cách mạng phải xảy ra. Và cuộc cách mạng ấy đã xảy ra tại Dinh Độc Lập ngày 29 tháng 4 năm 1955. Cho nên, khi cái khung hình của Bảo Đại rơi đánh đùng một tiếng xuống nền Dinh Độc Lập, thì bao nhiêu gót giầy cùng giẫm lên giữa những tiếng la hét giận dữ…

Trong bầu không khí tột cùng sôi nổi – có lẽ chỉ xảy ra một lần duy nhất tại Dinh Độc Lập mà thôi – các diễn giả dần dần buông rơi hết mọi sự dè dặt lúc đầu, để trở nên nhiệt thành với cách mạng, và dơ tay tán đồng một cách nhanh chóng, dễ dàng, mọi ý kiến do tôi và Hồ Hán Sơn lần lượt đưa ra. Hội nghị đã lưu lại cho lịch sử một Bản Quyết Nghị nảy lửa, gồm 3 điểm như sau:

1 Truất phế Bảo Đại.

2 Giải tán Chính phủ Ngô Đình Diệm.

3 Ủy nhiệm Chí sĩ Ngô Đình Diệm Thành lập Chính phủ  Cách Mạng Lâm Thời, tổ chúc Tổng Tuyển Cử, tiến tới Chế độ Cộng Hòa.

Có một điều đáng nói, là sau khi tuyên bố giải tán Chính phủ Ngô Đình diệm rồi, các diễn giả đâm ra lúng túng, không biết dùng tước hiệu gì kèm theo cái tên của Cụ Ngô Đình Diệm, chả nhẽ lại lại gọi trống không thì khiếm nhã. Tôi bèn đề nghị hai chữ “Chí Sĩ” và được cử tọa hoan nghênh. Kể từ đó, danh từ Chí Sĩ thường được nhắc nhở trong dư luận. Tôi nhìn đồng hồ, lúc ấy vừa đúng 5 giờ chiều. Nghĩa là cuộc họp đã kéo dài suốt 7 tiếng, được chính phủ cung cấp bữa ăn trưa đạm bạc bằng bánh mì thịt nguội và nước ngọt.

Bây giờ là lúc cử tọa đề nghị Chủ tịch Nguyễn Bảo Toàn thân hành đi mới Thủ Tướng Ngô đình Diệm xuống phòng họp, để nghe kết quả.  Khi Thủ Tướng nghe xong, tôi thấy mặt ông tái hẳn đi. Tôi chắc ông không ngò cuộc họp bất thường này lại quay sang một chiều hướng khác, dẹp tan cái chuyện “Thủ Tướng nên đi hay không nên đi sang Pháp”, và lôi kéo ông đi một bước quá xa như vậy. Thâm tâm ông chỉ muốn được khuyến cáo là có nên thi hành mệnh lệnh của Bảo Đại hay không mà thôi. Ai ngờ bây giờ chẳng những người ta không chịu để ông ra đi, mà người ta còn hất chân ông Quốc Trưởng, và giải tán luôn cái Chính phủ hiện hữu của ông, thì hỏi còn cái biến cố nào đáng ghê sợ hơn?

Thành thật mà nói, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm không thể không vui mừng khi hất đi được cái gánh nặng: “Thừa ủy nhiệm Đức Quốc Trưởng” trên vai, khi loại bỏ được một hình ma bóng quế luôn đe dọa ông trong khi hành xử quyền hành. Tuy nhiên, hất cái gánh nặng kia, thì lại đèo theo lên vai cái gánh nặng mới khác của Ủy Ban Cách Mạng, phải chịu quyền ủy nhiệm của Cách Mạng trong những ngày sắp tới, thì còn biết xử trí làm sao đây? Cho nên Thủ Tướng Ngô Đình Diệm thoáng lộ vẻ đăm chiêu, và nói bằng một giọng trầm mặc:

“Xin quý Ngài cho tôi được có thời giờ suy nghĩ kỹ vấn đề trọng đại này”.

 image079

Tôi muốn thuật rõ các chi tiết trên đây, để đánh đổ luận điệu ngu ngốc xuyên tạc của mấy ký giả Tây phương cho rằng Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã “sắp đặt” và đã “dùng tiền bạc để mua chuộc các đoàn thể chính trị” nhằm “Đẻ” ra “một cuộc cách mạng giả tạo để củng cố quyền hành”. Sự thực cho thấy, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm không “Đẻ” ra được cái gì sốt cả, và ông tướng Mỹ Edward Lansdale  cũng chả đóng được “vai trò đạo diễn” nào trong sự thay đổi lịch sử, như bọn nhà báo tây phương đã xác quyết. Trái lại, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm bị đặt trước sự đã rồi, bị ép buộc đi vào con đường Cách Mạng lật đổ triều Nguyễn bằng Quyết Nghị lịch sử ngày 29 tháng 4 năm 1955.

 image081

Cánh cửa Cách Mạng đã mở sẵn, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm chỉ còn bước qua bằng cuộc Trưng Cầu Dân Ý ngày 26 tháng 10 là xong ván bài Bảo Đại. Các nhà báo Tây phương toa rập với bọn Cộng sản Hà Nội, luôn luôn xuyên tạc và bôi nhọ Tổng Thống Ngô Đình Diệm và miền Nam, luôn luôn chối bỏ các biến cố lịch sử đương nhiên của miền Nam. Nhưng lịch sử bao giờ cũng là lịch sử, biến cố bao giờ cũng là biến cố từ lòng dân chúng miền Nam phát ra. Và riêng tôi xin làm một chứng nhân, sẵn sàng đương đầu với bất cứ ai ngoan cố cho rằng cuộc cách Mạng ngày 29 tháng 4 năm 1955 là “một cuộc cách mạng giả tạo”, là “sản phẩm” của chế độ Ngô Đình Diệm./

NHỮNG BÍ ẨN CHUNG QUANH VỤ SÁT HẠI TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM VÀ ÔNG NHU





 Đâu là bộ mặt thật của tướng Trần Thiện Khiêm ?
• “Nếu ông cụ và ông Nhu còn trong dinh, tôi sẽ…”
• Việc giết TT Diệm là một tội phạm lịch sử !
(Sau nhiều thập niên im lặng Phụ Tá Ðặc Biệt Nguyễn Văn Ngân nói gì về những bí ẩn quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ?)

Trần Phong Vũ thực hiện
_______________________________________________________________________________________

TPV: Ông Thiệu nói với ông:…bọn “xịa” ngồi trong Hội đồng An-ninh Quốc-gia; ông muốn ám chỉ ai?

NVN: Ông Thiệu đâu cần phải ám chỉ. Trong số nầy, một nhân vật then chốt và thường trực của hội đồng an-ninh quốc-gia là ông Trần Thiện Khiêm, Thủ tướng kiêm Tổng trưởng Nội vụ, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng mà cả nước đều biết là một công cụ trung thành của Mỹ, là nhân vật chủ chốt trong cuộc đảo chánh 1/11/63.

Trước đây, các ông Diệm, Nhu cũng biết ông Khiêm là người của CIA nhưng đã lầm lẫn về con người của ông Khiêm nên đã giao chức vụ Tham mưu trưởng liên quân với mục đích “neutralizer” các âm mưu đảo chánh của người Mỹ, cuối cùng cả hai anh em đều bị thảm sát dưới tay ông Khiêm. Các ông Diệm, Nhu là những người được giáo dục và lớn lên trong môi trường có tính cách khuôn mẫu, kinh điển, vẫn tưởng rằng những ân sủng của chế độ, những tình cảm xử sự như con cháu trong gia đình, cùng sự biến cải từ một sĩ quan cấp thấp trong quân đội đánh thuê của Pháp thành một tướng lãnh đứng đầu trong quân đội quốc gia có lý tưởng, có nhân cách, nhân phẩm…, sẽ hết lòng bảo vệ chế độ.

TPV: Thế còn những người đứng đầu các cơ quan an ninh, tình báo Việt Nam? Họ có phải là người của CIA hay không?

NVN: Họ đều là những cộng sự viên của CIA, hoặc tự nguyện hoặc tự tề. Danh từ “tự tề” là danh từ của ông Thiệu dùng khi nói chuyện với tôi. Các công tác tình báo do người Mỹ trực tiếp chi tiền; người nào chi tiền thì người đó làm chủ và kiểm soát.

Sau nầy ở hải ngoại có một lần tôi hỏi ý kiến của ông Thiệu về cái chết của Tổng Thống Park Chung Hee, ông trả lời: “bọn Mỹ chứ còn ai vào đó, có bao giờ giám đốc tình báo quốc gia là người tin cẩn do Tổng Thống bổ nhiệm lại bắn Tổng Thống!”

Tôi nhắc lại chuyện nầy để cho thấy tinh thần cảnh giác của ông Thiệu và hoàn cảnh bị “trói tay trói chân” của ông Thiệu ngày đó.

TPV: Có bao giờ ông và ông Thiệu nói chuyện với nhau về vụ đảo chánh 1/11/63, cụ thể là những người liên hệ đến quyết định hạ sát Tổng Thống Diệm? Một nhân chứng có thẩm quyền là trung tướng Trần văn Đôn trong hồi ký tiếng Anh vào năm 1976 chỉ đích danh tướng Dương văn Minh là người ra lệnh nhưng trong hồi ký tiếng Việt sau nầy ông hoàn toàn im lặng với một thái độ mơ hồ và quanh co. Theo báo chí ngoại quốc thì có lần ông Thiệu đã minh thị ông Minh là người đã ra lệnh?

NVN: Trong thời gian làm việc nhiều khi chúng tôi có đề cập đến cuộc đảo chánh 1/11/63 ở những khía cạnh khác nhau và trong những dịp khác nhau.

Tôi nhớ lần đầu tiên vào đầu năm 1965 lúc ông Thiệu là Phó Thủ tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc phòng và tôi là sĩ quan thuộc Phòng Nghiên Cứu/Bộ Quốc phòng, nhân một phiếu trình về bình định lãnh thổ, ông Thiệu nói với tôi: “ông Minh (Dương văn Minh) đã phạm sai lầm lớn sau 1/11/63 là đã phá bỏ ấp chiến lược và giải tán Thanh niên Cộng hòa…”. Trong cảnh “dậu đổ bìm leo” và sự hồ hởi của những người vừa lật đổ chế độ cũ lúc đó, nhận xét và lượng giá khách quan của ông Thiệu đã tạo cho tôi một ấn tượng đặc biệt về ông.

Về cái chết của Tổng Thống Diệm và ông Nhu, trong phạm vi trách nhiệm của người chỉ huy tấn công dinh Gia Long, ông Thiệu nói: “nếu ông cụ và ông Nhu còn trong dinh thì tôi sẽ bảo vệ an ninh bằng cách đưa các ông về Tổng Tham mưu trên một xe jeep lật mui và sẽ không ai dám làm gì hết…”. Tôi biết điều ông nói là thực, ít nữa là với cương vị bấy giờ là một sĩ quan thừa hành cấp đại tá, ông đủ thận trọng và khôn ngoan – ông không thuộc loại người “múc nước ch. uống”. Đây là thành ngữ đôi khi ông dùng trong khi nói chuyện riêng với tôi nhân vài vụ trao đổi chính trị.

Di ảnh sau cùng của TT Diệm sau khi bị sát hại. Cả hai anh em đều bị thảm sát dưới tay ông Khiêm (Sài Gòn 2/11/1963)

Chỉ một lần duy nhất vào dịp tranh cử Tổng Thống 1971 tôi và ông Thiệu đã đề cập một cách cụ thể vấn đề có tánh cách “cấm kỵ“ nầy vì những nhân vật liên hệ còn nắm giữ những vai tuồng chính trị quan trọng. Lúc bấy giờ ông Dương Văn Minh muốn tranh phiếu của khối Công-giáo đã lên tiếng quy trách cái chết của Tổng Thống Diệm cho ông Thiệu do việc thi hành chậm trễ lệnh bao vây dinh Gia Long đưa đến sự đào thoát và cái chết sau đó. Ông Thiệu đã trả lời trong cuộc họp báo tại Tổng Tham Mưu: “…việc một trung tướng ‘đổ thừa’ cho một đại tá là một hành động hèn, khiếp nhược, không xứng đáng tư cách một quân nhân và một cấp chỉ huy…”

Ông Minh và nhóm tướng lãnh bất mãn thi hành chỉ thị của người Mỹ (giết TT Diệm)

Trong cuộc thảo luận này chúng tôi đã đề cập và phân tách đến các danh từ: thủ phạm, chính phạm, tòng phạm, người trách nhiệm v.v… Tôi nói với ông Thiệu: trung tướng Dương Văn Minh là chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Diệm, hơn nữa chính sĩ quan cận vệ của ông Minh đã trực tiếp hạ sát Tổng Thống Diệm và ông Nhu; tuy nhiên, thủ phạm chính và giấu mặt là người chủ chốt thực hiện vụ 1/11/63 tức ông Khiêm – là người đã triệu tập Hội đồng tướng lãnh, điều động lực lượng an ninh của Tổng Tham Mưu và nắm giữ lực lượng chủ lực của cuộc đảo chánh tức sư đoàn 5. Vào lúc ông Diệm quyết định ra trình diện đã chỉ thị cho sĩ quan tùy viên phải cố liên lạc trực tiếp với ông Khiêm như một bảo đảm cho sinh mạng, và chính ông Khiêm đã nhận điện thoại của đại úy Đỗ Thọ nhưng đã cố tình bất động, mượn tay ông Minh và nhóm tướng lãnh bất mãn để thi hành chỉ thị của người Mỹ.

Ông Thiệu im lặng một lúc, hoàn toàn không phản bác mà chỉ hỏi lại một cách thụ động: anh nghĩ như vậy sao?

Tôi đáp: không phải tôi nghĩ như vậy mà sự thực là như vậy. Nếu Tổng Thống ở vào địa vị ông Khiêm, Tổng Thống sẽ xử sự như thế nào? Chức vụ Tham mưu trưởng liên quân là chức vụ được Tổng Thống tín nhiệm và trực tiếp bổ nhiệm để cầm đầu quân đội, bảo vệ chế độ, thế mà lại làm tay sai cho ngoại bang, lợi dụng chức vụ lật đổ chế độ – ông Khiêm thừa hiểu đó là một hành động phản quốc nếu ông Diệm sống sót; hơn nữa với những ân sủng của ông Diệm cho ông Khiêm cùng sự xử sự như con cháu trong gia đình thì sự phản trắc cũng đủ để ông Khiêm phải thủ tiêu ông Diệm hầu khỏi thấy mặt.

Ông Thiệu im lặng khá lâu, cuối cùng ông nói: nếu ông cụ nán lại đến trưa không ra mặt thì bọn họ lên máy bay chạy hết, có ai tin ai đâu.

Trong những trường hợp tế nhị, ông Thiệu thường có thái độ lấp lửng hoặc những câu nói nửa vời thay cho sự xác nhận. Và do cuộc thảo luận nói trên nên tại cuộc họp báo ở Tổng Tham Mưu ông Thiệu nói: … “trung tướng Dương văn Minh, nguyên Chủ tịch Hội đồng quân nhân cách mạng, là người phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về cái chết của Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong cuộc chính biến ngày 1/11/63…”

Trong Our Endless War, ông Đôn minh thị ông Minh như là một chính phạm (giết TT Diệm)
Nguồn: wikimedia.org

Việc giết Tổng Thống Diệm là một tội phạm lịch sử. Những người nhúng tay vào máu của ông Diệm không bao giờ dám ngẩng mặt lên nhận trách nhiệm: những người bị lộ diện đã sống một cách lén lút cho đến cuối đời như Dương Văn Minh, Mai Hữu Xuân, những kẻ ném đá dấu tay thì vẫn tiếp tục ẩn mặt và trút trách nhiệm lên đầu những người đã chết. Sau 30/4/1975, ông Dương văn Minh được cộng sản cho xuất ngoại. Có một thời gian ở Pháp ông Minh đã từ chối không tiếp ông Đôn vì lý do trong cuốn Our Endless War xuất bản 1976 ông Đôn minh thị ông Minh như là một chính phạm. Ông Minh cho rằng đây là một sự quy trách bất công có tính cách gian trá vì ngày đó ông ta thực ra chỉ là một thứ “bung xung” không quân, không tướng được đưa ra làm chủ tịch HĐQNCM một tư thế cưỡi cọp vì những kẻ chủ động không tin sẽ thành công rồi mượn bàn tay ông ta để dứt hậu hoạn. Đây là lý do trong bản Việt ngữ sau nầy, cuốn Việt Nam Nhân Chứng, ông Đôn đã không đề cập đến tên ông Minh hay bất cứ người Việt Nam nào mà chỉ nhắc đến câu nói của Lou Conein là phải tìm bắt hai ông Diệm, Nhu với chỉ thị “on ne fait pas d’omelette sans casser les oeufs” và chỉ nói một cách tổng quát là người nào đã quyết định việc hạ sát là người thấy xa. “Người thấy xa” mà ông Đôn muốn ám chỉ là người Mỹ. Khi gởi cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” cho tôi, ông Đôn nói: “người ta trách móc tôi nhiều quá nên không muốn đụng chạm nữa”.

Ông Khiêm là con người của những âm mưu trong bóng tối, lén lút, không bao giờ dám đối đầu công khai trừ phi có người Mỹ sau lưng và chắc ăn, vì vậy ông đã mất nhiều cơ hội để nắm vai trò lãnh đạo sau đảo chánh 1/11/63, sau chỉnh lý 30/1/64 là những biến cố ông có vai trò chủ động, và vì “mất ăn” nên các cuộc binh biến dưới thời Nguyễn Khánh đều có ông Khiêm đứng sau lưng giật dây.

Để rõ thêm con người của ông Khiêm, đây là câu chuyện ông Thiệu đã kể lại cho tôi lúc gặp tại Londres năm 1983. Tôi hỏi ông Thiệu: Tổng Thống vẫn liên lạc với ông Khiêm?

– Không.

– Lý do?

– Anh nghĩ xem tôi và ông ta cùng đi qua Đài Loan một lúc; ở Đài Loan, tôi qua Anh thăm thằng Lộc (con trai ông Thiệu) để giải thích và an ủi nó về vụ 30/4, người lớn còn “xấc bấc, xang bang”, huống gì nó là một đứa nhỏ. Trong khi tôi vắng mặt, ông Khiêm đến chào bác Sáu để đi Mỹ (ông Kiểu, đại sứ tại Đài Loan – anh ông Thiệu). Ông Khiêm nói với bác Sáu: trong hai anh em phải có một người qua bên đó để nói lên tiếng nói của mình… Bác Sáu cười mỉa mai: “… thế thì tôi chúc chú lên đường bình an…”. Trong thời gian tôi ở Đài Loan, ông Khiêm không hề nói với tôi về việc ông làm thủ tục đi Mỹ…”

Cũng cần biết là sau 30/4/75, bà Anna Chennault có qua Đài Loan cho ông Thiệu biết là chánh phủ Mỹ không hoan nghênh việc ông Thiệu vào Mỹ; chín năm sau ông Thiệu mới vào Mỹ và định cư tại Boston.

Đến nay đã hơn 30 năm, ông Khiêm vẫn “thủ khẩu như bình”, như ngày nào ông là một thủ tướng “ngậm miệng ăn tiền”, một thủ tướng lâu nhất trong các thủ tướng kể từ thời Bảo Đại.

Câu chuyện ông Thiệu nói với tôi về ông Khiêm ở trên làm tôi liên tưởng đến một câu nói từ rất lâu của một nhân vật trong nhóm đảo chánh 1/11/63 đã phản ảnh với tôi về cái tình huynh đệ chi binh của họ bằng câu “bạn nhà binh, tình nhà thổ”. Một nhân vật then chốt khác cũng trong vụ 1/11/63 vào những ngày cuối đời cũng đã than với tôi: “… ông Ngân ạ, trên đời này làm gì có tình nghĩa!” Có lần ông Thiệu phàn nàn với tôi về tướng Nguyễn Khánh: “Anh nghĩ xem… ‘thằng’ Khánh tệ đến mức đã đuổi ông Khiêm đi (1964) thế mà khi gặp lại ông Khiêm ở Hoa Thịnh Đốn (đại sứ) còn ngửa tay xin tiền ‘mày có tiền đưa tao một ít’… Tôi nghĩ bụng có gì tệ đâu, họ cùng một phường với nhau … ‘tao không còn cơ hội ăn cắp, mày còn cơ hội thì chia cho tao với’…”

Ngày đó tôi vẫn tự hỏi: tại sao sáng 2/11/63 ông Thiệu lại không dùng binh lực có sẵn trong tay để thanh toán nhóm tướng lãnh phản loạn tại Bộ Tổng Tham Mưu hầu thực hiện một cuộc cách mạng triệt để mà quốc gia đang cấp thiết đòi hỏi cho cuộc đấu tranh sinh tử với cộng sản. Đám họ chỉ là sản phẩm của thực dân để lại, hèn nhát, bất tài và bất xứng. Ông Thiệu vẫn là người khá hơn hết và ông đã bỏ lỡ mất “cơ hội ngàn năm một thuở” vì sau 1965 khi quân đội Mỹ đã trực chiến thì chúng ta chỉ còn chờ chết!

TPV: Trong thời gian làm việc có bao giờ ông đặt câu hỏi trên với ông Thiệu không?

NVN: Không. Vì việc đã qua rồi.

Tình hình chính trị ngày đó luôn luôn bất ổn. Có những việc chỉ nên làm mà không nên nói, có những cơ hội bị bỏ lỡ cũng không nên nhắc lại khi thời gian và điều kiện không còn nữa, nói ra chẳng những vô ích mà nếu bị tiết lộ còn gây ra những trở ngại, khó khăn cho những dự tính và công việc sắp tới.

TPV: Về vai trò của trung tướng Trần Văn Đôn trong vụ 1/11/63?

NVN: Người Mỹ không tin ông Đôn nhưng bắt buộc phải sử dụng ông Đôn trong vụ 1/11/63 vì lúc bấy giờ ông Đôn giữ chức vụ quyền Tổng Tham mưu trưởng thay đại tướng Lê Văn Tỵ đi Mỹ trị ung thư. Ông Đôn đã được người Mỹ xử dụng “công tác món” và sau đó đã bị loại trong vụ chỉnh lý 30/1/64.

Ông Đôn và Lou Conein đã biết nhau từ 1946 tại Hà Nội: Conein là sỹ quan của OSS, cơ quan tiền thân của CIA, trong phái bộ của Archimedes Patti, còn ông Đôn là sĩ quan của phòng nhì Pháp làm việc dưới quyền đại úy Duprat trưởng ban phản gián thuộc Bộ Tham mưu của tướng Leclerc.

MARCUS BRUTUS - người lính già oregon


                            
                             Marcus Junius Brutus (85-42 BC)

      Những ngày gần đây, vài người bạn thân hỏi riêng tiện nhân nghĩ gì về cựu tướng Tôn Thất Đính vừa từ trần và những phản tướng đã nhúng tay vào máu của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm, tháng 11 năm 1963. Tiện nhân trả lời: “Tôi không nghĩ gì cả. Vì người chết đã chết, để lại bao nhiêu oan khiên, thù hận, chia rẽ cho người sống, bên này hay bên kia dãy núi Pyrénées với sự thật mà mỗi bên muốn ôm khư khư với ít nhiều cố chấp. Nếu phải nói, tôi chỉ nói một điều mà ai cũng phải công nhận, bọn người đảo chánh, đúng sai chưa cần bàn, đã quá hạ tiện, dã man, rừng rú: giết một lãnh tụ đã chịu đầu hàng, một cách tàn nhẫn và đê hèn đến thế!”
Tiện nhân đã đọc đầy dẫy những bài ca tụng, ghi công lao của những tướng lãnh đã làm cuộc binh biến lật đổ và giết cụ Ngô Đình Diệm, cũng như những bài văn, bài thơ, hay sách vở (cf sách của cựu thẩm phán Lê Nguyên Phu, Trong bóng tốí lịch sử, Montréal, 2008) hài tội gắt gao những phản tướng. Tuy nhiên, tiện nhân tự kềm chế, không lên tiếng phụ họa, chẳng phải vì ba phải, hoặc muốn làm thầy đời đạo đức giả, hoặc không thương cụ Diệm, trái lại thế, nhưng bởi những lý do sau đây:

1)Nhiều người đã viết để kết án họ rất hay, với đầy đủ tài liệu, dẫn chứng, tiện nhân nếu muốn viết thêm cũng không thể bằng được.

2) Hiểm họa Cộng sản, Việt cũng như Tàu, hiện nay còn nặng như tảng băng trước mắt. Nặng hơn cái chết của cụ Diệm, dù sao cũng đã xảy ra nửa thế kỷ rồi và đã thuộc về lịch sử, và lịch sử thì lúc nào cũng công minh, công bằng, công chính, kể cả nếu phải đợi hàng trăm, ngàn năm, bao nhiêu thế hệ nữa mới gặp thấy được. Năm mươi năm, dù sao, vẫn chưa đủ cho những xúc cảm cá nhân lắng xuống và lòng người thật bình tĩnh. Biết thế, mỗi năm, nhất là vào tháng 11, Việt Cộng xúi giục bên này đánh trước bên kia, để bên kia trả đũa bên này, mà quên đi kẻ thù chính và duy nhất, là chúng nó, một lũ đích thực gian ác, trong khi chúng nó đứng ngoài vỗ tay, trục lợi. Chúng ta không dại.

3)Việc lật đổ và thảm sát cụ Diệm, phải chăng nếu không có bàn tay lông lá của quan thầy Mỹ nhúng vào, thì dù có hàng trăm Thích Trí Quang, hàng ngàn Dương Văn Minh, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính… cũng bất thành? Nếu đúng thì thường người ta mắng chủ, ai lại đi đánh tớ?
     Quả vậy, trong bản thảo hồi ký của Bà Ngô Đình Nhu (do Luật sư Trương Phú Thứ, người quen thân bà Nhu, đang cất giữ, mà tiện nhân đã được may mắn đọc trong tư cách đồng dịch giả và hiệu đính viên, chứ không phải quyển sách do con bà, Ngô Đình Quỳnh, mới xuất bản và ra mắt tại Paris mà tiện nhân chưa đọc), bà không hề nhắc đến bất cứ phản tướng nào. Bà chỉ kết tội một cá nhân duy nhất: John F Kennedy, và chính trị lật lọng cố hữu của Mỹ mà bà gọi là impéro (đế quốc, đáng chê, chỉ sau Coco, cộng sản, vàColo, thực dân).
      Ngày 22/11 vừa qua, kỷ niệm 50 năm ngày JFK bị ám sát, báo chí, truyền hình, truyền thanh Mỹ cho đi hàng loạt những bài tưởng niệm và vinh danh ông. Không một chi tiết nào trong đời sống, cái chết, và sự nghiệp chính trị của ông bị bỏ sót. Ngoại trừ việc âm mưu giết cụ Diệm để đưa quân Mỹ vào chiến đấu tại Việt Nam. Tại sao? Vì, theo thiển ý, âm mưu ấy, nay đã được giải mật, là một vết nhơ trong lịch sử cận đại Hoa Kỳ, không bao giờ tẩy rửa được.

Brutus trong vở kịch Julius Caesar của Shakespeare

                      File:Cesar-sa mort.jpg
                                                         Cái chết của Caesar bởi Vincenzo Camuccini

     Trong đám phản tướng 1963 có một người mà mỗi lần được nhắc làm tiện nhân không khỏi nghĩ đến Marcus Junius Brutus (85-42 BC), sống cùng thời với người hùng Julius Caesar. Đó là Tôn Thất Đính.
      Brutus là một chính trị gia (senator, thượng nghị sĩ) vào cuối đời Cộng Hòa Rome (trước khi Rome trở thành đế quốc dưới triều hoàng đế tiên khởi Augustus, tức Octavius). Brutus được dư luận cho là con nuôi hoặc người thân cận chịu ơn của Caesar. Dù với danh nghĩa nào, Brutus được Caesar hết lòng tin cậy và nâng đỡ, cho làm thống đốc của xứ Gaule (tiền thân của Pháp quốc bây giờ, bị Caesar chiếm đóng năm 58-51BC, trở thành một tỉnh của Rome) khi ông này đưa quân vào Africa đuổi theo Caton và Scipion. Năm 45, Brutus được bổ nhiệm làm thẩm phán (praetor urbanus) quyền hành rộng lớn, và chính điều này là một trong những nguyên nhân khiến Gaius Cassius, anh vợ và thượng nghị sĩ đồng nghiệp của Brutus, rất bất mãn với Caesar.     
      Theo lịch sử, năm 44, Caesar bị đâm tại thềm Thượng viện bởi Casca và Cassius, và vài kẻ phiến loạn khác, chưa chết và còn rút kiếm chống đỡ, và cuối cùng bị Brutus đến đâm bồi thêm và ngã xuống.
      Trong vở kịch Julius Caesar (1599), Shakespeare giữ những chi tiết lịch sử (cf Plutarque, Marcus Brutus, viết năm 75 sau Thiên Chúa) nhưng thêm những câu bất hủ, trở thành danh ngôn, chẳng hạn câu này Caesar nói với vợ, Calphurnia, lúc bà can ngăn ông đừng đi đến Thượng viện ngày hôm ấy (vì thấy trên trời xuất hiện những chùm sao chổi, comets, báo hiệu cái chết của những hoàng tử, princes, ngụ ý người cao sang, tức chồng mình):
Calphurnia:   When beggars die there are no comets seen:
                    The heavens themselves blaze forth the death of princes.
Caesar:         Cowards die many times before their deaths;
                    The valiant never taste of death but o­nce.
                     (Những kẻ hèn nhát chết nhiều lần trước khi chết thật
                     Người dũng cảm biết cái chết chỉ một lần thôi)
                     Of all the wonders that I yet have heard,
                     It seems to me most strange that men should fear,
                     Seeing that death, a necessary end,
                     Will come when it will come (Act I, scene 2, 30-37)

Hoặc khi thấy Brutus tiến đến đâm mình, ông không chống cự nữa, lấy vạt áo che đầu và đau đớn hỏi:

Caesar: Et tu, Brute?(Latin, có nghĩa: You too Brutus? Cả ngươi nữa, Brutus?) – Then fall, Caesar! [Dies] (Act II, Scene 1, 77).
      Ghi chú: Theo sử gia Latin Suetonius (69-125 sau TC) trong quyển Vies des douze Césars thì khi thấy Brutus sấn tới, Caesar đã thồt lên bằng tiếng Hy Lạp, có nghĩa: And you, my son?(Và cả con nữa, hỡi con trai?)
                
      Sau đó, theo lịch sử và vở kịch của Shakespeare, Cassius và Brutus bị Octavius và Marcus Antonius –trung thành với Caesar– buộc vào tội phản nghịch, làm quốc gia rối loạn, phải bỏ trốn đến đảo Crete của Hy Lạp, mộ lính, chiến đấu chống quân của hai tướng La Mã. Trong trận Philippi (42 BC), Brutus bị đánh bại và tự tử.
      Có những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật Brutus và Tôn Thất Đính: a- Cả hai đều thọ ơn, nếu không nói là con cưng, của người mình phản bội; cả hai được chủ tín cẩn và ban cho tước quyền cao trọng  b- Khác với Brutus: Tôn Thất Đính không trực tiếp giết cụ Diệm, không chống chủ mình vì lý tưởng quốc gia, không tự tử chết tại chiến trường.

Brutus trong Inferno của Dante 
(cf  A Reading of Dante’s Inferno, U. of Chicago Press, 1981 của Wallace Fowlie)

      Inferno (Địa ngục, viết năm 1300) là phần đầu (trước Purgatorio, Luyện ngục, và Paradiso, Thiên đàng) trong tuyệt phẩm La Divina Commedia (La Divine Comédie) của thi hào Ý Dante Alighieri (1265-1321). Trong sách, người kể truyện, tức Dante, được thi hào Latin Virgile (70-19 BC, tác giả thiên anh hùng caL’Énéide) dẫn xuống thăm Địa ngục, dưới đáy mặt đất –nơi mà trước cửa có một tấm biển đề rõ: “Lasciate ogni speranza voi ch’entrate”(Hỡi các ngươi đang bước vào, hãy vứtbỏ hết mọi hy vọng).

      Địa ngục trong Dante có chín tầng, dưới dạng chín vòng đồng tâm (concentrique), giam giữ các linh hồn tùy theo tội trạng lúc còn sinh tiền. Đầu tiên hai thi hào được dẫn vào tiền đình (vestibule), nơi “tập trung cải tạo” những người, được gọi là uncommitted, khi ở trần gian không chịu dấn thân, thiếu lập trường trước / về điều thiện hay điều ác –những kẻ mà danh từ hôm nay gọi là ba phải, cẳng giữa, nửa nạc nửa mỡ, ngậm miệng ăn tiền. Trong số có Pontius Pilate, tổng trấn xứ Judée, và trong Phúc Âm là thẩm phán đã xử án Chúa Giêsu, rửa tay, trốn trách nhiệm, phó mặc số phận Ngài cho đám dân chúng quá khích.
      Sau đó hai người được chở qua sông Acheron đến khu vực địa ngục chính thức gồm chín tầng: tầng 1-5 giam những tội phạm nhẹ, chẳng hạn tà dâm, ngoại tình (tầng 2), tham ăn (tầng 3), ham tiền, hà tiện (tầng 4), nóng giận (tầng 5).
      Càng xuống sâu, tội càng nặng: tầng 6-7 giam những tội nhân, như rối đạo, đạo đức giả, xúc phạm thần thánh, tự tử, giết người, bói toán.
      Hai tầng 8-9 được dành cho tội nặng nhất. Tầng 8, chia thành mười bờ hào bằng đá có cầu thông nhau (bolgia), được canh giữ bởi Gyreon, quái vật có cánh, ba đầu và ba thân mình dính với nhau, nhốt những kẻ mang tội lừa đảo, gian dối, như dụ dỗ, nịnh hót, ăn cắp, ngụy cố vấn, gây chia rẽ, tham nhũng, coi tử vi, phù thủy, tiên tri giả… (Trong truyện Nôm khuyết danh, Phạm Công Cúc Hoa, của văn chương ta, không rõ thế kỷ nào, quan trạng Phạm Công được vua cho phép xuống âm phủ tìm vợ Cúc Hoa, và cuộc hành trình của chàng được vua theo dõi qua kính chiếu yêu của công chúa. Tại cửa của "Chàng Năm", tức vòng Âm phủ 5, Phạm Công cũng thấy giam rất nhiều "bọn thầy phù thủy chuyên bề gian ngoan", câu 2624, và "thấy lũ thầy bói lao nhao khóc ròng", câu 2656).
      Cuối cùng là tầng 9 (canto, đoạn, XXXI), gồm bốn vòng, giam những kẻ phạm tội nặng hơn hết, dưới mắt Dante. Đó là tội phản bội (trong L’Éneide, 29-19 BC, quyển 6, của Virgile, thi hào Latin được nàng Sibylle của Cumae dẫn xuống địa ngục tìm cha, đi qua nhiều cửa ngục giam giữ những tội nhân, nhưng khác với trong Inferno, người ta không thấy câu nào trong L'Énéide nhắc đến những kẻ phản bội. Trong truyện Phạm Công Cúc Hoa cũng thế). Tội nhân bị dìm đến cổ trong nước hồ Cocytus, quanh năm lạnh cóng. Đứng đầu là Satan, kẻ phản bội Thiên Chúa, có ba mặt với ba màu đỏ, đen và vàng. Vòng 1 giam những kẻ phản bội anh em, gia đình, ví dụ Cain, trong Kinh Thánh, đã giết Abel, em ruột của mình. Vòng 2, những kẻ phản quốc. Vòng 3, phản bội tân khách của mình (hôtes).
      Vòng 4 (canto XXXIV), chót nhất của Infernogiam những kẻ phản bội chủ, thầy và ân nhân. Tại đây, Satan được chỉ định làm “cai tù”, tức “tù đầu gấu”, chuyên hành hạ những đồng tù, trong số có Judas Iscariot, kẻ bán Chúa, bị Satan nhai nát đầu, nhả ra, lột da lưng, nhưng cứ sống mãi, để cứ chịu cực hình ấy và đau đớn mãi. Và Cassius và Brutus, mà Dante cho là hai thủ phạm đã gây ra cuộc chính biếnphản bội và ám sát một người công chính, Caesar, và đã từ đó làm xáo trộn và hủy hoại sự thống nhất của đế quốc Rome. Satan dùng hai miệng bên trái và bên phải để ngậm và nhai đi nhai lại thân xác của Cassius và Brutus bị ngoạm ngược từ chân lên…
      Rời Địa ngục, hai thi hào của chúng ta đến thăm Purgatorio, nhưng đó là một chuyện kể khác.
File:Gustave Dore Inferno32.jpg
Dante nói chuyện với tội nhân (phản bội chủ và ân nhân) ở tầng 9, vòng 4
      Rất tiếc, thi hào Dante sống vào thời Trung cổ Âu Châu. Nếu Inferno được viết vào những năm 1963 và sau đó nữa, chắc chắn ông sẽ ghi thêm một số tên lừa thầy phản bạn đời nay, Mỹ cũng như Việt Nam, vào danh sách những tội nhân bị giam dưới vòng cuối tầng 9 địa ngục, mà cái đầu bị Satan nhai mãi nhai hoài, vĩnh viễn.
      Trong số đó, ngoài những phản tướng, những Brutus thời đại, đã giết chủ mình, phải kể đến tên Hồ tặc và lũ lâu la bộ hạ phản quốc đã mang chủ nghĩa Cộng sản khốn nạn, quái thai, quái đản, quái dị, áp đặt trên đất nước Việt Nam, sát hại dân lành. Và xa hơn, nhưng không kém ác ôn, những tên Việt Gian hải ngoại –phản bội quê hương Miền Nam đã nuôi mình khôn lớn, phản bội lý tưởng quốc gia, xóa bỏ quốc kỳ và quốc ca mà biết bao chiến sĩ đã hy sinh máu xương để bảo vệ– thay nhau trở về tình nguyện làm thân khuyển mã cho bọn lãnh tụ Việt Cộng, tự phong, tham tàn, độc tài, ngu dốt.

     Phải chăng trong thời đại vô liêm sỉ, đảo điên, lừa lọc, tráo trở hiện nay của chúng ta, cũng giống như thời đại của Dante, tội phản bội là tội nặng nhất, đê tiện nhất?  

Tháng 11 và cái chết của hai tổng thống

Riêng tôi vẫn tự hỏi, nếu không có tháng Mười Một oan nghiệt đó, bạn bè tuổi thơ của tôi nhiều đứa có phải chết trên chiến trường. Và tôi bây giờ là ai trên quê hương mình.
Nguyễn Văn Nhung
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Nguyễn Văn Nhung
Tiểu sử
Sinh1919 hay 1920  Đông Dương thuộc Pháp  Mất 31 tháng 1 năm 1964Sài Gòn, Nam Việt NamBinh nghiệp  Phục vụNam Việt Nam  
ThuộcQuân đội Pháp (1944–1949)Quân đội Quốc gia Việt Nam (1949–1955)Quân đội Việt Nam Cộng hòa (1955–1963)Cấp bậcThiếu táTham chiếnChiến tranh Đông Dương lần thứ nhấtVụ bắt và ám sát Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Lê Quang TungCông việc khácThư ký và cận vệ của tướng Dương Văn Minh

Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là cận vệ của tướng Dương Văn Minh, ông nổi tiếng vì có vai trò trong cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963. Trong cuộc đảo chính này, Nguyễn Văn Nhung được cho rằng[1] là người đã giết chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, cũng như đại tá Lê Quang Tung, chỉ huy trưởng Lực lượng đặc biệt (lực lượng trung thành với tổng thống Ngô Đình Diệm) của Quân lực Việt Nam Cộng hòa 
Đảo chính 1963 tại Nam Việt Nam
Ngày 1 tháng 11 năm 1963, các tướng lĩnh của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã lãnh đạo một cuộc đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm. Lúc 1h30 chiều, các sĩ quan cao cấp của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức một cuộc họp tại một sở chỉ huy ở gần Tân Sơn Nhất, giả vờ như một cuộc họp thường lệ. Tướng Trần Văn Đôn đã thông báo một hội đồng cách mạng quân sự đang nắm quyền. Đại tá Tung, người có số phận đã được những người âm mưu đảo chính định đoạt trước, là người duy nhất không đứng dậy vỗ tay hoan hô thông báo này. Đại tá Tung bị bắt giữ và bị Nguyễn Văn Nhung (khi đó là Đại úy) đưa sang một căn phòng khác ở trong sở chỉ huy này, Đại tá Tung đã hét to "Hãy nhớ ai đã gắn sao cho tụi bay". Đêm đó, Nguyễn Văn Nhung chở Đại tá Tung và em Đại tá Tung là thiếu tá Lê Quang Triệu đến một địa điểm bên ngoài doanh trại và bắn chết cả hai anh em.
Sáng hôm sau, các lực lượng trung thành của họ Ngô đã sụp đổ, Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu chạy thoát khỏi Dinh Độc Lập bằng một đường hầm bí mật, đến trốn ở nhà Mã Tuyên, một Hoa kiều tại Chợ Lớn. Sáng hôm sau Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu và Đỗ Thọ (Đại úy, tùy viên của Ngô Đình Nhu) dự thánh lễ tại nhà thờ Cha Tam (St. Francis được xây thời Pháp) ở Chợ Lớn. Tại đây, qua điện thoại, anh em họ Ngô đồng ý đầu hàng và đã được Trần Văn Đôn hứa cho đi khỏi đất nước một cách an toàn. Tuy vậy tướng Mai Hữu Xuân, thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung cùng một số sĩ quan và binh lính đã đến nhà thờ trên đoàn xe do tướng Mai Hữu Xuân chỉ huy, gồm 3 chiếc thiết vận xa M-113, 4 chiếc xe jeep, và nhiều binh lính. Tại đây Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu đã bị quân đảo chính bắt đưa lên thiết vận xa. Trước khi đoàn quân này lên đường, Dương Văn Minh đã ra mật hiệu cho Nhung bằng 2 ngón tay, tỏ ý ra lệnh bắn chết cả hai anh em Ngô Đình Diệm.
Sau cuộc bắt giữ, Nguyễn Văn Nhung và thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa ngồi chung với anh em Ngô Đình Diệm trong chiếc thiết vận xa chạy về Sài Gòn. Đoàn xe dừng lại tại một điểm giao cắt với đường sắt và theo ý kiến chung thì anh em họ Ngô đã bị giết chết trước đó. Một cuộc điều tra của Trần Văn Đôn đã xác định rằng Dương Hiếu Nghĩa đã bắn anh em họ Ngô bằng một phát đạn bắn thẳng (point-blank range) bằng một khẩu súng bán tự động (Semi-automatic firearm) và rằng Nguyễn Văn Nhung đã bắn hàng loạt đạn khắp thân thể hai anh em Ngô Đình Diệm và đâm nhiều nhát dao vào thân thể hai anh em họ Ngô.
Trần Văn Đôn và nhiều sĩ quan khác kinh ngạc khi thấy xác hai anh em Ngô Đình Diệm tại sở chỉ huy. Trần Văn Đôn gặp Dương Văn Minh trong văn phòng của tướng Minh và trong lúc họ đang cãi nhau, Mai Hữu Xuân đi vào phòng. Không hay biết Trần Văn Đôn đang ở đó, Mai Hữu Xuân đứng nghiêm chào và báo cáo với Dương Văn Minh bằng tiếng Pháp"Mission accomplie" (nhiệm vụ đã hoàn thành).
Cái chết[sửa | sửa mã nguồn]Sau cuộc cuộc chỉnh lý ngày 30 tháng 5 năm 1964, Nguyễn Văn Nhung bị bắt ngay. Ngày 17 tháng 2 năm 1965, sĩ quan Báo chí Bộ quốc phòng của tướng Nguyễn Khánh chính thức tuyên bố: "Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung, sĩ quan tổng quát và tùy viên của Trung tướng Dương Văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30 tháng 1 và giam tại Lữ đoàn nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám đã tự vẫn bằng dây giày".[3]
Tuy nhiên có dư luận cho rằng tướng Nguyễn Chánh Thi đã tham gia vào việc đánh đập tra tấn Nguyễn Văn Nhung cho đến chết. Bà Huỳnh Thị Nhi vợ Nguyễn Văn Nhung cho biết khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô. Có lẽ Nguyễn Văn Nhung bị trả thù bằng những đòn đấm đá của nhiều người. Theo báo Dân Ý xuất bản ở Sài Gòn, từ số 140 ngày 1 tháng 10 năm 1970 đến số 160 thì Thiếu tá Nhung đã "bị đá bể lá lách sau khi ông đã khai tất cả những bí mật trong vụ thanh toán anh em Tổng thống Diệm. Lời khai của ông được thâu băng và trao cho tướng Khánh".[4].
Nhận xét về con người[sửa | sửa mã nguồn]Tướng Trần Văn Đôn có ghi lại trong cuốn sách "Les Guerres du Viet Nam""Một trong những người đã hạ sát ông Diệm, ông Nhu là Đại úy Nguyễn Văn Nhung, được thăng cấp Thiếu tá sau đó. Nhung đã được chú ý về các thành tích đặc biệt của anh ta. Mỗi ngày Nhung chặt vài ba cái đầu Việt Minh xách về. Do đó, Dương Văn Minh đã lấy Nhung về làm cận vệ, bởi vì ông ta lo sợ bị ám sát, cần một tay dữ dằn để hộ vệ."
"Trong chiến dịch Dương Văn Minh tấn công Hòa Hảo, Tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh tự Ba Cụt bị bắt và bị xử tử hình. Sau khi bị chém đầu, thi hài ông được chôn tại chỗ (tại nghĩa trang ở đường Hòa Bình). Nhưng sau đó, Dương Văn Minh hạ lệnh cho Nguyễn Văn Nhung đến đào mã, móc xác lên và băm thành nhiều khúc, làm như thế để phòng ngừa người của Ba Cụt đến lấy xác đem về chôn cất trong chiến khu của họ..."
"Nhung đúng là loại người thích hợp để thi hành các loại công tác ghê tởm đó. Có người nói rằng mỗi khi Nhung giết người, đôi mắt hắn đỏ như máu. Có người còn nói rằng hắn thích ăn gan nạn nhân vừa bị hắn giết chết..." (tr. 171)
Trong cuốn "Việt Nam Nhân Chứng", Tướng Trần Văn Đôn đã viết thêm:"Xưa kia Đại úy Nhung ở trong đơn vị Commando Pháp là đơn vị chuyên đi khủng bố giết người. Lúc Ba Cụt, tướng Hòa Hảo Lê Quang Vinh bị án tử hình xử chém ở Cần Thơ, Đại úy Nhung lấy xác Ba Cụt chặt từng khúc, thả cùng mọi nơi để không toàn thây cho khỏi ai tìm xác xây mộ thờ cúng. Ông Minh nói lại cho tôi biết như vậy." (tr. 238).
Trong cuốn hồi ký "Đôi Dòng Ghi Nhớ", Đại tá Phạm Bá Hoa có viết:"Đại úy Nhung, ít ra hai lần (trước thời gian có biến cố chính trị này) khoe với tôi rằng, mỗi lần anh ấy giết một người thì anh khắc lên báng súng một vạch, anh vạch khắc theo chiều thẳng đứng ở báng súng bên trái. Căn cứ vào lời nói và dấu tích trên báng súng của Đại úy Nhung, tôi cho rằng Đại úy Nhung là một sĩ quan đã từng giết người nếu không nói là thông thạo thì cũng quen tay." (tr. 141).
Trong cuộc phỏng vấn vào năm 2012, cựu đại tướng Nguyễn Khánh khi được hỏi về Nguyễn Văn Nhung, tướng Khánh đã trả lời:
"Cái thằng này giết người ghê gớm lắm, mỗi lần giết là nó khắc trên súng 1 vạch, thời điểm đó trên súng của nó đã có hai mươi mấy vạch rồi, cho nên chúng tôi nghi ngờ Nhung giết ông Tổng thống Ngô Đình Diệm và cố vấn Nhu...".

Những Hội Chứng sau “Phản Loạn 1-11-1963”.


Nguyễn Văn Lục 

Gần một nửa thế kỷ trôi qua, tính từ ngày 2-11-1963 sau cái chết của TT Ngô Đình Diệm. Những uẩn khúc về cái chết ấy và những sự việc liên quan đến chế độ đệ nhất công hòa miền Nam VN vẫn là đề tài “nóng”, gây ra tranh cãi trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
> Đó là một điều không bình thường.
> Điều không bình thường ấy là do tất cả những người trong cuộc từ chính giới Mỹ, các tướng lãnh đều che dấu sự thật. Hay không dám nói sự thật.
> Máu của TT Diệm đã chảy ra. Cũng như máu của bất cứ ai đã chảy ra thì cũng chỉ duy nhất có một mầu đỏ mà không thể có mầu nào khác.
> Nếu nó có mầu khác vì người trong cuộc cố tình che dấu và đổi mầu máu. 
> Vì thế, một số những người viết lại về biến cố 1-11-1963 từ trước tới nay đều đi lạc mục tiêu hoặc đặt sai vấn đề. Thường họ đi tìm hiểu ai là kẻ trực tiếp giết ông Ngô Đình Diệm-Ngô Đình Nhu hay đại tá Lê Quang Tung mà không đụng chạm tới kẻ chủ mưu, kẻ ra lệnh? 
> Bởi vì có thể người ta quên rằng đây là một âm mưu [un complot] đảo chính, lật đổ một chính quyền hợp pháp do một tập đoàn tướng lãnh đứng đầu là Dương Văn Minh và một số phụ tá thi hành lệnh trực tiếp như Mai Hữu Xuân, Dương Hiếu Nghĩavv..
> Nay kẻ cầm dao đâm trực tiếp giết người thì đã bị chết thảm. Nhưng kẻ chủ mưu, kẻ ra lệnh thì như thể kẻ ngoài cuộc.
> Đó là một sai lầm cơ bản trong nhận định và tìm hiểu cuộc đảo chính 1-11-1963, một bất công đối với những người đã chết trong đó kể cả những người như đại úy Nguyễn Văn Nhung.
> Đồng ý là nay máu những người chết có thể bị người ta đổi mầu. Nhưng may thay xác chết bao giờ cũng là nhân chứng cuối cùng tố cáo tội phạm và đồng lõa. 
> Xác chết ông Diệm và Nhu tố cáo cho thấy họ bỊ đánh đập dã man trước khi bị giết. Viên trung úy chỉ huy trưởng bệnh xá bộ Tổng tham mưu lúc bấy giờ là trung úy y sĩ Huỳnh văn Hưỡn đã khám nghiệm hai tử thi và đã chứng nhận xác ông Diệm có nhiều vết bầm. Xác ông Nhu thì bị đâm nhiều nhát. Hai tay của họ thi bị trói quặp sau lưng.
> Trích Trần Nhã Nguyên, Lịch sử Việt Nam 1940- 2007, trang 335. Trích lại trong Những ngày cuối cùng của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, trang 476
> Kết luận là họ bị đánh đập, có thể là tra khảo tàn nhẫn trước khi bị bắn chết. Đây là điều tối quan trọng trong cái chết còn nhiều bí ẩn của hai ông Diệm-Nhu.
> Phần đông chỉ được nhìn thấy một bức hình duy nhất, hình ông Ngô Đình Diệm bị trói tay, kê đầu trên một cái chậu và mặt mũi bầm tím ..
> Thiếu úy Nguyễn Văn Trinh, bị động viên và là nhân viên phòng 6 bộ Tổng Tham Mưu có cho hay là, ông xem được một bức hình đăng trên tờ báo quân đội của Mỹ, tờ Stars and Stripes hình chụp ông Diệm- Nhu bị đem ra khỏi xe và để nằm ở ngay tại cột cờ bộ Tổng Tham Mưu, sau đó được đem vào một nhà sét, chứa đồ, khu nhà của bộ chỉ huy quân cảnh.[Chi tiết này có thể kiểm chứng được nếu một số sĩ quan hiện nay còn sống xác nhận hoặc có thể tìm lại được bức hình này trên tờ báo Mỹ]. Riêng tướng Lê Minh Đảo[ điện thoại ngày 25-11-2010] cho hay, ông không ra nhìn hai xác chết khi được chở về nên không thể xác định các chi tiết vừa nêu trên. 
> Nay nhìn lại hình dạng hai xác chết, cách họ chết, cách họ bị đối xử là bằng chứng tố cáo những kẻ đã giết họ.
> · Hội chứng về một thủ đoạn âm mưu[Théorie du complot]
> Cuộc đảo chính 1963 nay nhìn lại cho thấy nó vượt ra ngoài khuôn khổ pháp lý. Người Mỹ có thể chỉ thực thi dân chủ ở nước họ. Nhưng khi xuất cảng khái niệm dân chủ, tự do thì món hàng ấy trở thành món hàng giả. Họ đã đứng sau “đạo diễn” và “bảo kê” cho một âm mưu đảo chánh phi pháp luật, phi dân chủ. Nếu âm mưu đó thành đạt thì nó biến thành “cuộc cách mạng”. Nhưng giả dụ nó thất bại thì các tướng lãnh trên trở thành những kẻ phản loạn.
> Vì thế, chính tướng lãnh không ai tin ai. Trong cuộc phỏng vấn ông Cao Xuân Vỹ trong cuốn Những huyền thoại & sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Vĩnh Phúc viết lại lời cụ Cao Xuân Vỹ Như sau:” Ngay từ lúc 4 giờ sáng ngày 2/11/63,Trần Thiện Khiêm đã biết hai ông Diệm Nhu không còn ở trong dinh Gia Long, nhưng không nói cho phe Dương Văn Minh biết. Tôn Thất Đính án binh bất động, hễ thắng nhận công, nếu thua trình cụ” Con không làm gì”.[...]Tướng Đôn nói với ông Cao Xuân Vỹ ”Kêu Đính phải tấn công dinh Gia Long, Đính nói chưa tập trung quân được. Kêu Thiệu trả lời mới có một tiểu đoàn, phải chờ hai tiểu đoàn nữa mới tấn công được. Anh nào cũng “ chờ” cả. Đôn than ở Tổng tham Mưu nóng ruột, nghĩ rằng ông Diệm sẽ đánh lên ...”.
> Trích sách Những huyền thoại& sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, Vĩnh Phúc , trang 318.
> Phần Conein nhận xét về tướng lãnh Việt Nam như sau :” Không một sĩ quan nổi dạy nào dám chỉ huy cuộc tấn công dinh Gia Long. Ngô Đình Diệm lúc đó vẫn còn là một khuôn mặt mà họ kính phục. Không ai muốn chấp nhận sự hổ thẹn để trực tiếp tấn công ông ta”.
> Trích Biến cố chính trị Việt Nam hiện đại, trang 199. Phạm Văn Lưu. Trích lại trong William Rust, Kennedy in Viet Nam, trang 170 New York, News Books Scribners,1985.
> Tiếc rằng ông Diệm đã không cho lệnh đánh, theo tác giả Nguyễn Hữu Duệ.
> Phần người viết có nói chuyện với tướng Tôn Thất Đính [ trung tuần tháng 7-2010] thì tướng Đính cho rằng ông có nhiệm vụ ngăn chặn quân của Huỳnh Văn Cao có thể về cứu giá như lần trước. Ông không trực tiếp tấn công Dinh Gia Long.
> Phần tướng Nguyễn Khắc Bình[22-2-2008] qua điện thoại [lúc đó tướng Bình là trung tá tham mưu trưởng sư đoàn]có cho biết là đại tá Nguyễn Văn Thiệu cứ chần chờ để chờ tin tức rõ ràng, vì thế, bộ tham mưu sư đoàn do trung tá Nguyễn Khắc Bình được lệnh nằm chờ ở Bến Lức thay vì tiến về Sài Gòn,
> Vì là một âm mưu đảo chính nên tính cách phi pháp của cuộc đảo chánh tự nó giết nó. Vì chỉ ba tháng sau, một âm mưu đảo chánh khác hình thành và những tướng lãnh của cuộc cách mạng tháng 1-11 trở thành mục tiêu của cuộc “chỉnh lý”. Và cứ thế các biến động liên tiếp xảy ra trong ba năm, được gọi là “ ba năm xáo trộn”.
> Càng có nhiều xáo trộn thì ý nghĩa cuộc đảo chánh “1-11-1963” càng mất giá.
> Nếu ông Diệm chấp nhận cho Lữ Đoàn liên binh phòng vệ phủ tổng thống đánh trả thì như lời tướng Đôn xác nhận với ông Cao Xuân Vỹ: Thì tôi thua .
> Trung tá Nguyễn Cao Kỳ trách nhiệm phần vụ nếu thất bại sẽ dùng mấy chiếc Dakota của Liên Đoàn vận tải để đưa các các tướng tá qua Thái Lan.
> Việc âm mưu này được tính toán, tổ chức, lôi kéo, mua chuộc, hứa hẹn nhiều người cùng tham dự thì việc đổ tội cho mình Nguyễn Văn Nhung liệu có chấp nhận được không? Những xác chết đó chết do một âm mưu bất chính, phi pháp luật chẳng khác gì một vụ thủ tiêu hay ám sát nên ngay từ đầu họ đã bắt buộc phải che dấu, dàn dựng và sẵn sàng nói dối.
> Họ đã dối trá ngay từ đầu. Họ đã im lặng trong nhiều năm cho đến tận ngày hôm nay và sự che dấu ấy biến cuộc “cách mạng 1-11-1963” thành một cuộc âm mưu theo đúng quy luật của Théorie du complot. Tổ chức quân đội với tinh thần người lính không bao giờ thất trận trở thành từa tựa như hệ thống băng đảng thanh toán không để lại dấu vết. 
> Vì thế, chưa vội nói đến tính chất chính đáng hay không chính đáng của cuộc cách mạng 1-11-1963. Nhưng việc che dấu tất cả sự thật cho đến bây giờ gây ra biết bao lời đồn trái ngược, thị phi và những hệ lụy từ đó. 
> Việc che dấu đó, không ai nhận mình ra lệnh giết hai ông Diệm-Nhu chính là vết nhơ đáng nói nhất của ngày 1-11-1963. 
> Âm mưu ấy ngay từ đầu đã có sự dối trá.
> Sau khi Nhà Trắng nhận được tin hai ông Diệm Nhu đã chết, bộ ngoại giao Hoa Kỳ chỉ thị cho Cabot Lodge. Cabot Lodge đã chỉ thị cho Conein gặp tướng Minh mà mục đích là mắng cho Minh một trận[ chữ dùng trong tài liệu là to scold Minh, theo nghĩa từ nguyên mắng, la rầy như mắng một đứa trẻ con phạm lỗi]. Trung tá mắng trung tướng thì nhân cách, vị thế trung tướng là gì?
> - Ông Minh: Họ đã tự tử
> - Conein: Ở đâu?
> - Ông Minh: Thì ở trong một nhà thờ.
> - Conein: Này, ông nghe tôi đây, đó là công việc của các ông, nhưng tôi phải nói cho ông biết rằng với tư cách một người Thiên Chúa giáo. Giả dụ đêm nay, một linh mục làm lễ cầu hồn cho ông ta, mọi người sẽ hiểu ông Diệm đã không tự tử Câu chuyện ông kể khó ai tin được.
> - Ông Minh: Thế ông có muốn nhìn xác ông ấy không?
> - Không, một người trên một triệu người có thể tin câu chuyện của ông. Và nếu câu chuyện đổ bể, tôi không muốn bị coi là đã tiết lộ tin này.
> Trích Viet Nam, A History, Stanley Karnov, trang 311
> Lần đầu tiên trong lịch sử, hai xác chết tự tử mà tay bị trói quặt ra sau lưng ..Điều này cho thấy họ quýnh quáng, hoảng hốt nói bừa.
> Sự đồng lõa trong trong âm mưu đi đến chỗ phải hạ sát ông Diệm đã đẩy mọi người trong cuộc vào tình thế phải dối trá hoặc im lặng đôi khi ngoài ý muốn. 
> Cả cái đám người “đi rước“ ông Diệm tại nhà thờ Cha Tam đều đồng lõa trong âm mưu này. {Théorie du complot]. Tướng Mai Hữu Xuân, đại tá Dương Ngọc Lắm, Thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa, đại úy Phan Hòa Hiệp, đại úy Nguyễn Văn Nhungvv..
> Họ không thể nói không biết gì cả. Tại sao họ phải im lặng?
> Họ phải im lặng vì họ sợ sự thật, họ sợ những người sống và sợ cả những người đã chết.
> Như tướng Kỳ nhận xét : “
> “I was shocked and angry, however, the next day when I learned that Diem and Nhu had been shot to death. [...} It was too late to go back, but with these killings, I lost what little respect I o­nce had for the generals. It showed how fearful they were of maintaining power” 
> Trích Buddha ‘s Child, Nguyen Cao Ky, trang 97
> Ông nhận xét thêm: “ The generals must have feared that as long as Diem was alive, he remained a threat to their own power”
> Trích Nguyễn Cao Kỳ như trên, trang 97. 
> Và đây là âm mưu mua chuộc, hứa hẹn giàu sang, chức tước :
> “Duệ đấy hả ? Qua là đại tá Quan đây.
> -Dạ thưa đại tá, Duệ đây.
> -Ông Minh hứa là nếu toa theo nữa thì mọi việc sẽ em xuôi, và tránh được đổ máu. Ông Minh sẽ cho Duệ lên đại tá và muốn bao nhiêu tiền cũng cho .. [..] Toa nghĩ kỹ đi Duệ [ Tôi không chắc là đúng 100%, vì lâu quá rồi, nhưng đại ý là như vậy” ‘
> Trích Nguyễn Hửu Duệ, như trên, trang 65-66
> Qua chứng từ sau đây của các nhà báo đã đưa ra bằng chứng cụ thể và đầy đủ của một âm mưu thanh toán người một cách chuyên nghiệp, lạnh lùng và đầy thú tính như sau:
> “Minh proved right. The Ngo brothers gave up at a Catholic Church in Cholon. Bundled into an M-113 armored personnel carrier, their hands tied behind them, the Ngos did not even make it to Joint General Staff headquarters. At a crossroads along the way the vehicle halted. The brothers were cut down by a hail of bullets. The perpetrators were major Duong Hua[Hieu} Nghĩa, an armor officer; and captain Nguyen Van Nhung, General Minh‘s body-guard. Minh lied about the circumstances of these events, and the Vietnamese put out several versions of what happened”
> Trích Lost Crusader, John Prados, trang 127
> Tài liệu trích dẫn trên đây của John Prados chỉ đích danh hai sĩ quan có trách nhiệm trực tiếp giết anh em ông Diệm-Nhu là thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa và đại úy Nguyễn Văn Nhung .
> Và đây là chứng từ của nhà báo Stanley Karnov : 
> “What occurred after that has been related in various versions, but most details concur. The convoy headed toward Saigon and stopped at a railroad crossing. There, by every account, the assassinations took place. General Don‘s later investigation determined that Nghia shot the brothers point-blank from the gun turret with an automatic weapon while Nhung sprayed them with bullets, then stabbed their bodies repewatedly with a knife. Awahs with blood, the armored car went o­n, precede by the jeeps, whose passengers had not look back .
> Don and the others officers were stunned when the corpses arrived at headquaters. Barging into Mínhs office, he demanded an explanation; Minh paried him, and Don’s began to insist. At that moment the door opened and Xuan entered. Unware of Don presence, he snapped to attention and said, “ Mission accomplie”
> Trích Viet Nam, a History, Stanley Karnov, trang 310
> Tài liệu của Stanley Karnov xuất hiện sớm sủa nhất 1983 dựa theo nội dung cuộc trả lời phỏng vấn của tướng Trần Văn Đôn cũng xác nhận có hai người trực tiếp giết ông Diệm Nhu là Dương Hiếu Nghĩa và Trần Văn Nhung.
> Đại tá Nguyễn Hữu Duệ cũng xác nhận đại tá Dương Hiếu Nghĩa có nhúng tay vào vụ thảm sát này:
> “Còn thiếu tá Nghĩa, dù ông cố cải chính, nhưng căn cứ vào hành động của ông, cũng như một số nhân chứng, chỉ có những người ngây thơ tới mức ngu xuẩn mới tin là ông đã không nhúng tay vào vụ thảm sát. Ông có nhiệm vụ gì mà vào gặp Tổng thống? Thiếu tá Vũ Quang[ sau lên đại tá] là bạn cũng khóa với tôi, và cũng đã phục vụ ở lữ đoàn một thờii gian, kể với tôi là anh thiếu tá Nghĩa vừa đi vừa lau bàn tay đẫm máu, vào bá cáo với trung tướng Minh[ Anh Quang bây giờ cũng ở Hoa Kỳ] . Một sĩ quan quân cảnh[ tất tiếc không nhớ tên anh], kể với tôi là anh cũng thấy ông Nghĩa lau tay vấy mạu
> Trung tá Nghĩa cũng là một trong những phụ thẩm của tòa án cách mạng đã kết án tử hình ông Ngô Đình Cẩn. Như vậy, cái chết của ba anh em tổng thống Diệm cũng đều do trung tá Nghĩa nhúng tay vào“.
> Trích Nhớ lại những ngày ở cạnh Tổng thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Hữu Duệ, trang 170-171 
> Mong là đại tá Dương Hiếu Nghĩa có đủ can đảm lên tiếng một lần về việc này.
> Và sau khi hoàn tất việc lật đổ chế độ ông Ngô Đình Diệm vào đầu tháng 11-1963, ông đại sứ Cabot Lodge đã mời các vị tướng tham gia cuộc đảo chính đến tư dinh để khen ngợi các vị như một vinh danh- chẳng những thế họ đều không một chút hối hận[unrepentant] -cái vinh dự của các vị tướng VN cũng đồng thời là hãnh diện riêng của ông đại sứ- Vài ngày sau, ông Cabot Lodge đã điện về cho TT Kennedy bằng một công điện vắn tắt đầy lạc qua như sau: 
> “The prospect now are for a shorter war”
> Trích Viet Nam, a History, Stanley Karnow, trang 311
> Thủ phạm chính là viên đại sứ và một đám tướng lãnh.Tại sao phải đi tìm thủ phạm đâu xa! Tại sao còn thắc mắc về chuyện ai là thủ phạm.
> Và nhận xét đáng giá nhất trong lúc ấy là họ Unrepentant ..Không hối hận gì cả. Họ hãnh diện, họ tự hào. Họ tháo củi xổ lồng, họ cho nhảy đầm bên cạnh xác chết vừa mới được chôn vội vàng.
> Thi hành lệnh giết người xong thì họ được ông chủ Cabot Lodge tưởng thưởng bằng hiện kim. Vậy thì tất cả những ai nhận tiền đều là đồng lõa [Théorie du complot} trong vụ giết hai anh em ông Ngô Đình Diệm.
> Dấu diếm, chạy tội là điều hèn nhát, nhận tiền là một điều dơ bẩn.
> Điều mà trong dịp phỏng vấn cựu tướng Tôn Thất Đính vào trung tuần tháng 7 vừa qua, tại quận Cam. Tướng Tôn Thất Đính đã không ngần ngại gọi: bọn tướng lãnh, chúng nó đều hèn nhát, ham danh và ham lợi. Trong đó may ra ông còn đôi chút kính nể Trần Văn Đôn.
> Đây là câu nhận xét của người trong cuộc trong đó ông tự chửi chính mình.
> Vinh danh ấy đi kèm theo một phần thưởng bằng bằng hiện kim mà bây giờ nói ra như một tủi hổ cho những ai đã ngửa tay ra nhận.
> Cần gì phải kết án họ. Họ tự tay nhận tiền là họ tự kết án, họ tự bôi nhọ chính họ.
> Theo Arthur J. Dommen trong The Indochinese Experience of the French and the American, Conein đã nhét đầy cặp da của ông ta một số tiền để tưởng thưởng cho các tướng lãnh đã tham gia đảo chánh. Vào năm 1971, tướng Trần Văn Đôn đã ra lệnh cho trung tá Phạm Bá Hoa làm một danh sách số tiền mà các vị trên đã nhận được. Tướng Tôn Thất Đính nhận 600.000 ngàn đồng, Lê Nguyên Khang 100.000, Trần Ngọc Huyến 100.000, Phan Hòa Hiệp 100.000, Đào Ngọc Điệp 100.000, Nguyễn Văn Thiệu 50.000,. Còn 1,450.000 giao cho Dương Văn Minh, Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Nguyễn Hữu Có, Trần Ngpọc Tám, Nguyễn Khánh, Đỗ Cao Trí. Riêng tướng Dương Văn Minh nhận thêm 6000 đôla lấy từ trong cặp da của ông Diệm.
> Trích Arthur J. Dommen, The Indochinese of the French and the Americans, trang 545 
> Trong số những người nhận tiền đó, không ai hỏi xem đại úy Phan Hòa Hiệp làm gì mà nhận được số tiền hơn cả đại tá Nguyễn Văn Thiệu. 
> Trong khi đó thì tướng Đỗ Mậu đã viết như sau về số tiền của Conein:
> “Cũng cần phải nói rõ rằng số tiền ba triệu đồng Việt Nam do Conein mang đến đã không một tướng lãnh nào hay biết, trừ tướng Đôn. Tướng Đôn không bao giờ trình bày cho Hội đồng tướng lãnh biết có nhận số tiền đó của Conein hay không và nếu có thì đã xử dụng vào việc gì [..] Ước mong tướng Đôn giải tỏa nghi vấn nhỏ này để quân đội dưới quyền quyền ông lúc bấy giờ khỏi mang tiếng và để sự trong sáng của cách mạng khỏi mang một tì vết nào [ Tướng Đôn đã không đề cập đến số tiền này trong Hồi ký của ông”
> Trích Hồi Ký Hoàng Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng Lưu vong, trang 619.
> Và chắn hẳn khó có ai có có bàn tay sạch sau khi đã ngửa tay nhận tiền thưởng của Mỹ và được thăng thêm một cấp!
> · Hội chứng về mặc cảm tội phạm và tìm cách chối tội.
> Tất cả những người tham dự vào âm mưu đảo chính và giết ông Diệm thì đều tìm cách chối tội. Các Hồi ký Việt Nam nhân chứng của tướng Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính với 20 năm binh nghiệp Nguyễn Cao Kỳ [ không phải dạng hồi ký] Nguyễn Chánh Thi với Việt Nam một trời tâm sự và nhất là của tướng Đỗ Mậu với Việt Nam máu lửa quê hương tôi cho thấy không ông nào viết giống ông, nói trước quên sau, tiền hậu bất nhất, viết thiếu chuẩn mực và thiếu trung thực. Việc viết hồi ký của họ chỉ nhằm hai mục đích: 
> Hoặc viết để chạy tội. Không một hồi ký nào nhận trách nhiệm trực tiếp giết ông Diệm-Nhu .
> Hoặc viết để tự sướng, tự đề cao mình như Đỗ Mậu, Nguyễn Chánh Thi

> -Tướng Dương Văn Minh: 
> Nhiều tướng lãnh như Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính hay Đỗ Mậu đều cho rằng ông Minh là người trực tiếp ra lệnh giết ông Diệm. Nhưng vào năm 1971, nhân kỷ niệm 7 năm “cách mạng tháng 1-11-1963”, có cả Nguyễn Văn Thiệu đến tư dinh của đại tướng Dương Văn Minh. Trả lời câu hỏi của báo chí là ai ra lệnh giết hai anh em ông Diệm-Nhu, ông Minh trả lời: Tôi không ra lệnh giết anh em tổng thống Diệm, nhưng tôi là người chịu trách nhiệm.
> Năm 1983, từ Việt Nam qua sống ở Paris [Pháp], ông Minh cũng lặp lại câu trả lời này khi báo chí hỏi 
> Trích Trần Nhã Nguyên, Lịch sử Việt Nam 1940-2007. Trang 341. Trích lại trong Hãy trả lại sự thật cho lịch sử, trang 34.
> Mới đây, người viết có điện thoại cho giáo sư Tôn Thất Thiện-[19-11-2010] người đã cùng với Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ và các dân biểu đối lập như Lý Quý Chung, Ngô Công Đức ủng hộ việc ra tranh cử tổng thống của Dương Van Minh. Theo giáo sư Thiện, ông Minh từng tâm sự với giáo sư Tôn Thất Thiện là ông chỉ là người bị lôi kéo vào công cuộc đảo chánh mà thôi.
> Nếu ông Dương Văn Minh còn chối không nhận trách nhiện giết ông Diệm thì tất cả tướng lãnh khác đều “vô tội” cả chăng?
> - Tướng Trần Văn Đôn
> Và sau đây là ý kiến của Trần Văn Đôn trong Viet Nam nhân chứng, từ trang 249, năm 1989 khác với tính cách xác định rõ ràng những gì ông trả lời cuộc phỏng vấn của Stanley Karnov vào năm 1981:
> “ Nhiều khi nghe lời kết tội của người này người kia về trách nhiệm về cái chết của hai ông Diệm Nhu, cố gắng nhớ lại. Những diễn biến đêm 1-11-1963, tôi quả quyết rằng:
> -Không có lời phát biểu công khai nào của tướng tá lúc đó đòi phải xử tử hai anh em ông Diệm Nhu
> - Người có đủ quyền để ra lệnh lúc ấy là trung tướng Dương Văn Minh, nhưng không ai thấy ông ta ta ra lệnh bằng lời hay bằng cử chỉ
> - Các nhân vật đi rước ông Diệm và Nhu lúc đó đã lần lượt qua đời. Người còn lại không còn bao nhiêu và chưa chắc đã chứng kiến đầy đủ các sự kiện.
> - Bởi vậỵ, người chịu trách nhiệnm trực tiếp về cái chết của hai ông Diệm - Nhu cho tới bây giờ vẫn còn trong vòng bí mật “
> Trước 8 giờ 30 ngày 2-11-1963: Trung tướng Dương Văn Minh chỉ định thiếu tướng Mai Hữu Xuân, đại tá Nguyễn Văn Quan, đại tá Dương Ngọc Lắm, thiếu tá Dương Hiếu Nghĩa đi bắt hai ông Diệm –Nhu.
> Tôi gặp đại úy Nhung trong phòng trung tướng Dương Văn Minh, hai mắt đỏ ngầu.
> Gặp trung tướng Minh, tôi hỏi vì quá xúc động :
> Tại sao hai ông ấy chết. Tôi thấy ông Minh có vẻ khó chịu nói bằng tiếng Pháp: Ils sont morts, ils sont morts.
> Tôi nhìn gần thấy đại tá Nguyễn Văn Quan đang nằm dài, mặt tái xanh, y tá đang chích thuốc.
> Lúc đó ông Mai Hữu Xuân vừa đến, đứng ngoài cửa chưa vào văn phòng, chào tay và nói: Mission accomplie”.
> - Tướng Hoành Linh Đỗ Mậu 
> Điển hình nhất là tướng Hoàng Linh, Đỗ Mậu mà theo cái nhìn đánh giá của Pierre Darcourt là: đại tá Đỗ Mậu, Giám đốc nha an ninh quân đội, cựu trung sĩ vệ binh thời Pháp, một mưu sĩ đầy mành khóe, không biết ngại ngùng là gì. Kể từ ngày định mệnh đó đến nay, đã có biết bao nhiêu lời phân trần kiểu tướng Đỗ Mậu để chứng tỏ không dính máu vào quyết định giết hai anh em ông Diệm Nhu?
> Trong Hồi ký Tâm sự tướng lưu vong, tướng Đỗ Mậu ghi: “
> “Thấy không khí có vẻ nghiêm trọng, tôi vội hỏi ngay: “ Các anh làm gì đứng đây có vẻ bí mật thế” Tướng Trần Văn Minh [Minh nhỏ] đứng gần đó trả lời rất nhỏ :” Anh em đang bàn định cách đối xử với ông Diệm, nên giết hay nên cho ông ta xuất ngoại” . Tôi vội nói to cho mọi người cùng nghe:” Tôi không đồng ý việc giết ông Diệm, lúc còn trong vòng bí mật, tôi đã nói với trung tướng Đôn là phải để cho ông Diệm ra đi, Trung tướng Đôn đã đồng ý rồi. ”Tôi vừa nói xong thì tướng Nguyễn Ngọc Lễ, một vị tướng nổi tiếng khoan hòa, đạo đức nhất trong hàng tướng lãnh quay về phía tôi và cũng nói to lên:” Xin anh em đừng nghe lời anh Mậu, đã nhổ cỏ thì phải nhổ tận rễ. Tôi chợt nhớ trong đêm trước đó đã có người kể cho tôi nghe rằng tướng Phạm Xuân Chiểu cũng đã nói câu như vậy. Thấy không ai phản đối tướng Lễ mà có vẻ im lặng đồng ý, tôi bực mình bèn nói thêm:”Việc tha hay giết ông Diệm là hành động lịch sử, vậy muốn tha hay giết ông ta, tôi đề nghị phải lấy quyết định tối hậu qua một cuộc bỏ phiếu kín, phải ghi vào biên bản đàng hoàng”.[.. ]Dương Văn Minh thì nhún vai tỏ thái độ bất mãn với tôi. Tôi bực mình giơ tay cao lên và nói:” Nếu không ai đồng ý với tôi thì tôi tuyên bố không dính líu đến việc này, các anh phải chịu trách nhiệm trước lịch sử”. Rồi kéo trung tá Nguyễn Văn Thiện[chỉ huy trưởng thiết giáp] và trung tá Lê Nguyên Khang[ hiện ở Los Angeles] ra khỏi nơi tụ họp để đi quan sát tình hình tại trung tâm Sài gòn“.
> Trích Hồi ký Hoành Linh Đỗ Mậu, Tâm sự tướng lưu vong, trang 612.
> [Xin ghi chú là giữa Hồi ký: Việt Nam Máu Lửa Quê Hương tôi, sách dày 1247 trang và Hồi ký Tâm sự tướng Lưu Vong cũng của tác giả Đỗ Mậu, dày 751.. giọng điệu có thay đôi.]
> - Tướng Trận Thiện Khiêm
> Đại tá Nguyễn Hữu Duệ ghi lại bằng những lời lẽ xúc động sau đây về cách chối tội của trung tướng Trần Thiện Khiêm như sau: [ được thăng trung tướng ngay sau khi xác ông Diệm còn để ở bệnh viện Saint Paul] :
> «Chắc các anh cũng biết cụ và ông cố vấn đã chết rồi chứ. Xác hai ông để ở nhà thương Saint Paul bây giờ. Nói rồi, ông bỏ kiếng xuống bàn, chùi nước mắt. […[Khi chào ra về, chúng tôi được ông bắt tay từ biệt, thấy ông buồn rầu ra mặt. […]Ông có tâm sự với tôi là ông không biết việc giết ông cụ và ông cố vấn […] Nhưng tôi vẫn buồn về việc ông đã phản lại tổng thống Diệm, và có thể nói, nếu không có ông, cuộc đảo chánh khó có thể thành công được».
> Trích Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm, Nguyễn Hữu Duệ, trang 173-176
> Cho nên bao lâu các người có trách nhiệm trực tiếp vẫn giữ sự im lặng thì những suy đoán gán ghép cho người này, người kia – như trường hợp tướng Lê Minh Đảo bị gán cho cái tội giết đại tá Lê Quang Tung đều thiếu cơ sở, đều vô bằng.
> Chúng ta không thể dùng xác của những người đã chết cho những mưu cầu riêng của mình.
> Cũng đã hai ba lần khi có dịp ngồi ăn với tướng Hồ Văn Kỳ Thoại, người viết đã năn nỉ và yêu cầu tướng Hồ Văn Kỳ Thoại liên lạc với đại tướng Trần Thiện Khiêm chấp nhận cho một cuộc phỏng vấn. Một lần nữa, mong mỏi tướng Nguyễn Khắc Bình và tướng Hỗ Văn Kỳ Thoại thực hiện được điều này với trách nhiệm trước lịch sử !!
> - Đại tá Dương Hiếu Nghĩa
> Ngày 31 tháng 8, 2007, người viết bài này có giới thiệu bản dịch Viet Nam, Qu‘as –tu fais de tes fils, bản dịch của đại tá Dương Hiếu Nghĩa với nhan đề: Việt Nam, Quê mẹ oan khiên. Người viết đã giới thiệu ân cần và trịnh trọng cuốn sách dịch và được trích đăng trên trên báo Sài Gòn nhỏ, số 4, 31 tháng 8, 2007. Trong bài viết, người viết đặt ra một câu hỏi duy nhất chưa có câu trả lời là: Việt Nam tôi có tội tình gì? Người viết đã tìm cách liên lạc với đại tá Dương Hiếu Nghĩa qua điện thoại để bày tỏ sự kính trọng và quý mến qua cuốn sách dịch. [lúc này đại tá Nghĩa đã xuống tóc đi tu]. Đại tá đã không trả lời điện thoại. Lúc đó, người viết chỉ nghĩ rằng, ông đã muốn quên mọi sự ở đời và lo cho phần đời sau của mình.
> Đại tá Dương Hiếu Nghĩa nay đã đi tu với pháp danh là Không Như. Và ông đã từ chối mọi trả lời liên quan đến cái chết của hai ông Diệm Nhu như trong một lá thư trả lời cho một người bạn tên Lộc, đăng lại trên diễn đàn giaoidemonline như sau: “ Dương Hiếu Nghĩa đã gác kiếm từ cuối năm 2004, coi như đã rũ bụi hồng trần và không còn trên cõi tạm này nữa. Kể từ ngày ấy, DHN đã xuống tóc vô chùa, quyết tâm yên lặng đi vào con đường tâm linh và vĩnh viễn im hơi lặng tiếng không còn có ý muốn luận kiếm hay tranh chấp với bất cứ ai nữa. Mọi chuyện có liên quan đến Dương Hiếu Nghĩa, xin trả lại cho lịch sử và hãy để lịch sử phê phán. Nếu anh Lộc hay bất cứ người nào khác có trách mắng hoặc nêu lên những lỗi lầm nào đó về hành vi trong quá khứ của DHN, thì Không Như tôi xin ghi nhận hết, và xin tâm thành tạ lỗi với mọi người mà tuyệt đối không có một lời bào chữa hay phiền trách nào hết”.
> Cũng được biết, đại tá Dương Hiếu Nghĩa có viết một cuốn hồi ký: Hồi ký dang dở mà nội dung có liên quan nhiều đến tướng Dương Văn Minh và kho tàng của Bảy Viễn trong chiến dịch Rừng Sát ..
> Nhưng nay tìm lại bản dịch của đại tá Dương Hiếu Nghĩa, người Viết bài này tự hỏi và đặt nghi vấn nhằm mục đích gì khi ông dịch cuốn Việt Nam quê mẹ oan khiên, một cuốn sách lên án rất nặng nề nhóm đảo chánh ông Diệm, đặt biệt là tướng Dương Văn Minh.
> Đại tá Dương Hiếu Nghĩa có thể nào đồng thuận với Pierre Darcourt để lên án nặng nề cuộc đảo chính 1-11-1963 chăng với tư cách người trong cuộc? Phải chăng cuốn sách của Pierre Darcourt đã nói thay và biện hộ cho “sự vô tội” của đại tá Dương Hiếu Nghĩa chỉ vì mấy dòng sau đây:
> «Cả hai ông Diệm và Nhu đều bị đại úy Nhung thanh toán bằng mấy phát súng lục 12 ly và đâm thêm nhiều nhát dao găm. Đại úy Nhung, sĩ quan cận vệ của tướng Minh, là người thi hành tất cả lệnh của tướng Minh một cách mù quáng?».
> Trích Việt Nam quê mẹ oan khiên, Pierre Darcourt, Dương Hiếu Nghĩa chuyển dịch, trang 268
> Tôi chỉ hỏi mà không thể trả lời thay cho đại tá Dương Hiếu Nghĩa được.
> - Tướng Tôn Thất Đính 

> Phần tướng Tôn Thất Đính qua lời tường thuật của đại tá Nguyễn Hữu Duệ viết như sau:
> “ Duệ, chắc anh em tụi mày hận tao lắm phải không? Tình thế buộc tao phải làm như vậy Chúng toa phải biết, nếu Ba Đính này không theo Cách mạng, thì thằng Mai Hữu Xuân nó sẽ mượn thế giết hết tụi bay rồi”.
> Rồi ông làm nặt cảm động, chùi nước mắt nói tiếp:
> - “Tụi nó giết cụ, tao có biết gì đâu. Đặt Ba Đính này vào sự việc đã rồi. Nếu cụ nghe tao thì đâu đến nỗi nào”[..] Ông nói huyên thuyên, lúc mày tao, vẻ thân mật, lúc toa moa,[..] Mày gặp anh em, nói cho tụi nó rõ. Ba Đính này đâu có biết thằng Mai Hữu Xuân nó giết ông cụ như vậy. Tao phải theo tụi nó để bảo vệ anh em tụi mày”.
> Trích như trên, Nguyễn Hữu Duệ, trang 179.
> Người viết cũng có dịp trao đổi với ông vào trung tuần tháng 7-2010 và xin được tóm tắt ghi lại.
> Đúng ra, đây không chính thức là một buổi phỏng vấn. Vì thế cách xưng hô không theo một thể thức trịnh trọng như thông thường mà là Bác với em. Mặc dù không chính thức phỏng vấn, nhưng tôi vẫn cẩn thận mở máy thâu băng như thông lệ. Căn nhà tướng Đính xem ra có phần nhếch nhác, thiếu một bàn tay phụ nữ, mặc dầu bác hiện đang sống với một bà vợ Bắc Kỳ thứ “dữ”.
> Giang sơn của bác thu gọn vào một góc với rất nhiều tấm hình trong quân phục oai vệ cầm ba toong của ông tướng một thời. Sau 1963, bác thường nhét một con dao găm vào đôi giầy bốt nhà binh cho thêm oai vệ, Và đi đâu cũng có tiền hô hậu ủng, súng ống hà rầm oai vệ. 
> Đó cũng là cung cách Tôn Thất Đính.
> Cạnh đó có nhiều bằng khen, tưởng lục, huân chương vv.Bác không thể không hãnh diện về điều đó. Nhưng những tấm hình trông beau trai, oai vệ so với vóc dáng hiện nay nhìn mà không khỏi buồn cho bác.
> Nay bác như một con người già cô đơn, be bét rượu, say lướt khướt. Mặc dầu bác đã hứa chừa rượu với hai cô cháu gái của bác.
> Tôi nhìn bác và khó có thể tin được: cái người ngồi trước mặt tôi, trông thế kia mà đã có thời hét ra lửa và đã gián tiếp giết hại tổng thống Ngô Đình Diệm.
> Một ý tưởng lóe lên trong đầu tôi, ông Diệm đáng thương hay cái người ngồi trước mặt tôi đáng thương. 
> Rượu đã làm nhân cách bác thay đổi so với một vị tướng khác phong cách chững chạc, từ tốn, dè dặt. [tướng Nguyễn Bảo Trị]. Bác Đính mời tôi uống la de, như vậy trong tủ lạnh còn hai chai. Bác tu hết cả hai chai còn lại,, rồi sai tôi vào tủ lạnh lấy chai khác .. Hết hai chai làm gì còn chai khác, bác gắt nói còn một chai nữa mà tôi cố tình dấu không cho bác uống.
> Cắt nghĩa cho bác hiểu là bác quên đã mời tôi một chai ..
> Tôi gợi ý bác nói về cái ngày 2-11-1963 và hỏi bác có phải chính bác đã gọi cho đại tá Lê Quang Tung – một người bạn thân thiết với tình đồng chí của bác. Bác nhận có gọi. Nhưng theo anh Lê Quang Phúc, con trai đại tá Tung, lúc đó 15 tuổi thì buổI sáng đó bố anh quyết định không đi.
> Định mệnh cách nào đó đã giết đại tá Lê Quang Tung. Vì khi thiếu tướng Trần Thiện Khiêm gọi thì đại tá Lê QuangTung quá tin người và nể Trần Thiện Khiêm nên đã mặc quân phục và lái xe díp vào bộ Tổng tham mưu.
> Ông bị thảm sát vì lời mời này. Trần Thiện Khiêm đúng là người gián tiếp giết Lê Quang Tung chăng?
> Phần tướng Đính kể cho hay là khi vào đến bộ Tổng tham mưu thì đã thấy thằng Conein ngồi chủ tọa giữa đám tướng lãnh. Nó ngồi ghếch hai chân lên bàn. Và chỉ thị cho người này, người kia. Sau đó, bác Đính bắt đầu chửi bọn tướng lãnh chỉ là một lũ hèn, hám danh, hám lợi. Bác tuôn ra một tràng dài ..
> Tôi hỏi bác có biết ai giết ông Ngô Đình Diệm – Ngô Đình Nhu và nhất lại đại tá Lê Quang Tung? Bác cho biết, lúc đó bác đã đi ra ngoài chỉ huy cuộc hành quân. Như thế bác không có mặt kể từ lúc 1 giờ 30.
> Xem ra thì những kế hoạch giết các ông Diệm-Nhu trên hầu như bác Đính không dính dáng và không biết gì.
> Nhưng câu hỏi then chốt mà gần như tôi buộc bác phải trả lời là bác có điều gì hối tiếc trong cuộc đời binh nghiệp của bác không?
> Dùng sức mạnh lý luận, ép một ông già không còn năng lực lý luận phải nhìn nhận xem ra có điều bất nhẫn. Cuối cùng bác đã thú nhận hối tiếc đã nhúng tay vào cái chết của hai ông Diệm- Nhu. Đồng thời cũng cố gượng gạo nói là tôi đã cảnh báo hai ông mà họ coi thường không nghe tôi.
> Tôi thấy đã đủ những điều mà tôi muốn bác một lần phải nói ra. Và bác đã nói tất cả sự thật- cả tâm tư và sự trăn trở của bác-. Sau đó bác rủ tôi ra ngoài đi dạo nói chuyện. Bác than về người vợ Bắc kỳ này. Chuyện riêng của bác xin đóng khép lại ở đây. Tối hôm ấy, tôi được cô cháu gái của bác cho biết ông đi ra ngoài đường quen múa gậy ba toong, dọa nạt kẻ đi đường và bị cảnh sát làm biên bản.
> Có lẽ đây là một buổi nói chuyệm làm tôi buồn cho thế sự và con người hơn cả. Tôi tội nghiệp bác Đính hơn là ghét ông.
> · Chứng từ của một nhân viên ngoại giao đoàn thuộc tòa đại sứ Anh về cái chết của anh em ông Diệm-Nhu
> Trong Những huyền thoại & và sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, tác giả Vĩnh Phúc có dành một chương nói về việc đi nhận xác hai ông Diệm Nhu do ông Nguyễn Văn Thành, 20 tuổi, cháu họ ông Diệm và Nhu kể lại. Tôi cũng có dịp điện thoại nói chuyện với tác giả Vĩnh Phúc [ngày 25-11-2010]để ông nói rõ thêm về những điều đã ghi trong sách Theo ông Nguyễn Văn Thành kể lại trong sách một cách khá trung thực là ngày 2-11-1963, Tổng tham mưu có điện thoại cho ông bà Trần Trung Dung đến nhận xác ông Diệm-Nhu tại nhà thương St Paul, góc đường Tú Xương và bà Huyện Thanh Quan.
> “Cũng theo ông Nguyễn Văn Thành có 5 người đi nhận diện xác là: ông bà Trần Trung Dung, Nguyễn Văn Thành và một người em gái của giám mục Nguyễn Văn Thuận và chồng bà này. Theo ông Nguyễn Văn Thành còn nhớ lại thì mặt tổng thống Diệm bị bầm, không hiểu có bị đánh hay không. Về sau, Thành nhớ rằng ông Nhu bị bắn từ phía sau ra phía trước, vì có vết phá ra đằng trước trán. Thành lục tìm trong túi hai ông thì thấy có hai chuỗi hạt có thánh giá, một khăn mùi xoa. Thành lấy chiếc khăn trong túi ông Nhu, thấm máu với chủ ý giữ lại làm kỷ vật để trao cho bà Nhu. Rồi Thành đưa khăn đó cho bà em đức cha Thuận. Khi mọi người bước vào nhà xác thì thấy xác ông Nhu được đặt trên chiếc băng ca quân đội để dưới đất. Còn xác ông Diệm để nằm trên cái bệ xi măng, trên bệ có một tảng đá và bức tượng”. 
> Trích tóm lược Vĩnh Phúc, Những huyền thoại& sự thật về chế độ Ngô Đình Diệm, trang 324-326
> Nhân tiện đây, người viết bài này nói rõ tên người em gái đức cha Nguyễn Văn Thuận và người đàn ông đi theo. Người em gái đức cha Thuận là bà Nguyễn Thị Niềm[đã quá vãng] và người chồng bà Niềm là một nhân vật ngoại giao trong tòa đại sứ Anh ở thời điểm 1963. Tên ông là Brian Smith. Hai nhân vật ở Huế xác nhận với người viết có biết ông Brian Smith trong ngày đám cưới của ông với bà Ngô Thị Yến.[ không có quan hệ họ hàng với gia đình Ngô Đình Diệm].
> Qua trung gian một người cháu của bà Ngô Thị Yến, người viết được biết ông Brian Smith qua cuộc điện đàm. Người viết bài này đã được nghe ông Brian Smith nhắc lại một vài sự việc về hai cái chết của ông Diệm Nhu. Ông Brian Smith rất thông thạo tiếng Pháp mà còn tỏ ra lưu loát và biết nhiều chuyện. Ông dù lớn tuổi, nhưng còn đủ minh mẫn và sáng suốt. Nhưng ông vẫn nói một cách chừng mực. 
> Ông cho biết ông lúc ấy ông có vợ Việt Nam tên Nguyễn Thị Niềm, cháu gái của TT Ngô Đình Diệm, tức em gái đức cha Nguyễn Văn Thuận. Lúc ấy ông bà vừa mới sinh được cháu gái vào đúng thời điểm 1963. Cháu được đặt tên là Chi Lan.
> Nay cháu đã trưởng thành, lập gia đình từ mấy năm nay rồi. Phần bà Ngô Thị Yến bây giờ nói tiếng Huế rất là Huế, dễ thương chi lạ. Không biết mặt, nhưng nghe giọng nói thanh thoát nhẹ nhàng, thoải mái thì như nhắc nhở cả một thời xứ Huế với biết bao kỷ niệm. Hai ông bà qua câu chuyện có vẻ rất ư là hạnh phúc.
> Có lẽ đây là một buổi hạnh ngộ kỳ lạ trong đời may mắn gặp được ông một lần. Ông Brian Smith đưa tôi từ ngạc nhiên này sang ngạc nhiên khác qua việc kể lại các sự việc một cách tự nhiên. Lấy vợ VN đã là một chuyện, lại lấy cháu tổng thống Diệm, sau đó lại lấy bạn gái của vợ cũ. Rồi bất ngờ nghe ông kể về việc đi thăm nhận dạng hai xác chết của TT Ngô Đình Diệm và ông Ngô Đình Nhu như thế nào. Trên đời sao lại có những hạnh ngộ như thế và hôm nay, tôi được nghe ông nói chuyện gián tiếp qua điện thoại.
> Sau khi nghe tin anh em ông Ngô Đình Diệm bị thảm sát, với tư cách người của Ngoại giao đoàn đồng thời là bà con gần nhất của gia đình TT Ngô Đình Diệm. Ông đã cùng với ông Trần Trung Dung đến nhận dạng hai xác chết ngay khi còn để trong thiết vận xa.
> Theo ông Brian Smith thì tình trạng các tướng lãnh lúc bấy giờ là hốt hoảng, sợ hãi. Quả thực họ quá sợ hãi, xấu hổ và tìm cách che đậy. Nhiều tướng lãnh như tướng Tôn Thất Đinh không dám đến nhận diện xác chết hai ông Diệm- Nhu.
> Ông Brian Smith nói tiếp, tôi có chụp nhiều bức hình hai cái xác ông Diệm và ông Nhu cho thấy họ đã chết như thế nào. Thật không vui vẻ gì khi phải nhìn hai xác chết của hai ông. Họ không đáng phải nhận một cái chết ghê tởm như thế. 
> Thật là man rợ. Tôi không bao giờ có thể quên được những hình ảnh đó.
> Tôi chỉ muốn xác nhận rằng, họ đã bị đánh đập, bị đâm nhiều nhát dao với các thương tích trên mặt và trên cơ thể trước khi bị kết liễu bằng những phát đạn.
> Cũng theo ông Brian Smith, lúc đó ít có ai dám tới gần xác chết của hai ông. Nhưng tôi là một nhà ngoại giao thì khác. Vả lại, tôi còn đến thăm xác chết hai ông với tư cách người thân nhất trong gia đình ông Diệm. Question de famille, 
> Tôi còn giữ nhiều bức hình do chính tôi đã chụp hai ông ở trong thiết vận xa. Nhưng hiện nay tôi để tất cả ở bên Luân Đôn. Khi nào về lại Luân Đôn sẽ gửi sau.
> Người viết bài này xin dừng câu chuyện về ông Brian Smith ở đây cho đến khi nào có cơ hội nhận được các bức hình đó.
> Nếu nhận được những bức hình đó thì thì đây là những bức ảnh quý giá nhất mà chúng ta có được từ trước đến nay. Đồng thời goíup soi sáng thêm về hai xác chết bí ẩn của họ.
> · Trao đổi qua điện thoại với tướng Lê Minh Đảo 

> Gần đây, có tài liệu sách vở trích dẫn lại[đặc biệt có bài của bà Lệ Tuyền” Cố tổng thống Diệm . Bài viết trích dẫn lại ý kiến của tướng Hoàng Lạc và Hà Mai Việt trong cuốn Nam Việt Nam,1954-1975 Những sự thật chưa hề nhắc tới Texas, 1990 trong đó ám chỉ rằng tướng Lê Minh Đảo là người đã giết đại tá Lê Quang Tung.

> Bài viết trích dẫn lại trong sách như sau: 

> “Trần Văn Đôn đã gọi điện thoại cho ông nói là mời đến họp. Và trong phiên họp của cái gọi là “Hội Đồng quân nhân Cách mạng”. Đại tá Lê Quang Tung đã lớn tiếng:” Chúng bay đeo lon, mặc áo, thụ hưởng phú quý, lạy lục để được tổng thống ban ơn, mà nay lại dở trò bất nhân, bất nghia..”

> Đại tá Lê Quang Tung chỉ kịp nói đến đó thì liền bị cựu tướng Lê Minh Đảo lúc đó là đại úy, tùy viên của tướng Lê Văn Kim, lôi lên chòi canh trên sân thượng của tòa nhà chánh Bộ Tổng Tham Mưu bắn chết ngay“ 

> Em ruột của đại tá Lê Quuang Tung là Thiếu tá Lê Quang Triệu, Tham mưu trưởng lực luợng đặc biệt được tin cũng liền chạy sang Bộ Tham mưu để xem hư thực, thì cũng bị đại úy Lê Minh Đảo dùng súng bắn chết“.

> Tất cả nhữg sự Kiện nêu trên đều không đủ bằng cớ nếu không nói là rất xa sự thật như sẽ trình bày sau này.

> - Ai có thể cho biết đại tá Lê Quang Tung có thực sự nói những lời mắng nhiếc tướng lãnh như thế không?
> - Không có vấn đề đại úy Lê Minh Đảo dẫn dắt đại tá Lê Quang Tung ngay sau đó ra ngòai xử bắn. Tướng Kim cũng như tướng Chiểu bị “ thất sủng”không có quân, chỉ có một tùy viên quân sự, không thể đảm nhiệm công việc đó dễ dàng.
> - Sau này, tướng Cao Văn Viên cũng bị nhốt chung một chỗ với đại tá Lê Quang Tung khi được thả có kể cho bà Lê Quang Tung câu chuyện xảy ra như thế nào. Theo tướng Cao Văn Viên cho biết vào khoảng hai giờ đêm sáng ngay 2-11-1963 thì quân cảnh vào dẫn đại tá Lê Quang Tung ra ngoài và từ đó, ông không hề biết số phận đại tá Lê Quang Tung ra sao nữa. Vì thế phải tin điều tướng Cao Văn Viên nói, vì ông là nhân chứng cuối cùng những giây phút chót của đại tá Lê Quang Tung. Các tướng Hoàng Lạc va đại tá Hà Mai Việt, không có mặt tại chỗ. Họ lkhông đủ tư cách viết về vấn đề ai giết đại tá Lê Quang Tung , nếu không nêu ra đủ bằng cớ.
> - Xin gạt bỏ dứt khoát luận điệu thiếu bằng chứng đại úy Lê Minh Đảo là người hạ sát đại tá Lê Quang Tung.

> - Về mặt tài liệu ngoại quốc- của CIA hay của các tác giả sử gia, báo chí Mỹ- không có tài liệu nào đề cập tới trường hợp đại úy Lê Minh Đảo có liên quan đến việc giết đại tá Tung cả để từ đó cho phép kết luận là đại úy Lê Minh Đảo là người giết đại tá Tung.

> - Ở đây, xin dành cho tướng Lê Minh Đảo đôi lời giải thích.

> Theo tướng Lê Minh Đảo, sau 1-11-1963, ông được điều động về làm tỉnh trưởng Long An và vào khoảng tháng 12, thiếu tá Nguyễn Văn Nhung có xuống thăm ông. Trong dịp này, thiếu tá Nhung có tiết lộ về việc giết đại tá Lê Quang Tung đồng thới xác nhận việc chôn cất ở đâu. Thiếu tá có cho biết ông ta đang đeo cái đồng hồ của đại tá Tung – đã đâm nhiều nhát mà ông Tung không chết ngay – đã chôn xác luôn cả thẻ bài quân đội sau tòa nhà chính bộ Tổng tham Mưu, đằng sau giáp với đại đội 360 truyền tin

> Chính vì thế, sau này có dịp xuống Marseille vào năm 2003 cùng với trung tá Lê Văn Trang có gặp anh Cầu[ nguyên chuẩn úy. Sĩ quan tiếp liệu của lực lượng đặc biệt} là con rể của ông Lê Quang Tung, tướng Đảo có gợi ý giúp gia đình đại tá Lê Văn Tung đi tìm lại nơi địa điểm chôn cất hai anh em đại tá Lê Quang Tung vì lý do nhân đạo. 

> Phần người viết bài này, bao lâu chưa đủ bằng cớ xác thực thì những giả thuyết đưa ra về tướng Lê Minh Đảo đương nhiên bị gạt bỏ. Trong chỗ quen biết, người viết còn được biết chính đại tá Hà Mai Việt nay cũng phủ nhận những gì đã được viết trong cuốn sách của tướng Hoàng Văn Lạc,

> · Những tâm tình của Lê Quang Phúc, con trai đại tá Lê Quang Tung
> Đây có thể là lần đầu tiên ông Lê Quang Phúc trao đổi những gì liên quan đến cái chết của thân phụ ông, đại tá Lê Quang Tung mà ông giữ kín trong lòng từ bao nhiêu năm nay. Ít lắm cũng gần nửa thế kỷ im lặng, ẩn nhận và chịu đựng.
> Những tâm tình này cũng giúp soi sáng một phần không ít váo cái chết oan nghiệt và bí ẩn của thân phụ ông mà cho đến nay, chết thế nào, ai giết và chôn cất ở đâu cũng không rõ.
> Theo ông Lê Quang Phúc, lúc đó ông 15 tuổi nên cũng hiểu biết được một số sự việc liên quan đến cái chết của thân phụ ông. Buổi sáng 1-11-1963, thân phụ ông có nhận được một cú điện thoại từ tướng Tôn Thất Đính, một đồng chí và người bạn thân thiết của gia đình mời đại tá Lê Quang Tung lên Tổng Tham mưu họp. Đại tá Tung đã từ chối và vẫn mặc bộ đồ Pyjama ở nhà..Nhưng sau đó, tướng Trần Thiện Khiêm lại gọi điện thoại đến nhà mời đi họp. Không biết tướng Khiêm nói những gì và lần này đại tá Tung đã đổi ý và lên xe díp đi họp.
> Quyết định đi họp lần này liên quan đến cái chết oan nghiệt sau đó vì lời mời của tướng Trần Thiện Khiêm. 
> Cũng buổi chiều cùng ngày thì tổng thống Diệm gọi đến nhà và chính Lê Quang Phúc trả lời điện thọai. Ông Phúc sau đó đã trao điện thoại cho mẹ ông nói chuyện với tổng thống. Sau khi mẹ ông nói chuyện với tổng thống thì được biết những lời nói cuối cùng của tổng thống là: Vậy là không xong rồi và cúp điện thoại.
> Câu nói cuối cùng của tổng thống Diệm: Vậy là không xong rồi có thể bao hàm hai nghĩa: Hoặc ông Lê Quang Tung có thể bị mua chuộc và theo nhóm đảo chánh, hoặc đúng hơn là ông đại tá Tung đã bị rơi vào bẫy của đám tướng đảo chánh và ông Diệm cảm thấy mất hết mọi nguồn hy vọng.
> Cũng kể từ đó, gia đình hoàn toàn không nhận được tin tức gì của đại tá Tung. Ngày hôm sau, một số sĩ quan thân tín của đại tá Tung đến nhà và yêu cầu cả gia đình phải đi trốn tạm lánh nơi nhà bà con.
> Theo ông Lê Quang Phúc, không biết bằng cách nào, cha Nguyễn Văn Thuận lúc đó là bề trên chủng viện ngoài Huế đã gửi một linh mục vào Sai Gòn tìm kiếm được gia đình đại tá Tung và đưa ba người con trai đi lánh nạn ra Huế tại chủng viện.
> Phần các người con gái thì được gửi lên Thủ Đức lánh nạn.
> Sau cái chết của đại tá Tung, gia đình ông kể như tan nát, mỗi người mỗi nơi. Phần căn nhà của họ thì sau đó, tướng Lê Văn Nghiêm đã xử dụng.
> Kể từ đó, Lê Quang Phúc và hai người em trai sống mai danh ẩn tích tại chủng viện Huế. Sau khi đỗ tú tài hai thì Lê Quang Phúc được gửi lên học tại Giáo Hoàng Học viện Piô 10 cho đến 1975.
> Trong suốt thời gian sống ẩn tích, Lê Quang Phúc muốn ra khỏi chủng viện để đi sĩ quan Thủ Đức bởi vì trong lòng ông vẫn mang những nỗi oán hận khôn nguôi. Làm sao ông có thể trở thành một linh mục mà còn mang một ám ảnh mối hận về những người đã ám hại cha mình?
> Sự oán hận là lẽ thường tình, nhưng lại đi ngược lại đòi hỏi sứ vụ của một linh mục. Nhưng cha Nguyễn Văn Thuận đã khuyên ông không nên đi sĩ quan Thủ Đức, vì sẽ lộ tung tích và có thể bị các vị tướng lãnh ám hại. 
> Một cơ hội nữa là chính vị trung tá Mỹ từng là cố vấn cho đại tá Lê Quang Tung đã đến nhà và yêu cầu đưa cả gia đình sang Mỹ để cho các con đại tá Tung có cơ hội ăn học. Một lần nữa, cha Nguyễn Văn Thuận cản không cho đi Mỹ.
> Sự ngăn cản này nó có lý do nội tại của nó mà người trong cuộc may ra mới hiểu được.
> Phần bà Tung theo lời kể của Lê Quang Phúc thì bà đã đi gõ cửa từng tướng lãnh một để năn nỉ họ chỉ chỗ chôn xác chồng bà. Nhưng từ tướng Tôn Thất Đính, Trần Thiện Khiêm đến Dương Văn Minh, họ đều tìm cách thối thác: Nghĩa là không biết ai giết mà cũng không biết chỗ chôn cất ở đâu!!
> Điều này thật sự viết đến đây không khỏi bất nhẫn đối với một sĩ quan đã bị đồng đội ám hại trong khi đang mang chức vụ chỉ huy một đơn vi quân đội ưu tú của VNCH mà chết mất xác.
> Việc hèn nhát trốn tránh trách nhiệm này là một điều khó chấp nhận được.
> Phần Lê Quang Phúc, cái chết của cha hẳn đã ám ảnh suốt cuộc đời trai trẻ của ông Ông Tâm sự, nhiều lúc như hoang tưởng, ông vẫn tin rằng cha ông còn sống và có thể được người Mỹ cứu thoát và gửi đi dấu kín ở một chồ nào đó mà không ai được biết. Ngay các sĩ quan thân cận đại tá Tung nhiều người vẫn còn nuôi mối hy vọng và mong một ngày trở về của vị đại tá. 
> Nhưng cho đến hôm nay thì phải đành chấp nhận một sự thật phũ phàngl à đại tá Lê Văn Tung đã bị ám hại và đã bị chôn vùi ở một chỗ nào đó mà nay không có hy vọng tìm ra chỗ chôn xác chết.
> Nhưng qua tâm tình bày tỏ thì hiện nay ông Lê Quang Phúc không còn mang tâm trạng oán hận các vị tướng lãnh trên nữa. Nhưng ông đồng thời cho rằng sau mấy chục năm bây giờ mới được tướng Lê Minh Đảo có lòng nhân đạo để chỉ địa điểm chỗ chôn cất thì xem ra quá muộn.
> Trên thực tế, có thể nay nhà cửa đã được xây cất kín và không có cách chi đào mộ đi tìm dấu tích hai xác anh em ông Lê Quang Tung. 
> Vả lại đối với ông Lê Quang Phúc thì việc chỉ địa điểm chôn thân phụ ông không còn là điều quan trọng, nữa.
> Cha ông đã chết một cách oan uổng và nói cho cùng chôn cất ở đâu cũng thế thôi.
> Điều chính yếu là ông Lê Quang Phúc cho rằng các vị tướng lãnh trong vụ đảo chánh năm 1963 nợ gia đình ông một lời giải thích.
> Lời giải thích này là nay nên cho biết ai là người ra lệnh giết chết thân phụ ông và ai là người trực tiếp đã hạ sát đại tá Lê Quang Tung và chỉ chỗ chôn cất xác hai anh em họ.
> Nhưng theo thiển ý người viết, món nợ đối với gia đình Lê Quang Tung cũng là một món nợ chung cho toàn thể quân đội VNCH và nhân dân miền Nam.
> Không thể nào các vị có trách nhiệm cứ tránh né, giữ im lặng ngay cả dối trá mãi được. Sự thật đã quá muộn để được nói ra đối với số vị nay còn sống trên dương thế. Đó là đại tướng Trần Thiệmn Khiêm, đại tá Dương Hiếu Nghĩa.
> Riêng trường hợp tướng Lê Minh Đảo thì ông Lê Quang Phúc cho rằng không có đủ yếu tố để buộc bất cứ trách nhiệm nào cho vị đại úy tùy viên của tướng Lê Văn Kim.
> Công tâm và lẽ công bằng không cho phép bất cứ gán ghép nào nếu không đủ bằng cớ. 
> Tâm tư của ông Lê Quang Phúc cho đến lúc này là trong sáng, minh bạch và công bằng của một người con đối với cha mình và đối với những ai đã sát hại cha ông.
> Phần người viết bài này chỉ có một ý kiến nhỏ sau đây.
> Cuộc đảo chính 1-11-1963 tự nó mất tính chính nghĩa vì do âm mưu và bảo kê của người Mỹ và được trả tiền.
> Và cũng kể từ đó không có bất cứ tướng lãnh nào có đủ tư cách người thừa kế có quyền uy có tầm vóc để cho dân chúng và quốc tế kính nể và tôn trọng nữa. 
> Không ai thay thế được ông Ngô Đình Diệm trong vai trò tổng thống miền Nam Việt Nam .
> Đó là một điều sau nhiều năm xáo trộn người ta mới dần nhận ra được điều đó.

“Nếu bọn Việt Cộng thắng, thì quốc-gia Việt-Nam cũng sẽ bị tiêu-diệt và sẽ biến thành một tỉnh nhỏ của Trung-hoa Cộng-sản. Hơn nữa toàn-dân sẽ phải sống mãi mãi dưới ách độc tài của một bọn vong bản vô gia đình, vô tổ quốc, vô tôn giáo."
Ngô Đình Diệm 

(Đồng Cam, Tuy-Hòa 17-9-1955)

Lễ Giỗ Cố Tổng thống Ngô Đình Diệm bị cộng sản phá hoại như thế nào?

Paulus Lê Sơn (Danlambao) - Đã 5 năm trôi qua, cứ đến ngày lễ giỗ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm lại được tổ chức một cách thành kính trang trọng ngay trước phần mộ của ông và gia quyến. Năm nay cũng vậy, hàng trăm người dân Sài Gòn và từ nhiều nơi đã đổ về nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, Bình Dương để cùng thắp nén hương lòng biết ơn và cầu nguyện cho cố Tổng Thống.

Trái ngược với lòng thành kính nhân văn đó thì hệ thống an ninh công sản lại sử dụng những mưu hèn kế bẩn, bất nhân bất nghĩa với người sống cũng như người đã nằm yên trong nấm mồ nhằm ngăn chặn lễ giỗ cụ Diệm.

Cộng sản phá hoại lễ giỗ như thế nào?

Chuyện năm nay, ngày 1.1.2017 vừa qua, Thánh lễ giỗ lần thứ 54 cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm được tổ chức một cách sốt sắng và thành công. Tuy nhiên, những hành động hạ đẳng của nhà cầm quyền nhắm vào người dân lại được tái diễn giống như mọi năm trước.

Trên Facebook cá nhân của Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh loan báo về việc phóng viên của trang Tin Mừng Cho Người Nghèo, Nguyễn Huyền Trang bị tấn công bởi một người trung niên?!.

Cũng theo các Facebooker tham dự lễ giỗ chia sẻ một đoạn video clip mô tả nhà cầm quyền đã giăng lưới B40 bịt kín các lối vào bên trong phần mộ, khiến người dân phải chui qua một lỗ nhỏ mới vào được.

Ở phía ngoài đường thì có một số kẻ cố tình mở loa đài với công suất lớn nhằm gây ồn ào và nhiễu loạn Thánh lễ.

Chuyện năm 2016, năm thứ hai tôi tham dự Thánh lễ giỗ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, mắt tôi đã thấy an ninh cộng sản phủ dày đặc nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, tai tôi đã nghe những lời lẽ không tốt từ phía họ, thậm chí có lúc họ gây hấn để quấy phá Thánh lễ.

Những ánh mắt đảo điên và manh động như muốn ăn tươi nuốt sống người khác, những chiếc máy quay từ mọi góc độ có khi xa có khi gần, có khi lấp ló nơi các phần mộ khác chĩa về phía chúng tôi.

Bắt đầu từ con đường lớn dẫn về phía nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi, cảnh sát giao thông dày đặc, lượt lờ và hú còi inh ỏi, có những tốp chực chờ bên chiếc xe chuyên dụng để bắt giữ xe máy mà không cần lý do. Dọc bên vỉa hè khoảng chừng hai cây số quanh khu vực nghĩa trang, an ninh thường phục có mặt khắp nơi, họ ngồi, họ đứng từng gốc cây đến các quán nước. Họ la cà đến sát cạnh chúng tôi để nghe ngóng xem chúng tôi nói gì, làm gì.

Có hai tay an ninh trẻ nhìn chằm chằm vào tôi và theo sát từ khi tôi đến cho tới lúc tôi về, thậm chí họ có những hành động khiêu khích, một vài người bạn bảo vệ cho tôi tránh được rủi ro.

Chuyện 2015, năm đầu tiên tham dự lễ giỗ cụ Diệm sau khi tôi ra tù. Trong tâm lý vẫn còn có một sự lạ lẫm, khi bước tới nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi, tôi đã thấy rất đông người có mặt sẵn ở đó và họ đều đeo khẩu trang y tế màu xanh, tôi lấy làm ngạc nhiên hỏi một vài người bạn đi cùng, “ đông người đến tham dự Thánh lễ quá, nhưng sao họ lại đeo khẩu trang?” Bạn tôi nói: “ đó là bọn an ninh cộng sản”.

Tôi bán tín bán nghi, đánh liều ra nói một hai người đeo khẩu trang, “các anh đến tham dự Thánh lễ cụ Diệm là quý lắm, sao các anh lại đeo khẩu trang là điều bất kính với người quá cố”. Họ nghe tôi nói vậy, dần lủi về phía sau, tuy nhiên đồng đội của họ từ xa đã chĩa máy quay vào tôi.

Đang trong khi Thánh lễ cầu nguyện diễn ra, thì một đám cháy bùng lên cách chúng tôi chừng khoảng 15 thước. Ngọn lửa đó được phát cháy từ đám an ninh, chúng đã vơ đống cỏ và phế phẩm gần đó, chất thành đống và đốt cháy. Thánh lễ vẫn cứ diễn ra sốt sắng, còn một vài thanh niên trẻ nhanh tay ra dập tắt ngọn lửa thế nhưng vẫn bị chúng ngăn cản, cuối cùng thì đám cháy đã được dập tắt.

Hàng trăm người tham dự Thánh lễ đứng quây quầy bên phần mộ cụ Diệm còn vòng ngoài thì an ninh bủa vây, trong khi đó vẫn có kẻ trà trộn vào chúng tôi để quấy phá. Gần kết thúc Thánh lễ thì tôi bị một tay an ninh trẻ gây hấn ngay bên cạnh mộ cụ Diệm, người này chửi và định tấn công tôi, may mắn có mấy người bạn bảo vệ kịp thời.

Tôi thấy lạ, năm nào người cộng sản sử dụng trò hèn kế bẩn để ngăn chặn, phá hoại Thánh lễ nhưng có ngăn chặn nỗi lòng người mỗi năm đến với cụ Diệm? Ngược lại năm sau lại đông hơn năm trước. Điều đó há chẳng người cộng sản còn mải mê trong tăm tối hận thù mà dẫm lên đinh nhọn của sự sai lầm sao

Tôi lại nghĩ, hòa hợp hòa giải dân tộc mà cộng sản rêu rao chỉ để lừa mị Việt Kiều nhằm ăn cắp đô la mà thôi. Việc nghĩa cần làm của một thể chế cầm quyền là sự tôn trọng đối với người đã khuất.

Việc nhà cầm quyền cộng sản phá hoại, khủng bố Thánh lễ cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm khác gì tư duy và hành động mọi rợ của các chế độ phong kiến nguyên thủy, chẳng qua là sử dụng những phương thức tinh vi hơn mà thôi.


02.11.2017

danlambaovn.blogspot.com


Tổng Thống Ngô Đình Diệm và lịch sử

Trần Bảo Như (Danlambao)- “Hãy để lịch sử phán xét” là câu thường được nói khi có những mâu thuẫn về suy nghĩ, quan điểm về một nhân vật, một sự kiện… Khi còn nhỏ, tôi thường tự hỏi “lịch sử” là gì mà có thể quyết đoán đúng sai đến vậy? Chẳng phải lịch sử cũng là do con người viết hay sao. Lớn hơn chút nữa, tôi còn thấy “lịch sử”được viết bởi phe thắng cuộc nữa, vậy thì làm sao mà “lịch sử” phán xét được?


Đến giờ thì tôi đã hiểu được “lịch sử” thật đáng nể. Đó là phán xét qua thời gian, hàng trăm năm, hàng thế kỷ, bởi con người, không chỉ những người đương thời trong cuộc, mà cả những thế hệ sau, khi các bí mật, diễn tiến, nguyên nhân và hậu quả đều được phơi bày với thời gian.

Tổng thống Ngô Đình Diệm là một nhân vật gút mắc của lịch sử. Phía CS đối địch người “phán xét” đã đành, mà chính cả phía QG sau đảo chính, nắm quyền, cũng đã tung ra biết bao “phán xét” dùng làm biện chứng cho việc họ làm. Nhưng đến giờ, thời gian đã hơn nửa thế kỷ sau những thăng trầm, tôi tin rằng người công chính và sáng suốt thật có thể tìm thấy từ “lịch sử” câu trả lời chính xác về nhân vật Ngô Đình Diệm.

Chín năm chấp chánh của Tổng thống Ngô Đình Diệm, bắt đầu từ khởi điểm khó khăn nhất, binh quyền trong tay các “sứ quân”, các phe phái tranh chấp, một triệu di dân miền Bắc cần cứu trợ, ổn định … Chỉ sau thời gian ngắn đã là những năm miền Nam an bình, đầy thịnh vượng. Văn thi ca phát triển tự do và phong phú. Để đến giờ đó là những chứng tích khách quan nhất, phản ánh đời sống tự do, thanh bình, an cư lạc nghiệp của dân chúng miền Nam vào thời đó.

Cuộc chiến Quốc – Cộng. Cuộc chiến có người Mỹ tham chiến đã sụp đổ và thất bại với mất mát xương máu của hai miền và của chính người Mỹ. Kết cuộc miền Nam đã mất vào tay CS. Kết cuộc này khiến tôi suy nghĩ. Nếu Tổng thống Ngô Đình Diệm còn là vị thuyền trưởng, có một hiệp ước đồng minh, viện trợ với Mỹ như ý sách; chính phủ VNCH hoàn toàn độc lập tự quyết trong việc lèo lái, thì con thuyền Quốc Gia có thể đã không chìm đắm. Ngài và cố vấn Ngô Đình Nhu với viễn kiến luôn cố tránh một cuộc chiến tương tàn mà Việt Nam sẽ là chiến trường nơi súng đạn của hai khối tự do và cộng sản đọ sức nhau trên xương máu người dân Việt. Chung cục, cho dẫu với cuồng vọng nhuộm đỏ miền Nam, làm tay sai cho Quốc Tế Cộng Sản của Hồ Chí Minh, miền Nam có không tránh được chiến tranh đi chăng nữa, thì người lãnh đạo Việt Nam Cộng Hòa phải được hoàn toàn quyết định và điều động là yếu tố cơ bản để chiến thắng cuộc chiến. 

Tiếc thay, có những kẻ bị tham vọng quyền lực làm mờ mắt, hoặc tự bản thân họ không có viễn kiến đủ, đã không thấy điều này. 

Sau đảo chính, miền Nam rơi vào hỗn loạn chính trị. Quyền lực chuyển hết tay này qua tay khác suốt 4 năm, kế hoạch Ấp Chiến Lược bị dẹp bỏ, tạo những lỗ hổng quyết định cho cộng sản trà trộn, lũng đoạn hệ thống chính quyền cũng như xã hội. Quân đội Mỹ và đồng minh phải đổ vào tiếp ứng. CSBV có thể trương cao biểu ngữ “Chống Mỹ Cứu Nước” một cách danh chính ngôn thuận, đúng như Tổng thống Ngô Đình Diệm đã từng lo ngại cho chính nghĩa của miền Nam.

Gia đình trị? Thủ tướng Ngô Đình Diệm khi mới về nhận chức, không có quân đội, không ngân sách, tứ phía là đảng phái chia rẽ, chống đối… Ngay cả người Mỹ cũng “wait and see” (chờ xem) ngài có thể trụ nổi trước khi ra mặt ủng hộ. Tổng thống luôn phải tìm người tài để giúp sức, nếu không có anh em thì còn có ai có thật tâm và dũng khí đủ để “gánh” việc, cứu nước trong bối cảnh đó? Khi trở thành Tổng thống, ngài đã dùng người em thân cận nhất, Ngô Đình Nhu, làm cố vấn trong việc trị nước, chứ không bổ nhiệm quyền cao, chức trọng như Bộ trưởng, thủ tướng với dinh thự, bổng lộc cao sang để trục lợi. Tôi sau khi đọc được Chính Đề Việt Nam của Tùng Phong Ngô Đình Nhu càng nhận thấy ông có những kiến thức uyên bác về chính trị, một tầm nhìn xa rộng sắc bén, hơn hết là hoài bão xây dựng một Việt Nam dân hùng, nước mạnh. Tổng thống Ngô Đình Diệm đã không chọn ông làm cố vấn vì ông là bào đệ của mình. Ông xứng đáng hơn ai hết là bộ óc của đệ nhất Cộng Hòa. Bà Ngô Đình Nhu được bầu vào Quốc Hội, tổ chức phong trào Phụ Nữ Liên Đới, chủ xướng luật một vợ một chồng, cũng phát xuất từ thành ý góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh, cởi bỏ hủ tục đa thê của thời phong kiến. Ông Ngô Đình Cẩn ở miền Trung cũng không nắm giữ bộ nào, chỉ với danh vị tượng trưng “cố vấn chỉ đạo,” có nhiều móc nối với những nhân vật, chính khách, hầu hết là nhắm vào mục đích diệt cộng. Ông Ngô Đình Thục là Giám mục được sắc phong qua hệ thống Roman Catholic, không do tổng thống. Và các vị giám mục có ảnh hưởng lớn và được giáo dân tôn trọng là điều thông thường trong xã hội, nhất là xã hội miền Nam thời bấy giờ. 

Mỹ với nền Dân chủ Pháp trị lâu đời thì tổng thống vẫn toàn quyền trong việc chọn người cho bộ nội các của mình. Robert Kennedy là Bộ trưởng Quốc phòng trong thời tổng thống John Kennedy, nhưng không hề có xét nét nào về “gia đình trị.”

Sau hết, các anh em của Tổng thống không ai dùng quyền chức để tham nhũng, làm giàu, vinh thân phì gia, mà dùng tài sức để gánh vác công việc chung với anh, đả cộng, bài phong. Vì vậy, những lời chỉ trích về “gia đình trị,” cần được rút lại. Không thể có suy nghĩ “kỳ thị” người trong một gia đình là không được tham gia chính quyền. Quyền công dân, quyền tham gia giúp nước phải được đặt lên hàng đầu.

Kỳ thị tôn giáo? Đã có hàng trăm bài viết phù và chống vấn đề này. Nhưng có ba điểm sau thuộc về “sự kiện” (facts), không thuộc ý kiến/tranh luận xin nêu ra để người đọc tự kết luận:

1. Báo cáo của phái đoàn Liên Hiệp Quốc về kỳ thị tôn giáo dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm đi đến kết luận sau: "Những tố cáo đệ trình lên Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc nhằm chống chính quyền Ngô Đình Diệm không đứng vững sau khi phái đoàn điều tra một cách khách quan. Không hề có kỳ thị cũng như đàn áp tôn giáo cũng không hề có sự đụng chạm đến tự do tín ngưỡng. Không thể có một cách nào khác để phán đoán những dữ kiện thực tế, những va chạm giữa một hệ phái, mà không phải là toàn thể cộng đồng Phật tử Việt Nam với chính quyền Ngô Đình Diệm hoàn toàn có tính cách chính trị.”

2. Được giải thưởng Leadership Magsaysay 10.000 dollars, tổng thống Diệm đã im lặng gửi tặng phần thưởng này lại cho Đức Dat lai lama, với lý do “Đức Đạt Lai Lạt Ma, vị lãnh tụ và là biểu tượng của tinh thần tranh đấu bất khuất để bảo vệ niềm tin, bảo vệ tôn giáo, bảo vệ dân tộc ngài, đang gặp hoạn nạn, phải sống lưu vong, cần nhiều sự giúp đỡ.”

3. Các tướng lãnh, và quan chức trong chính phủ đệ nhất Cộnh Hoà là những tín đồ Phật giáo nhiều hơn là Thiên chúa giáo.

Một gia đình với ba anh em bị thảm sát, không còn chút quyền lực, ảnh hưởng, mà cho đến nay, hơn nửa thế kỷ sau người dân Việt khắp nơi vẫn tự tổ chức lễ tưởng niệm, thương tiếc thì phải chăng đó chính là “lịch sử phán xét”?

Vận mệnh oan nghiệt và đau thương của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã gắn liền với vận mệnh Việt Nam từ đó. Trong thành kính, tiếc thương, ca khúc này được thực hiện cho ngày lễ tưởng niệm Tổng thống và các chiến sĩ trận vong mà ca sĩ Lâm Dung và tôi, mới thực hiện xong. 

Thơ là Người, xin được kết bài viết về Tổng thống với bài thơ của ông.

Nỗi Lòng

Gươm đàn nửa gánh quẩy sang sông
Hỏi bến: thuyền không, lái cũng không!
Xe muối nặng nề thương vó Ký
Đường mây rộng rãi tiếc chim Hồng

Vá trời lấp biển người đâu tá? 
Bán lợi mua danh chợ vẫn đông!
Lần lữa nắng mưa theo cuộc thế 
Cắm sào đợi khách, thuở nào trong?

Ngô Đình Diệm - 1953

Món nợ 54 năm

Yên Tánh (Danlambao) - Đất nước càng lầm than, thê lương thì hàng năm vào đầu tháng 11, người dân Việt ở bất cứ đâu lại càng nhớ đến một cơ hội tốt lành cho dân tộc và đất nước đã bị tước đoạt. Miền Nam dân chủ và văn minh không còn là niềm hy vọng cho sự hồi sinh toàn bộ đất nước Việt Nam nữa. Và họ cũng không thể nào quên được người đã tạo ra cơ hội bị tước đoạt đó. Nhân vật ấy không ai khác hơn là Tổng Thống Ngô Đình Diệm.

Một nửa đất nước Việt Nam đang sống trong an lành, thịnh vượng và nhìn về tương lai đầy tin tưởng thì bỗng đâu giông tố giăng đầy trời, ánh sáng mặt trời phụt tắt, cuồng phong nổi lên khắp chốn, cuốn phăng mọi vật trên đường đi của nó. Không còn ánh sáng, không còn mặt trời, không cả loài người và vạn vật. Chỉ còn bóng tối của địa ngục, nơi bọn quỷ dữ nhảy muá trong tiếng hú man rợ, chết chóc.

Thế mà đã 54 năm kể từ ngày vận nước bắt đầu rơi vào tăm tối. 

Trên dãi đất hình chữ S, nằm bên bờ Thái Bình Dương ngàn năm sóng vỗ, biết bao xáo động chính trị liên tiếp xảy ra hàng ngày, hàng giờ chỉ để làm cho tình hình ngày thêm rối ren, chiến tranh dần leo thang và mở rộng. Tương lai đất nước mù mịt.

Ở miền Nam, cuộc sống không còn như trước và hiểm nguy có thể xuất hiện nơi đầu hẻm, cuối phố. Đời sống dân lành giờ đây thêm nhiều khó khăn trong việc mưu sinh, đã thế họ lại phải đối mặt với cái chết vô lý bất cứ lúc nào, ở đâu. Đã đành người chiến sĩ có thể chết trong trận mạc, nay người dân thường cũng có thể chết trên bờ đê, dưới ruộng, ở ven xóm làng hay cả khi xem phim ở rạp chiếu bóng, cùng gia đình thưởng thức món ăn trong nhà hàng một ngày cuối tuần, đang ngồi trên một chuyến xe đò liên tỉnh mong gặp người thân hay đang say sưa theo dõi bài giảng của thầy.

Ở miền Bắc, tình hình càng tồi tệ hơn bởi chủ nghĩa xã hội đã bị phá sản ngay từ đầu bởi một lũ lãnh đạo cuồng tín, ngu dốt, theo lệnh ngoại bang áp đặt một chủ nghĩa ngoại lai, không hợp thời, không hợp hoàn cảnh và bất khả thi. Hậu quả về mặt kinh tế là nền sản xuất bị đình trệ và phá sản, phải lệ thuộc toàn diện vào Nga, Tàu và lẽ tất nhiên về mặt chính trị là phải chịu làm lính đánh thuê để biến vùng Đông Nam Á thành vùng chịu ảnh hưởng bởi những ông chủ cuả chúng. Thanh niên nam nữ chưa xong bậc phổ thông đã phải bị tống vào Nam làm bia đỡ đạn để rồi chịu cảnh sinh Bắc tử Nam. 

Đất nước Việt Nam rơi vào cảnh nồi da xáo thịt chỉ có lợi cho ngoại bang mà nguyên nhân chính là Đảng Cộng Sản Việt Nam đã rước voi về dầy mả tổ, bôi mặt đánh chiếm miền Nam hiền hoà, thịnh vượng và văn minh để dâng lên cho quan thầy của chúng. Tội lỗi tày trời này cho đến ngàn năm trời không thể dung mà đất cũng chẳng thể tha!

Trước đó,Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã thấy được mâu thuẫn giữa các cường quốc trên thế giới thuộc hai khối Tự Do và Cộng Sản. Các ông thấy rằng dù thuộc khối nào, các cường quốc luôn đặt quyền lợi của họ lên trên hết, nên sẵn sàng mua bán, thoả hiệp với nhau trên số phận các nước nhược tiểu.

Nga đã bao đời bị nền văn minh Tây Phương đánh bại nên dùng chủ nghĩa Cộng Sản như một công cụ để tập họp các kẻ thù trong lòng các nước Tây Phương và các nước thuộc điạ để đánh bại khối Tây Phương tự do, cùng lúc phát triển khoa học, kỹ thuật rồi bước lên ngôi vị bá chủ thế giới.

Hoa Kỳ có mặt ở vùng Đông Nam Á nhằm ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản quốc tế tại đây sẽ gây nguy hại cho khối Tây Phương tự do, không cộng sản, đứng đầu là Mỹ.

Đối với Trung Cộng, đất nước Trung Hoa từng chịu nỗi nhục bị các nước Tây Phương biến thành bán thuộc địa nên họ có quyết tâm phục hưng đất nước bằng cách liên kết với khối Cộng Sản to lớn dẫn đầu bởi Nga Sô. Với sức mạnh to lớn cuả khối Cộng Sản quốc tế, nay họ dễ dàng tránh những khó khăn gây ra bởi thế giới Tây Phương, thực hiện những việc cải cách đất nước cuả mình toàn tâm, toàn ý. Song song với công việc lâu dài là thôn tính toàn thề vùng Đông Nam Á, giờ đây họ có cơ hội may mắn ngàn năm một thuở là nắm đầu được tên Cộng Sản Việt Nam đàn em cắc ké, xúi dục và hậu thuẫn chúng đánh Pháp, rồi tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam cuả hy vọng và tương lai cuả đất nước Việt Nam, dưới danh hiệu trâng tráo và bỉ ổi là cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam! Họ tính toán cẩn thận rằng khi chiến tranh làm toàn thể Việt Nam suy tàn về hai mặt vật chất lẫn tinh thần: đất nước bị tàn phá tang thương, lòng chia rẽ và hận thù giữa người Việt với người Việt sâu hơn biển Thái Bình, thì nhanh hay chậm tùy theo tình hình thế giới, việc Việt Nam bị Trung Quốc thôn tính là một điều đương nhiên và chắc chắn.

Tổng Thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu đã có viễn kiến về những điều kể trên nên có sách lược rất rõ ràng trong công cuộc xây dựng và phát triển dân tộc và đất nước cũng như cách thức ngăn chặn sự xâm nhập của cộng sản vào miền Nam. 

Hai ông biết rõ ràng rằng Nga, Tàu dùng chủ nghĩa Cộng Sản để đánh các nước Tây phương và thôn tính các nước nhược tiểu trên toàn thế giới chứ không phải là làm nghĩa vụ cao cả giải phóng loài người như từng rêu rao. Hai ông cũng rõ tận tường mục đích tối hậu cuả sự có mặt cuả Mỹ ở vùng Đông Nam Á mà điểm nóng là Việt Nam là ngăn chận sự xích hoá toàn thế giới sẽ gây phương hại cho Mỹ nói riêng và khối tự do nói chung.

Sau những phân tích về tình hình thế giới và Việt Nam, các ông thấy ra rằng lối thoát cho các nước nhược tiểu chịu cùng một lúc ảnh hưởng của nhiều nước lớn là lợi dụng các mâu thuẫn giữa các nước này để bảo vệ sự độc lập của nước nhà. Tranh thủ thời gian và nguồn vốn nước ngoài để đầu tư vào việc học hỏi khoa học, thâu thập kỹ thuật, hình thành và phát triển cách tổ chức minh bạch, ngăn nắp và lối suy nghĩ chính xác của nền văn minh Tây Phương trên mọi lãnh vực hoạt động của quốc gia, để từ đó bắt kịp trình độ khoa học, kỹ thuật của Tây Phương, rồi tiến đến một trình độ cao hơn nữa là tạo ra khả năng sáng tạo khoa học, kỹ thuật để có đóng góp xứng đáng vào nền văn minh thế giới đồng thời tạo lập cho đất nước Việt Nam một vị thế vững chãi trên trường quốc tế tương tự cách thức mà Nhật Bản đã thực hiện được.

Đối với vấn đề ngăn chận sự xâm nhập của cộng sản Bắc Việt vào miền Nam, hai ông thấy rằng muốn thắng cộng sản, thắng lợi quân sự là chưa đủ. Miền Nam phải thắng cả trên các mặt kinh tế, văn hoá, xã hội và chính trị. Và sự chiến đấu đó muốn đạt được thắng lợi bắt buộc phải được tiến hành bằng chính sự đóng góp và tham gia của người dân, đặc biệt là chính những người dân sống trong vùng bị bọn cộng sản quấy nhiễu. 

So sánh cách thức tổ chức làng xã ở miền Bắc và miền Bắc Trung phần với các tỉnh miền Nam hình thành từ cuộc Nam tiến của Chúa Nguyễn cho thấy miền Nam mặc dầu có đất đai rộng lớn và trù phú hơn nhiều, nhưng dân chúng sống rải rác và không tập hợp thành các đơn vi dân cư, hành chánh với sự gắn bó về mặt truyền thống, tập tục, tình cảm và ý thức cộng đồng.Thế mà vùng đất mới này lại có tiềm năng rất to lớn cho công cuộc xây dựng và phát triển dân tộc và đất nước sau này và phải là nơi khởi thủy cho việc đánh bại chiến lược cuả cộng sản là dùng nông thôn để bao vây thành thị.

Dựa trên các tính chất đặc thù về tự nhiên và xã hội của các vùng điạ lý khác nhau của miền Nam, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã khởi xướng quốc sách Ấp Chiến Lược, Khu Trù Mật nhằm thiết kế miền Nam thành những đơn vị hành chánh mạnh cả về năng lực sản xuất lẫn khả năng chiền đấu tự vệ hữu hiệu khi có sự xâm nhập của cộng sản vào các đơn vị hành chánh đặc biệt này. Chính sách khôn ngoan và hợp lý đó có khả năng ngăn chận sự xâm nhập cuả cộng sản một cách hữu hiệu và đáp trả các vụ xung đột quân sự một cách nhanh chóng, kịp thời mà không phải trông đợi nhiều vào sự tiếp ứng cuả các cơ quan hữu trách trung ương.

Kế hoạch minh bạch, rõ ràng, hợp lý cho việc xây dựng và phát triền miền Nam của đất nước đã được thực hiện và mang lại những kết quả khởi đầu thật tốt đẹp và đầy hứa hẹn thì thù trong giặc ngoài của chính quyền Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã cấu kết với nhau bằng cách này hoặc cách khác nhằm âm mưu lật đỗ một chính quyền dân cử hợp pháp, hơp hiến được đa số dân chúng miền Nam tin tưởng, ủng hộ và yêu mến. 

Sau những thất bại thuyết phục lẫn tạo áp lực với chính quyền Ngô Đình Diệm cho phép Mỹ đem quân đội vào chiến trưởng miền Nam, dùng hoả lực mạnh để đánh nhanh rút gọn, nhằm sớm chấm dứt chiến tranh, chính quyền Kennedy đã âm thầm mua chuộc các tướng lãnh phản trắc làm cuộc đảo chánh. Trước đó, Mỹ đã cố gắng tạo cớ cho rằng chính quyền cuả Ngô Đình Diệm không được lòng dân, đàn áp Phật giáo bằng cách dùng truyền thông đặt điều bôi xấu chế độ cuả ông, cấu kết với bọn cộng sản nằm vùng ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản và bọn đội lốt thầy tu mưu đồ chính trị để dàn những cảnh thầy tu xuống đường tự thiêu để phản đối cái gọi là “đàn áp Phật giáo”. Kịch bản hay, đạo diễn tài ba, diễn viên xuất sắc đã cho Việt Nam thưởng thức một vở bi hài kịch mà cái giá phải trả là sự mất đi độc lập cuả đất nước, tự do và hạnh phúc cuả toàn dân sau này!

Trong những ngày cuối cùng còn lại cuả nền đệ nhất Cộng Hoà, tình hình Sài Gòn rối ren, Đại sứ Nolting gợi ý đưa anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm rời khỏi Việt Nam, Tổng Thống Diệm đã tức giận từ chối thẳng thừng và cho ông ta biết là mình đang làm mọi cách để thiết lập lại trật tự ở thủ đô. Trước khi từ giã cõi đời, di vật mang theo bên mình ông chỉ là một gói thuốc lá sử dụng dang dở và một xâu chuỗi đọc kinh hằng ngày. Thế mà ông đã và sẽ mang theo mình mãi mãi sự luyến thương và tiếc nuối cuả muôn đời con dân nước Việt!

Nếu so sánh với các nguyên thủ quốc gia khác ở vùng Đông Nam Á bao gồm các nước Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Miến Điện, Phi Luật Tân, Mã Lai, Nam Dương và Singapore từ thập kỷ 50 đến tận ngày nay, chưa thấy ai qua được ông về tấm lòng yêu nước, đức liêm khiết và tài lãnh đạo đất nước vượt nguy biến. Nhìn xa hơn một chút là Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn, cũng chưa thấy ai hơn ông được.

Bây giờ hãy nhìn đến Mỹ. Từ đời Tổng Thống Kennedy đến đời Tổng Thống Obama, có biết bao chuyện nhơ nhớp về đời sống riêng tư, các trò mị dân, khai gian, luồn lách pháp luật, sử dụng thủ đoạn chính trị tồi bại, phản bội đồng minh và ngay cả bán nước! Kennedy ra lệnh giết đồng minh thì quá dễ dàng cho Nixon dâng miền Nam cho cộng sản Bắc Việt, để rồi sau này các tổng thống của Đảng Dân Chủ tay bắt mặt mừng, làm ăn với Trung Cộng, kẻ thù tiềm tàng của Mỹ và cả thế giới, thêm nữa, họ không có chính sách cứng rắn, rạch ròi ở Trung Đông, tự trói tay mình mà nhìn kẻ thù khủng bố Hồi giáo tác yêu tác quái. Qua trung gian Hilary Clinton, chính quyền Mỹ bán uranium cho Nga để được dùng vào mục đích chế tạo vũ khí hạt nhân thì có xứng đáng cấu thành tội phản quốc không? Và còn gì nhục nhã hơn việc đường đường là một tổng thống cuả một đại cường quốc, Obama phải đến thăm Việt Nam vào ban đêm như một kẻ trộm mà không được đón tiếp theo nghi thức quốc khách! Có phải một loại tội tổ tông đã được truyền lại từ đời Tổng Thống Kennedy đến các thế hệ tổng thống Mỹ sau này để hình ảnh cuả nước Mỹ luôn là phản bội, lừa lọc, xảo trá và nay lại thêm hèn hạ, xấu xa? Và phải chăng với đồng tiền, bất cứ ai cũng có thể mua đứt lương tâm và đạo đức Mỹ?

Phàm khi trong cuộc sống, con người không thề tránh được việc phạm lỗi lầm dù có hay không cố ý, và cho dù hậu quả lớn nhỏ thế nào, người làm lỗi phải biết nhận ra lỗi lầm cuả mình, ra sức chuộc lại lỗi lầm trước tiên bằng một lời xin lỗi chân thành và sau đó là khắc phục hậu quả cả về mặt vật chất lẫn tinh thần cho nạn nhân. Đó là qui luật cuả sự sống! Cuộc sống sẽ không còn bình thưởng và trôi chảy như nó phải như thế nưã cho cả hai phiá nếu như những vướng mắc do lỗi lầm gây ra không được không được giải quyết một cách thấu đáo và nhanh chóng. Trong một lỗi lầm không được giải quyết hợp lý, bao giờ cũng có đau khổ kéo dài vô lý cho nạn nhân và nghiệp chướng theo mãi kẻ phạm tội.

Hoa Kỳ là kẻ bội phản đồng minh đến mức độ có thể giết người. Họ đã cướp đi cứu tinh duy nhất cuả dân tộc Việt Nam, vì thế họ đã phạm một tội ác to lớn đối với gia đình Tổng Thống Ngô Đình Diệm và cả dân tộc và đất nước Việt Nam. Mặc dầu sau sự sụp đổ cuả miền Nam vào năm 1975, chính quyền Mỹ đã có những cố gắng giúp đỡ cho người Việt tị nạn cộng sản được tái định cư và sinh sống ở vùng đất mới nhưng đã quá nửa thế kỷ đã qua, Hoa Kỳ chưa bao giờ chính thức xin lỗi dân tộc và đất nước Việt Nam và có hành động cổ súy cho những hoạt động tiến đến xây dựng một nước Việt Nam độc lập, phát triển và văn minh. Trái lại, để lấp liếm và che đậy lỗi lầm và tội ác cuả mình, họ đã viết sách, làm phim để đặt điều, bôi bẩn, vu khống Việt Nam Cộng Hoà. Hoa Kỳ nên có những hành động thiết thực và chân thành cho cân xứng với vị thế cuả mình trên thế giới.

Với những kẻ phản trắc, tham gia trực tiếp vào cuộc đảo chánh tháng 11 năm 1963 và những cá nhân đã tạo nên con ngựa thành Troie ở miền Nam, góp phần tạo khủng hoảng chính trị vào giai đoạn này, họ cần phải sám hối về tội lội đã làm mất miền Nam, là một tiền đề cho sự mất nước vào tay Tàu cộng ngày hôm nay. Hãy trả món nợ bằng cách nói lên những sự thật lịch sử bị dấu diếm từ bao lâu nay vì chỉ có sự thật mới cứu rỗi con người.

Đối với những kẻ cam tâm làm tôi mọi cho Cộng Sản quốc tế để phá tan hoang đất nước Việt Nam như ngày hôm nay, các người có còn chút lương tâm còn sót lại cuả con người? Có bao giờ các người cảm thấy mình nợ dân tộc và đất nước Việt Nam một lời xin lỗi? Nếu câu trả lời là có, thì các người đã biết mình phải làm gì vì dầu sau, các người là những người duy nhất có phương tiện cải biến tình hình cuả đất nước.

Không ai có thể sống thanh thản mãi trong tội ác. Và nợ nần nếu không trả bằng cách này thì sẽ phải trả bằng cách khác mà thôi!


Gặp người tử tù mưu sát Tổng Thống Ngô Đình Diệm ở Hội Chợ Tết Ban Mê Thuột năm 1957

Trúc Giang MN

1* Mở bài
 

Thời gian 1957, tổng thống Ngô Đình Diệm được suy tôn là một nhà chí sĩ yêu nước, người đã thành lập nước Việt Nam Cộng Hoà. Miền Nam sống trong thời thái bình, là điều kiện để nước Việt Nam Công Hòa non trẻ phát triển về mọi mặt.
 
Hà Minh Trí đã bị nhân viên công lực bắt sau khi mưu sát TT. Ngô Đình Diệm

Tin tức về người ám sát tổng thống Diệm ở Ban Mê Thuột đã gây chấn động trong quần chúng.

Năm 1963, nhóm bạn trẻ chúng tôi đang sống và làm việc tại tỉnh Côn Sơn, rất nôn nao trước tin tức những chính khách tham gia đảo chánh ngày 11-11-1960 và người mưu sát tổng thống Diệm đã được đưa ra trại tù Côn Đảo. Nôn nao muốn được gặp mặt để thấy rõ hình dung của những chính khách đã từng được báo chí nhắc đến, đồng thời tìm hiểu thêm tin tức của người trong cuộc. Riêng đối với tử tù đã ám sát ông Diệm, câu hỏi mà chúng tôi cần có câu trả lời, anh ta là người quốc gia hay Cộng Sản?

2* Gặp người tử tù đã mưu sát tổng thống Ngô Đình Diệm

Chúng tôi muốn gặp phạm nhân mang án tử hình tên Hà Minh Trí nhưng quy định của nhà tù Côn Đảo cấm quân nhân và công chức tiếp xúc với phạm nhân, nhất là đối với tù Cộng Sản.

Người bạn của tôi, anh Nguyễn Văn Sáu, được gọi là Sáu Y Tế, vì anh là nhân viên của ty Y Tế Côn Sơn, đã có cơ hội gặp Hà Minh Trí nhiều lần.

Ty Y Tế Côn Sơn, ngoài việc chăm sóc sức sức khỏe cho công chức và quân nhân cùng gia đình của họ, còn chăm sóc sức khỏe cho tù nhân ở các trung tâm trong nhà tù Côn Đảo.

Anh Sáu thuật lại: “Hà Minh Trí là một thanh niên khoẻ mạnh, mặt mày sáng sủa dễ coi, ăn nói khá hoạt bác. Khi tôi đến gặp anh ở bàn làm việc bên ngoài chuồng cọp, anh khai bịnh: hai mắt bị mờ, nướu răng chảy máu. Đó là tình trạng thiếu dinh dưỡng. Tôi cho anh vitamine C, vitamine A&D và đa sinh tố deficiency.

Hà Minh Trí yêu cầu tôi giữ anh ta ở lại bàn làm việc càng lâu càng tốt, vì anh ta muốn hít thở không khí và tiếp nhận ánh sáng bên ngoài một thời gian lâu dài trước khi trở lại chuồng cọp.

Tôi chưa thể hiện sự chấp thuận, bèn hỏi: “Tôi thành thật hỏi anh, và cũng yêu cầu anh trả lời thành thật, anh là người quốc gia hay là người của phía bên kia?. Đối với tôi, anh là một bịnh nhân cũng như những bịnh nhân khác. Anh vi phạm luật pháp quốc gia và anh đã bị luật pháp trừng phạt, tôi không can dự vào việc đó. Tôi cũng không đưa khuynh hướng chính trị vào việc cho thuốc chữa trị người bịnh”.

Anh Sáu cho biết, Hà Minh Trí một mực khẳng định anh ta là lính Cao Đài trong Lực Lượng Bảo Vệ Toà Thánh Tây Ninh, và sau đó được cử làm phó trưởng ty Thông Tin VNCH ở Tây Ninh.

Những lần sau đó anh Sáu đã dành nhiều thời gian ở ngoài chuồng cọp cho Hà Minh Trí.

Sau ngày 1-11-1963, Hội Đồng Tướng Lãnh tuyên bố thả tù chính trị trong vụ đảo chánh hụt của đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông ngày 11-11-1960, trong đó có Hà Minh Trí. Trong thời gian chờ tàu từ Sài Gòn ra đưa về đất liền, thì Hà Minh Trí được ra khỏi nhà giam và có đến ty Y Tế cám ơn anh Sáu.
 
3* Vụ mưu sát tổng thống Ngô Đình Diệm ở hội chợ Ban Mê Thuột năm 1957

3.1. Hội chợ Tết Ban Mê Thuột năm 1957

Ban Mê Thuột tiếng Ê Đê gọi là Buon Ama Y-Thuot.

Cao nguyên Trung phần Việt Nam là vùng đất mầu mỡ chưa được khai phá, có tiềm năng rất lớn về kinh tế, hơn nữa cao nguyên giữ vị trí chiến lược quan trọng đối với miền Nam VN.

Nhiều bộ tộc thiểu số chưa phát triển cho nên vùng cao nguyên được tổng thống Ngô Đình Diệm quan tâm mở mang.

Hội chợ Tết Ban Mê Thuột năm 1957 nhằm mục đích triển lãm những máy móc phục vụ cho nông và lâm nghiệp, để đồng bào địa phương áp dụng cơ giới vào nông, lâm nghiệp, đồng thời giới thiệu những sản phẩm là thành tựu của việc phát triển cao nguyên.

Hội chợ Tết Ban Mê Thuột là một sự kiện quốc gia ở miền Trung, cho nên các địa phương nổ lực chuẩn và thực hiện rất chu đáo. Bộ Cải Cách Điền Địa, Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, Tư lệnh Quân khu 2 và các tỉnh trưởng Darlac, Pleiku, Kontum, Phú Bổn, Lâm Đồng, Tuyên Đức... tích cực góp phần tổ chức hội chợ, được đặt cái tên là “Hội chợ kinh tế đoàn kết Kinh-Thượng”.

3.2. Lễ khai mạc
 
 
  

Lễ khai mạc hội chợ Tết được tổ chức vào lúc 9 giờ sáng ngày 22-2-1957 tại Ban Mê Thuột, dưới sự chủ tọa của tổng thống Ngô Đình Diệm, thành phầm tham dự gồm các bộ trưởng và đại diện ngoại giao.

“Khán đài” là những hàng ghế đặt trên mặt đất ở giữa trời, có chiếc dù to che nắng. Tổng thống Diệm mặc quốc phục, áo dài đen, quần trắng, đầu bịt khăn đóng, ngồi trên chiếc ghế bành duy nhất ở giữa, những chiếc còn lại là ghế ngồi thường, chân gỗ.

Tổng thống Diệm ngồi giữa, bên trái ông là Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, kế đến là bà Nhu và ông Nhu, quan khách.

Quan khách tham dự rất đông, là những thành viên chính phủ, chỉ huy quân đội, thân hào nhân sĩ trung ương và địa phương, đại diện các sắc tộc người Thượng.

Trước hàng ghế chủ tọa và quan khách là một cái sân rộng để trình diễn văn nghệ và biểu diễn của đàn voi cao nguyên. Trước mặt tổng thống có một hàng những bình rượu cần của người Thượng để chiêu đãi quan khách.

Bên kia sân, đối diện với hàng ghế chủ tọa, là đồng bào tham dự, gồm các già làng, đại diện các sắc tộc, công chức và học sinh cùng quần chúng rất đông đảo vì đây là một sự kiện quốc gia có ảnh hưởng đến nhiều tỉnh trên cao nguyên.
Hai bên là đàn voi và những thiếu nữ sắc tộc chờ trình diễn ca múa văn nghệ địa phương.

3.3. Phát súng ám sát tổng thống Ngô Đình Diệm
Hà Minh Trí bị bắt ngay tại trận
 
MAT-49 (sẽ được cắt báng và nòng)

Sau khi chủ tọa và quan khách đã ổn định vị trí và an tọa, lễ chào cờ bắt đầu. Khi bài quốc ca vang lên thì bổng nhiên có hai tiếng súng nổ. Bộ trưởng Cải Cách Điền Địa bị trúng đạn, ngã xuống.

Hung thủ bị nhân viên an ninh khống chế và bắt ngay tại trận. Đó là Hà Minh Trí, 22 tuổi, trà trộn trong dân chúng dự lễ đã dùng súng tiểu liên MAT-49 mưu sát tổng thống. Hung thủ mặc sơ mi trắng, áo vét bên ngoài, thắt và vạt, khai là súng bị kẹt đạn nên chỉ bắn được có hai phát.

Sau đó, chương trình hội chợ tiến hành như đã định, tổng thống và quan khách đi thăm các gian hàng.

“Tiếng súng cao nguyên” mở đầu cho cuộc đời tù tội của Hà Minh Trí. Hung thủ bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành bản án, và sau đó bị đày ra Côn Đảo. Nhà tù Côn Đảo giam giữ hàng trăm tù bị kết án tử hình.

Trong khi ám sát tổng thống Diệm thì Hà Minh Trí không còn ở trong Lực Lượng Bảo Vệ Toà Thánh Tây Ninh của Cao Đài, mà đã thoát ly ra căn cứ kháng chiến. Tài liệu ghi như sau: “Chỉ trong nửa tháng, Hà Minh Trí đã có ba chuyến đi giữa Sài Gòn và Buôn Ma Thuột, thám sát địa thế để thiết lập kế hoạch hành động”. Đó là lý do mà sau ngày 1-11-1963, đệ nhất Cộng Hoà bị sụp đổ, Hà Minh Trí bị giữ lại để điều tra, mà không được phóng thích cùng với nhóm đảo chánh hụt ngày 11-11-1960 do đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông chủ trương.

4* Tiểu sử Hà Minh Trí
   
Hình ảnh Hà Minh Trí theo thời gian dưới chế độ CSVN 

Hà Minh Trí (tên khai sanh là Phan Văn Điền) sinh ngày 18-8-1935 tại xã Nghi Thiết, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Cha chết năm 1940. Mẹ lấy chồng khác bỏ cậu bé Hà Minh Trí cho bà nội nuôi dưỡng. Nạn đói năm Ất Dậu 1945 đã xô cậu bé 10 tuổi với bà nội mù lòa đi làm ăn mày dọc theo ven quốc lộ 1 A, thuộc huyện Diễn Châu (Nghệ An). Một chiếc xe nhà binh Nhật chạy ngang đã bắt cậu bé ăn xin nầy vào tận thành phố biển Vủng Tàu để làm chân giữ ngựa cho sĩ quan Nhật.

Khi Nhật bại trận, cậu bé làm phụ việc trong một quán ăn mà ông chủ là một cán bộ Việt Minh, ông đã nhận cậu làm con nuôi và đặt cho cái tên mới là Đinh Văn Phú. Năm 13 tuổi, Hà Minh Trí được cử vào đội Biệt Động tỉnh N2. Sau đó, bị Tây và Cao Đài bắt đưa về Tây Ninh.

Giữa năm 1953, do bị theo dõi gắt nên Hà Minh Trí rút vào căn cứ kháng chiến.

Từ mật khu, lên Ban Mê Thuột ám sát tổng thống Ngô Đình Diệm, bị bắt đưa về Sài Gòn rồi đày đi Côn Đảo. Được phóng thích, ra căn cứ Củ Chi, ôm trọn trái bom Mỹ nhưng bom không nổ, trở thành thương binh, gãy chân trái, rồi sau năm 1975 về sống ở Tây Ninh được phong chức đại tá và danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân”.


5* Con đường hoạt động của Hà Minh Trí

5.1. Năm mười ba tuổi biết ném lựu đạn khủng bố

Năm 1948, (13 tuổi) được đưa vào đội Biệt Động N2, tỉnh Bà Rịa-Vủng Tàu. nhiệm vụ ám sát những người làm việc cho Tây, Việt gian, phản động. Thành tích lẫy lừng, trích: “gây kinh hoàng cho bọn Pháp bằng những trận xuất quỷ nhập thần là ném lựu đạn vào các vũ trường và quán bar” (hết trích)

5.2. Hà Minh Trí bị bắt đưa về Tây Ninh và theo đạo Cao Đài

Cũng năm 13 tuổi, Hà Minh Trí được giao nhiệm vụ làm giao liên giữa Ủy ban kháng chiến Bà Rịa với thiếu úy trưởng đồn Cao Đài ở Bờ Đập.

Trưởng ban kháng chiến Hứa Văn Lến và trưởng ban quân báo Nguyễn Văn Bản giao nhiệm vụ đặc biệt cho Hà Minh Trí, vào đồn Cao Đài ở ngã ba Bờ Đập (nằm giữa ba xã Long Tân, Long Mỹ và Phước Hải thuộc huyện Đất Đỏ tỉnh Bà Rịa), do thiếu úy Cao Đài Phạm Ngọc Chẩn, đã chấp thuận kéo hết đại đội Cao Đài ra bưng theo Việt Minh.

Ngoài ra, Hà Minh Trí còn nhiệm vụ điều tra và vẽ bản đồ các đồn Cao Đài chung quanh đồn Bờ Đập, như các đồn Phước Hà, Nước Ngọt và đồn ngã ba Lò Vôi, để Việt Minh tấn công tiêu diệt sau khi Cao Đài Bờ Đập ra chiến khu theo Việt Minh.

Trong thời gian hai tháng ở trong đồn, tên đồn phó sanh nghi, theo dõi và mật báo cho phòng nhì Pháp ở Bà Rịa. Pháp báo về Bộ Tổng Tham mưu Cao Đài ở Tây Ninh, thế là thiếu úy Phạm Ngọc Chẩn và Hà Minh Trí bị bắt giải về Tây Ninh.

Sau hơn một tháng điều tra, Hà Minh Trí một mực khai rằng: “Trẻ mồ côi. Ở đợ chăn trâu gần đồn. Ông Chẩn dẫn quân đi tuần bắt đem về đồn. Biết tôi là trẻ mồ côi nên giữ lại trong đồn làm tạp dịch, phục vụ bưng trà nước và giặt quần áo cho ông”.

Phần thiếu úy Chẩn, vẫn một mực khai rằng: “Tên đồn phó tham ô nên bị kỷ luật, từ đó sanh ra thù oán, bịa chuyện báo cáo cho Tây, chớ gia đình tôi là đạo dòng (cha mẹ đều là Lễ sanh), anh ruột là trung tá Phạm Ngọc Trấn, tư lịnh Cao Đài miền Tây, thì làm sao tôi theo Việt Minh cho được”.

Sự việc do Tây báo cáo, căn cứ vào báo cáo của tên đồn phó, nên khó tìm chứng cớ. May mắn là trung tá Phạm Ngọc Trấn, anh ruột của Phạm Ngọc Chẩn, vốn là thầy học cũ của Trịnh Minh Thế, tư lịnh Cao Đài miền Đông, nên cả hai Chẩn và Trí được thả ra. Từ đó, Hà Minh Trí sống trong gia đình sĩ quan cao cấp Cao Đài và Trí cũng theo đạo Cao Đài.

Giữa năm 1953, bị nghi ngờ và theo dõi nên Hà Minh Trí rút ra bưng. Năm 1954 không tập kết ra Bắc, ở lại nằm vùng trong căn cứ, là đội trưởng đội ám sát mà mục tiêu là tổng thống Ngô Đình Diệm.

5.3. Âm mưu ám sát Ngô Đình Diệm ở Tây Ninh năm 1956.

Tài liệu Việt Cộng ghi như sau: “Mười Trí đeo ông Diệm từ toà thánh Tây Ninh, đến nhà thờ Đức Bà (Sài Gòn) và đến Buôn Ma Thuột”.

Năm 1956, Hà Minh Trí được trưởng ban địch tình tỉnh Tây Ninh là Lâm Kiểm Xếp (Năm Xếp) giao nhiệm vụ ám sát Tổng thống Diệm khi ông lên Tòa Thánh Tây Ninh vào ngày 20-10-1956 để ký thỏa ước Bính Thân với Cao Đài.

Do không nắm rõ chi tiết nên việc mưu sát không thực hiện được.

5.4. Âm mưu ám sát Tổng thống Diệm trong đêm Giáng Sinh năm 1956.

Căn cứ vào thói quen là cứ vào lúc 12 giờ đêm 24 tháng 12 thì Tổng thống Diệm thường đến nhà thờ Đức Bà (Sài Gòn) dự lễ Mừng Chúa Giáng Sinh. Việt Cộng quyết định ám sát ông Diệm.

Đêm Noel 1956, Hà Minh Trí được Lê Văn Của đưa vào bên trong nhà thờ. Bên ngoài, hai Việt Cộng Phan Văn Phát và Nguyễn Văn Tám đứng ở nơi có bình biến điện, khi nghe súng nổ thì cúp điện và ném lựu đạn gây hỗn loạn để tẩu thoát.

Đến 12 giờ. Lễ bắt đầu nhưng không thấy ông Diệm ở đâu cả. Qua hôm sau, đọc báo mới biết tổng thống đến cầu nguyện với giáo dân tại khu trù mật Đức Huệ, tỉnh Tân An.

Năm 1957, ám sát tổng thổng Ngô Đình Diệm ở hội chợ Ban Mê Thuột, bị bắt giải về Sài Gòn.

Từ 1957 đến 1965, bị giam giữ và kết án tử hình đày đi Côn đảo ngày 31-7-1963.
Ngày 10-3-1965 được quốc trưởng Phan Khắc Sửu phóng thích.

Ngày 13-3-1965, thoát ly ra căn cứ Củ Chi, Sài Gòn.

Tháng 4 năm 1965, công tác tại ban An Ninh T.4 khu Sài Gòn-Gia Định.
Năm 1989, giữ chức Phó ban Nội chính Tây Ninh. Năm 1992, Trưởng ban Tôn giáo Tây Ninh.

6* Cuộc đời tù tội của Hà Minh Trí

Cuộc đời tù tội của Hà Minh Trí bắt đầu từ trại giam của ty cảnh sát Ban Mê Thuột, đến trại P-42 trong sở thú (Sài Gòn), ra trung tâm thẩm vấn của Tổng Nha Cảnh Sát, khám Chí Hòa, rồi ra Côn Đảo.

6.1. Một mực cung khai

“Chính đại tá Phạm Ngọc Thảo đã trực tiếp thẩm vấn tôi trước mặt bác sĩ Trần Kim Tuyến và ông Ngô Đình Nhu”, Hà Minh Trí thuật tiếp: “Tôi là lính Cao Đài thuộc Lực Lượng Bảo Vệ Tòa Thánh Tây Ninh. Tôi ám sát Ngô Đình Diệm để trả thù cho thủ lãnh Cao Đài là Hộ Pháp Phạm Công Tắc, bị đàn áp cho nên phải chạy sang lánh nạn bên Cam Bốt, tôi cũng trả thù cho chủ tướng là Trịnh Minh Thế đã bị ông Nhu giết chết”. Hà Minh Trí khai như thế.
 
Tòa Thánh tại Tây Ninh

6.2. “Dùng kế ly gián làm đảo điên chính trường Sài Gòn”

Việt Cộng và báo chí nhà nước thường hay cường điệu hóa, thần tượng hóa những hành động gián điệp của bọn nằm vùng ở Việt Nam Cộng Hoà để tuyên truyền về tài năng của đảng CSVN.

Hà Minh Trí cho biết, “do sự chỉ đạo của đồng chí Mai Chí Thọ, phải dùng kế ly gián, nên tôi đã một mực khai báo như sau: “Tôi hành động (ám sát ông Diệm) theo chỉ thị của Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân”. Vừa nghe tôi trả lời như thế thì Ngô Đình Nhu tái mặt, ra lịnh cho ngừng ngay cuộc thẩm vấn và yêu cầu những người có mặt phải giữ kín cuộc thẩm vấn nầy. Lời khai vô cùng nghiêm trọng đối với hai ông Diệm Nhu”. (ngưng trích)

Theo tài liệu của Việt Cộng thì sau lời khai của Hà Minh Trí, thiếu tướng Mai Hữu Xuân, Giám đốc Nha An Ninh Quân Đội, và trung tướng Dương Văn Minh, Tư lịnh Biệt khu Thủ Đô, kiêm Tổng trấn Sài Gòn Gia Định, bị cho ra rìa. Nhiều tướng lãnh thân Pháp có liên hệ đến hai ông Minh và Xuân cũng chịu chung số phận.

Nội bộ chính quyền miền Nam phân hóa sâu sắc và nghi kỵ lẫn nhau. Tài liệu VC kết luận: “Kế ly gián của Hà Minh Trí đã làm đảo điên chính quyền Sài Gòn”.

6.3. Kế ly gián tào lao và vô lý

Hà Minh Trí và Việt Cộng cường điệu hóa bịa chuyện vô lý để tự hào về kế ly gián của họ, cho rằng: “Kế ly gián của Hà Minh Trí làm đảo điên chính quyền Sài Gòn”.

Hà Minh Trí khai rằng chính Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân chỉ đạo cho hắn ám sát ông Diệm.

Tào lao và ba xạo ở chỗ nầy.

Theo tiểu sử tự khai và tài liệu của VC, thì năm 1954, Hà Minh Trí không tập kết ra Bắc, mà ở lại hoạt động trong mật khu, không còn ở trong Lực Lượng Bảo Vệ Tòa Thánh Tây Ninh của Cao Đài nữa.

1). Và Hà Minh Trí cũng không có một dấu vết nào cho biết đương sự có liên hệ với Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân cả. Nếu Dương Văn Minh và Mai Hữu Xuân muốn giết ông Diệm thì phải chọn người đáng tin cậy trong đám thuộc hạ của mình, cớ sao mà phải lặn lội vào mật khu bàn thảo kế họach với một tên Việt Cộng, ở đợ chăn trâu cà lơ phất phơ như Hà Minh Trí để ám sát ông Diệm?
Vô lý!

2). Hà Minh Trí nói tầm bậy mà báo chí vẫn loan tin. Trích: “Vừa nghe tôi trả lời như thế thì Ngô Đình Nhu tái mặt và ra lịnh cho ngưng ngay cuộc thẩm vấn”.

- Ngô Đình Nhu đâu có phải là đứa con nít, mà khi nghe như thế thì tái mặt và và tin tưởng ngay, nên ra lịnh cho ngưng ngay cuộc thẩm vấn. Trái lại, với một nhân viên thẩm vấn bình thường, khi nghe như thế thì cương quyết tiếp tục thẩm vấn cho đến cùng để moi ra tất cả những tin tức làm tài liệu và làm bằng chứng. Người điều tra ít khi vội vã tin ngay những lời khai của can phạm, vì có ai “chịu cha ăn cướp bao giờ đâu?. Bị bắt quả tang, có chứng cớ rành rành mà còn chối leo lẻo là chuyện thường xảy ra.

6.4. Trại giam P-42 trong Sở Thú Sài Gòn

Báo chí mô tả P-42 là một cái hầm bí mật trong Sở thú Sài Gòn mà tù nhân gọi là địa ngục trần gian, thật ra, nó là một biệt thự thuộc bộ Canh Nông nằm bên trong thảo cầm viên (Sở thú). Không ai ngờ rằng ngôi biệt thự nằm công khai giữa nơi dân chúng tấp nập qua lại hàng ngày lại là nơi giam giữ can phạm chính trị đặc biệt.

Từ năm 1956 đến 1960, ngôi biệt thự nầy trở thành phòng điều tra của Sở Nghiên Cứu Chính Trị Xã Hội (Sở mật vụ) do bác sĩ Trần Kim Tuyến phụ trách. Có thể bên trong toà nhà có những hầm để che giấu các hoạt động thẩm vấn và giam giữ can phạm.

6.5. Hà Minh Trí sống an nhàn ở trại P-42

Hà Minh Trí thuật lại: “Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, tôi bị giam giữ ở Sở thú một năm rưởi. Thời gian nầy bọn chúng không thèm đếm xỉa gì đến tôi nữa. Tuy nhàn nhã với hai bữa cơm lưng lửng dạ dày mỗi ngày, nhưng tôi buồn thúi ruột vì không có ai để trò chuyện. Tôi giải khuây bằng cách hát. Tôi hát say sưa những ca khúc “kháng chiến”. Hát chán chê, tôi tập Yoga”.

6.6. Bài thơ “Lao Trung Lãnh Vận” của Trần Văn Hương

Nhà văn Hoàng Hải Thủy thuật lại câu chuyện của cố tổng thống Trần Văn Hương, nói về người tù Hà Minh Trí như sau: “Bị giam vào lao ít lâu, thường đêm lúc 9, 10 giờ, nghe có tiếng người ca hát văng vẳng từ xa đưa đến, giọng vô củng buồn thảm, như hờn, như oán, như khóc, như than. Ai nghe cũng đau lòng đứt ruột. Ban đầu ngỡ đó là tiếng hát của mấy ông lính canh, sau nghe kỹ lại thì đó là tiếng hát từ một xà lim cuối dãy, với giọng hát của một người trẻ tuổi. Một đêm, nghe tiếng hát, tôi xúc động làm bài thơ:
 
“Từng chập luồn sang giọng thiết tha
Đưa niềm u uất khách phòng xa
Nỉ non im nghẹn lời yêu nước,
Tê tái sầu vương hận mất nhà.
Oán dậy ào ào: cây núi đổ
Máu tuôn cuồn cuộn suối ngàn xa.
Lặng nghe não nuột người thông cảm,
Đồng bịnh cùng thương, lựa trẻ già”.
(Trần Văn Hương)

Trần Văn Hương chỉ biết người tù đó là một người cùng cảnh ngộ mà thôi.

6.7. Việt Nam Cộng Hòa biết Hà Minh Trí là Việt Cộng nên không thả

Sau cuộc đảo chánh ngày 1-11-1963, Hội đồng Tướng lãnh tuyên bố trả tự do cho những tù nhân chính trị quốc gia, đối lập với Tổng thống Diệm, Hà Minh Trí được đưa về Sài Gòn trên cùng một chuyến tàu với những người tham gia đảo chánh hụt, nhưng do lý lịch không rõ ràng, nên Hà Minh Trí bị giam giữ lại để điều tra.

Sau đó, bà Ngô Bá Thành, một luật sư thân Cộng và theo Việt Cộng, mở chiến dịch báo chí đòi thả ngay Hà Minh Trí với tư cách là đối lập Cao Đài.

Trong khi những tù chính trị quốc gia đối lập với chế độ ông Diệm trong vụ đảo chánh hụt ngày 11-11-1960 đều được thả ra hết, chỉ còn Hà Minh Trí bị giam giữ, vì Hà Minh Trí là Việt Cộng nằm vùng, đội lốt Cao Đài.

Bác sĩ Nguyễn Chữ, người bị tù Côn Đảo trong nhóm đảo chánh hụt, được cử giữ chức Chủ tịch Hội đồng Cứu xét Phóng thích Tù Chính tri, đã gọi Hà Minh Trí lên hỏi:
- “ Ồ! khoẻ không đồng chí Cộng Sản núp bóng Cao Đài? Anh mà ra tù chắc anh theo cô Kim Hưng. (trích Hà Minh Trí)

Hà Minh Trí thuật lại:

- Hắn (Nguyễn Chữ) biết tôi và cô Kim Hưng có cảm tình với nhau, và hắn cũng biết Kim Hưng là Cộng Sản. Hắn mượn câu đó để xác định tôi là Cộng Sản chớ không phải Cao Đài.

Thế là Hà Minh Trí tiếp tục ngồi tù. Mãi cho đến ngày 10-3-1965, Quốc trưởng Phan Khắc Sửu, một tín đồ Cao Đài, giáo phẩm Thượng Đầu Sư Cao Đài Tiên Thiên, ký giấy thả Hà Minh Trí. Như vậy, Hà Minh Trí ở tù 8 năm 16 ngày.
Ba ngày sau, 13-3-1965, Hà Minh Trí trở về hoạt động ở căn cứ Củ Chi, Sài Gòn.

7* Mật lịnh đánh chìm chiếc tàu chở tù ra Côn Đảo
Tàu Hàn Giang 401 - Chiếc tàu tử thần chở tù ra Côn Đảo

Câu chuyện về mật lịnh của Phủ Tổng Thống chỉ thị cho đại úy phi công Huỳnh Minh Đường, thả bom đánh chìm chiếc tàu vận tải HQ-401 chở Hà Minh Trí và tù chính trị trong vụ đảo chánh hụt ngày 11-11-1960, trên đường ra Côn Đảo.

Có hai tài liệu với nhiều bài viết khác nhau về việc nầy. Một tài liệu của Việt Cộng có mục đích cáo buộc sự độc ác của Tổng Thống Diệm, với nhiều bài viết có tựa đề rất giật gân như: “Sự thật khủng khiếp về chuyến hải trình tử thần”, “Vì sao Diệm lịnh ném bom tàu chở tù ra Côn Đảo”, “Vì sao có lịnh ném bom tàu chở tù HQ-401?”

Một tài liệu khác ở hải ngoại cho rằng Vatican và CIA âm mưu ném bom, mục đích chia rẽ giữa Phật Giáo và Công Giáo.

Nhưng cả hai tài liệu nói trên hoàn toàn sai sự thật và rất vô lý.

7.1. Mật lịnh cho đại úy phi công Huỳnh Minh Đường đánh chìm tàu HQ-401
Tài liệu Việt Cộng ghi lại như sau:

“Anh em Ngô Đình Diệm ra lịnh cho đại úy phi công Huỳnh Minh Đường ném bom đánh chìm chiếc tàu hải quân để thủ tiêu những người đối lập đang trên đường đi đày ra Côn Đảo.

Ngày 5-10-1963, đại úy phi công Huỳnh Minh Đường nhận được hai bao thơ mật, một thơ ra lịnh công tác đi ném bom, bao thơ thứ hai chỉ được mở ra khi máy bay đã cất cánh lên bầu trời. Đó là ném bom đánh chìm chiếc hải vận hạm Hàn Giang HQ-401 trên đường chở tù ra Côn Đảo. Nếu làm xong nhiệm vụ sẽ được thưởng một triệu đồng và được thăng lên chức thiếu tá.

Buổi chiều hôm đó, chiếc tàu vận tải hải quân mang mã hiệu Hàn Giang HQ-401, rời bến Sài Gòn ra Biển Đông nhắm hướng Côn Đảo trực chỉ.

Chiếc tàu chở 400 tù nhân, tài liệu VNCH công bố, có 216 người thuộc “phe VNCH” đã từng tham gia đảo chánh ngày 11-11-1960 và nhóm Nghị sĩ Caraven như thiếu tá Phan Trọng Chinh, các nghị sĩ Phan Khắc Sửu, BS Phan Quang Đán, Vũ Hồng Khanh.

Khi lên tàu, nhóm tù VNCH được sĩ quan hải quân trọng đãi, cho lên boong tàu ngắm trời mây.

Khi tàu ra biển khơi, đột ngột phe VNCH phát hiện một chiếc máy bay Skyraider Buno, số hiệu U-3465 (loại khu trục ném bom), xuất hiện ngay trên đầu, đảo một vòng.

Bỗng chiếc máy bay bật tín hiệu, đó là tín hiệu ném bom. Mọi người đang lo lắng, thì chiếc máy bay kia đảo ba vòng để chào, rồi chuyển hướng về Campuchia, bay mất dạng.” (ngưng trích)

7.2. Đại úy Huỳnh Minh Đường trở về từ Cam Bốt

Tài liệu Việt Cộng ghi tiếp, trích nguyên văn như sau:

“Lúc 15h35 ngày 16-11-1963, sân bay Tân Sơn Nhất đón một chiếc máy bay từ Campuchia sang. Đó là chuyến bay chở những sĩ quan đã từng bị Diệm truy sát, đào thoát sang Campuchia trở về. Trong đó có đại úy Huỳnh Minh Đường, đã bay “chào” những tù nhân trên chuyến tàu ra Côn Đảo ngày 5-10-1963. Đại úy Huỳnh Minh Đường thuật lại: “Chiều ngày 5-10-1963, ông bất ngờ nhận được hai phong bì đóng dấu tuyệt mật của Phủ Tổng Thống, một phong bì là mật lịnh thực hiện phi vụ đặc biệt có chữ ký của Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến. Phong bì thứ hai được chỉ thị là sau khi rời đường băng, ông Đường nhận được lịnh của hoa tiêu dưới mặt đất điều khiển chuyến bay, yêu cầu chuyển tần số liên lạc sang Phủ Tổng Thống, mã số nằm trong phong bì thứ hai.

Khi kết nối vào tần số liên lạc đặc biệt của Phủ Tổng Thống, ông Đường nhận được một chỉ thị lạnh lùng: “Ném bom đánh đắm chiếc vận tải hạm HQ-401 đang trên hải trình chở tù nhân chính trị chống chế độ, đi Côn Đảo. Nếu hoàn thành nhiệm vụ thì được thưởng một triệu đồng và được thăng lên chức thiếu tá. Ông quyết định không ném bom, bay chào mọi người rồi đào thoát sang Campuchia”. (hết trích)

Câu chuyện về đại úy Huỳnh Minh Đường còn nhiều bí ẩn. Sự thật đại úy Đường có bay qua Cam Bốt tỵ nạn chính trị, và cũng đã về VN cùng chung với đại tá Nguyễn Chánh Thi và Vương Văn Đông.

Nhưng có hai tài liệu khác nhau. Tài liệu một cho rằng sau đó, đại úy Đường bị cho giải ngũ, về bán bánh mì nuôi gia đình và bị ám sát tại nhà ở ngã tư Bảy Hiền.

Tài liệu hai cho biết đại úy đường đến Mỹ định cư ở bang Washington và qua đời vào năm 2001.

Tài liệu VC cho rằng đại úy Đường ném bom giết Hà Minh Trí. Hà Minh Trí ám sát ông Diệm, làm cho bộ trưởng Canh Nông bị thương, toà kết án tử hình, thì cứ đem ra bắn là hợp pháp, cần gì phải ném bom giết quân nhân của mình?.

8* Nói về tù nhân trên tàu HQ-401 đến Côn Đảo

Ngay khi đến Côn Sơn, những tù chính trị quốc gia được cho ra ăn ở và làm việc trong các ty, sở hành chánh Côn Sơn. Họ không bị giữ trong trại giam. Có hai nhóm, nhóm dân sự và nhóm quân nhân.

1). Nhóm quân nhân thuộc binh chủng nhảy dù được ra ăn ở tại nhà của anh Nguyễn Văn Đồng, trưởng ty tiểu học, gồm có: đại úy Nguyễn Thành Chuẩn, trung úy Nguyễn Vũ Từ Thức, tr/u Nguyễn Bá Mạnh Hùng, và một vài người nữa không nhớ tên. Nhà ở Côn Sơn do Pháp xây cất nên ngoài toà nhà chính ra, còn có một số phòng phía sau làm nhà kho, nhà bếp và chứa những dụng cụ cần thiết, vì thế có chỗ ngủ cho khoảng 10 người.

Thiếu tá Phan Trọng Chinh không ra Ty Tiểu học cho nên không biết tin tức.

2). Nhóm chính trị được đưa ra làm việc ở Ty Y Tế Côn Sơn, gồm có: BS Phan Quang Đán, ông Phan Bá Cầm (Hoà Hảo), Trương Bảo Sơn, Phan Đình Nghị và Vũ Đình Lý. Hai ông Nghị và Lý thuộc các tổ chức miền Trung. BS Phan Quang Đán tham gia khám bịnh cho quân nhân, công chức tại ty Y Tế Côn Sơn.
Trúc Giang tôi không gặp Phan Khắc Sửu, Vũ Hồng Khanh, Bùi Lượng nên không biết tin tức về họ.

Những tù nhân đảo chánh bắn đại liên và súng cối vào Dinh Độc Lập mưu sát tổng thống Diệm mà khi ra Côn Đảo đã được đối xử tử tế như thế, cho thấy ông Diệm không phải là người nham hiểm, độc ác, âm mưu trả thù đối với những người cố ý giết mình.

3). Hà Minh Trí bị giam ở chuồng cọp.

Những tù nhân chính trị nguy hiểm mang án tử hình thì bị giam ở chuồng cọp. Chuồng cọp là những dãy phòng nằm sâu dưới nền nhà, phía trên có song sắt. Mỗi phòng dài 2.5m, rộng 1.45m giam giữ một người. Phòng nầy cách phòng kia bằng một bức tường nên tù nhân không liên lạc với nhau được. Đi trên nền nhà, giữa hai song sắt, giám thị cải huấn có thể quan sát được hai phạm nhân dưới hai hầm cùng một lúc. Mọi sinh hoạt: ăn ngủ, tiểu tiện đều ở trong phòng biệt giam đó. Cửa ra vào các “chuồng cọp” ở dưới nền nhà.
 
Song sắt là phần trên nóc của mỗi phòng biệt giam
 

 

4). Tổng quát về Côn Sơn


Quần đảo Côn Sơn, trước kia có tên Pháp là Poulo Condor, rồi Côn Đảo. gồm 16 đảo, diện tích 76Km2. Ngoài đảo Côn Sơn lớn nhất, 50Km2, còn có những đảo nhỏ như các đảo: Hòn Bà, Hòn Cau, Hòn Tài Lớn, Hòn Tài Nhỏ, Hòn Trứng, Hòn Bãi Cạnh, Hòn Bông Lan, Hòn Trác Lớn, Hòn Trác Nhỏ, Hòn Tre, Hòn Vung...

Vào những năm 1960, Côn Sơn là một trại tù với bộ máy hành chánh cấp tỉnh phục vụ công tác cải huấn. Cũng có đầy đủ các ty, sở như các ty: Công Chánh, Kiến Thiết, Tiểu Học, Y Tế, Cảnh Sát, Ngân Khố, Thông Tin, Canh Nông, Bưu Điện, một nhà máy điện, một đài khí tượng, một trường trung học đệ nhất cấp... Không có thường dân trên đảo. Một tiểu đoàn Địa Phương Quân giữ an ninh cho đảo.

Mỗi gia đình công chức được xin một phạm nhân ra giúp việc trong nhà: đi chợ, nấu ăn, trồng rau...thường thì được thưởng tiền hàng tháng.

Không có điện thoại và báo chí, không có rạp ciné, không có những bóng hồng đối tượng của những chàng trai độc thân, cho nên độc thân vẫn độc thân suốt thời gian sống ở đảo. Đời sống Côn Sơn hầu như cách biệt với đất liền. Mỗi tháng có hai chuyến tàu tiếp tế ra đảo, như thế công chức được nhận thơ từ trong đất liền ra đảo, hai lần trong một tháng. Người ta trông tàu ra, cảm thấy vui mừng khi nghe tiếng trống báo hiệu tàu đến để nhận thơ và quà.

5). Người tù Côn Đảo

Nhà tù Côn Đảo giam giữ những phạm nhân bị kết án 5 năm trở lên. Khi đến nhà tù thì phạm nhân không còn bị tra khảo hay đánh đập gì nữa cả. Có hai loại tù: thường phạm (tù hình sự) và chính trị phạm. Tù chính trị gồm có chính trị quốc gia và chính trị Cộng Sản.

Án tù cũng chia làm hai loại: tù khổ sai và tù cấm cố. Tù cấm cố mơ ước được làm tù khổ sai để được “xuất ngoại”, tức là ra ngoài làm lao động, sáng ra tối vào trại. Ra ngoài được hít thở không khí trong lành, được cử động tay chân, tắm nắng...Tù cấm cố thì luôn luôn suốt năm ở trong trại.

9* Những điều vô lý của mật lịnh đánh chìm tàu

9.1. Vô lý #1: Tàu chở tù ra Côn Đảo vào ngày 31-7-1963 chớ không phải ngày 5-10-1963.

Trong thời gian đó, Trúc Giang tôi đang ở Côn Sơn, đã tiếp xúc với nhóm đảo chánh hụt suốt thời gian gần nửa năm. Bác Sĩ Phan Quang Đán đã dạy Anh Văn cho tôi và người bạn là Sáu Y Tế (Nguyễn Văn Sáu thuộc ty Y Tế Côn Sơn).

Một người bạn gái của anh Sáu ở Sài Gòn viết thơ ra nhờ giúp đở cho đại úy Nguyễn Thành Chuẩn ở tù vì tham gia đảo chánh hụt. Sau nầy, ông Chuẩn thăng đại tá, chỉ huy trưởng Biệt Động Quân Biên Phòng Vùng 3 Chiến Thuật.

Võ sư Phạm Lợi dạy Judo cho anh Sáu Y Tế và đã cùng với trung úy nhảy dù Nguyễn Bá Mạnh Hùng tập dượt Judo để trình diễn màn võ thuật, qua một vở kịch ngắn, trong ngày lễ chào mừng Ngày Quốc Khánh 26-10-1963 tại sân vận động Côn Sơn.

Nhiều bài viết xác định tàu HQ-401 khởi hành ngày 5-10-1963 là hoàn toàn sai, vì từ 5-10-63 đến 1-11-63 thời gian chỉ có một tháng thôi, mà thực tế chúng tôi đã tiếp cận với những người nầy trong thời gian 4 tháng.

9.2. Vô lý thứ #2. Trích cái vô lý như sau:

“Phe VNCH phát hiện một máy bay Skyraider Buno số hiệu U-3465 (loại khu trục ném bom), xuất hiện trên đầu họ”. (ngưng trích).

Cha nội tác giả bài nầy nói dốc vô lý. Đó là, làm sao mà người trên tàu đọc được số hiệu U-3465 cho được? trong điều kiện chữ khổ nhỏ, bay nhanh, khoảng cách rất xa giữa tàu và phi cơ trên trời cao?

9.3. Vô lý thứ #3. Trích điều vô lý như sau:

“Khi lên tàu, nhóm tù “VNCH”, được sĩ quan hải quân trọng đãi, cho lên boong tàu ngắm trời mây”

Sự thật là không có tù nhân nào được lên boong tàu cả, vì không có boong tàu dành cho hành khách, mà tất cả tù nhân bị còng chân, ngồi xếp hàng từng dãy có trật tự, đó là nguyên tắc an ninh của nha Cải Huấn.

Việc áp giải tù ra Côn Đảo do nha Cải Huấn phụ trách. Thủy thủ mọi cấp không được xía vào công việc an ninh của nha Cải Huấn.

Còng chân để giữ trật tự, an ninh. Tránh những trường hợp như: nổi loạn trên tàu, nhảy xuống sông, nhảy xuống biển hoặc giết nhau do thù oán cá nhân...

Tàu đi ra biển nào cũng phải theo con sông Sài Gòn, sông không to lớn lắm, đi qua rừng Sác rồi ra biển qua cửa Cần Giờ.

Việc áp giải tù nhân luôn được giữ bí mật, từ khám Chí Hoà đến khi xuống tàu không được tổ chức nơi bến công cộng có nhiều người trông thấy. Tàu hải quân có bến trong Hải Quân Công Xưởng (Sở Ba Son), là căn cứ quân sự của hải quân.

9.4. Kịch bản của Hà Minh Trí dở ẹt

Sở mật vụ và ông Nhu muốn giết một người tù thì dễ như trở bàn tay, có cả chục, cả trăm cách hợp pháp và hợp lý, tù bị kết án tử hình thì cứ đem pháp trường thi hành bản án là xong ngay, cần gì phải thực hiện hai cái bao thơ gọi là tuyệt mật rất vô lý, bởi vì buổi chiều ngày 5-10-1963 đại úy Đường nhận được hai bao thơ để đánh chìm chiếc tàu vào buổi chiều cùng ngày. Một sĩ quan, một cá nhân, không thể tự ý nạp bom vào phi cơ, rồi chờ cho đúng giờ tàu ra cửa biển để bay đi đánh chìm. Ai ai cũng biết là phòng hành quân ra lịnh thì phi vụ mới tiến hành được, nhất là quy luật an ninh của Không Quân, sau vụ ném bom của Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử ngày 27-2-1962, thì mỗi phi vụ phải có ba chiếc để canh chừng lẫn nhau.

Trường hợp trung úy Việt Cộng nằm vùng Nguyễn Thành Trung, phi vụ cũng 3 chiếc, nhưng ông nằm vùng nầy lấy cớ trục trặc kỹ thuật gì gì đó để cất cánh chậm năm bảy phút, rồi đến thả bom xuống dinh Độc Lập ngày 8-4-1975.

Kịch bản của Hà Minh Trí như trên, tào lao là vậy.

Phủ Tổng Thống ra điều kiện thăng thưởng trên chuyến bay, thăng lên thiếu tá, thưởng một triệu đồng cho việc đánh chìm chiếc tàu HQ/VNCH là tự xác nhận mình vi phạm luật pháp, tội lớn nhất là giết binh sĩ của mình, phá hủy tài sản của mình, đó không phải là tác phong của sở mật vụ và của hai ông Diệm-Nhu.

Ở thời điểm những năm 1960, HQ/VNCH chỉ có 7 chiếc hải vận hạm mang số từ HQ-400, 401, 402, 403, 404, 405 và 406 do Mỹ chuyển lại trong nhiều đợt. HQ-401 là tàu chở quân đổ bộ đường biển, loại trung bình, thường gọi là tàu đầu bằng há mõm, được Mỹ chuyển giao năm 1956, tên gốc của nó là LSM-110. (LSM=Landing Ship Medium). Thủy thủ đoàn gồm 58 người. Hạm trưởng là Hải quân đại úy Nguyễn Văn Hớn (sau lên đại tá), hạm phó là HQ trung úy Lê Thành Uyển.

Sinh mạng của 58 người nầy không phải là người bình thường, mà là những người được đào tạo, huấn luyện, cho đi tu nghiệp và trải qua những thời gian dài thu thập kinh nghiệm để vận hành con tàu. Thủy thủ đoàn là những chuyên viên kỹ thuật của nhiều ngành nghề khác nhau. Con tàu và thủy thủ đoàn là một tài sản vô cùng quý báu của quốc gia trong thời gian đó, có nhiều tiền cũng không mua được, có xin thì cũng không được Mỹ cho ngay tức khắc. Mang một tài sản quý báu cộng thêm một triệu đồng tiền thưởng để giết một tử tù thì thật là một câu chuyện tào lao, bá láp. Khi toà đã kết án tử hình thì muốn đem ra thi hành bản án lúc nào mà không được?

Những người đã từng mưu sát ông Diệm như Hà Thúc Ký, lãnh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng, đã lập chiến khu Ba Lòng chống chế độ, đã tàng trữ vũ khí để mưu sát ông Diệm, bị tù nhưng vẫn còn sống sau đó. Trung úy Phạm Phú Quốc cùng với thiếu úy Nguyễn Văn Cử đã dội bom mục đích giết cả gia đình ông Diệm, bà Nhu bị té gãy tay khi chạy xuống hầm, Dinh Độc Lập bị sập phân nửa, thế nhưng cả ông Hà Thúc Ký và Phạm Phú Quốc vẫn còn sống nhăn sau khi ông Diệm chết.

Những điều đó chứng tỏ tổng thống Diệm không phải là người hiếu sát, thù cá nhân và nham hiểm.

Và kịch bản của Hà Minh Trí là dở ẹt, tào lao, bá láp và vô lý. Chỉ có những đầu óc thiếu học mới nghĩ ra cái quái thai đó mà thôi.

10* Kết luận

Hà Minh Trí là Việt Cộng đội lốt Cao Đài, mà mục đích hành động là ám sát tổng thống Ngô Đình Diệm. Đã ba lần mưu sát ông Diệm. Báo chí Việt Cộng thổi phồng quá mức “Kế ly gián của Hà Minh Trí làm đảo điên chính quyền Sài Gòn”

Kịch bản mật lịnh cho đại úy phi công Huỳnh Minh Đường đánh chìm tàu HQ-401 chở tù đi Côn Đảo trong đó có Hà Minh Trí, là một kịch bản rất tồi, rẻ tiền và vô lý, khó tin được. Một chi tiết đáng buồn cười là lá thơ tuyệt mật của Phủ Tổng Thống có hai chữ ký của Ngô Đình Nhu và Trần Kim Tuyến. Thơ của Phủ TT thì Ngô Đình Nhu ký tên thì đúng, chớ mắc mớ gì mà BS Trần Kim Tuyến lại ký thêm vào đó? Dốt đặc cán búa!

Tài liệu còn rất nhiều chi tiết sai sự thật. Nhóm tham gia đảo chánh hụt chỉ có 32 người chớ không phải là 216. Nhóm Caravelle không phải là nhóm nghị sĩ, Phan Khắc Sửu và Phan Trọng Chinh không phải là nghị sĩ, và nhóm Caravelle không tham gia đảo chánh ngày 11-11-1960. BS Phan Quang Đán không thuộc nhóm Caravelle.
 
(Nhóm Caravelle gồm 18 chính khách đối lập, lấy tên là nhóm Tự Do Tiến Bộ, họp báo tại khách sạn Caravelle ngày 26-4-1960 để phổ biến Bản Tuyên Cáo tố giác chính quyền độc tài và đề nghị tổng thống Diệm thay đổi chính sách. Trưởng nhóm là ông Trần Văn Văn. Các thành viên gồm có: Trần Văn Văn, Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Nguyễn Lưu Viên, Lê Ngọc Chấn, Huỳnh Kim Hữu, Phan Huy Quát, Trần Văn Đổ, Trần Văn Tuyên, Trần Văn Lý, Nguyễn Tăng Nguyên, Nguyễn Tiến Hỷ, Lê Quang Luật, Phạm Hữu Chương, Tạ Chương Phùng, Trần Lê Chất, Lương Trọng Tường và linh mục Hồ Văn Vui).

Một anh thất học, 5 tuổi cha chết, 10 tuổi dẫn dắt bà nội mù lòa đi ăn mày, 13 tuổi đi ném lựu đạn vào vũ trường, quán bar, rồi sau đó đi “làm cách mạng” thử hỏi thời gian đâu mà học với hành? Với trình độ đó, thì kịch bản cũng ở trình độ đó thôi. 


Trúc Giang MN


Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm

  • 27 tháng 10 2017
Lee Harvey OswaldBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLee Harvey Oswald từng sống ở Liên Xô và lấy vợ là một phụ nữ từ thành phố Minsk

Một số văn bản được giải mật vừa nêu ra các chi tiết mới xung quanh vụ ám sát Tổng thống John F Kennedy, theo các báo Anh và Mỹ.

Về Lee Harvey Oswald

Chỉ hai ngày sau vụ bắn chết Tổng thống Kennedy, Lee Harvey Oswald, một cựu lính Thủy quân Lục chiến, và tự nhận là người Marxist, bị bắn chết trong căn hầm của Sở Cảnh sát Dallas.

Một bản ghi nhớ cho hay FBI đã cảnh báo với cảnh sát về một đe dọa giết với Lee Harvey Oswald.

"Ngay lập tức, chúng tôi báo với ngài cảnh sát trưởng và ông ta đảm bảo với chúng tôi rằng Oswald sẽ được bảo vệ đầy đủ", Giám đốc FBI, ông J Edgar Hoover viết.

Hoa Kỳ giải mật hết hồ sơ vụ ám sát Kennedy

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Trong các tài liệu hiện đang được nghiên cứu, có phát hiện rằng một biên bản của CIA gợi ý rằng Oswald đã nói chuyện với một sỹ quan KGB ở Đại sứ quán Liên Xô tại Mexico City. Biên bản ghi nhớ này nói viên sỹ quan đối thoại với Oswald làm việc cho bộ phận "chuyên lo về phá hoại và ám sát".

Một ghi nhớ khác viết các quan chức Liên Xô lo ngại "một viên tướng vô trách nhiệm" có thể phóng hỏa tiễn nhắm vào Liên Xô sau khi Tổng thống Kennedy chết.

Biết trước 25 phút?

Một điện tín từ Anh của CIA nói phóng viên một tờ báo địa phương ở nước Anh, tờ Cambridge News, đã nhận được một cú điện thoại nặc danh nói chuẩn bị có "tin lớn" (some big news) bên Mỹ trước khi xảy ra vụ ám sát.

JF KennedyBản quyền hình ảnhBETTMANN/GETTY IMAGES
Image captionTổng thống John F Kennedy và phu nhân trên chiếc xe đi qua thành phố Dallas ngày ông bị bắn chết

Đúng 25 phút sau đó, ông Kennedy bị bắn chết ở Dallas, Texas.

Bốn ngày sau vụ ám sát, văn bản ngày 26/11/1963 của Giám đốc FBI gửi cho Giám đốc Bộ phận phản gián của CIA James Angleton viết:

"Một điện tín từ bộ phận CIA tại London cho hay một phóng viên Anh làm việc cho tờ Cambridge News, vào đúng ngày 22/11/1963, đã nhận được cú điện thoại nặc danh nói cần báo cho Sứ quán Mỹ là sắp có "tin lớn" (big news). Theo tính toán của Tình báo Anh, MI-5, thì chỉ 25 phút sau, ông Kennedy bị hạ sát. Phóng viên này là người có uy tín và nói ông chưa bao giờ nhận được điện thoại kiểu như vậy."

Một bản khác của ghi nhớ này được Viện Lưu trữ Quốc gia tại Hoa Kỳ công bố hồi tháng Bảy năm nay nhưng không ai chú ý đưa tin.

Tuy thế, cũng có các bản ghi nhớ khác nói có người ở Mỹ "nghe được ai đó đặt cược" rằng tổng thống Kennedy sẽ bị giết trong vòng 3 tuần.

Ông bị bắn chết 10 ngày sau khi lời nói đó được ghi nhận.

Moscow lo ngại

Theo đài phát thanh National Public Radio ở Hoa Kỳ hôm 27/10/2017 thì các tài liệu giải mật cho thấy Moscow thực sự lo ngại về tình hình sau khi ông Kennedy bị giết.

Văn bản được giải mật viết: "Theo nguồn tin của chúng tôi, các quan chức Đảng Cộng sản Liên Xô tin rằng có một âm mưu được tổ chức hết sức là tốt bởi những kẻ cực hữu (ultraright) ở Hoa Kỳ để tạo ra một vụ đảo chính".

Họ cũng có vẻ đã tin rằng vụ ám sát không thể là do một cá nhân gây ra mà nảy sinh từ một nghị trình có nhiều người tham gia."

Sự nghiệp Fidel Castro

'The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

Liên Xô cũng lo ngại vụ ám sát sẽ được dùng để thổi lên thái độ chống cộng sản tại Mỹ, nhằm "ngăn lại các cuộc đàm phán với Liên Xô, và để tấn công Cuba rồi đẩy chiến tranh lan rộng ra sau đó."

Theo trang NPR, sỹ quan phụ trách KGB ở New York City, Boris Ivanov, mô tả cái chết của Kennedy "là vấn đề cho cơ quan của ông ta".

Ông Ivanov nói ông tin rằng có một âm mưu gây ra cái chết của Tổng thống Mỹ và KGB cần tìm hiểu điều gì thực sự đã xảy ra và rằng KGB cần "xác định Tổng thống kế nhiệm Lyndon Johnson là người thế nào".

Tổng thống Dwight Eisenhower và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm tới Washington năm 1957Bản quyền hình ảnhUNIVERSAL HISTORY ARCHIVE/UIG VIA GETTY
Image captionTổng thống Dwight Eisenhower và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm tới Washington năm 1957

Mối liên hệ của Lee Harvey Oswald với Liên Xô là có thật.

Người này từng sang sống ở Liên Xô từ 1959 đến 1962 và lấy vợ là một phụ nữ ở Minsk.

Các kế hoạch ám sát khác

Văn bản từ 1975 mô tả các âm mưu, kế hoạch ám sát lãnh đạo nước ngoài, gồm Fidel Castro, và các bàn luận về chuyện ám sát của nhà lãnh đạo Congo Patrice Lumumba và nhà lãnh đạo Indonesia, Tổng thống Sukarno.

Theo trang New York Post và Politico thì Giám đốc CIA thời Johnson, ông Richard Helms, lưu lại các câu nói rằng bản thân Tổng thống Johnson từng nói John F Kennedy "bị giết vì đã cho giết nhà lãnh đạo Việt Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm".

Nguyên văn câu tiếng Anh là "Lyndon Johnson claimed Kennedy assassination was payback for killing of Vietnamese leader," cho thấy theo ông Johnson, có sự trả thù nào đó ở đây.

Tuy nhiên, các báo Mỹ trích nguồn giải mật cho rằng đây chỉ là "một trong nhiều thuyết âm mưu" mà ông Johnson không hề ngại ngùng nêu ra.

Ông Helms, người phục vụ cả hai đời Tổng thống Johnson và Nixon, cũng nói hồi tháng 4/1975 rằng theo lời ông Johnson vụ giết ông Kennedy là "vụ trả thù của thế lực nước ngoài".

Các báo Mỹ hôm 27/10/2017 nhắc lại rằng "nhà lãnh đạo độc đoán của Nam Việt Nam bị bắt và hạ sát năm 1963 trong vụ đảo chính do Hoa Kỳ hỗ trợ".

Tướng Dương Văn MinhBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTướng Dương Văn Minh trong ảnh chụp ngày 31/01/1964 tại Sài Gòn. Ông Minh là một trong các sỹ quan VNCH ủng hộ cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm

Còn theo trang CNN, nội dụng lời của cựu Giám đốc Richard Helms lại nói ông nghĩ rằng "Tổng thống Richard Nixon từng tin là CIA đứng đằng sau vụ giết Tổng thống Nam Việt Nam Ngô Đình Diệm, người bị giết trong vụ đảo chính có liên quan đến CIA".

Tổng thống Kenned

y

 b giết  vì hậu quả giết TT Diệm-10 tiết lộ sốc trong tài liệu mật về vụ ám sát  TT Kennedy

authorThanh Minh Chủ Nhật, ngày 29/10/2017 08:00 AM (GMT+7)

(Dân Việt) Từ các mảng ghi chép viết tay, bản ghi nhớ, bản ghi chép phỏng vấn và báo cáo tình báo trong vụ ám sát Tổng thống Mỹ Kennedy- rất nhiều trong số đó đã vén lên những bức màn bí mật được giấu kín nhiều năm nay.

 10 tiet lo soc trong tai lieu mat ve vu am sat tong thong kennedy hinh anh 1

Tổng thống Mỹ Kennedy.

Chính phủ Mỹ đã công bố hơn 2.800 tài liệu liên quan tới vụ ám sát cựu Tổng thống John F. Kennedy tại thành phố Dallas, bang Texas ngày 22.11.1963, tuy nhiên một số thông tin được coi là "an ninh quốc gia" không được công bố.

Trước sức ép của FBI và CIA, Tổng thống Trump đã ra lệnh cho các cơ quan chính phủ nghiên cứu các tài liệu chưa được công bố vì lý do an ninh quốc gia trong vòng 180 ngày tới nhằm xác định xem những tài liệu trên có cần phải tiếp tục giữ bí mật với công chúng hay không. 

 Năm 1992, Quốc hội Mỹ đã yêu cầu công khai với công chúng toàn bộ những ghi chép liên quan tới cuộc điều tra về cái chết của cựu Tổng thống Kennedy, đồng thời ra thời hạn cuối cùng công bố tất cả các tài liệu về cuộc điều tra này vào ngày 26.10.2017

1. Cơ quan tình báo Liên xô KGB tin rằng có một âm mưu được tổ chức hoàn hảo sau vụ ám sát Tổng thống John F Kennedy JFK. Tháng 12 năm 1966, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) J. Edgar Hoover đã chuyển một bản ghi nhớ tới Nhà Trắng mô tả phản ứng của các quan chức Liên Xô và Đảng Cộng sản đối với vụ ám sát của Kennedy. Bản ghi nhớ nói rằng theo nguồn tin của FBI, các viên chức Cộng sản tin rằng có một âm mưu tinh xảo được tổ chức tốt sau vụ ám sát.

Không chỉ vậy, tài liệu còn nói "Nguồn tin của chúng tôi cho biết thêm rằng trong các hướng dẫn từ Moscow, chỉ ra rằng ... KGB đang sở hữu dữ liệu cho thấy Tổng thống Johnson chịu trách nhiệm về vụ ám sát."

Về mặt tốt, Liên Xô tuyên bố không có liên hệ với Oswald, người mà họ coi là một "kẻ điên loạn thần kinh, người đã không trung thành với đất nước của mình và mọi thứ khác".

 10 tiet lo soc trong tai lieu mat ve vu am sat tong thong kennedy hinh anh 2

Nhiều tài liệu viết tay được lưu lại trong kho tài liệu mật về vụ ám sát Kennedy.

2. Oswald- nghi phạm vụ ám sát đã nói chuyện với một quan chức của KGB chỉ hai tháng trước khi ám sát Tổng thống Kennedy.

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1963, CIA đã chặn cuộc gọi của Oswald tới đại sứ quán Nga ở Mexico City. Trong cuộc điện thoại này, Oswald có thể bị nghe nói " tiếng Nga" với lãnh sự Consul Valeriy Vladimirovich Kostikova, một "sĩ quan KGB được xác định", theo tài liệu.

3.  Một nhân viên tình báo của Cuba biết Oswald, và ca ngợi khả năng bắn của hắn ta.

Tài liệu lưu lại bản điện toán năm 1967 kể lại một người đàn ông tên là Angel Ronaldo Luis Salazar đã bị thẩm vấn tại đại sứ quán Cuba tại thành phố Mexico năm trước bởi Ramiro Jesus Abreu Quintana, một nhân viên tình báo Cuba, về vụ ám sát Kennedy. Trong cuộc thẩm vấn, Salazar tuyên bố ông đã nhận xét rằng Oswald đã có cú bắn tốt. Abreu cũng trả lời rằng: "Ồ, anh ấy khá tốt ... Tôi biết anh ấy."

4. Một người nào đó từ FBI đã gọi điện cho Oswald trước ngày ám sát.

Trong một tài liệu ngày 24 tháng 11 năm 1963, J. Edgar Hoover đã cân nhắc nghiêm túc về vụ bắn chết Oswald của cảnh sát Jack Ruby ngày hôm đó. Hoover cũng đã nhắc lại một cuộc gọi từ văn phòng của FBI tại Dallas từ một người đàn ông nói rằng, ông ta là thành viên của một ủy ban được thành lập để giết Oswald. Theo Hoover, FBI kêu gọi cảnh sát Dallas bảo vệ tên sát nhân, nhưng cuối cùng Ruby vẫn bắn gục Oswald.

 10 tiet lo soc trong tai lieu mat ve vu am sat tong thong kennedy hinh anh 3

5. Chính phủ Mỹ đã tranh luận về việc thuê mafia để giết lãnh tụ Cuba Fidel Castro, hoặc trả tiền cho những tay sát thủ Cuba làm điều đó.

Theo văn bản này, CIA đã tham gia các kế hoạch nhằm thủ tiêu lãnh tụ Fidel Castro ngay từ những năm 1959 và 1960 (Cách mạng Cuba thành công năm 1959). Nói cách khác, CIA đã tiến hành những kế hoạch này song song với việc chuẩn bị cho cuộc đổ bộ xâm lược Cuba tại bãi biển Girón vào tháng 4. 1961.  

        Theo một văn bản khác cũng vào năm 1975 nói về sự tham dự của CIA trong những kế hoạch ám sát các lãnh đạo nước ngoài, Bộ trưởng Tư pháp Mỹ khi đó là Robert Kennedy – anh trai của cố Tổng thống Kennedy – có biết về một kế hoạch tìm kiếm một tay súng bắn tỉa để nhắm vào lãnh tụ Fidel Castro. Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Robert đã thông báo cho FBI rằng một đơn vị tình báo đã tiếp cận tay trùm xã hội đen Sam Giancana với đề nghị 150.000 USD để tên này tìm thuê một tay súng nói trên.  

Tương tự, một bản bị vong lục của FBI năm 1964 mô tả một cuộc họp tại Florida đã đồng ý giải ngân 100.000 USD để sát hại lãnh tụ Fidel, 20.000 USD để làm việc tương tự với Bộ trưởng Quốc phòng khi đó và Chủ tịch Cuba hiện nay Raúl Castro, hay “Người du kích anh hùng” Che Guevara.  

Một văn bản khác đề cập tới một dự án của CIA lập ra một hệ thống thù lao do việc “giết hại hoặc bắt sống những người Cộng sản Cuba có tiếng”, trong đó bất kỳ ai đưa được “bằng chứng thuyết phục về cái chết” cùng Thẻ đảng của nhân vật bị sát hại sẽ được nhận thù lao theo “bảng giá”: 100.000 USD cho một lãnh đạo cấp chính phủ và 57.500 USD cho cán bộ cấp vụ trưởng. 

Hai trong số các âm mưu được kể lại nhắm vào sở thích lặn của Tổng Tư lệnh Fidel Castro. Một trong số này, vốn đã được công bố trong một số lần giải mật trước đây, là việc tận dụng quan hệ bè bạn của lãnh tụ Fidel với luật sư người Mỹ William Donavan, nguyên mẫu cho nhân vật chính của bộ phim đình đám “Người đàm phán”, để ông này tặng Chủ tịch Cuba một bộ đồ lặn có tẩm độc bằng một loại nấm gây bệnh da liễu và vi khuẩn lao phổi.  Tuy nhiên, ông Donavan đã không tuân theo những chỉ thị của CIA và đã tặng một bộ đồ lặn kỷ niệm không nhiễm độc.  

Những âm mưu khác được đề cập trong đợt giải mật lần này bao gồm dự định gài mìn vào sò biển cỡ lớn tại các khu vực mà lãnh tụ Fidel Castro hay lặn, hay tìm cách tiêm thuốc độc ông bằng một chiếc bút bi có giấu mũi kim tiêm. 

 10 tiet lo soc trong tai lieu mat ve vu am sat tong thong kennedy hinh anh 4

Hiện trường trên chiếc xe Tổng thống Kennedy ngồi cùng vợ lúc bị ám sát.

6. Một người đàn ông bí ẩn được gọi là "El Mexicano" (được cho là một đội trưởng đội quân nổi dậy của Cuba) có thể đã đi cùng nghi phạm Oswald ở Mexico City.

Một tài liệu của CIA có chứa ghi chú viết tay cho biết Oswald có thể đã đi cùng với một người đàn ông tên là "El Mexicano", người được cho là đã từng là một chỉ huy trong quân đội Cuba, sau này đào thoát sang Mỹ. Người này cũng được xác định là người đứng đầu một trại huấn luyện chống lại Castro ở Louisiana.

7. Tổng thống Lyndon thường nói rằng vụ ám sát ông Kennedy là hậu quả từ  vụ ám sát ông Ngô Đình Diệm.

Tháng 4 năm 1975, tại Philadelphia, Richard Helms (giám đốc CIA dưới thời tổng thống Lyndon Johnson và Richard Nixon) đã khẳng định rằng Johnson đã tuyên bố Tổng thống Kennedy đã bị giết hại như là việc trừng phạt vì vụ ám sát ông Ngô Đình Diệm.

8. FBI cảnh báo Robert Kennedy về một cuốn sách mô tả mối tình của ông với Marilyn Monroe

Vào tháng 7 năm 1964, FBI cảnh báo như vậy - Bộ trưởng Tư pháp Robert Kennedy, em trai của Tổng thống Kennedy về một cuốn sách sớm được xuất bản, bao gồm những chi tiết nhạy cảm về mối quan hệ thân thiết của Kennedy với minh tinh màn bạc Marilyn Monroe. Tác giả của cuốn sách, Robert A. Capell, đã tuyên bố rằng khi Monroe đe dọa sẽ phơi bày mối quan hệ, Kennedy có thể có liên quan đến cái chết của cô. "Cần lưu ý", tài liệu này khẳng định rằng "cáo buộc liên quan đến Bộ trưởng Tư pháp và người đẹp Monroe đã được lưu hành trong quá khứ và đã bị đánh dấu là hoàn toàn sai."

 10 tiet lo soc trong tai lieu mat ve vu am sat tong thong kennedy hinh anh 5

Khoảnh khắc cuối cùng của Tổng thống Kennedy.

9. Có người đã gọi điện cho phóng viên ở London rằng có "tin tức lớn" ở Mỹ chỉ 25 phút trước khi Kennedy bị bắn.

Trong một bản ghi nhớ ngày 26 tháng 11 năm 1963, phó giám đốc của FBI, James Angleton, ghi nhận rằng Cơ quan An ninh Anh (MI5) đã báo cáo một cuộc gọi tới Cambridge News vào tối ngày 22.11. Người gọi đã nói với phóng viên ở London rằng nói rằng sẽ có tin tức lớn ở Mỹ. Theo tính toán của MI5, Kennedy bị bắn tại Dallas 25 phút sau khi cuộc gọi được đưa ra.

10.  Một tuần trước khi bị ám sát, một người đàn ông ở quán bar ở New Orleans đánh cược 100 USD rằng Tổng thống Kennedy sẽ chết trong vòng ba tuần

Trong những ngày sau khi Kennedy bị bắn, Cơ quan Mật vụ ghi lại các ghi chú từ một cuộc phỏng vấn với một người đàn ông tên là Robert Rawls, người đã là một bệnh nhân tại Bệnh viện Hải quân Mỹ ở Charleston, Nam Carolina. Theo đó, Rawls nói với một sĩ quan của Bộ phận Tình báo Hải quân rằng, ông đã ở quán bar ở New Orleans, Louisiana 10 ngày đến hai tuần trước thời điểm ông Kennedy bị ám sát. Tại quán bar này, ông nghe lỏm được một người đàn ông khác cố gắng đặt cược 100 USD rằng Tổng thống Kennedy sắp chết. Rawls không biết tên của người đàn ông đặt cược. Vào thời điểm đó, ông nghĩ rằng cuộc cược là nói trong cơn say rượu.

Tổng thống Ngô Đình Diệm: Độc tài hay nhân trị?

Ngo Dinh Diem, the first president of Republic of VietnamBản quyền hình ảnhKEYSTONE/GETTY IMAGES
Image captionÔng Ngô Đình Diệm, tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa, xuất hiện tại một hội chợ ở Sài Gòn năm 1957

Tổng thống Ngô Đình Diệm là người có công sáng lập Việt Nam Cộng Hòa, công định cư hàng triệu người Bắc di cư, công đưa miền Nam từ chiến tranh sang một thời kỳ vàng son nhất trong lịch sử cận đại, công xây dựng nền tảng kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội cho miền Nam tự do.

Bên cạnh đó không ít người cho rằng ông Diệm độc tài, gia đình trị và đàn áp Phật giáo. Bài viết nhìn vào hoàn cảnh chính trị nhận định, phân tích, làm rõ vấn đề, để rút ra bài học.

Thời thế tạo Thủ tướng

Trong bài viết đăng trên Talawas: "Một lựa chọn dân chủ trong quá khứ: Hoàng đế Bảo Đại - Thủ tướng Ngô Ðình Diệm" tôi đã trình bày chính Quốc trưởng Bảo Đại chọn ông Diệm làm Thủ Tướng với sự đồng thuận của tất cả các tôn giáo, các phong trào chính trị và đảng phái quốc gia.

Đánh giá về ông Diệm, Quốc trưởng Bảo Đại cho biết:

"Trước đây tôi đã dùng ông Diệm, tôi biết rằng ông ta vốn khó tính. Tôi cũng biết về sự cuồng tín, và tin vào Đấng Cứu thế. Nhưng trong tình thế này, không còn có thể chọn ai hơn.

Thật vậy, từ nhiều năm qua, người Mỹ đã biết ông, và rất hâm mộ tính cương quyết của ông. Trước mắt họ, ông là nhân vật có đủ khả năng đối phó với tình thế, vì vậy Washington sẵn sàng hỗ trợ ông.

Nhờ thành tích cũ, và nhờ sự có mặt của em ông, đang đứng đầu Mặt trận Đoàn kết Cứu quốc, ông được nhiều nhà quốc gia cuồng nhiệt ủng hộ; các vị này từng làm đổ chính phủ Nguyễn Văn Tâm và chính phủ Bửu Lộc.

Tóm lại, nhờ cương quyết và cuồng tín, ông là người chống cộng chắc chắn. Đúng vậy, đó là người của hoàn cảnh."

The last emperor of An NamBản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionHoàng đế cuối cùng của Việt Nam, Bảo Đại

Vua Bảo Đại còn cho biết vì hoàn cảnh bấy giờ, ông Diệm phải đương đầu với Pháp và Việt Minh cộng sản nên chính nhà vua đã trao toàn quyền quân sự, chính trị và cả ngoại giao cho ông Diệm.

Thời thế tạo Quốc trưởng

Trên thực tế quân đội, cảnh sát và các giáo phái vẫn chịu ảnh hưởng nhiều ở người Pháp, của vua Bảo Đại và không muốn chia sẻ quyền lực với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Hoa Kỳ vì muốn loại người Pháp khỏi Đông Dương nên quyết định viện trợ trực tiếp cho chính phủ Ngô Đình Diệm, giúp ông Diệm kiểm soát được quân đội, dẹp được Bình Xuyên và các giáo phái.

Việc thống nhất các lực lượng quân sự của ông Diệm được các đảng chính trị nhiệt tình ủng hộ, nhưng lại va chạm đến quyền lợi những người đang nắm quyền lực quân đội, cảnh sát, giáo phái và với Quốc trưởng Bảo Đại.

Mâu thuẫn đã được giải quyết bằng việc trưng cầu dân ý "Truất phế Bảo Đại và khai sinh Đệ nhất Cộng hoà", nói đúng hơn là việc trưng cầu dân ý chọn Bảo Đại hay chọn Ngô Đình Diệm.

Ông Lâm Lễ Trinh, nguyên Bộ trưởng Nội vụ (1955-59), cho biết việc truất phế Bảo Đại là một việc làm hoàn toàn ngoài ý muốn của ông Diệm, thậm chí lương tâm ông Diệm cảm thấy đã phạm tội khi quân.

Ông Huỳnh Văn Lang Tổng Giám đốc Viện Hối đoái kiêm Tổng Bí thư Liên chi bộ Đảng Cần lao, và nhiều người trực tiếp lật đổ Bảo Đại cũng đã xác nhận ông Diệm không có ý định lật đổ Bảo Đại.

Ngay chính cựu hoàng Bảo Đại cũng nhận định: "Việc ông ta lật tôi là do sức ép của chính trị."

Ông Diệm xuất thân từ gia đình quan lại, được đào tạo bài bản để làm quan, thế nên ông không hề sửa soạn để có ngày phải giữ vai trò Quốc trưởng và Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa.

protesters demonstrating in support of the policy of Premier general Ngo Dinh Diem and displaying banners against Emperor Bao DaiBản quyền hình ảnhSTF/GETTY IMAGES
Image captionBiểu tình phản đối Quốc trưởng Bảo Đại ở Sài Gòn ngày 18/05/1955

Ông Diệm có vài năm sống tại Hoa Kỳ, nhưng thời gian quá ngắn để ông có thể hiểu thấu được người Mỹ và guồng máy dân chủ của Hoa Kỳ, và vì thế guồng máy công quyền Đệ nhất Cộng hòa rất khác khuôn mẫu công quyền Hoa Kỳ.

Quyền lực tập trung trong tay tổng thống

Những người hoạt động chính trị bên cạnh ông Diệm đều là những người nhiều kinh nghiệm chống cộng.

Họ tin rằng muốn thắng được cộng sản phải xây dựng một chính quyền trung ương mạnh, một lãnh tụ có quyền lực.

Từ đó, thay vì xây dựng một một guồng máy công quyền pháp trị thì họ hướng đến việc xây dựng một hệ thống nhân trị quyền lực tập trung trong tay Tổng thống Ngô Đình Diệm.

Theo họ, ông Diệm cần được biết đến như một nhân vật được đa số tuyệt đối quần chúng ủng hộ. Kết quả cuộc trưng cầu dân ý bị nhiều người tố cáo là gian lận, với con số tuyệt đối 98,2% dân chúng muốn ông Diệm thay Bảo Đại làm Quốc trưởng.

Bản thân ông Lâm Lễ Trinh và ông Huỳnh Văn Lang cũng cho rằng kết quả kia là thiếu trung thực.

Theo Hiến pháp 1956, tổng thống lãnh đạo quốc dân, được quyền chọn và bổ nhiệm từ chánh án tòa phá án, chủ tịch viện bảo hiến, các bộ trưởng chính phủ, các chức vụ trong quân đội…, đến tỉnh trưởng, quận trưởng, xã trưởng.

Quốc hội thì chỉ có một viện duy nhất. Quyền lực quốc hội bị lấn áp bởi quyền uy của tổng thống.

Chính ông Diệm đã chấp nhận kết quả trưng cầu dân ý và cùng Quốc hội soạn ra Bản Hiến pháp, sau đó việc suy tôn Ngô Tổng thống trở thành quốc sách, chứng tỏ ông Diệm chấp nhận vai trò hạt nhân trong nền Đệ nhất Cộng hòa.

Càng nhiều quyền lực thì trách nhiệm càng nặng nề đổ lên ông Diệm. Để hoàn thành trách nhiệm, ông phải chia sẻ quyền lực với những người thân cận, gần gũi và trung thành với ông.

Pedicabs o­n the road connecting Saigon with CholonBản quyền hình ảnhTHREE LIONS
Image captionXe ba gác nối trung tâm Sài Gòn với Chợ Lớn, khoảng năm 1959

'Thời nhân trị đã qua'

Vì muốn tập trung quyền lực, ông Diệm đã bị nhiều đảng chính trị và nhiều chính trị gia đối lập chống lại.

Nhiều người trước đây từng ủng hộ ông Diệm lên cầm quyền nhưng rồi không đồng thuận với ông về phương cách cầm quyền. Nhiều người phải bỏ nước ra đi, bị cô lập, bị tù, có người chết trong tù…

Sáng ngày 26/4/1960, một nhóm gồm 18 nhân sỹ ra Tuyên cáo Caravelle, nêu các sai lầm của chính phủ về chính trị, hành chính, xã hội, quân sự, tạo tình trạng bất mãn trong dân chúng, làm giảm tiềm lực đấu tranh chống cộng, đòi thực thi dân chủ, chấm dứt gia đình trị, và cải cách thể chế.

Tuyên cáo Caravelle là một biến cố chính trị vì nhóm nhân sỹ dám thách thức quyền lực của Tổng Thống, đa số sau đó bị bắt giam và bị tra tấn.

Việc chống lại chiến tranh du kích, thay vì bổ nhiệm người địa phương, Tổng thống Diệm lại sử dụng người thân cận vào các vai trò lãnh đạo địa phương, nên không được dân cộng tác, có nơi còn chống lại.

Nạn bè phái và lạm quyền của giới chức địa phương tạo tình trạng bất mãn trong dân chúng và cơ hội cho du kích cộng sản tồn tại và phát triển.

Không có bằng chứng chính quyền đã ra lệnh đàn áp Phật giáo hay thiếu tự do tôn giáo tại miền Nam. Nhưng việc đối xử thiên vị giữa các tôn giáo đã xảy ra ở cả chính quyền trung ương lẫn địa phương.

Sự thiên vị tôn giáo gây bất mãn và vào ngày 6/5/1963 bùng nổ khi chính quyền ra lệnh cấm treo Phật kỳ trong lễ Phật đản tại Huế, và sau đó dẫn đến cuộc đấu tranh đòi bình đẳng tôn giáo.

Ông Diệm giữ vai trò Tổng tư lệnh tối cao của các lực lượng quân sự, nhưng không có kinh nghiệm quân sự và rất ít ảnh hưởng trong quân đội.

Đa số tướng lãnh đều xuất thân từ quân đội Pháp, vì thế sự thăng thưởng và bổ nhiệm người của ông Diệm gây không ít bất mãn trong quân đội.

Ngày 11/11/1960, các sỹ quan chỉ huy Binh chủng Nhảy dù, cùng một số chính trị gia tấn công dinh Độc Lập, đòi ông Diệm cải tổ toàn diện cơ cấu lãnh đạo quốc gia để xây dựng lại chính nghĩa và nâng cao hiệu năng chiến đấu của quân dân miền Nam.

Cuộc đảo chánh không thành nhưng rõ ràng ông Diệm không còn kiểm soát được quân đội.

Ngày 27/2/1962, Trung úy Phi công Phạm Phú Quốc và Nguyễn Văn Cử đã bay 2 chiếc Skyrider A-1 ném bom, bom Napalm và bắn rocket vào Dinh Độc lập với mục đích giết ông Diệm nhưng không thành.

Ngày 1/11/1963, các tướng lãnh lại đảo chánh, lần này họ thành công.

Ngày hôm sau, 2/11/1963, ông Diệm và ông Nhu bị bắt và bị hạ sát.

Tại sao người Mỹ lật đổ ông Diệm?

Không có bằng chứng người Mỹ đã đưa ông Diệm về chấp chính. Thậm chí họ còn muốn lật ông ngay khi ông còn làm thủ tướng.

Nhưng lại có nhiều bằng chứng cho thấy cuộc đảo chánh 1/11/1963 có bàn tay người Mỹ nhúng vào.

Vai trò của tổng thống trong Bản Hiến pháp 1956, việc tấn phong ông Diệm làm Tổng thống, và Quốc hội Lập hiến biến thành Quốc hội Lập pháp là đi ngược với tinh thần lập hiến, cộng hòa và dân chủ theo khuôn mẫu Hoa Kỳ.

Người Mỹ đánh giá một thể chế là dân chủ khi thể chế đó tồn tại đối lập, không có tù chính trị và báo chí không bị kiểm soát.

Với người Mỹ, chính quyền Ngô Đình Diệm là một chính quyền độc tài gia đình trị vì ông Diệm sử dụng những người thân cận và gia đình trong việc điều hành quốc gia.

a soldier of the National Liberation Forces (NLF) of North Vietnam surveying the National Assembly building in SaigonBản quyền hình ảnhAFP/GETTY IMAGES
Image captionMột người lính giải phóng ở Sài Gòn ngày 30/04/1975

Người Mỹ viện trợ cho miền Nam là nhằm ngăn chặn làn sóng xâm lược của cộng sản.

Ông Diệm một phần không được hỗ trợ của của các tướng lãnh quân đội. Khi cộng sản nổi dậy ở nông thôn, người Mỹ không còn tin ông Diệm có thể thực hiện việc ngăn ngừa cộng sản một cách có hiệu quả.

Trên thực tế, ông Diệm chỉ tập trung vào đối nội, mặt đối ngoại không được ông coi trọng. Nhiều tòa đại sứ là nơi đày ải người quốc gia không theo ông. Nên việc ngoại giao và đối phó với truyền thông quốc tế thời Đệ Nhất Cộng Hòa không được tốt lắm.

Người Mỹ đe dọa nếu không có những cải cách về chính trị và quân sự họ sẽ cắt viện trợ, nhưng ông Diệm xem thường lời đe dọa.

Người Mỹ biết rõ nhờ thành quả kinh tế nên ông Diệm được dân chúng ủng hộ, và do đó thực lực của ông vẫn còn. Nếu người Mỹ không trực tiếp nhúng tay vào việc lật ông Diệm thì các tướng lãnh và chính trị gia đảo chánh không thể nào lật đổ được ông.

Người Mỹ không chủ trương giết anh em ông Diệm, nhưng các tướng lãnh quân đội sợ nếu hai ông còn sống sẽ đảo ngược thế cờ và khi đó họ sẽ bị trừng trị nặng nề.

Chuyện ông Diệm và ông Nhu đi đêm, hoà giải, ve vãn, bắt tay, đầu hàng…, hay mắc lừa phe cộng sản nên bị Hoa Kỳ lật đổ là câu chuyện không có bằng chứng. Xin xem bài viết trước đây của tôi, đã đăng trên talawas "Quanh chuyện cành đào Hồ Chí Minh gửi vào Nam".

Một thể chế cộng hòa nhân trị xây dựng chung quanh một con người, dù người đó có vì nước vì dân như Tổng thống Ngô Đình Diệm, là một thể chế cộng hòa thiếu bền vững.

Bài học này đã được rút ra trong việc xây dựng nền Đệ nhị Cộng hòa với tam quyền phân lập trên nguyên tắc kiểm soát và đối trọng giữa các nhánh quyền lực


Nhà Ngô thứ nhì nằm xuống loạn lạc nổi lên


Lăng Ngô QuyềnBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLăng Ngô Quyền ở Đường Lâm: con trai ông là Ngô Xương Văn, tức Nam Tấn Vương đã cầm quyền được 15 năm rồi bị bắn chết ở vùng nay là Sơn Tây

Năm 963 khi vua Ngô Xương Văn (tự là Nam tấn Vương) bị sát hại, Việt Nam rơi vào cảnh hỗn loạn Thập nhị sứ quân.

Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, nhà sử học Trần Trọng Kim viết: "Thế lực nhà Ngô bấy giờ mỗi ngày một kém, giặc giã nổi lên khắp mọi nơi. Nam Tấn Vương phải thân chinh đi đánh dẹp. Khi đi đánh giặc ở hai thôn Thái-Bình, không may bị tên bắn chết."

Sau khi vua Ngô Xương Văn chết đi thì "Lúc bấy giờ trong nước có cả thảy 12 sứ quân, gây ra cảnh nội loạn kéo dài đến hơn 20 năm... Trong số này có Tướng của thời nhà Ngô tên là Đỗ Cảnh Thạc cũng giữ một chỗ, xưng là Sứ quân."

Bàn tròn thứ Năm: 54 năm ngày hai ông Diệm, Nhu bị đảo chính sát hại

Năm 1963 - đúng 1,000 năm sau, một nhà Ngô nữa bị sát hại và cảnh Thập nhị sứ quân lại tái diễn.

Tướng Charles de Gaulle đã từng nói "Après moi le deluge" (Sau ta là hồng thủy).

Tuy không nói ra nhưng chắc Tổng thống Ngô Đình Diệm cũng đã nghĩ 'Sau ta là bão tố.'

Cơn lốc chính trị, quân sự, xã hội tại Miền Nam sau ngày đảo chính đã tàn phá Miền Nam đến mức nào thì nhiều độc giả (cao niên) còn nhớ.

Tình trạng rối ren ở Sàigòn đã ảnh hưởng sâu xa tới tình hình quân sự. Trong một điện tín gửi về Washington, Đại sứ Henry Cabot Lodge đã kèm theo luôn một báo cáo của đại diện USOM ở tỉnh Long An (ngày 7 tháng 12, 1963) nói về tình hình an ninh suy giảm quá mạnh.

Rồi ông phàn nàn: "Tôi thật bối rối vì thấy thiếu quyết tâm chiến đấu: các thành viên của tập đoàn tướng lãnh cho tôi những câu trả lời thật tuyệt vời và rõ ràng, và nói cái gì cũng hay hết, nhưng những việc gì đang xảy ra thì chẳng có là bao nhiêu."

Cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo! Chỉ một tháng trước đó, vài ngày sau đảo chánh, ông Lodge đã báo cáo về Washington:

"Chúng ta không nên bỏ qua mà không để ý tới ý nghĩa của cuộc đảo chánh, đó là nó sẽ có thể giúp rút ngắn cuộc chiến này để cho người Mỹ được sớm trở về nuớc mình."

Nếu như tình hình ở Miền Nam bất ổn thì vào thời điểm này, tình hình chính trị tại Hoa Kỳ cũng trở nên phức tạp.

Đúng ba tuần sau cái chết của Tổng thống Diệm thì Tổng thống Kennedy bị ám sát ở Dallas. Phó Tổng thống Lyndon Johnson lên kế vị.

Phó Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson (trái) và Tổng thống JF Kennedy (phải) đón Thủ tướng Nehru của Ấn Độ thăm Hoa KỳBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionPhó Tổng thống Hoa Kỳ Lyndon Johnson (trái) và Tổng thống JF Kennedy (phải) đón Thủ tướng Nehru của Ấn Độ thăm Hoa Kỳ

Cơn khói lửa bùng lên

Ngay từ lúc còn làm Phó cho Tổng thống, ông Johnson đã cố vấn cho Tổng thống Kennedy rằng "Nếu chúng ta buông xuôi tại vùng Đông Nam Á thì phải rút tuyến quốc phòng của Hoa Kỳ về tận San Francisco."

Lên chức tổng thống, việc đầu tiên ông làm là tham khảo đại sứ Cabot Lodge về Việt Nam. Ông Lodge báo cáo về tình hình đen tối tại Sàigòn.

Sau đảo chính, bây giờ lại khó khăn, rối ren hơn nhiều, và lãnh đạo ở Sàigòn lại đang có khuynh hướng đi về hướng chính sách 'trung lập.'

Ông Lodge kết luận là cần phải có ngay những quyết định hết sức khó khăn "và Ngài phải lấy những quyết định ấy." Tổng thống Johnson tuyên bố không lưỡng lự:

"Tôi sẽ không để mất Việt Nam, tôi sẽ không là người Tổng thống đầu tiên để cho Đông Nam Á sụp đổ giống như Trung Quốc đã sụp đổ."

Ngày 8 tháng 3, 1965 thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ vào Đà Nẵng.

Cuộc chiến khói lửa bắt đầu bùng nổ.

Các góc cạnh của đảo chính

Về bối cảnh đưa tới đảo chính thì chúng tôi đã đề cập trong cuốn Khi Đồng Minh Nhảy Vào (KĐMNV) dựa trên các chứng cớ là các văn kiện được giải mật ngày 13 tháng 6, 2011. Nơi đây chúng tôi chỉ nhắc lại vài nét đại cương.

1960 - Bước ngoặt của bang giao Việt - Mỹ

Sau năm năm vàng son vừa phát triển vừa hòa bình (1955-1960), tình hình quân sự và chính trị Miền Nam bắt đầu chuyển hướng vào năm 1960.

Về quân sự thì lực lượng cộng sản đã bắt đầu tấn công vùng đồng bằng với những trận đánh vào dịp Tết tại Bến Tre và Tây Ninh ở Tây bắc Sàigòn. Về chính trị thì chính phủ Diệm càng ngày càng bị chỉ trích là độc tài, phe đảng và tham nhũng.

Cuối mùa Xuân 1960 một nhóm nhân sĩ họp ở Khách sạn Caravelle nhau kiến nghị Tổng thống Ngô Đình Diệm phải cải tổ toàn bộ chính phủ và chính sách ("Tuyên ngôn Caravelle"), nhưng ông Diệm cho rằng có Mỹ đứng đàng sau giật giây vì khuyến nghị này lại giống y như những lời cố vấn của Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow.

Ssau này, ông Durbrow đã xác nhận là chuyện này có thật.

Tới mùa Thu 1960 thì có đảo chính: đạn bắn vào ngay phòng ngủ của Tổng thống Diệm. Đại sứ Mỹ Elbridge Durbrow cố vấn ông nên điều đình với phe đảo chính. Sau khi đảo chính thất bại, Durbrow lại khuyên ông nên khoan hồng cho những sĩ quan liên quan.

Thế là từ bấy giờ giữa Dinh Độc Lập và Tòa Đại sứ Mỹ thì cơm chẳng còn lành và canh cũng chẳng còn ngọt.

1961 - Thuở ban đầu với tân tổng thống John F. Kennedy

Mối giây liên lạc Việt - Mỹ đang căng thẳng cuối năm 1960 bỗng đổi chiều vào đầu năm 1961 khi Hoa Kỳ có Tổng thống mới.

Nghị sĩ John F. Kennedy lên kế vị TT Dwight Eisenhower. Ở tuổi 42, ông là tổng thống Mỹ trẻ nhất. Ngày đăng quang ông hùng biện tuyên bố một lập trường hết sức cứng rắn 'để bảo đảm sự sống còn và sự thành công của tự do.'

Tổng thống Diệm nhận được bức thư đầu tiên của TT Kennedy đề nghị Hoa Kỳ tiếp tay với ông để 'tăng cường nỗ lực chiến thắng và đẩy mạnh sự tiến bộ kinh tế và xã hội của Việt Nam.'

Ông Diệm hân hoan đáp ứng lời đề nghị này, nhưng đặt trên căn bản là "vì quyền lợi chung của cả hai nước" (chứ không phải chỉ vì quyền lợi của VNCH). Tình nghĩa hai bên thật nồng nàn, thắm thiết vào thuở ban đầu của nhiệm kỳ Kennedy.

1962 - Mỹ quyết định bỏ Lào

Mặc dù đã tuyên bố một lập trường rất cứng rắn, Tổng thống Kennedy đã quyết định bỏ Lào. Ông Diệm hết sức lo ngại: liệu những hành động quyết liệt của ông Kennedy có bền vững hay không?

'The Vietnam War' và khi Hoa Kỳ vào VN

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Bình Nhưỡng từng bắn hạ máy bay Mỹ thời Nixon

Lúc ấy thì tình trạng Lào đã tác động mạnh mẽ vào tâm lý của các lãnh đạo ở Đông Nam Á. Chính phủ Diệm rất nghi ngờ về ý chí của Hoa Kỳ.

LàoBản quyền hình ảnhSTF
Image captionLực lượng cộng sản hành quân tại Lào. Quyết định của Kennedy "bỏ Lào" khiến chính quyền của TT Diệm nghi ngờ các cam kết của Mỹ

Chính tình báo Mỹ NIE đã thẩm định rằng: "đã có những cảm nghĩ hết sức sâu đậm ở Đông Nam Á về những biến chuyển mới đây về khủng hoảng ở Lào. Các chính phủ nơi đây có khuynh hướng cho rằng cuộc khủng hoảng Lào là một thử thách tượng trưng giữa sức mạnh của Tây phương và Khối Cộng sản. Liệu Hoa kỳ có tiếp tục bảo vể vùng này hay không? Thử thách rõ ràng nhất là khả năng bền vững của chính sách Hoa kỳ tại Việt Nam."

Ngày 21 tháng 4, trong một báo cáo, ông Edward Landsdale (CIA) nhận xét về Việt Nam:

"Về tâm lý - Việt Nam luôn nghĩ mình mới là đối tượng chính - và họ tự hỏi 'khi tới lần chúng tôi, liệu sẽ có bị đối xử giống như Lào không.' Chính sách của Mỹ đã biến Lào thành nước 'trung lập' với một chính phủ liên hiệp, làm cho TT Diệm hết sức lo âu vì nghĩ rằng sau Lào thì Mỹ sẽ tính đến việc trung lập hóa Việt Nam và áp đặt một chính phủ liên hiệp với Cộng sản. Bởi vậy, Landsdale cho rằng việc chính là phải làm sao cho chính phủ Miền Nam tin tưởng rằng việc rút lui ở Lào không có nghĩa là sẽ rút khỏi Việt Nam."

Để làm tăng thêm sự tin tưởng vào Hoa Kỳ, Phó Tổng Thống Lyndon Johnson được gửi sang thăm viếng Tổng thống Diệm với sứ mệnh của Tổng thống Kennedy là phải 'tuyên bố sự ủng hộ mãnh liệt của Hoa Kỳ và lòng tin tưởng vào Tổng Thống Diệm." Ông Johnson trao cho ông Diệm bức thư của tân Tổng Thống Hoa Kỳ. Bức thư thuở ban đầu thật nồng nàn, thắm thiết.

Tuy nhiên, Tổng thống Diệm không hoàn toàn tin tưởng. Trong bức thư phúc đáp ông nói tới sự lo ngại về Lào:

"Những biến chuyển gần đây tại Lào đã làm nổi bật mối quan ngại trầm trọng của chúng tôi về nền an ninh của (VNCH) với những đường biên giới kéo dài và dễ bị tấn công..."

Để biết rõ sự suy nghĩ của Tổng thống Diệm, Đại sứ Nolting gặp Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần (Bộ trưởng Phủ Tổng thống) để tham khảo. Ông Thuần tiết lộ là đề nghị của Hoa Kỳ đã làm cho Ông Diệm hết sức ưu phiền, "hay là Hoa Kỳ đang sửa soạn để bỏ rơi Việt Nam…như là đã bỏ rơi Lào?"

Đi tìm giải pháp hòa bình

1963 - Mùa Xuân: yêu cầu Mỹ rút cố vấn

Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận lời chúc mừng từ Cao ủy Pháp Henri HoppenotBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTháng 10/1955: Tổng thống Ngô Đình Diệm nhận lời chúc mừng từ Cao ủy Pháp Henri Hoppenot

Số cố vấn Mỹ vào Miền Nam ngày một tăng nhanh. Tháng 4/1963: thêm 4,500 cố vấn và binh sĩ nữa.

Trạm trưởng CIA là ông William Colby sau này nhận xét: "Ngay từ đầu 1962 cơ quan CIA đã có những mối liên lạc và ảnh hưởng trên toàn lãnh thổ Miền Nam, từ cổng trước và cổng sau Dinh Độc Lập tới những xóm làng ở thôn quê…"

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Washington Post vào tháng 5 ông Nhu tuyên bố Mỹ có thể rút đi một nửa số cố vấn. Báo chí thổi phồng lên, Tổng thống Kennedy phật lòng, tuyên bố sẵn sàng rút đi.

Suy nghĩ lại về giai đoạn này, Đại sứ Pháp Lalouette, người đã chứng kiến và tham gia vào nhiều biến cố tại Việt Nam đã cho rằng "quyết định của ông Nhu vào hồi tháng 4 yêu cầu rút cố vấn cấp tỉnh đã là lý do chính để người Mỹ quyết định lật đổ ông Diệm."

1963 - Mùa Hè: khủng hoảng Phật Giáo

Vào chính lúc Washington đang nhắm vào ông Nhu thì một cơn bão tố nữa lại ập tới: khủng hoảng Phật Giáo, bắt đầu vào Lễ Phật Đản ngày 8 tháng 5. Xáo trộn leo thang rất nhanh. Viên chức Bộ Ngoại giao buộc tội chính phủ Diệm đã 'phá nát chùa chiền.'

Để đánh giá lại chính phủ Diệm, một phái đoàn Quốc Hội Hoa Kỳ do Dân biểu Clement Zablocki (Wisconsin) hướng dẫn gồm 8 thành viên đi Sàigòn để thẩm định tình hình. Phái đoàn tiếp xúc với rất nhiều thành phần chống Tổng thống Diệm cũng như với ĐS Lodge và các quan chức Mỹ và báo chí ở Việt Nam. Trở về Washington, ông Zablocki đã nộp bản báo cáo bênh vực Tổng thống Diệm là người - tuy có nhiều khuyết điểm, chuyên quyền, và khoan dung cho hối lộ, áp bức, nhưng ông ta có khả năng bền bỉ và đang chiến thắng.

Mà cũng không ai thay thế được ông ta. Zablocki đặt nặng trách nhiệm của báo chí: "báo chí đã ngạo mạn, dễ bị kích động, thiếu khách quan, và không có những thông tin trung thực" trong những tin tức, bình luận về biến cố Phật Giáo cũng như về Tổng thống Diệm.

Mặc dù phái đoàn nhận xét như vậy, nhưng giới truyền thông vẫn tiếp tục tấn công. Cho nên tình hình Việt - Mỹ vào cuối hè 1963 đã trở nên căng thẳng tới mức có tin đồn là Nhà Ngô định ám sát tân Đại sứ Lodge.

1963 - Sang Thu: khả năng ông Nhu định điều đình với Bắc Việt

Trong tình huống sôi động ấy lại có tin ông Nhu định điều đình với Bắc Việt. Đại sứ Lodge (vừa tới Sàigòn được một tuần) thông báo ngay về Washington rằng chính ông cũng có nghe như vậy.

Về sự việc này thì ngày nay ta đã có thêm tài liệu để soi sáng cho rõ hơn về ý định của hai ông Diệm và Nhu muốn đi tìm một giải pháp hòa bình vì biết trước sau rồi Mỹ cũng bỏ Miền Nam.

Nhưng vào lúc ấy thì sau điện tín của ông Lodge, ông Roger Hilsman (Giám đốc Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại Giao) đã bình luận về mục tiêu tối thiểu và tối đa của ông Nhu rồi đi tới kết luận:

"Ông Nhu đã quyết định dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, cho nên ta không thể nào tiếp tục con đường hòa giải với ông ta được nữa."

Tới đây, ông Nhu trở thành mục tiêu duy nhất của Hoa Kỳ

Trong một điện tín gửi cho ĐS Lodge (công điện số 272), Tòa Bạch Ốc nói về việc có nên thử nói với ông Diệm hãy loại bỏ ông bà Nhu hay không, đã kết luận rằng "sẽ không thành công nếu chỉ thuyết phục suông," trừ phi "đưa ra một lời răn đe dọa cắt viện trợ."

Thế nhưng nếu răn đe như vậy thì "có nguy cơ rất cao là ông Diệm sẽ coi đó là chỉ dấu sắp có hành động chống lại ông và ông bà Nhu đến nơi rồi, và tối thiểu rất có thể ông ta sẽ có biện pháp mạnh đối với các Tướng lãnh hay thậm chí có hành động quái đản thí dụ như kêu gọi Bắc Việt yểm trợ để trục xuất người Mỹ đi."

Quá là nhanh, chiều ngày 31 tháng 8, ông Lodge báo cáo Washington ngay về việc này rằng chính ông ta cũng đã "có nghe tin ông Nhu đã bí mật giao thiệp với Hà Nội và Việt Cộng qua Đại sứ Pháp (Lalouette) và Ba Lan (Maneli), cả hai chính phủ các nước này đều tán thành một giải pháp trung lập giữa Bắc và Nam Việt Nam." Như vậy là đã trật đường ray!

Về việc điều đình hiệp thương Nam - Bắc, theo sự nghiên cứu của chúng tôi thì có hai nhân chứng khả tín là ông Mieczyslaw Maneli (Trưởng đoàn Ba Lan trong Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến), người trực tiếp làm môi giới giữa Bắc - Nam và ông Cao Xuân Vỹ (Đặc trách Đoàn Thanh Niên Cộng Hòa) là người đã cùng đi với ông Ngô Đình Nhu gặp ông Phạm Hùng. Bởi vậy, ta nên xem hai ông đã thuật lại như thế nào?

Ông Cao Xuân Vỹ:

Quân MỹBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionGiờ cầu nguyện của Thủy quân lục chiến Mỹ trên bãi biển gần Đà Nẵng

Đại cương: theo tác giả Minh Võ thì ông Vỹ đã kể lại trong một cuộc phỏng vấn như sau:

"Về các điều kiện để hiệp thương thì nhiều lần Tổng Thống Diệm đã nói, phải có 6 giai đoạn,

  • - Bắt đầu bằng việc cho dân hai miền trao đổi thư tín tự do.
  • - Rồi cho dân qua lại tự do.
  • - Thứ 3 là cho dân hai bên được tự do chọn định cư sang bên kia nếu muốn.
  • - Thứ 4 mới đến giai đoạn trao đổi kinh tế. Ví dụ miền Nam đổi gạo lấy than đá của miền Bắc chẳng hạn.
  • - Qua được các giai đoạn đó rồi mới tiến tới hiệp thương.
  • - Và sau cùng là tổng tuyển cử (để thống nhất trong hòa bình).

Ông Mieczyslaw Maneli nói gì?

Ngày 15 tháng 2, 1975 (hai năm sau khi Hòa Đàm Paris ký kết) ông đã viết một bài tên tờ Washington Post với tựa đề: 'Vietnam: 63 and Now' và nói rằng giải pháp hòa bình do ông làm môi giới năm 1963 nếu thành công thì đã thuận lợi cho Miền Nam và Thế giới Tự Do hơn Hiệp định Paris đầu năm 1975 rất nhiều. Ông kể lại:

"Mùa Xuân năm 1963, Đại sứ Pháp Lolouette nói với tôi là Tổng thống Diệm và bào đệ của ông có nhờ tôi tìm hiểu với Chính Phủ Hà Nội xem có khả năng nào để giải quyết cuộc chiến bằng phương tiện hòa bình hay không. Trong mấy tháng sau đó tôi đã thảo luận nhiều với giới lãnh đạo cao cấp nhất kể cả Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Câu hỏi căn bản tôi đặt ra cho họ là: trong trường hợp Mỹ rút khỏi Miền Nam, những bảo đảm thực sự nào Miền Bắc có thể đem ra để chứng tỏ rằng một Việt Nam thống nhất sẽ không phải là một nước của thế giới Cộng sản? Lãnh đạo Miền Bắc thảo luận nhiều lần và dần dần đi tới một kế hoạch mà tôi đã dựa vào đó để thảo luận với một nhóm các đại sứ Tây phương. Theo như kế hoạch này, hai Miền Bắc - Nam sẽ từ từ đi từng bước bắt đầu từ liên lạc bưu chính, kinh tế, văn hóa. Sản phẩm kỹ nghệ Miền Bắc sẽ được dùng để mua thóc gạo Miền Nam.

"Miền Bắc sẽ không đòi hỏi phải thống nhất nhanh chóng, một chính phủ liên hiệp sẽ được thành lập tại Miền Nam. Tôi hỏi liệu ông Diệm có thể là lãnh đạo của chính phủ này hay không? Tới mùa hè 1963 thì câu trả lời sau cùng là có. Sau đó, tôi lại hỏi thêm: nhưng làm sao phía Thế giới Tự do có thể tin rằng Hà Nội sẽ giữ lời hứa? Câu trả lời là nếu Mỹ đồng ý rút, Miền Bắc sẽ sẵn sàng đưa ra những bảo đảm có thực chất, gồm cả việc Mỹ tham dự vào việc giám sát giải pháp hòa bình… ngoài ra Miền bắc cũng sẽ có quan hệ ngoại giao và thương mại với thế giới Tự do, và sau cùng nhưng rất quan trọng, là quyền lực về kinh tế và chính trị của Hoa Kỳ sẽ vẫn còn nguyên, không bị bớt đi vì cuộc chiến (cũng sẽ là một bảo đảm nữa)."

Chúng tôi cho rằng về phía Miền Bắc, rất có thể động cơ chính để điều đình là yếu tố kinh tế: đó là khủng hoảng thực phẩm năm 1963 tại miền Bắc. Tình hình thiếu hụt thực phẩm năm ấy đã trở nên khủng hoảng sau những cơn hạn hán rất nặng và bão tố kéo dài từ mùa Xuân 1961 tới mùa Đông 1962. Như chúng tôi đã có dịp phân tích trong cuốn Economic Development in Socialist Vietnam, 1955-1975 (New York: Praeger Publisher, 1977): trong những năm không bị thiên tai như lụt lội, bão tố, hay hạn hán, Miền Bắc cũng vẫn phải dựa vào thóc gạo của Miền Nam thì mới đủ ăn.

Như vậy thì đại cương về những bước liên lạc hiệp thương, lập trường trung lập để đi tới thống nhất thì đại cương, điều ông Maneli viết cũng giống như những gì ông Vỹ kể lại.

Henry Kissinger bị phản đối khi đến Oslo

Thăm Bảo tàng Chiến tranh Triều Tiên ở Seoul

Lê Duẩn 'thắng Mỹ nhưng cái giá quá cao'

Ông Roger Hilsman bình luận về hai mục tiêu của ông Nhu

Ngày 16 tháng 9, ông Hilsman viết một Bản Ghi Nhớ, bình luận về mục tiêu tối thiểu và tối đa của ông Nhu:

  • tối thiểu là sẽ "giảm mạnh số người Mỹ đang giữ những chức vụ chính yếu tại các tỉnh và trong chương trình ấp Chiến Lược," và
  • tối đa là ông ta sẽ "điều đình với Bắc Việt để ngưng chiến, rồi chấm dứt sự có mặt của Mỹ, đi tới một Miền Nam trung lập hoặc theo kiểu Tito (ở Nam Tư)nhưng vẫn là một phần đất riêng biệt."
Quân MỹBản quyền hình ảnhKEYSTONE
Image captionQuân Mỹ giao tranh với lực lượng Bắc Việt ở Nam Việt Nam

Hilsman kết luận rằng "ông Nhu đã quyết định dấn thân vào một cuộc mạo hiểm, và bởi vậy, không thể nào tiếp tục con đường hòa giải với ông ta bằng cách dùng ngoại giao và thuyết phục được nữa, mà phải theo con đường dùng áp lực.

Tướng Taylor và Bộ trưởng McNamara đổ thêm dầu vào lửa:

Tiếp theo đó là chuyến viếng thăm Sàigòn từ ngày 23 tháng 9 tới 2 tháng 10 của phái đoàn Taylor-McNamara. Khi trở về Washington hai ông báo cáo tình hình quân sự là tốt, bênh ông Diệm và cho rằng Hoa kỳ không nên đôn đốc một cuộc đảo chính, và chỉ nên dùng áp lực viện trợ. Tuy nhiên, trong báo cáo, hai ông lại thêm một nhận xét là "Sự ve vãn của ông Nhu với ý định điều đình (với Hà Nội) - cho dù là nghiêm chỉnh hay không đi nữa - cũng đã cho thấy có sự bất tương phùng căn bản đối với những mục tiêu của Hoa Kỳ."

Ngày 5 tháng 10, ngày định mệnh của Tổng thống Diệm

Sau báo cáo Taylor-McNamara, thì có tới 7 sự việc không may xảy ra cho TT Diệm vào ngày này (xem KĐMNV, Chương 21).

Thí dụ như lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ, một nhà sư nữa tự thiêu tại bùng binh Chợ Bến Thành lúc 12 giờ 25 trưa. Đó là Đại Đức Thích Quảng Hương. Đây là vụ tự thiêu thứ sáu kể từ Hòa thượng Thích Quảng Đức. Washington cực lực phản đối về việc chính phủ Sàigòn cấm cản báo chí chụp ảnh về vụ này. [Chúng tôi còn nhớ vào thời điểm ấy, báo chí và tivi Mỹ phổ biến rất rộng rãi những vụ tự thiêu, dân chúng hết sức xúc động. Câu chuyện ở Washington lúc ấy chỉ xoay quanh vụ này].

Thêm vào đó là áp lực chính phủ Diệm phải đặt những cuộc di chuyển của Lực Lượng Đặc Biệt phòng vệ tổng thống do Đại tá Tung chỉ huy dưới quyền của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội. Như vậy là lực lượng này bị bó tay để hết ngăn chận đảo chính.

Tổng thống Diệm đã gặp nhiều sự may mắn vào tháng 10 trong những năm trước:

Tháng 10, 1954: vào lúc khủng hoảng chính trị đang nóng bỏng ở Sàigòn và Pháp đang âm mưu loại bỏ Thủ tướng Diệm, TT Eisenhower đã viết bức thư đầu tiên, thông báo quyết định của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho Việt Nam thay vì qua chính phủ Pháp:

Cựu phu nhân Nguyễn Cao Kỳ qua đời

Phi công Việt-Mỹ: 'Kẻ thù xưa, anh em nay'

'Lực lượng thứ Ba mong có hòa bình cho Việt Nam'

"Tôi đã chỉ thị cho Đại sứ Mỹ ở Việt Nam để xem xét với Ngài, với tư cách Ngài là Lãnh đạo của Chính phủ, làm sao để một chương trình của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho Chính phủ của Ngài có thể yểm trợ được nước Việt Nam trong giờ phút thử thách này…"

  • Tháng 10, 1955: Việt Nam Cộng Hòa khai sinh và ông Diệm trở nên tổng thống đầu tiên.
  • Tháng 10, 1956: cột trụ của chính thể mới là Hiến Pháp của nền Cộng Hòa bắt đầu có hiệu lực.
  • Tháng 10, 1960: Tổng thống Eisenhower viết thư cho Tổng thống Diệm ca ngợi thành quả của ông Diệm và nhân dân Miền Nam: "Chúng tôi đã chứng kiến sự can đảm và táo bạo mà Ngài và nhân dân Việt Nam đã biểu dương để đạt tới độc lập trong một tình huống nguy hiểm đến độ nhiều người đã coi như là vô vọng. Chúng tôi còn ngưỡng mộ khi tình trạng hỗn loạn ở Miền Nam đã nhường chỗ cho trật tự, và tiến bộ đã thay thế cho tuyệt vọng, tất cả với một tốc độ thật nhanh chóng."
  • Tháng 10, 1961, nhân dịp kỷ niệm sáu năm thành lập VNCH, Tổng thống Kennedy viết cho Tổng thống Diệm: "Thành tích mà Ngài đã đạt được để đem lại niềm hy vọng mới, nơi cư trú và sự an ninh cho gần một triệu người lánh nạn cộng sản từ Miền Bắc đã nổi bật như một trong những nỗ lực đáng được tán dương nhất và được điều hành tốt nhất trong thời hiện đại."

Thế nhưng tháng 10 năm 1963 thì những sự khuyến khích và cơ may ấy đã không còn nữa: Tổng thống Diệm sửa soạn hành trình để đi về thế giới bên kia khi tháng 11 bắt đầu.

Ngày ám sát Tổng thống

Buổi sáng hôm ấy, ngày 2/11/1963, khi tiếng chuông nhà thờ ngân vang khắp nơi, báo hiệu đã tới giờ đại lễ, các tín đồ Công giáo cầu xin Thiên Chúa xá tội để những người đã quá cố được sớm về cõi trường sinh. Lúc ấy, trong số những vong linh được cầu nguyện, đã có thêm hai linh hồn nữa. Họ vừa mới thoát khỏi chốn trần gian này mấy phút trước đó.

Kinh cầu ở các thánh đường vang lên: "Requiescat in pace" xin Thiên Chúa cho tất cả được an nghỉ.

Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng chọn ngày 1 tháng 11 là ngày Quốc Khánh.

Hằng năm, khi tới ngày này, với tư cách tổng thống, ông Nguyễn Văn Thiệu, người đã tham gia đảo chính, mở tiệc khoản đãi ngoại giao đoàn và quan khách theo thủ tục ngoại giao.

Giáo hoàng Paul VI và Tổng thống Nguyễn Văn ThiệuBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionĐức Giáo hoàng Paul VI đón Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thăm Vatican năm 1970. GS Nguyễn Tiến Hưng cho biết ông Thiệu vẫn cầu nguyện cho Tổng thống Diệm mỗi năm dịp 02/11

Nhưng cùng ngày đó, trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ tại Dinh Độc Lập, hai vợ chồng ông dự thánh lễ để tưởng niệm và cầu nguyện cho Tổng thống Diệm.

Vị linh mục làm lễ, Cha Khổng Minh Giác hỏi về ý chỉ trong buổi lễ, và ông Thiệu đáp: "Xin cho linh hồn Người sớm được về nơi Diễm Phúc, và xin người cầu cho chúng tôi trong giờ phút nguy khốn này."

Ông Thiệu an ủi ông Diệm nơi thế giới bên kia - nhưng ông cũng đang cầu nguyện vừa cho ông Ngô Đình Diệm vừa cho chính mình.

Tổng thống Diệm ra đi đã mang theo với ông viễn tượng hòa bình cho Việt Nam. Trong cuốn 'A Death in November,' tác giả Ellen Hammer thuật lại lời của Đại sứ Pháp Lalouette nói với Đại sứ Maneli, người môi giới hiệp thương giữa Nam-Bắc:

"Nếu Mỹ lật đổ ông Diệm, cơ hội cuối cùng về hòa bình ở Việt Nam sẽ bị phá hủy. Vì bất cứ ai lên thay ông ta cũng sẽ phải lệ thuộc vào Mỹ. Chỉ mình ông Diệm là người độc lập đủ để may ra có thể vãn hồi được hòa bình."

Lịch sử miền Nam Việt Nam sau đó diễn ra thế nào thì chúng ta đã biết.

Bà Trần Lệ Xuân qua lời kể và bình luận


Bà Trần Lệ Xuân và con gái Ngô Đình Lệ Thủy thăm Mỹ khi xảy ra vụ đảo chánh tháng 11/1963

Bản quyền hình ảnhAFP
Image captionBà Trần Lệ Xuân và con gái Ngô Đình Lệ Thủy thăm Mỹ khi xảy ra vụ đảo chánh tháng 11/1963

Nhân 54 năm cuộc đảo chính 01/11/1963 lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, BBC Tiếng Việt nhắc lại một số lời và bình luận kể về cuộc đời của bà Trần Lệ Xuân.

Sinh năm 1924 tại Hà Nội, bà Nhu, nhũ danh Maria Trần Lệ Xuân, qua đời ngày 24/04/2011 tại Rome, Ý, ở tuổi 87.

Trong tuần sau đó, BBC phỏng vấn ông Trương Phú Thứ, người tiếp xúc bà nhiều lần trong giai đoạn bà Trần Lệ Xuân sống ở châu Âu về cuộc đời bà:

Bàn tròn Thứ Năm: 54 năm ngày hai ông Diệm, Nhu bị đảo chính sát hại

Nhà Ngô thứ nhì nằm xuống loạn lạc nổi lên

Hồ sơ JFK: KGB, Johnson và Ngô Đình Diệm

Tháng 11/1963: dòng họ Ngô Đình và Kennedy

Thấy gì từ tập đầu phim The Vietnam War?

Gia đình túng thiếu

"Những năm 63-65, gia đình bà ấy khá túng thiếu, cho tới tận sau này, có một ân nhân ẩn danh cho bà một số tiền rất lớn và bà mua được hai căn apartment ở bên Paris, Quận 16 gần trung tâm.

Bà Nhu ở một cái, một cái cho mướn để lấy tiền sinh sống."

Khi đang công du Hoa Kỳ cùng con gái lớn Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu nghe tin chồng, và anh chồng, Tổng thống Ngô Đình Diệm bị phe đảo chánh giết tại Sài Gòn.

Bà không về được Nam Việt Nam và sang Pháp định cư.

Ông Thứ, một trong số ít người có tiếp xúc, trò chuyện với bà Ngô Đình Nhu trong những năm trước khi bà qua đời bình luận:

"Khi ông cố vấn Ngô Đình Nhu bị giết thảm, thì bà mới có chưa đầy 40 tuổi, cái tuổi có thể gọi là đẹp và mặn nồng nhất của người phụ nữ. Mà bà Nhu, như chúng ta thấy, cũng có sắc đẹp, sinh động, giỏi ngoại ngữ, nói tiếng Anh tiếng Pháp lưu loát, đại để là một người phụ nữ trên mức bình thường.

Cũng có nhiều người, kể cả chính trị gia, vì lúc đó bà Nhu hoạt động chính trường nên quen biết nhiều người lắm, cũng có lòng yêu mến kính trọng bà.

Tôi được biết có một ông kỹ nghệ gia, làm quản trị cho công ty chế tạo xe hơi Rolls Royce ở London, cũng đề nghị lập gia đình với bà Nhu, nhưng bà đã khước từ.

Cả đời, bà chỉ biết có một mình ông Ngô Đình Nhu mà thôi.

Trong suốt nửa thế kỷ qua, những người muốn công kích hay phỉ báng bà đã không tìm ra được bất cứ một điều gì về vấn đề tình cảm để mang ra công kích bà.

Bà Nhu sống thầm lặng, một mình, một cách rất đạo đức, kín đáo và đơn sơ."

Về tin nói bà Trần Lệ Xuân có những khoản tiền "khổng lồ", ông Thứ nói:

Ngô Đình DiệmBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionTổng thống Ngô Đình Diệm lập ra nền đệ nhất Việt Nam Cộng hòa

"Tin đó cũng như tin mà một vị tự xưng là sử gia tung ra, rằng bà Nhu có tới 17 tỷ Mỹ kim từ những năm 1960-1961. Tôi chỉ hỏi liệu hồi đó mang cả Sài Gòn ra bán có thu được 17 tỷ Mỹ kim hay không!

Thứ hai nữa, sau vụ đảo chánh 1963 bà Nhu phải ở trong một căn phòng studio chật chội, không có phòng ngủ, với bốn đứa con, chứ làm gì có lâu đài xa hoa như họ nói."

Những ngày trước khi về với Chúa

Ông Trương Phú Thứ kể tiếp qua phỏng vấn điện thoại từ Seattle với BBC vào cuối tháng 4/2011:

"Tôi được biết bà Nhu nằm viện đâu chừng ba tuần lễ trước khi qua đời. Khi bà thấy mệt quá thì bác sỹ họ đưa vào trong nhà thương nằm trong tình trạng rất yếu, gần như không nói được nữa.

Tới Chủ nhật vừa rồi thì tôi nhận được điện thoại của gia đình bà từ bên Rome, nói bà đã qua đời vào lúc 2 giờ sáng giờ địa phương. Tất cả ba con của bà đều có mặt lúc ấy."

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Miền Bắc Việt Nam cũng có phong trào chống chiến tranh

Thành công chính trị của phụ nữ Mỹ gốc Việt trong năm 2016

Trước khi mất khoảng ba năm, bà Nhu ở nhà với con trai cả là Ngô Đình Trác, tại Rome (Ý). Cô con gái út là Ngô Đình Lệ Quyên cũng ở nhà đó, trong tầng hầm. Cả gia đình ở với nhau rất vui vẻ hòa thuận. Vậy cho nên bà qua đời là cả gia đình có mặt. Con trai thứ của bà Nhu là Ngô Đình Quỳnh thì sống và làm việc bên Bỉ."

Ngô Đình Lệ QuyênBản quyền hình ảnhITALIAN TV
Image captionHình từ truyền hình Italia ghi cảnh hiện trường vụ tai nạn xe làm bà Ngô Đình Lệ Quyên tử nạn gần Rome tháng 4/2012

Con gái lớn của ông bà Nhu là Ngô Đình Lệ Thủy đã qua đời trong một tai nạn xe hơi ở Pháp năm 1968.

Một năm sau khi bà Nhu mất, con gái Ngô Đình Lệ Quyên chết vì tai nạn xe máy gần Roma, Ý vào tháng 4/2012.