Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2018
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 10
 Lượt truy cập: 11362209

 
Tin tức - Sự kiện 16.10.2018 11:15
Tưởng niệm 50 năm tội ác chiến tranh Tết Mậu Thân 1968: Tướng Giáp: Vụ Mậu Thân ‘thiếu cân nhắc’ và ‘đánh ẩu’
02.02.2018 21:09

Tết Mậu Tuất - 2018 năm nay là dịp kỷ niệm tròn 50 năm sự kiện Mậu Thân 1968, báo chí trong nước và ngoài nước, Hoa Kỳ và các nước phương Tây, đều bàn luận về trận chiến này.

Hà Nội đã tổ chức lễ kỷ niệm Nhà nước, long trọng với sự tham dự của « tứ trụ », Tổng bí thư, Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, đáng chú ý là có cả nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã về nghỉ hưu để được là « người tử tế ». Nhiều cuộc biểu diễn văn nghệ được tổ chức.

Trong không khí xã hội ảm đạm, đời sống khó khăn, niềm tin thiếu vắng, mọi thứ thuế gia tăng, giá xăng dầu lên cao, Ban tuyên giáo TƯ tận dụng mọi sư kiện cũ và mới để cố lên giây cót tinh thần toàn dân, như họ đã bốc đồng bày ra quá nhiều cuộc họp hành từ Bắc vào Nam, qua trận được vào chung kết của đội bóng trẻ U23 Việt Nam ăn mừng một cách quá lố, làm cho các em vất vả mệt nhọc thêm sau một thời gian thi đấu hết sức căng thẳng ở Trung Quốc.

Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên: Các vụ thảm sát là có thật.

Dùng ngoa ngôn, xảo ngôn là cái nghề truyền thống của « đảng ta ». Đại thắng Mậu Thân, nhưng đại thắng ở chỗ nào? Có thể gọi là đại thắng được không? Khi lợi dụng lời hứa hưu chiến 7 ngày để đúng giao thừa 30 và mồng 1 Tết mở cuộc Tổng tiến công và hy vọng tổng khởi nghĩa khắp miền Nam tại 40 thành phố thị trấn, 72 quận lỵ, để đạt kết quả ra sao? Ngoài thành phố Huế giữ được trong 25 ngày, các thành phố khác chỉ thâm nhập được vài ngày - lâu lắm là 4 đến 5 ngày, các quận lỵ chỉ thâm nhập được 2, 3 ngày là bị diệt lớn và bị quét sạch. Nổi dậy, đồng khởi hoàn toàn không xảy ra.mảng lớn quân Mỹ và Việt Nam Cộng Hòa, giải phóng các thành phố và thành thị lâu dài, dân chúng toàn miền Nam nổi dậy lập chính quyền mới khắp nơi, cả 3 mục tiêu chiến lược ấy đều chỉ là ảo tưởng cay đắng. Ngược lại lực lượng vũ trang của Măt trận và miền Bắc bị tổn thất rất nặng nề sau khi bị đối phương phản công liên tiếp, từ tháng giêng Mậu Thân 1968 đến cuối năm 1970, lực lượng tại chỗ, hàng trăm đơn vị biệt động, 4 sư đoàn chính quy, các đơn vị địa phương tỉnh huyện bị tổn thất cực lớn, các cơ sở quần chúng bị lộ và bị quét gần sạch, phải cầu cứ gấp miền Bắc đưa quân vào thay. Vậy thì đại thắng Mậu Thân ở chỗ nào?

Có vài chỗ nổi bật như một tổ biệt động đột nhập sứ quán Hoa Kỳ trong một buổi, 2 nhóm quân đột nhập Sân bay Tân Sơn Nhất trong 1 đêm, gây chấn động dư luận phương Tây, nhưng không có giá trị quân sự gì thực chất lâu dài.

Có gì để mà kỷ niệm hoành tráng khi sự kiện Mậu Thân tiêu biểu cho một sự lãnh đạo chiến tranh rất chủ quan, mang nặng tính phiêu lưu mù quáng, thái độ vô trách nhiệm với sinh mạng của hàng chục vạn quân nhân, đề ra các cuộc tiến công ồ ạt thiếu chuẩn bị, cân nhắc kỹ lưỡng, khoa học.

Có thể nói sự kiện Mậu Thân là tiêu biểu cho thái độ vô trách nhiệm

Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép.

Nay lịch sử quân sự đã chỉ rõ, việc hoạch định kế hoạch của đòn chiến lược này không được thảo luận kỹ tại Bộ Chính trị, không có sự tham gia của ông Hồ Chí Minh và ông Võ Nguyên Giáp, nhóm lãnh đạo hiếu chiến mù quáng kiêu ngạo và đại chủ quan gồm có Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh, Phạm Hùng, Văn Tiến Dũng… đã lên phương án tiến công bí mật. Họ vin cớ ông Hồ cao tuổi, ốm yếu, mất ngủ, không nên để ông Hồ bận tâm, « xin để Bác sang Bắc Kinh tĩnh dưỡng, Bác làm cho bài thơ cổ động chiến sỹ là tốt quá rồi », đại thể là thế. Họ cũng bày chuyện để ông Giáp khẩn cấp sang Hungari mổ túi mật bị viêm và an dưỡng bên đó. Chính ông Giáp đã kể lại cho tôi khi tôi đi cùng ông sang Liên Xô tháng 4/1977, tại nơi nghỉ mát Sochi, rằng « Vụ Mậu Thân là chủ trương thiếu cân nhắc, thiếu trách nhiệm, là đánh ẩu, khi các điều kiện chưa đủ, quân Mỹ còn rất đông, khống chế cả trên không bằng lực lượng không quân chiến đấu, trực thăng, cả trên bộ bằng xe tăng, xe bọc thép ». Ông còn nói rõ rằng: Lẽ ra sau đợt 1 không đạt, bị đẩy lui, phải rút về nông thôn củng cố thì lại cay cú liều lĩnh ra lệnh cố mở thêm đợt tiến công 2 (tháng 5) và ép thêm đợt 3 (tháng 9) nên thất bại càng nặng, tổn thất càng lớn, phải 2 năm sau mới tạm phục hồi và phải đưa thêm quân từ miền Bắc dù chưa qua huấn luyện thật tốt. Đây là những nhận định xác đáng. trách nhiệm không coi trọng sinh mạng người lính, những sinh mạng trẻ đầy sức sống là vốn phát triển lâu dài quý báu nhất của dân tộc, theo kiểu tiến công « biển người » của học thuyết quân sự Mao Trạch Đông và Lâm Bưu, từng hy sinh hàng triệu quân nhân ở chiến trường Triều Tiên mà không chút tính tóan.

Trong sự kiện Mậu Thân, hiện còn một vấn đề vướng mắc là những cuộc thảm sát dân thường là có thật? quy mô? và nguyên nhân?

Đây là vấn đề tôi quan tâm tìm hiểu từ khi ở trong nước. Tôi đã hỏi chuyện tướng Lê Minh, tư lệnh một cánh quân, trung tướng Trần Văn Quang, tư lệnh măt trận Trị Thiên về chuyện này. Các vụ thảm sát là có thật. Có đến 5 địa điểm số người bị chôn sống lên đến từ 3 nghìn đến 2 trăm, đồng bào đã đào bới để chôn cất, tổ chức lễ tang. Con số là từ 4 nghìn đến 6 nghìn. Về chủ trương thì theo tôi là không có. Không có lệnh nào từ Bộ chính trị, TƯ, Quân ủy hay Bộ Quốc phòng như có người khẳng định là có lệnh diệt chủng. Còn có phổ biến khi mở chiến dịch bản Kỷ luật chiến trường là không được chiếm riêng chiến lợi phẩm, không được chửi bới đánh đập, giết tù binh. Theo tôi có 2 nguyên nhân để giải nghĩa các cuộc tàn sát trên.

Một là tôi được biết khi chuẩn bị chiến dịch đã có văn bản phổ biến cho mọi người là Thừa Thiên – Huế là một địa bàn chính trị hiểm yếu bậc nhất, trong đó có rất nhiều Việt gian phản động, nhiều ác ôn ác bá địa chủ phong kiến thuộc giòng tôn thất, Ưng, Bửu, Vĩnh… của vua Bảo Đại, có rất nhiều đảng viên Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu, rất nhiều tay sai ác ôn của Ngô Đình Cẩn lãnh chúa miền Trung khét tiếng chống Cộng. Tiến công quân sự đi cùng quét sạch bọn phản động Việt gian. Do lệnh như thế nên mỗi ngày một có nhiều tù binh quân nhân và thường dân là viên chức cấp thôn xã, quận huyện, thành phố Huế và tỉnh Thừa thiên. Một số tù binh quan trọng được đưa lên núi, còn các đơn vị đều có số ít nhiều tù binh bị trói tay đi theo cuộc hành quân. Có đại đội có vài chục tù binh phải giữ. Mỗi tiểu đoàn hàng trăm, mỗi trung đòan hàng nghìn tù binh. Khi di chuyển thật là gánh nặng cho đơn vị.

Sau 2 tuần tiến công, quân Mỹ mở cuộc phản công lớn của hải quân lục chiến, với hàng trăm cuộc ném bom, hàng vạn trái pháo từ các tàu hải quân Mỹ ngoài biển bắn vào. Hàng ngũ « quân giải phóng » bị tổn thất ngày càng lớn, phải mang theo nhiều thương binh. Từ ngày 15 âm lịch, có lệnh tất cả rút lui gấp lên vùng núi căn cứ cũ, bảo toàn lực lượng, nhưng kèm theo một nghiêm lệnh nữa là phải đưa tù binh theo, không được để xổng vì sẽ làm lộ nơi hành quân rất tai hại cho an toàn.

Các cán bộ cơ sở bị đặt trong tình hình gay gắt. Làm sao hành quân được nhanh, gọn, an toàn, với hàng nghìn thương binh cáng theo mà không được để xổng tù binh, khi không còn người để canh giữ. Các chỉ huy đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn bị dồn đến thế cùng, nảy ra giải pháp bất đắc dĩ là thủ tiêu. Môi trường là chiến tranh, là chết chóc, là máu lửa… Thế là tù binh bị chôn sống, suy cho cùng vẫn là do lệnh ép buộc từ trên cao. Tội phạm là đảng đã làm gương coi thường sinh mạng con người ở cả hai bên, « dù đốt cháy dãy núi Trường Sơn cũng không ngại. »

Lẽ ra kỷ niệm Mậu Thân phải tổ chức Tưởng niệm, Cầu Siêu và Sám hối, như Giáo sư đảng viên Đào Công Tiến, Hiệu trưởng Đại học Kinh tế Sài Gòn, đề nghị vào dịp kỷ niệm 30/4 năm ngoái, rất nên chuẩn bị thực hiện năm nay, nhân kỷ niệm 50 năm sự kiện Mậu thân 1968 và 30/4/2018.

  • 16x9 Image

    Bùi Tín

    Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Theo các ước tính quân sự thì trong cuộc tấn công Mậu Thân, CSVN đã vận động từ 323,000 đến 595,000 quân chính quy và địa phương trong Nam để thực hiện kế họach chống lại khỏang 1 triệu 200 quân VNCH và Hoa Kỳ với dự kiến chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của VNCH.

    Tuy nhiên kế họach hồ hởi của Hà Nội đã bị quân và dân VNCH được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ đánh bại. Khoảng từ 85,000 đến 100,000 quân Cộng sản bị loại khỏi vòng chiến, so với thiệt hại của đồng minh có trên 6,000 tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.

    Thương vong thường dân, tính riêng tại Huế cũng đã có từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.

    Nhưng phiá Cộng sản đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà gây ra.

    Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân .

    Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sài Gòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892 người. Ngoài ra người ta còn tìm được 2.326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Đàm, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài.

    Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như: Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống.

    Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha Guy và cha Urbain (dòng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai Paris), 5 thầy dòng gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bửu Đồng tại Sư Lỗ, quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ VNCH. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.

    NHÂN CHỨNG CỦA SỰ THẬT

    Ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau.Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm.Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…”

    Vẫn theo RFA thì Nhà báo Vũ Ánh (đã qúa cố), nguyên phóng viên mặt trận hệ thống Truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…”

    “Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1.000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống”. (RFA o­nline ngày 1-2-2008).

    Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, thứ Bảy 29-3-2008, Nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô Cho Huế” nói:

    “Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân-không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Ròi bọ…”

    “Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn…Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống..”.

    Nguồn:Dương Hoài Lin

  • Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

  • Nhân chứng Tết Mậu Thân 1968
     

     
     
    Hình ảnh Tết Mậu Thân ở Huế
    Đây là bài viết thể hiện quan điểm cá nhân một nhân chứng trong vụ được cho là thảm sát ở Huế hồi Tết Mậu Thân 1968.

    Kính thưa quý vị,

    Bốn mươi năm trước đây, trong Tết Mậu Thân (1968) lúc đó tôi đang là Dân Biểu Hạ Nghị Viện Việt Nam Cộng Hoà (đơn vị tỉnh Thừa Thiên).

    Mười ngày trước Tết, tôi đã có mặt tại Huế, đã đi thăm và tiếp xúc với cử tri của tôi tại các quận trong tỉnh Thừa Thiên.

    Khi tiếng súng bùng nổ tại Huế, tôi đang ở ngoài thành phố Huế. Nhưng sau đó một ngày, vào ngày 3 Tết (01 tháng 2/1968) tôi đã có mặt tại nhà của Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm tại Ðà Nẵng, tôi đã gặp ông Võ Lương (Giám Ðốc Cảnh Sát 5 tỉnh vùng I tại Ðà Nẵng), tôi đã dùng điện thoại liên lạc với Ty Cảnh Sát Thừa Thiên...

    Từ Ðà Nẵng, tôi vào Nha Trang và sau đó đến Sài Gòn ngày 5 Tết (3 tháng 2/1968) để họp tại Quốc Hội. Ngày 9 tháng 2/1968, từ Sài Gòn , tôi trở ra Huế , lúc bấy giờ quân đội VNCH và Mỹ đã chiếm lại phía Hữu Ngạn sông Hương (Quận 3) nhưng vùng Phủ Cam, Vỹ dạ, Gia Hội và Thành Nội còn trong vùng Việt Cộng kiểm soát.

    Tôi đã có được những điều kiện thuận lợi để biết được diễn tiến tình hình Tết Mậu Thân một cách chính xác... Ngoài ra, tôi cũng đã đến thăm các gia đình nạn nhân bị VC sát hại và đã chứng kiến các mồ chôn tập thể...

    Gia đình tôi có 5 người chết trong Tết Mậu Thân trong đó có bố vợ (nhân viên của công ty Thuỷ Ðiện Huế, 56 tuổi), em vợ (học sinh 16 tuổi), người cháu của tôi (học sinh 13 tuổi)...Tôi đã tìm hiểu, thu thập các dữ kiện và viết ra những điều tôi đã thấy và đã nghe, cũng như được các nhân chứng (gia đình các nạn nhân bị VC thảm sát trong Tết Mậu Thân) kể lại...Với tư cách một nhân chứng, tôi xin trình bày một vài nhận xét như sau:

    Bốn mươi năm trước đây, trong thời gian Tết Mậu Thân (1968), Việt Cộng đã không tôn trọng lệnh hưu chiến mà họ đã cam kết với quân đội Ðồng Minh Hoa Kỳ và VNCH, đã lợi dụng giờ phút thiêng liêng theo truyền thống văn hoá của dân tộc để mở cuộc tổng tấn công vào các thị xã của toàn Miền Nam, đặc biệt là thành phố Huế.

    Hàng chục, hàng trăm nạn nhân bị chôn sống trong một cái hố sâu, tay bị trói bằng giây điện, giây tre, bị đâm bằng lưỡi lê, bị đánh bằng cán cuốc, bị bắn bằng súng hoặc bị chôn sống.

    Ða số các nạn nhân là những nhà tu hành, sinh viên học sinh, những người dân vô tội, những người không có vũ khí trong tay, những người đang ở trong nhà với vợ con, những người đã chấp hành lệnh trình diện để được học tập về chủ trương chính sách của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam...

     Các nạn nhân bị thảm sát được tìm thấy tại trường Tiểu học Gia Hội, chùa Therevada, Bãi dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng Viện, khu vực phía Tây Huế gần lăng Tự Ðức và lăng Ðồng Khánh, cầu An Ninh Thượng, cửa Ðông Ba, trường An Ninh Hạ, trường Văn Chí, Chợ Thông, Lang Xá Cồn, gần lăng Gia Long, gần chùa Tường Vân, Ðông Gi (Di), Vinh Thái, Thuỷ Thanh, Lương Viện, Phù Lương, Phú Xuân (Phú Thứ), Thương Hòa, Vinh Hưng, Khe Ðá Mài... tất cả 22 địa điểm tổng cộng 2326 sọ ngừơi trong số 6.000 nạn nhân thuộc tỉnh Thừa Thiên và Huế đã được thân nhân xác nhận là chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích...
     

    Dã man nhất là tại Khe Ðá Mài (thuộc vùng núi Ðỉnh Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hoà, tỉnh Thừa Thiên) Việt Cộng đã dùng súng trung liên, đại liên, lựu đạn và mìn giết tập thể các nạn nhân, vất xác xuống dưới khe, lâu ngày thây thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn 428 sọ người, xương người dồn lại một đống.

    Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của nạn nhân như áo len, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa... để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn đó.

    Biến cố Mậu Thân xảy ra chưa đầy một tháng, theo báo chí Cộng Sản tiết lộ vào năm 1998 (kỷ niệm 30 năm Mậu Thân 1968-1998) thì đã có trên 100.000 lính Việt Cộng chết hoặc mất tích.

    Theo thống kê của VNCH có 4.954 binh sĩ tử trận, 15.097 bị thương. Cộng Sản đã làm cho 627.000 dân vô tội phải cảnh màn trời chiếu đất, phải bỏ vùng quê chạy về thành phố, có 14.300 dân bị chết và 24.000 người bị thương. Chính phủ VNCH phải lập ra các Trại Tỵ Nạn Cộng sản để tiếp đón, lo ăn, ở, săn sóc thuốc men cho dân...

    Riêng tại Huế, chính quyền VNCH công bố có 6.000 người chết trong đó có 384 binh sĩ VNCH chết và 1800 bị thương. Về phía Mỹ có 147 chết và 857 bị thương.

    Như vậy tổng số người chết và mất tích cả hai bên khoảng 120.000 người. Sau Tết Mậu Thân có 9.461 cán binh Việt Cộng bị bắt hoặc ra hồi chánh qua chiến dịch Phượng Hoàng của VNCH. Nhiều đơn vị bộ đội VC tan nát, không còn người nào.

    Vụ "Thảm sát Mậu Thân 1968 tại Huế" đến nay đã 40 năm rồi (1968-2008) nhưng phía Cộng Sản không có một chút hối hận, không có một lời xin lỗi...

    Trái lại, trong những năm gần đây, Hà Nội đã tổ chức rầm rộ "Kỷ Niệm Chiến Thắng Mậu Thân" tại Sài Gòn năm 1998, tại Hà Nội năm 2003 và tại Huế năm 2008... Tại sao Cộng sản lại cố khơi dậy biến cố đau thương đó? Tại sao Cộng Sản lại cố rêu rao thành tích diệt chủng đó?

    Năm 1997, sáu sử gia Pháp đã cho ra đời một cuốn sách dày 846 trang tựa đề "Le Livre Noir du Communisme" (Sách Ðen về Cộng Sản) cho biết trong vòng 80 năm kể từ ngày Ðảng Cộng sản lên nắm chính quyền tại Nga (1917-1997), đã có trên 100 triệu người bị chết vì họa Cộng Sản.

    Vụ "Thảm sát Mậu Thân" là một hành động dã man, diệt chủng mà Việt Cộng đã để lại trong lòng thân nhân của những nạn nhân tại Miền Nam Việt Nam, điển hình là tại thành phố Huế, một nỗi kinh hoàng, một niềm uất hận nghẹn ngào, một món nợ mà đáng lẽ ra con cháu các nạn nhân phải đòi cho được kẻ sát nhân phải trả bằng máu!

    Nhưng chúng tôi không chủ trương trả thù mà chỉ muốn nhắc nhở những thế hệ trẻ sau chúng tôi "Ðừng bao giờ tái diễn tội ác dã man tàn bạo đó nữa!"

    GS Nguyễn Lý-Tưởng, cựu dân biểu VNCH.

    Ý kiến về lễ kỷ niệm 50 năm Mậu Thân 'rầm rộ'

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo cao cấp dự lễ hôm 31/1Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionTổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo cao cấp dự lễ hôm 31/1

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cùng các lãnh đạo cao nhất trong Đảng Cộng sản dự lễ kỷ niệm 50 sự kiện mà Việt Nam gọi là "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968".

    Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân

    Mậu Thân: 'Cái chết ám ảnh' trước Dinh Độc Lập

    Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

    Phong trào phản chiến Mỹ sau Tết Mậu Thân

    Năm 1968, biến cố tổng tấn công trên khắp các địa phương của Việt Nam Cộng Hòa đã tạo ra bước ngoặt trong Chiến tranh Việt Nam.

    Bí thư Thành ủy TP.Hồ Chí Minh Nguyễn Thiện Nhân phát biểu tại buổi lễ, nêu lập trường chính thức của Đảng:

    "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, của ý chí quyết tâm sắt đá, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để giành độc lập, tự do, được dẫn dắt, soi đường bởi sự lãnh đạo tài tình, đường lối đúng đắn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại".

    Ý kiến 'phi chính thức'

    Tuy vậy, giáo sư Nguyễn Khắc Mai, cựu Vụ trưởng Vụ Nghiên cứu, Ban Dân vận Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam nói với BBC: "Tôi cho rằng không nên làm kỷ niệm Mậu Thân rầm rộ, nghiên cứu thì cứ nghiên cứu để tìm ra bài học ngăn ngừa chuyện ấy trong tương lai."

    "Không nên khoét sâu những nỗi đau của một cuộc chiến huynh đệ tương tàn như vậy."

    "Người nhà đánh nhau, nồi da xáo thịt thì oai hùng nỗi gì mà tưởng niệm."

    "Hơn nữa, tôi thấy bây giờ dư luận không để ý nhiều đến buổi lễ này."

    "Bây giờ không phải bất kỳ sự kiện nào Đảng làm thì người ta cũng theo dõi, hoan nghênh đâu," ông Khắc Mai cho hay.

    Hôm 1/2, nhà báo tự do Nguyễn An Dân bình luận với BBC:

    "Đảng Cộng sản Việt Nam dùng chữ "tri ân", vậy lễ này tri ân những người nằm xuống vì cái gì? Vì họ chiến đấu cho đảng? Hay vì họ nội chiến với chính đồng bào của mình?"

    "Nếu Đảng làm lễ tri ân Mậu Thân thì sẽ luôn có một bộ phận nhân dân nhớ về trận tái chiếm Quảng Trị 1972."

    "Ngay cả nếu Việt Nam Cộng Hòa là "bên thắng cuộc", tôi cũng sẽ phản đối nếu họ làm lễ chiến thắng Mậu Thân," ông An Dân nói.

    Bình phẩm trên Facebook, nhà văn Nguyễn Viện ở TPHCM nói: "Bao nhiêu máu, nước mắt, đau khổ và sự mất mát của nhân dân 2 miền... nhưng dường như chính trị vẫn đi con đường riêng của nó. Bất nhẫn."

    Cựu thủ tướng Nguyễn Tấn DũngBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionCựu thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xuất hiện tại lễ kỷ niệm 50 năm chiến dịch Tết Mậu Thân ở TP. Hồ Chí Minh ngày 31/1
    Đại tá Nguyễn Văn Tàu, bí danh Tư Cang, sĩ quan tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dự buổi lễBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionĐại tá Nguyễn Văn Tàu, bí danh Tư Cang, sĩ quan tình báo của Quân đội Nhân dân Việt Nam, dự buổi lễ
    lễBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionViệt Nam làm lễ kỷ niệm 50 năm 'Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968'

    'Đúc kết' của Đảng

    Sự kiện mà Việt Nam gọi là "Lễ cấp quốc gia kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công xuân Mậu Thân" diễn ra ở TP. Hồ Chí Minh hôm 31/1, với chủ đề "Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968" có sự tham dự của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và cả các cựu lãnh đạo như ông Nguyễn Tấn Dũng.

    Báo Việt Nam dẫn lời phát biểu của ông Nguyễn Thiện Nhân, Bí thư Thành ủy TP.Hồ Chí Minh tại buổi lễ:

    "Nửa thế kỷ đã qua là khoảng thời gian đủ dài để chiêm nghiệm, đúc kết về cuộc tổng tiến công."

    Cộng sản tấn côngBản quyền hình ảnhTHREE LIONS
    Image captionLực lượng cộng sản tấn công ở miền Trung trong năm 1968- ảnh tư liệu

    "Đó mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, của ý chí quyết tâm sắt đá, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để giành độc lập tự do," ông Nhân nói.

    Bài diễn văn cũng đề cập hiện tại, kêu gọi "phải tiếp tục tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh".

    Ông Nguyễn Thiện Nhân nói cần "đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí để khẳng định uy tín của Đảng, khôi phục và củng cố niềm tin trước Nhân dân".

    Hiện đến nay vẫn có các con số chưa thống nhất với nhau từ các bên tham gia cuộc chiến đưa ra nhưng trong một bản tin đánh đi từ Sài Gòn ngày 21/02/1968, phóng viên Peter Arnett của AP nêu ra con số 140 nghìn người bị giết chỉ sau 10 ngày chiến sự.

    Phóng viên Arnett viết "con số chính thức, cho thấy vụ đổ máu này phải thuộc tầm tàn sát lớn nhất trong lịch sử vốn đã đau thương 4000 năm của Việt Nam".

    Thành lập ban tổ chức ‘Lễ Tưởng Niệm Tết Mậu Thân 1968’

    Uyên Nguyễn/Người Việt

    Biểu ngữ sẽ được treo trong các buổi Tưởng Niệm và biểu tình do ban tổ chức thực hiện. (Hình: Uyên Nguyễn/Người Việt)

    WESTMINSTER, California (NV) – Một buổi họp để thành lập Ban Tổ Chức Lễ “Tưởng Niệm Tết Mậu Thân 1968” do Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai mời gọi diễn ra tại Đền Thờ Đức Thánh Trần trên đường Bolsa, Westminster vào chiều Thứ Bảy, 20 Tháng Giêng.

    Buổi họp đã được khá đông đại diện các tổ chức đoàn thể đấu tranh đến tham dự. 

    Ông Lê Quang Dật, một trong những thành viên của ban vận động, mở đầu bằng một vài lời ngắn gọn về mục đích của buổi họp. Tiếp đó, ông Phan Kỳ Nhơn, Chủ Tịch Liên Ủy Ban Chống Cộng Sản và Tay Sai lên cho biết chi tiết dự tính tổ chức “Lễ Tưởng Niệm Tết Mậu Thân 1968.”

    Theo ông Phan Kỳ Nhơn, năm nay là năm thứ 50 biến cố Tết Mậu Thân 1968, biến cố do Cộng Sản phản bội lệnh hưu chiến gieo rắc tang thương lên khắp các tỉnh thị miền Nam, đặc biệt là ở Huế, Thừa Thiên.

    Ông nói: “Từ hơn 30 năm nay, năm nào chúng ta cũng tổ chức lễ tưởng niệm đến những nạn nhân bị Cộng Sản tàn sát rất vô nhân đạo ở Huế khi chúng tạm chiếm được thành phố Huế trong một thời gian ngắn. Nhưng những buổi lễ đó chỉ là riêng lẻ của những tổ chức đoàn thể, hội đồng hương. Năm nay là thời điểm 50 năm, chúng tôi nghĩ phải có một buổi lễ lớn hơn quy tụ đông đồng hương hơn cùng làm lễ tưởng niệm trong một ngày tại một địa điểm chung để làm rõ hơn những tội ác của Cộng Sản, để thế hệ con em của chúng ta hiểu rằng ngày nào cộng sản còn cai trị trên đất nước Việt Nam thì tội ác sẽ còn mãi mãi.”

    Theo dự trù, buổi lễ sẽ có hai phần vào hai ngày cuối tuần 24 và 25 Tháng Hai, tức Mùng 9 và Mùng Mười Tháng Giêng năm Mậu Tuất 2018. Ngày đầu sẽ là Lễ Tưởng Niệm sẽ được tổ chức tại Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ vào lúc 4 giờ chiều. Trong buổi lễ Tưởng Niệm chỉ có những lời phát biểu và cầu nguyện của Hội Đồng Liên Tôn và các nhà lãnh đạo tinh thần. Ngày Thứ Hai, vào lúc 4 giờ chiều, sẽ có một cuộc biểu tình tuần hành và sau đó thắp nến nguyện cầu. Sau cuộc tuần hành trên phố Bolsa, đoạn được mang tên là đường Trần Hưng Đạo, cuộc biểu tình sẽ trở về trước tượng đài Đức Thánh Trần để cùng nghe những phát biểu của một số nạn nhân trực tiếp trong cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế của quân Cộng Sản.

    Vẫn theo lời ông Phan Kỳ Nhơn: “Để đạt được kết quả như dự trù, chúng tôi nghĩ là phải có sự quan tâm tham dự đông đảo của mọi giới đồng bào. Thế hệ người Việt tị nạn Cộng Sản thứ nhất hầu hết đều biết, đều nghe, nhiều người còn phải chứng kiến những tội ác của cộng sản mà Hồ Chí Minh đã đem về gieo rắc gây nên biết bao nhiêu oan khiên cho người Việt trong gần 1 thế kỷ qua. Vụ thảm sát Tết Mậu Thân ở Huế là một trong những đau thương mà thế hệ chúng ta phải chấp nhận.”

    Quang cảnh buổi họp thanh lập ban tổ chức lễ Tưởng Niệm Mậu Thân Huế. (Hình: Uyên Nguyễn/Người Việt)

    “Đó là một sự thật đau lòng, không thể không nhắc nhở cho con cháu biết đến. Nếu người hải ngoại không nói đến, nhắc nhớ đến thì tuổi trẻ trong nước đâu biết được sự thật mà cộng sản hằng năm vẫn che giấu bằng những buổi tổ chức mà chúng gọi là ‘Chiến Thắng Mậu Thân.’ Nên Lễ Tưởng Niệm Mậu Thân năm nay chúng tôi mong sẽ được sự hưởng ứng tổ chức chung thành một lễ Tưởng Niệm Thống Nhất, để một là cùng nhau cầu nguyện cho những nạn nhân Mậu Thân ở Huế và hai là chúng ta sẽ phát động một phong trào tố cáo tội ác của Cộng Sản, và cùng nhau bảo vệ đất nước,” ông nói thêm.

    Buổi họp đã sôi nổi ngay sau lời phát biểu của ông Phan Kỳ Nhơn. Giáo Sư Nguyễn Thanh Giầu, Chủ Tịch Ban Trị Sư Phật Giáo Hòa Hảo Nam California, bày tỏ rất tán đồng công việc này và xin được cộng tác. Bà Madelena Lài hứa sẽ để đài TV của bà hỗ trợ tối đa. Ông Võ Văn Bằng, cựu chủ tịch Ủy Ban Tìm Kiếm và Cải Táng Nạn Nhân Tết Mậu Thân Huế cũng xin góp công sức với ban tổ chức lễ tưởng niệm. Giáo Sư Đỗ Anh Tài đóng góp nhiều ý kiến để ngày lễ có hiệu quả lớn hơn và nhận công tác liên lạc với trong nước, thâu băng các cuộc phỏng vấn người trong nước về ngày Tưởng Niệm Tết Mậu Thân Huế để sẽ phát trong cuộc biểu tình. Chủ tịch cộng đồng Phát Bùi gợi ý mở mặt trận tuyên truyền trên mạng đến cho các bạn trẻ về ngày người dân Huế bị thảm sát trong cuộc tấn công Huế của Cộng Sản vào dịp hưu chiến Tết Mậu Thân. Một vị trong Việt Nam Quốc Dân Đảng đóng góp ý kiến nên mời vị Lãnh Sự Đức tới tham dự lễ Tưởng Niệm vì người Đức có bốn vị giáo sư dạy đại học y khoa Huế cũng bị Cộng Sản bắt và giết chết. Nhiều ý kiến bàn về những vấn đề này rất sôi nổi để ban tổ chức ghi nhận thực hiện.

    Ban Tổ Chức lễ tưởng niệm và biểu tình được hình thành với các ông Phan Kỳ Nhơn, Phan Tấn Ngưu, Trần Vệ và khoảng hơn 10 anh chị em trong các tổ chức đấu tranh qua cuộc họp này đã được tăng cường thêm gần 10 người nữa.

    Quý độc giả muốn liên lạc với Ban Tổ Chức Lễ Tưởng Niệm Mậu Thân Huế, xin gọi (714) 854-4584. (Uyên Nguyễn)

    KỶ NIỆM 50 NĂM MẬU THÂN (1968-2018) : TỘI ÁC TRỜI KHÔNG DUNG, ĐẤT KHÔNG THA CỦA CSVN

    Phạm Trần: 50 năm máu vẫn chưa khô trên thành phố Huế (1968-2018)

    Nhằm  kỷ niệm 50 năm cái gọi là “cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968”, đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam đã đồng loạt tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia với đề tài “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 – Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử”, và  tung ra 2 bài viết ca tụng cái gọi là “chiến thắng” trong chiến dịch Mậu Thân 1968 của Chủ tịch nước Trần Đại Quang và của Đại tướng Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch.
    http://vrvradio.files.wordpress.com/2013/02/doitra1.jpg%3Fw%3D640%26h%3D518
    Tại cuộc Hội thảo do Bộ Quốc phòng, Ban Tuyên giáo Trung ương và Thành ủy TP Hồ Chí Minh đã phối hợp tổ chức ngày 29-12-2017 tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có các mục tiêu quan trọng bị tấn công như Dinh Độc Lập, Tòa Đại sứ Mỹ và Đài Phát thanh Sàì Gòn, các diễn gỉa đã tận lực khoe khoang cho điều gọi là “giá trị của cuộc tổng tiến công và nổi dậy; khẳng định chủ trương đúng đắn, sáng suốt của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minhtái hiện diễn biến và những nét độc đáo của nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc tổng tiến công, trình độ chỉ huy, khả năng cơ động và phối hợp chiến đấu giữa các lực lượng trên chiến trường miền Nam…”.

    Nhưng mục đích Hội thảo để làm gì, ngoài mớ lý thuyết phô trương như thế?  Các báo Việt Nam trích lời Thượng tướng Lê Chiêm, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, cho biết mụch đích: “Hội thảo lần này là một trong những hoạt động quan trọng góp phần tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang (LLVT) và nhân dân, nhất là thế hệ trẻ phát huy truyền thống cách mạng, hun đúc tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội (CNXH), lòng tự hào, tự tôn dân tộc, truyền thống đại đoàn kết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.”

    À thì ra thế! Nhưng có ai biết từ nội dung Hội thảo đến 2 bài viết của Quang và Lịch đã chứa đựng những dối trá để che đậy tội ác chiến tranh của Quân đội Nhân dân (miền Bắc) và của lực lượng tay sai được gọi là “lực lượng võ trang giải phóng” (của Mặt trận Giải phóng miền Nam do đảng CSVN dựng lên) đã gây ra cho đồng bào miền Nam nói chung, và đặc biệt đồng bào ở Cố đô Huế trong 25 ngày đềm Cộng sản chiếm đóng chỉ để thảm sát dân lành?

    Do đó, Tướng Ngô Xuân Lịch đã không ngần ngại khoe đạt chiến thắng ở Huế bằng máu người dân vô tội. Lịch viết: ”Đặc biệt, với 25 ngày đêm làm chủ thành phố Huế đã khẳng định sức mạnh của lực lượng vũ trang (LLVT) ba thứ quân, góp phần quan trọng vào thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 của quân và dân miền Nam anh hùng.”

    Lịch viết bố láo như thế là bôi nhọ lịch sử và chà đạp lên những vong hồn của các nạn nhân bị Quân đội Cộng sản thảm sát, chôn sống và hành quyết  rồi đẩy  xuống các hố mồ tập thể khắp nơi trong Thành phố Huế.

    Bởi vì trong suốt thời gian của biến cố Mậu Thân và ngay tại Thành phố Huế khi bị chiếm đóng, không nơi nào có “nổi dậy” của nhân dân như Cộng sản tuyên truyền từ trước khi tiềng súng nổ  đêm Giao Thừa Mậu Thân (31 tháng 1 năm 1968). Và cũng chẳng có nơi nào dân bỏ vùng Quốc gia chạy vào rừng với Quân Cộng sản.

    Như vậy rõ ràng Lịch và guồng máy tuyên truyền của CSVN đã  “bịa đặt một”  chưa dủ còn  tranh thủ “nói dối hai” mà mặt vẫn cứ trơ ra như đá!

    Nhưng không chỉ có thế, Lịch còn bịa thêm rằng: ”Nhận thức rõ vai trò quan trọng của lực lượng vũ trang trong chiến tranh cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên coi trọng xây dựng LLVT ba thứ quân, nhất là xây dựng bộ đội chủ lực từng bước phát triển lớn mạnh. Theo đó, đến cuối năm 1967, lực lượng bộ đội chủ lực toàn miền Nam đã phát triển lên 278.000 người, được tổ chức thành 190 tiểu đoàn chiến đấu, bố trí bí mật trên khắp các chiến trường. Đây là một trong những nhân tố tạo sức mạnh trực tiếp, quyết định thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968; đồng thời, thể hiện tầm nhìn và sự chỉ đạo chiến lược sắc sảo của Đảng ta về xây dựng LLVT nhân dân trong chiến tranh giải phóng dân tộc.”
    Image result for Huế - Mậu Thân
    Làm gì có cái gọi là “lực lượng bộ đội chủ lực toàn miền Nam”  do chính người miền Nam lập ra? Có chăng là đa số trong đội ngũ này là của miền Bắc được đào tạo đưa vào Nam rồi nhập chung vào với du kích miền Nam để cùng đội mũ tai mèo, mặc quần xà lỏn, đi chân đất trông rất tồi tệ.  Đi đâu cũng khoe là “quân giải phóng”! Trong khi bộ đội chính quy từ miền Bắc được đi dép râu bằng vỏ xe hơi và mặc quần áo do Tầu Cộng cung cấp để cầm súng của Nga, các nước Cộng sản Đông Âu và Trung Cộng cung cấp.

    Sự thể bộ đội miến Bắc vào Nam xâm lược Việt Nam Cộng hoà và gây ra chiến tranh máu đổ thịt rơi từ 1955 đến 1975 thì ai không biết. Ngoài số quân “vượt Trường Sơn theo đường mòn Hồ Chí Minh’’ xuyên qua Lào và Cao Miên xâm nhập miền Nam từ 1960 thì trước đó, khoảng từ 30 ngàn đền 40 ngàn Bộ đội Cộng sản được giữ lại trong Nam mà không tập kết ra Bắc theo điều kiện của Hiệp định Geneve 1954.

    Chính đạo quân “nằm vùng” này là lực lượng nồng cốt để đảng CSVN thành lập cái gọi là Quân đội Giải phóng và Mặt trận Giải phóng miền Nam tay sai do đảng CSVN thành lập ra đời ngày 10 tháng 12 năm 1960.

    Nhưng đến khi xe tăng và bộ đội kéo vào các thành phố và Thủ đô Sài Gòn trước và trong ngày 30/04/1975 thì đâu đâu cũng mang cờ của Mặt Trận Giài Phóng miền Nam: Hình chữ nhật, mầu đỏ trên và mầu xanh dưới. Ở giữa có ngôi sao Vàng, thay vì “cờ Đỏ Sao Vàng” của Đảng CSVN.

    Vì vậy, ngay sau khi vào Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975, quân CS miền Bắc đã hạ lá Cờ Vàng 3 Sọc đỏ của VNCH xuống và thay vào lá Cờ của MTGPMN, ngụy trang là cờ của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (!)

    Nhưng sau ngày chính thức thống nhất đất nước tháng 7/1976, lá cờ của MTGPMN đã bị dẹp bỏ không kèn không trống để chỉ còn lại lá cờ Đỏ Sao Vàng của miền Bắc CS chiếm ngự  trên cả nước!

    BÀI TRẦN ĐẠI QUANG

    Về phần mình. Chủ tịch nước Trần Đại Quang góp phần tuyên truyền gỉa dối trong bài “Phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    Image result for tran dai quang

    Quang ba hoa rằng: ”Cách đây tròn 50 năm, đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, quân và dân ta đã đồng loạt mở cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên khắp chiến trường miền Nam. Đây là sự kiện có ý nghĩa lịch sử trọng đại, tạo ra bước ngoặt quyết định trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết thêm trang sử hào hùng trong lịch sử đấu tranh cách mạng vẻ vang của dân tộc ta…

    “….  Đêm Giao thừa Tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta đã bất ngờ đồng loạt tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, đánh vào các cơ quan đầu não của địch ở Sài Gòn, Huế, các căn cứ quân sự của Mỹ – ngụy, các thành phố, thị xã, đồng thời đánh địch khắp các vùng nông thôn bị tạm chiếm…”

    SỰ THẬT KHÓ XÓA ĐI

    Như vậy, tất cả nội dung dành tung hô cho biến cố Mậu Thân đã không có một chữ hay con số nào nói lên sự thật tổn thất lớn lao của Bộ đội miền Bắc và Quân Việt Cộng trong Nam.

    Vì vậy, mãi đến năm 2013, cuốn phim tài liệu dài 12 tập “Mậu Thân 1968” của Nhà Đạo diễn (Bà) Lê Phong Lan, chủ Hãng phim Bản sắc Việt, mới bắt đầu chiếu trên đài Truyền hình Việt Nam từ ngày 25 tháng 01 năm 2013.

    Lý do làm phim trễ vì Chính quyền Cộng sản và Bộ Quốc Phòng coi vụ Mậu Thân là “vấn đề nhậy cảm”không ai muốn nói đến.

    Nhưng tại sao lại cho là “nhạy cảm”, Lê Phong Lan nói: “Vì sao mọi người phía ta tránh nhắc đến Mậu Thân, đó là vì sự tổn thất của quân đội nhân dân Việt Nam ở sự kiện này quá nhiều. Tâm sự với tôi khi trả lời phỏng vấn, nhiều chỉ huy các sư đoàn dạn dày chiến trận còn khóc nức lên vì thương lính. Đó là lý do duy nhất”.

    Qủa nhiên về phương diện quân sự thì cả quân miền Bắc và du kích trong Nam đã thiệt hại rất nặng. Theo các ước tính quân sự thì trong cuộc tấn công Mậu Thân, CSVN đã vận động từ 323,000 đến 595,000 quân chính quy và địa phương trong Nam để thực hiện kế họach chống lại khỏang 1 triệu 200 quân VNCH và Hoa Kỳ với dự kiến chiếm đóng nhiều vùng lãnh thổ của VNCH.

    Tuy nhiên kế họach hồ hởi của Hà Nội đã bị quân và dân VNCH được sự yểm trợ của quân đội Hoa Kỳ đánh bại. Khỏang từ 85,000 đến 100,000 quân Cộng sản bị loai khỏi vòng chiến, so với thiệt hại của đồng minh có trên 6,000 tử thương, ngót 30,000 bị thương và trên 1,000 quân bị mất tích.

    Thương vong thường dân, tính riêng tại Huế cũng đã có từ 5,000 đến 6,000 người chết và mất tích, đa số bị quân Cộng sản thảm sát bằng nhiều hình thức, kể cả chôn sống hay đập đầu cho chết vì muốn tiết kiệm đạn để chiến đấu.

    Nhưng phiá Cộng sản đã liên tiếp phủ nhận trách nhiệm và đổ lỗi cho bom đạn của Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hoà gây ra.

    Vì vậy, theo tường thuật của báo chí Việt Nam thì bà Lê Phong Lan cho rằng: “Thấy trên mạng có quá nhiều thông tin sai lệch về sự kiện lịch sử này, tới nỗi các thế hệ sinh sau 1975 không còn biết đâu là thông tin sai, đâu là thông tin đúng vì vậy lại càng quyết tâm để làm phim.”

    Nhà văn Hòang Phủ Ngọc Tường, thành viên của Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế đi theo Cộng sản trong vụ Mậu Thân, còn đối đáp vớ Nhà báo Thụy Khuê của Đài Phát thanh Quốc tế Pháp (Radio  France International, RFI) trong cuộc phỏng vấn gần 30 năm sau Mậu Thân như sau:

    “Thụy Khuê: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?

    HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.

    Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.

    Thụy Khuê: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?

    HPNT: “Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.”

    NHỮNG TIẾNG NÓI KHÁC

    https://i2.wp.com/i.ytimg.com/vi/v8hVRqzZrVw/hqdefault.jpg?resize=663%2C497&ssl=1

    Ông Đinh Lâm Thanh, trong Bài thuyết trình trong dịp tưởng Niệm 40 năm biến cố Mậu Thân tổ chức tại Paris ngày 02.03.2008, nói: “Tại Huế, CS lùng bắt thành phần quân-cán-chính, tập trung dân để tổ chức đấu tố, bắn giết, chôn sống tại chỗ một số và dẫn những người còn lại theo làm tù dân – tôi nói tù dân, vì tù là những người dân vô tội – trước rút lui tháo chạy trước sức tấn công mãnh liệt của QLVNCH và Đồng Minh.

    Nếu tính nạn nhân tại Huế, ngoài số quân nhân, cảnh sát, nhân viên cán bộ hành chánh về nghỉ Tết cũng như những người sống tại địa phương làm việc cho chính quyền Sài Gòn bị Cộng sản bắn ngay tại chỗ là 1.892 người. Ngoài ra người ta còn tìm được 2326 tử thi thường dân trong 22 hố chôn tập thể tại những địa điểm như Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, Phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Lăng Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An, Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Chùa Từ Đàm, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phú Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài.

    Mỗi hố chôn tập thể từ 5, 7 người đến trên 400 nạn nhân như ở Khe Đá Mài. Những nạn nhân nầy bị thảm sát một cách dã man như: Cột chùm nạn nhân lại với nhau và đốt cháy bằng xăng, bắt ngồi trên mìn rồi cho nổ tan xác, chặt đầu, bắn vào ót, đập chết bằng bá súng, đóng cọc từ dưới bàn tọa lên đến cổ, trói tay chân thành từng chùm rồi xô xuống hố chôn sống. Nạn nhân là thường dân vô tội tuổi từ 15 trở lên, gồm có sinh viên học sinh, 6 linh mục là các cha Bửu Đồng, Hoàng Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, cha Guy và cha Urbain (dòng Thiên An), và cha Cressonnier (Hội Thừa sai Paris), 5 thầy dòng gồm 3 sư huynh dòng Thánh Tâm là thầy Hec-Man, thầy Mai Thịnh và thầy Bá Long, 2 sư huynh dòng Lasan là thầy Agribert và thầy Sylvestre. Hai thầy dòng Lasan bị bắt và bị chôn sống chung một hố với linh mục Bửu Đồng tại Sư Lỗ, quận Phú Thứ. Ngoài ra Cộng sản còn giết các giáo sư đại học người nước ngoài trong lúc họ đang dạy ở đại học Y khoa Huế và thân nhân họ hàng của những người phục vụ dưới chế độ VNCH. Người ta ước lượng tại thành phố Huế có gần 5.000 người bị Cộng sản giết trong vòng mấy tuần lễ.

    Những người lớn tuổi còn sống tại Huế là những nhân chứng sống. Trong đó có hai thanh niên nguyên là học sinh trung học, nay đã 56 tuổi, trả lời phỏng vấn của các nhà báo ngoại quốc. Người thứ nhất tên Tuấn cùng với những học sinh khác đã bị CSBV bắt đào lỗ chôn sống 5 người tại Gia Hội ngay trong ngày đầu tiên khi CS vừa chiếm Huế. Học sinh thứ hai, xin giấu tên, ở Phủ Cam bị bắt đi theo đoàn tù dân đưa chôn sống ở Khe Đá Mài. Cả hai học sinh nầy nhờ một phép nhiệm mầu nào đó họ đã thoát được và sống sót đến ngày hôm nay.” (Khối 8406Tự do Dân chủ cho Việt Nam, 01-2009)

    Hai Linh mục Phan Văn Lợi và Nguyễn Hữu Giải hiện còn sống ở Việt Nam kể lại như sau:

    “…tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ yếu bốc từ Khe Đá Mài nhưng đã bị chính quyền cộng sản phá đổ trụ bia và để cho hoang phế suốt 32 năm trời…

    “Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả, có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết”. (Đối Thọai o­nline, 17-01-2008)

    Hai linh mục Lợi và Giải cho biết họ họ gặp một nhân chứng sống lúc bấy giờ ông ta mới 17 tuổi cũng bị bắt theo đoàn người bị đưa đi giết ở Khe Đá Mài nhưng may mắn lợi dụng lúc đêm tối nên ông đã trốn thoát và hiện còn sống ở trong nước đã kể lại:

    “Hồi ấy, tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi đã từ quê chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xã Thủy Phước, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước… Khuya mùng Một rạng mùng Hai Tết, tôi nghe tiếng súng nổ khắp nơi và được tin Việt Cộng đã chiếm nhiều nơi trong thành phố Huế… Cả gia đình tôi cũng như nhiều giáo dân ở Phủ Cam đều chạy đến ẩn núp trong nhà thờ để tránh bom đạn. Lính Nghĩa quân của xã và một số quân nhân về phép chiến đấu bên ngoài để bảo vệ đồng bào. Sau mấy ngày, không có tiếp viện nên chiều mùng 5 Tết (3 tháng 2/1968) phải rút chạy… Khuya mùng 5 Tết, Việt Cộng tràn vào nhà thờ bắt những người từ 15 tuổi đến ngoài 50 tuổi bất kể là học sinh hay thường dân … và tuyên bố cho đi học tập trong vòng 3 ngày sẽ trở về trong đó có tôi… Sáng hôm sau, chúng tôi bị dẫn đi theo đường xe lửa từ Phủ Cam ra Bến Ngự và đến chùa Từ Đàm… Tại đây tôi thấy Việt Cộng rất đông vừa du kích địa phương vừa bộ đội miền Bắc… Ngôi nhà 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt từ mấy ngày trước, còn một gian để giam giữ những người mới bị bắt… Tôi gặp những người quen như ông Tín (thợ chụp ảnh), ông Hồ (thợ hớt tóc), anh Trị (con ông Ngọc người đánh đàn trong nhà thờ), ông Hoàng (Đông y sĩ ở Chợ Xép), hai người con trai ông Thắng (làm nghề nấu rượu nuôi heo), hai người con trai ông Vang (nhạc sĩ thổi kèn đồng), anh Thịnh (con ông Năm), hai anh em Bình và Minh (con ông Thục), anh Minh 16 tuổi, con ông Danh nhân viên Công Ty Thủy Điện Huế) đều là học sinh… Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả một ngày từ sáng tới tối không được ăn uống gì cả… Họ đưa cho chúng tôi mỗi người một tờ giấy để viết bản khai lý lịch tên, nghề nghiệp, tên cha mẹ, sinh quán ở đâu… Ai khai gian sẽ bị đem ra bắn… Tôi thấy một số người bị trói vào gốc cây bồ đề và bị đem ra bắn chôn ngay trong sân chùa, trong đó có anh Hoàng Sự (Cảnh Sát) mà tôi biết tên. Họ cho một vài người về nhắn với gia đình tiếp thế lương thực và quần áo, thuốc men cho những người đang bị giam giữ… Khi trời sẩm tối, họ bắt chúng tôi ra ngồi xếp hàng giữa sân chùa. Một anh cán bộ tuyên bố:

    – Anh em yên tâm, Cách Mạng sẽ đưa anh em đi học tập trong 3 ngày rồi sẽ cho về với gia đình! Bây giờ chúng ta lên đường!.

    Rồi họ dùng dây điện thoại trói tay chúng tôi ra phía sau lưng từng người một, rồi dùng dây kẽm gai nối 20 người làm một toán. Tôi đếm được trên 25 toán như thế (tất cả 500 người). Một người địa phương đi nhìn mặt anh em chúng tôi và nói với nhau:

    – Không thấy Trọng Hê và Phú Rỗ trong số giáo dân Phủ Cam ở đây.

    (Anh Trọng con ông Hê và anh Phú là hai thanh niên ở Phủ Cam có võ nghệ mà giới du đãng ở Huế biết tiếng. Hai anh đã chạy theo lính Nghĩa Quân xã rút lui khi Việt Cộng vào nhà thờ! Những người bị bắt đến đây đều là dân lành vô tội).

    Họ dẫn chúng tôi đi vào đường bên trái Đàn Nam Giao, vòng qua Dòng Thiên An, đến lăng Khải Định, vòng phía sau trụ sở Quận Nam Hòa, ra đến bờ sông Tả Trạch (Thượng nguồn sông Hương)… Đến bờ sông, Việt Cộng cho chặt cây lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua sông (khu vực lăng Gia Long), thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc (vùng núi tranh). Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, ban đêm, trời lạnh lắm, khi lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe… Khoảng 30 bộ đội miền Bắc dẫn chúng tôi đi, họ dùng đèn pin hay đuốc để soi đường, chúng tôi đi trong rừng tre nứa và cây cổ thụ dày đặc… Khoảng nửa đêm, chúng tôi được dừng lại để nghỉ và mỗi người nhận được một vắt cơm. Chúng tôi đoán đã đi được trên 10 cây số rồi! Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng ngủ một chút để lấy sức còn phải đi tiếp… Bỗng như có linh tính báo trước, người tôi run lên bần bật… Tôi nghe hai tên bộ đội nói nhỏ với nhau:

    – Trong vòng 15-20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn nầy!

    Tôi liền ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:

    – Tụi mình ráng mở dây trốn đi! Mười lăm phút nữa là bị bắn chết hết đó!

    Trời mưa, dây điện trơn trợt, lát sau, chúng tôi mở được giây nhưng vẫn ngồi yên sợ chúng biết. Tôi nói nhỏ:

    – Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!

    Bọn Việt Cộng đánh thức chúng tôi dậy, một tên nói lớn cho mọi người nghe:

    – Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Ai có vàng, tiền, đồng hồ, bật lửa… thì đem nộp, không được giữ trong người… Học tập xong sẽ được trả lại…”

    Thế là bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Tên bộ đội đứng gần chúng tôi còn mang trên vai cả chục cái radio mà chúng đã cướp được của dân ở thành phố… Một tay mang súng, một tay mang các thứ vừa cướp được, hắn đi chậm lại cách xa mấy tên kia một quãng… Chúng tôi bắt đầu xuống dốc, nghe tiếng nước chảy róc rách… Tôi vỗ nhẹ vai thằng bạn và cả hai chúng tôi vung tay và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Tôi đá mạnh và tên bộ đội mang nhiều radio… Hắn ngã nhào! Hai chúng tôi lao vào rừng…

    Trời tối, rừng già chúng không giám đuổi theo… Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi chỗ ẩn núp và đi ngược trở lại… Chừng 15-20 phút sau, chúng tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK, rồi lựu đạn nổ vang rền… Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó tiếng khóc la khủng khiếp… không hiểu sao lúc đó, tai tôi nghe rất rõ ràng… Lúc đó khoảng 12-12 giờ 30 khuya… đầu ngày 8 Tết (6/2/1968). Về sau tôi mới biết chỗ đó là Khe Đá Mài…” (Bài thuyết trình của cựu Dân biểu VNCH Nguyễn Lý Tưởng tại cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008).

    NHÂN CHỨNG CỦA SỰ THẬT

    Image result for GIẢI KHĂN SÔ CHO  - HUẾ

    Ông Võ Văn Bằng, Trưởng Ban Cải táng Nạn nhân Cộng sản Tết Mậu Thân nói với đài Á Châu Tự Do (RFA) năm 2008: “Các hố cách khoảng nhau. Một hố vào khoảng 10 đến 20 người. Trong các hố, người thì đứng, nào là nằm, nào là ngồi, lộn xộn. Các thi hài khi đào lên, thịt xương đã rã ra. Trên thi hài còn thấy những dây lạc trói lại, cả dây điện thoại nữa, trói thành chùm với nhau. Có lẽ, họ bị xô vào hố thành từng chùm. Một số người đầu bị vỡ hoặc bị lủng. Lủng là do bắn, vỡ là do cuốc xẻng…”

    Vẫn theio RFA thì Nhà báo Vũ Ánh (đã qúa cố), nguyên phóng viên mặt trận hệ thống Truyền thanh quốc gia VNCH, đã có mặt tại Huế từ ngày 5 đến 29 Mậu Thân và đi theo nhiều nhóm tìm hầm chôn tập thể kể lại cảm giác của ông: “Vùng nhiều nhất là quận Phú Thứ và Dạ Lê Thượng có nhiều hầm chôn xác tập thể. Cảm giác của tôi lúc ấy rất lạ, như là bị tê liệt khi nhìn các hình ảnh đó…

    “Ngay ở hầm Phú Thứ, chắc khoảng gần 1.000 người. Khui lên, đầu của họ phía sau sọ bị bể hết. Những thi hài bị nối nhau bằng dây điện thoại. Có những người không có vết thương, chứng tỏ bị chôn sống”. (RFA o­nline ngày 1-2-2008).

    Trong bài nói chuyện tại buổi 40 năm Tưởng niệm Tết Mậu Thân, Việt Báo Gallery, thứ Bảy 29-3-2008, Nhà văn Nhã Ca tác giả “Giải Khăn Sô Cho Huế” nói:

    “Bốn mươi năm trước đây, đúng vào giờ trưa mùng Hai Tết, tại Cửa Đông Ba Huế, chỉ mấy tiếng đồng hồ sau khi đột nhập, cộng sản khai diễn cuộc tàn sát. Toán nạn nhân đầu tiên gồm 5 thường dân-không hề có người lính Cộng Hòa nào. Tất cả bị trói, bắt đứng quay lưng vào tường thành. Dân chúng đứng coi. Súng AK nổ. Từng người gục chết. Sau cuộc hành hình, thân nhân những người bị bắn nhào ra muốn ôm xác. Họ bị đánh, bị đá, bị đuổi. Xác người bị phơi ngày phơi đêm. Nắng. Máu. Ròi bọ…

    “Và cuộc tàn sát tiếp tục. Không bằng súng đạn mà bằng cách chôn sống. Những nạn nhân bị cột trói bằng dây điện dính chùm xếp hàng bên hố. Một vài người bị đập đầu. Cả dây người đang sống bị đạp xuống hố đè lên nhau. Cái đầu nào ngóc lên bị đập bằng cuốc. Cứ thế mà chôn hàng ngàn người. Bạn tôi, chị Tâm Túy cũng đã bị chôn sống. Khi xác đào lên, thấy hai tay chị vói lên như đang cố cào bới đất. Móng tay, móng chân mọc dài hơn. Tóc mọc dài hơn…Bạn tôi bị chôn sống khi còn đầy sức sống..”

    “Huế Tết Mậu Thân. Hàng ngàn người đã bị chôn sống như thế”. (Việt Báo ngày 31-3-2008)

    Cư sĩ Trí Lực, người đã chôn cất những xác chết nằm lại sau biến cố Mậu Thân kể lại với RFA về nỗi kinh hoàng của ông:

    “Hai mươi sáu ngày sau, sau khi Cố đô Huế bình định trở lại thì tôi tận mắt chứng kiến những hầm chôn tập thể được khai quật lên từ vùng Bãi Dâu Gia Hội, những người xấu số đã bị trói quật lại sau lưng và có những mảnh xương sọ bị vỡ nát.Cảnh kinh hoàng là cộng sản đã chon sống bao nhiêu người dân vô tội.”

    Nhà văn Đinh Lâm Thanh, hiện sống ở Pháp, cũng là chứng nhân của biến cố Mậu Thân kể:

    “Gia đình của tôi vùng Phủ Cam là một, vùng An Vân Thượng là hai, Gia Hội là ba. Bà con xa bà con gần của bên họ ngoại của tôi gồm cả thảy 12 người. Trong 12 người đó, có người bị chôn sống, có người bị bắn tại chỗ, có người bị chặt đầu, có người bị mổ bụng”. (RFA o­nline ngày 7-2-2012)

    Ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại trong“cuộc hội thảo về chiến tranh Việt Nam tổ chức tại Việt Nam Center (Lubbock, Texas) từ ngày 13 đến 15/3/2008”: “Mồ chôn tập thể: Các nạn nhân bị thảm sát tại Huế và Thừa Thiên được tìm thấy tại trường tiểu học Gia Hội, chùa Therevada, Bãi dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng Viện, khu vực phía Tây Huế gần lăng Tự Đức và lăng Đồng Khánh, cầu An Ninh Thượng, cửa Đông Ba, trường An Ninh Hạ, trường Văn Chí, Chợ Thông, Lang Xá Cồn, gần lăng Gia Long, gần chùa Tường Vân, Đông Gi (Di), Vinh Thái, Thủy Thanh, Lương Viện, Phù Lương, Phú Xuân (Phú Thứ), Thượng Hòa, Vinh Hưng, Khe Đá Mài… tất cả 23 địa điểm tại tổng cộng 2326 xác chết (sọ người). Còn khoảng trên 3,000 nạn nhân thuộc tỉnh Thừa Thiên và Huế đã được thân nhân xác nhận là chết hoặc bị bắt đi thủ tiêu, mất tích… không biết họ đã bị giết chết và chôn xác ở đâu?!

    Dã man nhất là tại Khe Đá Mài (thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên) Việt Cộng đã dùng súng trung liên, đại liên, lựu đạn và mìn giết tập thể các nạn nhân, vất xác xuống dưới khe, lâu ngày thịt thối rữa bị nước cuốn đi, chỉ còn 428 sọ người, xương người dồn lại một đống. Người ta đã dựa vào các dấu vết còn lại của nạn nhân như áo len, tượng ảnh, giấy căn cước bọc nhựa(ID)… để biết được thân nhân của mình đã chết ở trong đống sọ và xương lẫn lộn đó. Đa số những nạn nhân nầy là giáo dân bị bắt ở nhà thờ Phủ Cam vào đêm mùng 5 Tết (3 tháng 2/1968) Người ta cũng tìm thấy vết tích của hai ông Lê Hữu Bôi (chủ tịch sinh viên Phật tử năm 1963) và Lê Hữu Bá (sĩ quan Quân Cảnh) tại Khe Đá Mài. Các em học sinh như Bùi Kha (16 tuổi), Phan Minh (16 tuổi), Nguyễn Duyệt(17 tuổi) và nhiều bạn trẻ khác thuộc giáo xứ Phủ Cam cũng bị VC giết hại tại đây…”

    LÊ PHONG LAN CÓ NÓI THẬT?

    Trái với những lời kể này, nhà làm phim tuyên truyền cho đảng, Bà Lê Phong Lan cho biết bà đã phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu, Tổng Bí thư đảng khoá VIII – người từng là chỉ huy một trung đội trong sự kiện Mậu Thân 1968 tại Huế; lãnh đạo Thanh niên phật tử tranh đấu ở Huế theo Cộng sản nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân; nhà báo Mỹ Stanley Karnow, cựu phóng viên tờ Washington Post Don Lux; GS sử học Larry Berman, và cả những người lính từ hai phía.

    Bà nói: “Những dẫn chứng lịch sử cho thấy thông tin bị làm méo mó. Vào thời điểm đó, một số hãng thông tấn nước ngoài và các nhà báo độc lập đã tìm hiểu và xác định không tìm thấy hố chôn người tập thể như phía Việt Nam Cộng hòa đưa ra. Câu chuyện của những nhân chứng có thẩm quyền đã làm sáng rõ: cái gọi là “cuộc thảm sát đẫm máu” chỉ là đòn tâm lý chiến mà Mỹ dựng lên, thực tế Huế đã bị bom Mỹ phá hủy làm nhiều thường dân chết cùng với quân giải phóng và lính Mỹ.”

    Nhưng, theo ông Trương Như Tảng (cựu Bộ trưởng Tư pháp Cộng hòa miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì:” Trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân…) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận.” Ông dẫn lời một người bạn rằng:” Do kỷ luật kém ở một số đơn vị, một số thường dân cũng nhân dịp hỗn loạn để trả thù nhau nên đã có những vụ giết hại vô cớ. Một bản báo cáo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng bắt được ngày 25 tháng 4 năm 1968 ghi nhận, họ đã “diệt 1.892 nhân viên hành chánh, 38 cảnh sát, 790 tên ác ôn, sáu đại uý, 1 trung uý, 20 thiếu uý và nhiều sĩ quan trừ bị…” trong cuộc chiếm đóng Huế.” (Tài liệu trích theo Hồi ký của ông Trương Như Tảng trên Internet)

    Ngòai ra, báo cáo chính thức sau Mậu Thân ở Huế còn cho biết: “Một vụ thảm sát gây phẫn nộ dư luận quốc tế là vụ giết 4 bác sĩ người Đức sang giảng dạy và làm việc tại trường Đại Học Y Khoa Huế. Trong bài viết “The Vietcong Massacre at Hue,” xuất bản năm 1976, một bác sĩ có tên Elje Vannema, kể rằng ông bà bác sĩ Horst Gunther Krainick và hai bác sĩ Raymund Discher cùng Alterkoster đã bị giết trong tháng Hai năm 1968 tại chùa Tường Vân hoặc một vùng đất nhiều cây cối cách chùa chừng nửa dặm, nơi người ta tìm thấy thi hài của các nạn nhân. Bác sĩ người Pháp, có tên Le Hir khám nghiệm tử thi các nạn nhân cho biết có dấu vết đạn xuyên qua đầu và ót.”

    GIẾT NGƯỜI GIỮA ĐÊM GIAO THỪA
    Image result for ĐÊM GIAO THỪA TẾT MẬU THÂN - HUẾ

    Hồi tưởng lại biến cố Mậu Thân đẫm máu do người Cộng sản gây ta cho nhân dân miền Nam 50 năm trước, không một người Việt Nam nào có thể quên ngày ấy. Giữa đêm Giao thừa thiêng liêng của dân tộc Tết Mậu Thân (1968), Quân đội Cộng sàn miền Bắc và lực lượng võ tranh tay sai Việt Cộng (của MTGPMN) đã tung quân tấn công 41 thành phố, thị xã và 72 Quận lỵ , kể cả Thủ đô Sài Gòn và cố đô Huế của Việt Nam Cộng hòa.

    Ít người  Việt  nào muốn gợi lại những đau thương, đổ vỡ của chiến tranh, nhất là cuộc thảm sát trên 3,000 trong số gần 6000 thường dân bị thiệt mạng trong 25 ngày Cộng sản  chiếm đóng thành phố Huế của binh lính Cộng sản. (có tài liệu nói 26 ngày)

    Nhưng đảng và nhà nước CSVN lại coi biến cố đau thương này là một “chiến công” phải ăn mừng và tổ chức lễ hội như đã diễn ra trừ dạo kỷ niệm 40 năm.

    Bằng chứng như ta thấy báo  Công an Thành phố Sài Gòn loan tin ngày 13-11-2007: “Ban Bí thư TW Đảng có thông báo về việc tổ chức kỷ niệm trọng thể 40 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân – 1968. Bộ Quốc phòng được giao nhiệm vụ phối hợp với Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế tổ chức hội thảo khoa học cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân-1968. Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Bộ Quốc phòng tổ chức mít tinh trọng thể cấp Nhà nước tại thành phố. Các tỉnh từ Quảng Trị trở vào tổ chức gặp mặt truyền thống, tọa đàm về chiến thắng này. Tổ chức các hoạt động văn hóa, du lịch, giúp đỡ cá nhân có thành tích trong cuộc Tổng tiến công Xuân Mậu Thân hiện còn khó khăn.”

    Nguyễn Đình Ước, Trung tướng Cộng sản viết trên báo Nhân Dân ngày 8-1- (2008): “Cuộc tiến công Tết Mậu Thân đi vào lịch sử là một sáng tạo độc đáo của cuộc chiến tranh cách mạng Việt Nam thể hiện một đỉnh cao ý chí và trí tuệ của Việt Nam trong cuộc chiến tranh nhỏ thắng lớn. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân ta đã đánh thắng oanh liệt một cuộc chiến tranh cục bộ lớn nhất của một tên đế quốc lớn nhất trong thế kỷ thứ 20.”

    Có “độc đáo”, “oanh liệt” hay không thì Ước cần đọc lại những lời tuyên bố nhìn nhận Bộ chỉ huy Cộng sản đã tính tóan sai lầm trong vụ tấn công quâns ự Mậu Thân  của Trần Văn Trà, Trung tướng.

    Ước cũng nên tự vấn lương tâm tại sao đảng CSVN đã lên án, tuyền truyền rùm beng vụ Quân đội Mỹ can tội thảm sát  người dân vô tội tại ấp Mỹ Lai mà không dám nhìn nhận cuộc tàn sát đẫm máu dân thường và các viên chức VNCH của lính Cộng sản ở Huế.

    Ông Douglas Pike, một chuyên viên về Cộng sản Việt Nam nổi tiếng của Mỹ viết: “Một cách tự nhiên, những điều xảy ra ở Huế là vài sự thống kê mau lẹ và nhạy cảm. Cuối cùng, lực lượng quân sự Cộng sản lên tới 12 ngàn người đã tấn công Huế ngay đêm mồng một tết (30 tháng 1 năm 1968), chiếm thành phố 25 ngày và cuối cùng bằng hành động quân sự họ bị đánh bật ra khỏi nơi họ chiếm đóng.”

     “Trong trận tấn công nầy, 5 ngàn 8 trăm người dân thường bị giết và mất tích.  Đến bây giờ tất cả họ coi như đã chết. Từ đó, thi hài họ được tìm thấy lẻ tẻ hay trong những ngôi mộ tập thể ở những vùng chung quanh Huế – Trung tâm văn hóa Việt Nam – thuộc tỉnh Thừa Thiên.”

    Đó chỉ là những dữ kiện chính yếu, những thống kê quan trọng, chẳng vui gì khi nói về Huế, là điều được viết xuống bằng thứ ngôn ngữ bình thường của báo chí, rõ ràng chẳng gây được ấn tượng gì cho tinh thần và lương tâm của nhân loại. Chẳng có tiếng thét đầy uất hận nào! Và các tòa đại sứ của Cộng sản Bắc Việt Nam trên thế giới đều im hơi lặng tiếng.” (Tuệ Chương dịch) Như vậy, dù muốn che cho bằng được để lãng quên, nhưng lịch sử và sự thật của máu đổ thịt rơi ở Thành phố Huế 50 năm trước vẫn còn tươi rói. Lời kể của các nhân chứng đã nói lê sự thật không thể chối cãi.

    Vì vậy, dù có mồm loa mép giải đến đâu thì 50 năm sau thảm họa Mậu Thân, người Cộng sản vẫn không thể xóa đi tội ác họ đã gây ra cho nhân dân miền Nam, vì những dòng máu oan khiên của hàng ngàn đồng bào vẫn chưa khô trên thành phố Huế. -/-

    Phạm Trần

    (đầu năm 2018)

    TOÀN CẢNH TRƯỚC BIẾN CỐ MẬU THÂN (1968)

    Năm nay, 2018 là năm Mậu Tuất. Mậu Tuất (2018) cách Mậu Thân (1968) đúng 50 năm. Tuy đã qua nửa thế kỷ, biến cố Mậu Thân vẫn còn đậm nét trong trí nhớ người Việt ở Nam Việt Nam (NVN), nhứt là những người lớn tuổi đã từng trải qua biến cố đau thương nầy. Trong khi đó, nhà cầm quyền cộng sản (CS) trong nước cố tình tìm cách bôi xóa dấu vết tội ác và làm lạc hướng lịch sử, để chạy tội trước dân tộc, nhưng “ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.”

    Nhân dịp kỷ niệm 50 năm Mậu Thân đau thương, loạt bài nầy cố gắng mở lại hồ sơ biến cố Tết Mậu Thân để các thế hệ trẻ biết rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhằm tránh những lầm lẫn trong tương lai. Xin bắt đầu bằng toàn cảnh tình hình trước biến cố Mậu Thân (1968).

    1. TỔNG QUAN

    TÌNH HÌNH QUỐC TẾ: Sự kiện quốc tế ảnh hưởng quan trọng đến chính sách của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hay Bắc Việt Nam (BVN) vào thập niên 60 thế kỷ trước là việc Nikita Khrushchev, bí thư thứ nhứt đảng CS Liên Xô, bị đảo chánh ngày 15-10-1964.

    Nguyên trong đại hội 20 đảng CS Liên Xô tháng 2-1956, Nikita Khrushchev đưa ra chủ trương hòa dịu với các nước tây phương và sống chung hòa bình (peaceful coexistence) giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau. Vào đầu năm 1957, chính phủ Liên Xô bất ngờ đề nghị hai miền BVN và NVN cùng vào Liên Hiệp Quốc như hai nước riêng biệt, nhưng bị nhà cầm quyền BVN quyết liệt phản đối. (William J. Duiker, Ho Chi Minh a Life, New York: Hyperion, 2000, tr. 500.)

    Sau khi Nikita Khrushchev bị lật đổ, ban lãnh đạo mới của Liên Xô gồm tam đầu chế Leonid Brezhnev, Alexei Kosygin và Nicolay Podgorny bỏ chính sách của Khrushchev, trở lại chủ trương can thiệp trên thế giới, mà sau nầy các nước Tây phương gọi là chủ thuyết Brezhnev. Tam đầu chế Liên Xô quyết định ủng hộ BVN nhằm lôi kéo BVN về phía mình trong cuộc tranh chấp giữa Liên Xô và Trung Cộng. Sự ủng hộ nầy càng làm cho BVN đẩy mạnh chiến tranh ở NVN.

    Trong khi đó, sau biến cố Maddox xảy ra trong vịnh Bắc Việt vào tháng 8-1964, lưỡng viện Quốc hội Hoa Kỳ đưa ra “Quyết nghị vịnh Bắc Việt” (The Gulf of Tonkin Resolution) ngày 7-8-1964 hoàn toàn ủng hộ tổng thống Lyndon B. Johnson trong việc mở rộng chiến tranh Việt Nam. Ngày 1-12-1964, tổng thống Johnson công bố kế hoạch dội bom BVN. Như thế là không tuyên chiến, Hoa Kỳ đưa quân tham dự hẳn vào chiến tranh Việt Nam chứ không chỉ giữ vai trò cố vấn cho Quân đội VNCH như trước nữa. Quân số Hoa Kỳ tăng nhanh, từ trên 20,000 cố vấn và chuyên viên cuối năm 1964, lên đến 486,000 quân cuối năm 1967. (Đoàn Thêm, 1967 (việc từng ngày), Sài Gòn: Cơ sở xb. Phạm Quang Khai, 1968, tr. 322.)

    Nhằm trấn an BVN sau phản ứng của Hoa Kỳ về biến cố Vịnh Bắc Việt, thủ tướng Liên Xô Alexei Kosygin viếng thăm Hà Nội tháng 2-1965, tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ BVN trong trường hợp BVN bị Hoa Kỳ tấn công. Tháng 4-1965, Lê Duẩn, bí thư thứ nhứt đảng Lao Động cầm đầu phái đoàn sang Moscow đáp lễ và tiếp tục cuộc thương thuyết. Một thỏa ước viện trợ được ký kết; đồng thời Liên Xô đồng ý cho Mặt trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (MTDTGPMNVN), một tổ chức ngoại vi của cộng sản BVN ở NVN, đặt văn phòng liên lạc tại Moscow. (Robin Edmonds, Soviet Foreign Policy, The Brezhnev Years, New York: Nxb. Oxford University, 1983, tr. 45.)

    Từ đó, võ khí Liên Xô được đưa vào chiến trường NVN để trang bị cho lực lượng CS. Nhiều quan sát viên ghi nhận rằng các loại võ khí nầy tối tân hơn các loại võ khí còn sót lại sau thế chiến thứ hai (1939-1945), mà Hoa Kỳ trang bị cho quân lực VNCH cho đến năm 1968.

    TÌNH HÌNH VIỆT NAM: Về phía Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay NVN, từ cuối năm 1963, tình hình chính trị xáo trộn mạnh sau khi tổng thống Ngô Đình Diệm bị đảo chánh ngày 1-11-1963, cùng với sự hủy bỏ luôn hiến pháp ngày 26-10-1956 do tổng thống Diệm ban hành.

    Trung tướng Dương Văn Minh cầm quyền chẳng được bao lâu thì bị trung tướng Nguyễn Khánh thay thế ngày 29-1-1964. Ông Khánh gặp nhiều chống đối, nhất là từ sau khi ông tuyên bố Hiến chương ngày 16-8-1964, thường được gọi là Hiến chương Vũng Tàu.

    Tình hình chính trị ổn định lại dần dần vào năm 1965. Ngày 1-4-1966, Quốc hội Lập hiến được bầu lên. Bản hiến pháp mới được ban hành ngày 1-4-1967, hình thành nền Đệ nhị Cộng Hòa. Cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên nền Đệ nhị Cộng Hòa ngày 3-9-1967 đưa đến việc liên danh các tướng Nguyễn Văn Thiệu – Nguyễn Cao Kỳ đắc cử tổng thống và phó tổng thống, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng chính trị kéo dài từ sau ngày tổng thống Diệm bị sát hại.

    Lợi dụng sự bất ổn chính trị của VNCH kéo dài từ năm 1963 đến năm 1966, MTDTGPMNVN phát triển mạnh mẽ được một thời gian. Khi VNCH tái ổn định dần dần từ sau cuộc bầu cử Quốc hội Lập hiến năm 1966, MTDTGPMNVN bị suy thoái trở lại.

    Một hiện tượng xã hội ít được chú ý là do chiến tranh càng ngày càng gia tăng cường độ, vùng nông thôn xôi đậu bất ổn, nên mỗi năm có khoảng từ 500,000 đến 1 triệu dân nông thôn tránh bom đạn, bỏ ra thành thị tỵ nạn, sinh sống dưới sự kiểm soát của chính quyền VNCH. (Don Oberdorfer, Tet!, New York: Nxb. Da Capo, 1984, tr. 53.)

    Điều nầy về lâu về dài gây nhiều thiệt hại cho du kích CS. Cộng sản không có dân chúng để trà trộn trốn tránh, cũng không có dân chúng để tiếp tế nuôi ăn, lại thiếu thanh thiếu niên để bắt lính, và một số cán binh CS bỏ về thành theo gia đình hoặc quy thuận chính phủ Quốc gia theo chính sách chiêu hồi, làm cho bộ đội CS càng ngày càng hao hụt.

    2. CỘNG SẢN QUYẾT ĐỊNH TẤN CÔNG

    Lúc đó, giới lãnh đạo BVN nhận định rằng sau ba năm xáo trộn, với nhiều cuộc biểu tình khắp các thành phố NVN, tình hình đủ chín mùi để có thể kêu gọi dân chúng tổng khởi nghĩa như tháng 8-1945 ở Hà Nội. Nếu để chính quyền VNCH ổn định trở lại, thì càng ngày càng bất lợi cho CS, cho nên BVN quyết định tổ chức tổng tấn công, bất ngờ đánh chiếm các thành thị miền Nam, rồi kêu gọi dân chúng nổi lên tổng khởi nghĩa. Cuộc tổng tấn công, tổng khởi nghĩa do CS Hà Nội chủ trương nhắm các mục đích sau:

    – Cộng sản dự tính chiếm chính quyền, phá hủy hệ thống chính quyền VNCH, tạo bất ổn khó khăn cho VNCH.

    – Trực diện đối đầu với Hoa Kỳ, CSVN ước tính khó có thể thắng được quân đội Hoa Kỳ, trang bị võ khí tối tân và hùng hậu hơn quân đội Pháp trước đây rất nhiều. Do đó, CSVN cần gây tiếng vang lớn trên thế giới và tại Hoa Kỳ, để lung lạc và làm chia rẽ dân chúng Hoa Kỳ. Năm 1968 là năm tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, tình hình chính trị Hoa Kỳ rất nhạy cảm. Dân chúng Hoa Kỳ bị kích động vì cuộc tổng tấn công, sẽ đẩy mạnh phong trào hòa bình và phản chiến tại Hoa Kỳ. Một khi hậu phương Hoa Kỳ bất ổn thì quân sĩ Hoa Kỳ ở tiền tuyến sẽ giảm ý chí chiến đấu. Chỉ có thế mới mong Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam.

    – Cộng sản sửa soạn một thế mạnh để nói chuyện trên bàn hội nghị, vì lúc đó cuộc hòa đàm giữa các bên lâm chiến sắp sửa diễn ra. (Trên thực tế, cuộc hòa đàm bắt đầu vào tháng 5-1968.)

    – Đưa chiến tranh vào thành phố sẽ làm cho dân nông thôn chạy ra thành thị quay trở về nông thôn, vì từ nay thành thị cũng bị tấn công mất an ninh như nông thôn, đồng thời chận đứng làn sóng dân chúng di chuyển từ nông thôn ra thành thị, gỡ rối cho hạ tầng cơ sở ở nông thôn của MTDTGPMNVN;

    – Cộng sản muốn chận đứng việc hồi chánh của một số phần tử trong MTDTGPMNVN, vốn không phải là đảng viên CS, mà chỉ là những người bất mãn với chế độ Ngô Đình Diệm, muốn quay trở lại với VNCH khi ông Diệm bị lật đổ

    – Nếu cuộc tổng tấn công thất bại, và chủ lực của MTDTGPMNVN bị tiêu diệt, đối với đảng Lao Động ở Hà Nội cũng là điều rất có lợi, vì lý do sau đây: Khi mới thành lập, MTDTGPMNVN gồm đa số là đảng viên CS miền Nam và những người bất mãn chế độ miền Nam bỏ theo Mặt trận. Đảng Lao Động BVN không tin tưởng và không kiểm soát được cả hai thành phần nầy. Nếu chủ lực MTDTGPMNVN bị quân đội VNCH tiêu diệt, thì đây sẽ là cơ hội tốt để đảng Lao Động gởi người từ BVN vào thay thế, nắm gọn và điều khiển hẳn toàn bộ MTDTGPMNVN, mà không bị tranh chấp nội bộ gay go. Sau năm 1975, một số nhân vật trong MTDTGPMNVN công khai tố cáo âm mưu nầy của đảng Lao Đông, trong đó có bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một trí thức miền Nam trong Mặt trận. (Chính Đạo, Mậu Thân 68: thắng hay bại, Houston: Nxb. Văn Hóa [tái bản lần thứ hai], 1998, tr. 165.)

    Với những tính toán trên, dầu cuộc tổng tấn công thắng hay bại, đàng nào đảng LĐ ở Hà Nội cũng đều có lợi, nên họ không ngần ngại hy sinh lá bài MTDTGPMNVN trong mưu đồ thôn tính VNCH. Về sau, ngay khi cưỡng chiếm được NVN năm 1975, Hà Nội liền loại bỏ nhóm lãnh đạo MTDTGPMNVN và giải thể Mặt trận nầy một năm sau đó (1976).

    3. NHỮNG BIẾN CHUYỂN TRƯỚC TẾT MẬU THÂN (1968)

    Vào đầu tháng 7-1967, tại Hà Nội, các cuộc họp quan trọng của Bộ chính trị và Quân uỷ Trung ương đảng Lao Động, duyệt y kế hoạch phát động cuộc tổng công kích và tổng khởi nghĩa vào dịp Tết Mậu Thân (1968). (Don Oberdorfer, sđd. tr. 54). Trong thời gian nầy, tướng Nguyễn Chí Thanh chết ngày 6-7-1967 ở Hà Nội. Phạm Hùng được gởi vào Nam để thay thế Nguyễn Chí Thanh, giữ chức bí thư Trung ương cục miền Nam, điều khiển cuộc chiến. (James J. Wirtz, The Tet Offensive, New York: Cornell University Press, 1994, tr. 52.)

    Tại BVN, giữa năm 1967, đảng Lao Động ra tay lần chót, bắt giam tất cả những thành phần theo chủ trương hòa dịu giữa các nước có chế độ chính trị khác nhau của Khrushchev, tức những thành phần không đồng ý với cuộc chiến tranh xâm lăng NVN. Đảng Lao Động lúc đó gán cho họ tội danh là thành phần “xét lại”, âm mưu “chống đảng”. Đó là các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, và khoảng 40 nhân vật khác, trong đó có cả trí thức, văn nghệ sĩ.

    Nhân dịp lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng tháng Mười Liên Xô, Lê Duẩn, bí thư thứ nhứt đảng Lao Động cùng hai uỷ viên Bộ chính trị là Võ Nguyên Giáp, bộ trưởng Quốc phòng và Nguyễn Duy Trinh, bộ trưởng Ngoại giao lên đường vào cuối tháng 10-1967 qua Moscow dự lễ.

    Trên đường đi, phái đoàn Lê Duẩn ghé qua Bắc Kinh xin quân viện, trình bày kế hoạch mới theo quyết định của Bộ chính trị VNDCCH vào tháng 7 vừa qua. Trung Cộng hứa gởi qua BVN 300,000 lính phòng không và công binh, cung cấp hoả tiễn 107 ly, 240 ly, quân dụng, lương khô, thuốc men. (Chính Đạo, Mậu Thân 68…, sđd.tr. 32.)

    Tại Moscow, Liên Xô chấp thuận cho BVN thêm đại bác 130 ly, chiến xa T54, phản lực cơ Mig 21 và các loại võ khí nặng khác. (Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, Nam Việt-Nam, 1954-1975, những sự thật chưa hề nhắc tới, Texas: 1990, tr. 77.) Cũng trong dịp nầy, để chứng tỏ một lần nữa tình thân thiện Xô Việt, những nhà lãnh đạo Xô Viết quyết định tặng Hồ Chí Minh huân chương Lenin. (Ralph Smith, “Thập niên cuối cùng của cuộc đời Hồ Chí Minh”, Lê Đình Thông dịch, đăng trong tuyển tập nhiều tác giả, Hồ Chí Minh, sự thật về thân thế và sự nghiệp, Paris: Nxb. Nam Á, 1990, tr. 125.)

    Từ khi chiến tranh Việt Nam mở rộng, Hoa Kỳ vận động nhiều chiến dịch ngoại giao khắp nơi trên thế giới, tìm cách chấm dứt tranh chấp. Vào năm 1967, BVN cho biết chỉ thương thuyết khi Hoa Kỳ ngưng ném bom vô điều kiện BVN. Hoa Kỳ trả lời sẵn sàng ngưng ném bom với điều kiện BVN không được lợi dụng thời gian ngưng ném bom để xâm nhập quân đội vào NVN.

    Trong khi việc ngoại giao còn là quả bóng thăm dò qua lại giữa các bên, nhân dịp năm hết Tết đến, đài phát thanh Hà Nội đưa ra lời tuyên bố ngày 19-10-1967 của nhà nước BVN, tự nguyện ngưng bắn từ 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 27-1-1968 đến 01G:00 sáng giờ Hà Nội ngày 3-2-1968, tức trong 7 ngày.(Wikipedia.org. Chữ khóa: “Sự kiện Tết Mậu Thân.)

    Ngày 17-11-1967, mặt trận DTGPMNVN đề nghị hưu chiến 3 ngày trong dịp lễ Giáng Sinh năm 1967, ba ngày lễ Tết dương lịch năm 1968 và 7 ngày Tết âm lịch Mậu Thân. (Don Oberdorfer, sđd. tr. 70.)

    Chính phủ VNCH thông báo ngày 15-12-1967 sẽ hưu chiến 24 giờ trong dịp lễ Giáng Sinh và Tết dương lịch, hưu chiến 48 giờ trong dịp Tết âm lịch. (Chính Đạo, Mậu Thân 68 …sđdtr.342.)

    Như thế là cả hai bên người Việt Nam đang đánh nhau đều đồng ý hưu chiến nhân các ngày lễ Giáng sinh, Tết dương lịch và Tết âm lịch. Tuy nhiên vẫn có kẻ âm thầm mưu mô đánh lén …

    Nhằm làm lạc hướng dư luận và sự tính toán của các giới lãnh đạo Hoa Kỳ cũng như VNCH, CS dịu giọng vào đầu năm 1968. Vào dịp Tết dương lịch 1968, bộ trưởng Ngoại giao Bắc Việt là Nguyễn Duy Trinh tuyên bố muốn mở các cuộc hòa đàm và tiếp xúc mật với Hoa Kỳ. Thủ tướng BVN Phạm Văn Đồng cũng ngỏ ý sẵn sàng hòa đàm nếu Mỹ ngưng ném bom, và Đồng còn nhờ một viên đại diện Romania làm trung gian dàn xếp giữa Hoa Kỳ và BVN. (Hoàng Lạc, Hà Mai Việt, Nam Việt-Nam, 1954-1975, những sự thật chưa hề nhắc tới, Texas: 1990, tt. 77-78.) Hà Nội loan báo sẽ thả ba tù binh Hoa Kỳ vì lý do nhân đạo để đáp ứng những nỗ lực của chính phủ Hoa Kỳ trong việc tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề Việt Nam. (Chính Đạo, Mậu Thân68 …sđd. tr. 17.)

    Tại NVN, từ ngày 1-11-1967 diễn ra trận đánh đẵm máu kéo dài nhiều ngày tại Lộc Ninh, thuộc tỉnh Phước Long. Đến gần Tết âm lịch, Việt cộng tung quân tấn công các cứ điểm quân sự ở Cao nguyên Trung phần, và đưa ba sư đoàn chính quy là 325C, 304 và 308 bao vây và pháo kích dữ dội Khe Sanh (Quảng Trị), gần vùng giới tuyến giữa hai miền Nam Bắc, từ ngày 20-1-1968. Các nhà lãnh đạo VNCH, Hoa Kỳ, và cả thế giới nữa, rất quan tâm đến tình hình Khe Sanh, và lo lắng một cuộc đọ sức lớn lao sắp bùng nổ tại đây giữa hai bên như một Điện Biên Phủ mới. (Johm S. Bowman, The Vietnam War: Day by Day, New York: Mallard Press, 1989, tr. 118.)

    Trong khi đó, CS âm thầm tiếp tục chuẩn bị các cuộc tấn công vào thành phố. Ngày 2-1-1968, tại cao nguyên Trung phần, quân đội Hoa Kỳ tịch thu được một tài liệu có đầy đủ kế hoạch CS tấn công Pleiku và Kontum. Ngày 15-1, tại Khe Sanh, một sĩ quan CS hồi chánh cho biết sẽ có chiến dịch lớn tại vùng giới tuyến.

    Với nhiều tin tức tình báo khác, Bộ tư lệnh quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam ra lệnh báo động và thông báo cho phía VNCH biết, đồng thời yêu cầu VNCH hủy bỏ lệnh hưu chiến nhân dịp Tết nguyên đán, nhưng tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và đại tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng quân đội VNCH, chỉ đồng ý bãi bỏ hưu chiến tại Vùng 1 chiến thuật, và rút bớt 24 tiếng đồng hồ hưu chiến trên toàn quốc. (Chính Đạo, Mậu Thân 68…, sđd. tt. 31-32, 344. Trước năm 1975, VNCH được chia thành 4 vùng chiến thuật (CT): Vùng 1 CT: từ Quảng Trị vào đến Quảng Ngãi; Vùng 2 CT: từ Bình Định đến Bình Thuận và Cao nguyên từ Kontum xuống tới Di Linh; Vùng 3 CT: từ Biên Hòa tới phiá Bắc sông Tiền; Vùng 4 CT: từ Mỹ Tho tới Cà Mau.}

    Một dấu hiệu nữa về việc CS sẽ tổng tấn công trong dịp Tết Mậu Thân là tại Bình Định (thuộc Quân đoàn 2 và Vùng 2 CT), chính quyền VNCH bắt được trước sau 10 cán bộ CS với những tài liệu quan trọng ngày 29-1-1968 (30 Tết), trong đó có cả máy ghi âm sẵn lời phát thanh kêu gọi dân chúng tổng khởi nghĩa. Tỉnh trưởng Bình Định đã báo cáo vụ việc lên thượng cấp, nhưng bộ Tư lệnh Vùng 2 không mấy quan tâm. Vị tư lệnh vùng nầy là trung tướng Vĩnh Lộc lại bỏ về Sài Gòn ăn Tết.

    Lúc đó, dư luận chung ở trong cũng như ngoài nước tin tưởng sự hiện diện của gần 500,000 quân Mỹ tại Việt Nam sẽ bảo đảm an toàn cho VNCH, nhứt là CSBVN và MTGP đều tuyên bố hưu chiến nhân dịp Tết thiêng liêng của dân tộc. Hơn nữa, do CS vừa tuyên truyền vừa chuyển quân đe dọa Khe Sanh, nên mọi người chú tâm đến trận chiến ở Khe Sanh, mà ít chú ý đến những diễn tiến chung quanh các thành phố rộn rịp khác thường trong những ngày trước Tết.

    Về phía Hà Nội, sau sáu tháng nghiên cứu, chuẩn bị, ngày 21-1-1968, Bộ chính trị đảng Lao Động họp lần chót, quyết định bất ngờ tổng tấn công trong dịp hai bên tuyên bố hưu chiến (dân gian gọi là đánh lén) đêm Giao thừa Tết Mậu Thân tại NVN (đêm 29 rạng 30-1-1968).

    Thế là máu lửa tang thương sẽ trút lên đầu người dân vô tội ở NVN trong những ngày Tết thiêng liêng của dân tộc!

    Trần Gia Phụng
    (Toronto 22-01-2018)

    968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương

    < iframe name="f16f50f735d40b" width="480px" height="1000px" frameborder="0" allowtransparency="true" allowfullscreen="true" scrolling="no" title="fb:like Facebook Social Plugin" src="https://www.facebook.com/v2.8/plugins/like.php?action=like&app_id=1803444393205342&channel=http%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter%2Fr%2FlY4eZXm_YWu.js%3Fversion%3D42%23cb%3Df1d7342ba93bb48%26domain%3Dwww.viendongdaily.com%26origin%3Dhttp%253A%252F%252Fwww.viendongdaily.com%252Ff2dc3be59993264%26relation%3Dparent.parent&container_width=0&href=http%3A%2F%2Fwww.viendongdaily.com%2F1968-mo-tap-the-dau-tien-ben-song-huong-JHBhNWFR.html&layout=standard&locale=vi_VN&sdk=joey&share=true&show_faces=true&size=small&width=480" class="" style="margin: 0px; padding: 0px; border-width: initial; border-style: none; position: absolute; visibility: visible; width: 480px; height: 28px;">< /iframe>


    Lễ cải táng các nạn nhân Tết Mậu Thân 1968 tại Huế.

    Ban đầu anh ấy nghĩ đó là rễ cây. Thế nhưng thứ đó đã bị mặt trời thiêu đốt mấy hôm, và đó là khuỷu tay của một xác chết, nhô lên từ lớp đất phủ sơ sài."

    Đài BBC London đang đăng một loạt bài đặc biệt nhân tưởng niệm 50 năm vụ Cộng Sản tàn sát thường dân tại miền Nam Việt Nam vào tết Mậu Thân 1968. Nơi bị thảm họa nặng nhất trong đợt tổng cống đó là là cố đô Huế, nơi có những mồ chôn tập thể mà cho đến nay nhà cầm quyền Hà Nội vẫn không đủ can đảm nhìn nhận sự thật về hành động khủng bố thường dân của họ. Quân cộng sản đã chiếm và tàn sát tại Huế trong 26 ngày, trước khi bị quân đội Mỹ và quân đội VNCH đánh bật ra ngoài 
    Dưới đây là bài chuyển ngữ đăng ngày thứ Sáu, 2 tháng 2, 2018 trên mạng của đài BBC, viết lại cuộc phỏng vấn ông Phil Gioia bằng tiếng Anh mang tựa đề 'Mass Graves in Hue, Vietnam' đã được đăng tải trên BBC World Service tháng 10, 2015. Ông Phil Gioia phục vụ hai nhiệm kỳ tại Việt Nam và bị thương hai lần. Ông nay sống tại San Francisco, California. 


    Người dân cầm cờ trắng, chạy lánh nạn ở Huế trong hình ký giả Mỹ chụp ngày 1 tháng 2, 1968. Sau nửa thế kỷ, Cộng Sản Việt Nam vẫn không đủ can đảm nhìn nhận hành động thảm sát thường dân Huế. (Bettmann/ CORBIS)

    Vào đêm 30/1/1968, quân đội Bắc Việt và lực lượng Việt Cộng bất ngờ tổng tấn công trên toàn miền Nam Việt Nam.

    Huế bị các lực lượng phe cộng sản tấn công và chiếm giữ.
    "Kẻ thù đã rất dối trá, lợi dụng thời gian hưu chiến trong dịp Tết để gây kinh hoàng tới mức tối đa ở Nam Việt Nam, đặc biệt là ở những vùng đông dân," Tướng William Westmoreland, Tư Lệnh Quân Đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam, giận dữ nói.

    Các bản tin khi đó dồn dập tình hình chiến sự.
    "Kẻ thù đã xâm nhập vào Huế với lực lượng đáng kể, và nay đã chiếm được một phần thành phố," một tường thuật trên đài tuyên bố.

    "Mỹ không kích Huế. Thường dân phải gánh chịu những tổn thất to lớn," nội dung trong một bản tin khác.
    "Cộng sản không thể duy trì được quyền kiểm soát thành phố. Nhưng Mỹ và các đồng minh không đẩy được đối thủ ra nếu không phá nát thành phố cổ kính xinh đẹp này."

    Phil Gioia khi đó 21 tuổi, là trung úy Sư Đoàn Dù số 82, được gửi tới Việt Nam để tăng viện cho lực lượng thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và quân lực Việt Nam Cộng hòa trong cuộc chiến giành lại Huế.

    "Có những xác người trên sông; có những xác người trên các con kênh. Cả nơi đó ngập mùi tử khí và mùi gỗ cháy," Gioia nhớ lại.

    "Chúng tôi không được huấn luyện để giao chiến tại địa hình toàn là khu dân cư như vậy. Chúng tôi được đào tạo để đánh nhau trên các cánh đồng, trong rừng rậm. Chúng tôi phải đi qua từ nhà này sang nhà khác, từ vườn nhà này sang vườn nhà khác, giống như là phải tự nghĩ ra cách đánh đó."

    "Thời tiết thay đổi thất thường liên tục. Có hôm trời mưa, lạnh thấu xương. Ngày hôm sau lại nắng, nóng hầm hập. Cả khu vực cứ như một nhà tắm hơi.

    "Bên ngoài địa bàn Huế là cây cối trên các ngọn đồi. Chúng tôi phải di chuyển sang phía tây thành phố khoảng 2,5 km, từ bên ngoài di chuyển vào.

    "Xuôi dọc bờ bắc Sông Hương là nơi có lăng tẩm các vị vua Việt Nam - những ngôi chùa lớn đầy cây nhiệt đới rậm rạp và khỉ, ở đó có các vị sư.

    "Tôi lúc đó kiếm được một cậu học sinh người Pháp, và đó là cách duy nhất để tôi nói chuyện được với các vị sư, để hỏi họ xem họ có thấy bất kỳ lính Việt Cộng hay lính Bắc Việt nào không. Tất nhiên là họ luôn nói không, không, 'không có kẻ thù ở đây'."


    Người dân đang tìm đường thoát ra ngoài cố đô Huế tháng Hai 1968. (Douglas Pike Photograph Collection)

    "Chúng tôi khi đó vừa mới dọn sạch một trong những ngôi chùa lớn đó rồi di chuyển dọc theo các cánh đồng, nơi chúng tôi gặp một khu vực khá bằng phẳng dọc theo bờ bắc của con sông. Mùi tử khí đậm đặc.
    "Một trung sĩ dưới quyền tôi, tên là Ruben Torrez, nói, 'ở đây có cảm giác rất chết chóc.' Anh ấy thấy có một thứ nhô lên từ mặt đất. Ban đầu anh ấy nghĩ đó là rễ cây.

    "Thế nhưng thứ đó đã bị mặt trời thiêu đốt mấy hôm, và đó là khuỷu tay của một xác chết, nhô lên từ lớp đất phủ sơ sài.
    "Khi tới gần hơn, anh ấy nhận ra đó là gì, và gọi tôi tới gần. Tôi nhìn rồi nói, 'chúng ta cần đào lên xem sao' bởi chúng tôi nghĩ đó có thể là những người lính đối phương.

    "Nếu kẻ thù chôn cất người của họ, thì trong các xác chết đó chúng ta có thể tìm được những thông tin đáng giá. Họ có thể mang theo nhật ký, bản đồ chẳng hạn. Cho nên nếu đưa các xác chết đó lên và lục soát - tất nhiên, tôi biết điều đó thật là ghê tởm - thì chúng tôi có thể tìm được những tin tức tình báo có giá trị.
    "Nhưng lần này hóa ra không phải vậy. Đó là một người phụ nữ, và có rất nhiều xác người khác trong rãnh chôn này. Càng đào thêm, chúng tôi càng phát hiện ra thêm các xác chết."


    Một người lính Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đang bế một bé gái bị thương ra khỏi ngôi nhà đổ nát tại Huế trong tháng Hai 1968. (Douglas Pike Photograph Collection)

    Đó không phải là một mồ chôn bình thường. Các nạn nhân bị trói tay ra phía sau. Họ đã bị xử tử.”
    "Họ đều bị giết chết tại hố này," Phil Gioia nói.

    "Một số người bị bắn chết, một số không bị bắn. Tôi chỉ hy vọng là những người không bị bắn đã bất tỉnh trước khi bị hất đất lên người.

    "Đó là những người đàn ông và những người đàn bà, chừng 100 người, và có cả trẻ nhỏ. Từ trẻ sơ sinh cho tới tôi đoán là khoảng 10-12 tuổi, cả con trai lẫn con gái. Thật tàn nhẫn."

    Sau đó, Phil và những người lính của ông được cho biết về những xác chết mà họ tìm thấy.
    "Điều chúng tôi nghe thấy sau khi bên tình báo điều tra những gì chúng tôi tìm được, các loại giấy tờ, là Việt Cộng hoặc lực lượng Bắc Việt đã lên danh sách, để khi chiếm được Huế là họ dồn tất cả những người họ cho là mối đe dọa - bất kỳ ai thuộc quân lực Việt Nam Cộng hòa hoặc làm việc trong cơ quan công quyền của thành phố," Phil nói.

    "Người phụ nữ với cánh tay nhô lên mà chúng tôi tìm thấy là một giáo viên. Như vậy là họ đã dồn những người mà họ cho là không được để cho sống, và đưa tới các chỗ khác nhau trong thành phố. Đây chỉ là một trong những nấm mồ tập thể được phát hiện ra, nhưng là nấm mồ đầu tiên," Phil nói.

    Hơn 10 mồ chôn tập thể được phát hiện ở quanh Huế. Ước tính tổng số người bị giết trong thời gian quân Bắc Việt và Việt Cộng làm chủ thành phố là từ hàng trăm cho tới hàng ngàn người.

    Hầu hết các nạn nhân là người Việt, nhưng cũng có một số người Âu và người Mỹ.
    "Khi chỉ huy đại đội của tôi gọi radio về tổng hành dinh, họ đã không thể tin những gì được báo cáo. Khá nhanh sau đó, có rất nhiều người tới chỗ chúng tôi. Các sĩ quan cao cấp và một, hai vị tướng cùng trợ lý cũng tới," Phil nói.

    "Chúng tôi phải đeo mặt nạ khí khi khai quật các tử thi. Cảnh tượng rất ghê rợn.
    "Tôi chưa từng nhìn thấy điều gì như thế. Thành thật mà nói là cả những người lính của tôi cũng vậy. Và chúng tôi phải chuyển sang một khu vực khác, phải tẩy trùng vì toàn bộ quân phục, giày ủng, quần áo của chúng tôi, tất cả những gì trên người chúng tôi đều bị dính vương các mảnh xương thịt người chết.
    "Chúng tôi là lính chuyên nghiệp dày dạn, không phải lính dự bị, vậy mà những người lính trẻ của tôi đã cảm thấy rất kinh sợ. Ai cũng kinh hoàng trước những gì nhìn thấy."
    Vụ tìm ra các nấm mồ tập thể trở thành hàng tin chính ở miền Nam Việt Nam.
    Một số người chỉ trích nói rằng con số các vụ xử tử hàng loạt đã bị phóng đại hoặc chỉ là chiến dịch tuyên truyền.

    Tuy nhiên, tin tức về những vụ giết người ở Huế đã gây tác động rõ rệt.
    Khi quân Bắc Việt mở cuộc tấn công cuối cùng tiến tới thống nhất đất nước năm 1975, hàng trăm ngàn dân thường ở miền Nam Việt Nam đã bỏ chạy. Dường như trong tâm trí nhiều người, câu chuyện về "những vụ thảm sát ở Huế" vẫn còn đậm dấu ấn.

    "Tôi không nghi ngờ gì rằng cơn hoảng loạn đã đeo bám họ, ám ảnh họ với những gì họ đã nhìn thấy, đã nghe được, và đọc được trên báo chí, truyền thông hồi 1968," Phil Gioia nói.
    Tất nhiên, những vụ thảm sát ở Huế, dù chưa được phía Cộng sản thừa nhận, không phải là sự tàn bạo duy nhất của cuộc chiến, một cuộc chiến đã giết chết chừng 3 triệu người Việt Nam

    Biến cố Mậu Thân: Cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài - Hồi ức của một chứng nhân

    Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những gì xảy ra tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả. Nhưng trong những gì xảy ra tại Huế, thì có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng rợn, dã man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của chúng tôi, hình như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết rõ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc các nạn nhân bắt đầu bị dẫn đi đến chỗ hành quyết. Lý do là vì chỉ có hai con người duy nhất trong đoàn tử tội đã chạy thoát được trước khi thảm kịch xảy đến, họ nắm được một ít chi tiết nhưng lại chẳng biết rõ địa điểm, do vụ việc xảy ra giữa đêm khuya trong rừng già; họ lại còn quá trẻ rồi sau đó đăng lính, mất hút vào cơn bão chiến tranh, khiến mãi tới ngày 19-09-1969, tức gần hai năm sau, nhờ khai thác tù binh Việt cộng, chính phủ VNCH mới biết đó là Khe Đá mài trong vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, thuộc quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên (xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy ngày nay) và mới tiến hành việc tìm kiếm hài cốt các nạn nhân xấu số. Thời gian sau, một trong hai người đã chết trận, đem theo bí mật xuống đáy mồ. Chúng tôi may mắn gặp được chứng nhân duy nhất còn lại, nay gần lục tuần. Ông đã tường thuật mọi việc cho chúng tôi khá tỉ mỉ. Nhưng vì lý do an ninh của đương sự, chúng tôi viết theo dạng tự thuật để khỏi nêu tên ông. Chúng tôi cũng xin phép bỏ đi nhiều chi tiết có thể giúp CS lần hồi dấu vết của ông để báo thù.  - Linh mục Phêrô Nguyễn Hữu Giải và Linh mục Phêrô Phan Văn Lợi

    *

    Hồi ấy tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị cấp. Vì tình hình bất an, gia đình tôi đã từ quê chạy về thành phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xã Thủy Phước, tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ mấy năm trước. 

    Sáng sớm mồng một tết Mậu Thân, tôi cùng gia đình đi thăm bà con thân thuộc và du xuân với các bạn đồng trang lứa, trong một khung cảnh tạm an bình, vắng tiếng súng, nhờ cuộc hưu chiến mà hai miền Nam Bắc đã cam kết tuân giữ. 

    Bỗng nhiên, khuya mồng một rạng mồng hai tết, nhiều tiếng đại bác và súng lớn súng nhỏ vang rền khắp xứ đạo của chúng tôi. Sáng hôm sau, tôi nghe nói Việt Cộng đang tấn công vào toàn bộ thành phố Huế và đã chiếm nhiều nơi rồi. Hoảng hốt, cả gia đình tôi cũng như rất nhiều giáo dân chạy đến nhà thờ (lúc ấy mới hoàn thành phần cung thánh và hai cánh tả hữu) để ẩn trú, vì đó là nơi an toàn về mặt thể lý (xây vững chắc, tường vách dày, trần xi măng rất cao) cũng như về mặt tâm lý (có thể trông cậy vào ơn phù hộ của Chúa và đông đảo người bên nhau thì bớt hãi sợ…). Tôi thấy đủ hạng: nữ nam già trẻ, linh mục tu sĩ, ngồi chen chúc nhau cả mấy ngàn người (giáo xứ Phủ Cam lúc đó lên tới 10.000 giáo dân). Đang khi ấy, ở bên ngoài, lực lượng địa phương quân, nhân dân tự vệ cùng các quân nhân chính quy về nghỉ phép hợp đồng tác chiến, chống giữ không cho Cộng quân tiến vào giáo xứ từ hướng An Cựu, Bến Ngự, Nam Giao, Ngự Bình... Cuộc chiến đấu xem ra rất ác liệt!

    Thế nhưng, đến chiều mồng 6 Tết, do lực lượng quá nhỏ, lại không có tiếp viện (vì mặt trận lan khắp cả thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên), các chiến sĩ đang bảo vệ giáo xứ đành phải rút lui, bỏ chạy. Thế là VC tràn vào! Khuya hôm đó, lúc 1g sáng, chúng mang AK và đèn đuốc xông vào nhà thờ Phủ Cam để gọi là “bắt đầu hàng” và lục soát mọi ngõ ngách. Sau này tôi mới biết chúng có ý lùng bắt cha xứ mà chúng nghi là người chỉ huy cuộc kháng cự, lùng bắt tất cả những ai mà chúng nghĩ đã chống cự lại chúng trong 5 ngày qua, cùng mọi cán bộ viên chức chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, như xảy ra tại nhiều nơi khác trong thành phố Huế lúc ấy.

    Thấy chúng vừa xuất hiện, tôi liền lợi dụng bóng tối, nhanh chân chạy đến cầu thang sắt phía cánh trái nhà thờ (gần mộ Đức Cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền hiện nay), leo lên trần xi măng, sát mái ngói. Từ trên đó, qua mấy lỗ trổ sẵn để gắn đèn cao áp (nhưng chưa gắn), tôi mục kích khá rõ sự việc diễn ra bên dưới. Tôi thấy lố nhố VC địa phương (du kích nằm vùng) lẫn bộ đội chính quy miền Bắc. Chúng lật mặt từng người, chỉ chỏ bên này bên kia. Một câu nói được lặp đi lặp lại: 

    - Đồng bào yên tâm! Cách mạng đến là để giải phóng! Các mẹ, các chị, các em có thể ra về. Còn các anh được mời đi học tập, chỉ 3 ngày thôi! Không sao đâu!!!

    Thế là mọi tráng niên và thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều bị lôi đứng dậy và dẫn đi, dù là học sinh, thường dân hay công chức... Tiếng kêu khóc thảm thiết vang động cả nhà thờ. Con khóc cha, vợ khóc chồng, cha mẹ khóc con. Ai nấy linh cảm chuyến đi “học tập” này sẽ chẳng có ngày đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là linh mục quản xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi giữa đám nữ tu dòng Mến Thánh Giá với lúp đội trên đầu, nên may mắn chẳng bị VC nhận diện. Bằng không thì bây giờ ngài đã xanh cỏ. VC ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm đó vài tên, còn những tên khác đi lùng khắp giáo xứ để bắt thêm một số người nữa, cũng từ 15 đến 50 tuổi, thành thử có nhiều thanh niên hay học sinh gặp nạn.

    Sáng hôm sau, lúc 8 giờ, bỗng có hai tên VC theo thang sắt trèo lên trần và khám phá ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc Long Hồ, vừa được đồng bọn giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ (là nhà lao nằm giữa lòng thành phố Huế, ngay sau lưng tòa hành chánh tỉnh). Tên kia là Đỗ Vinh, sinh viên, người gốc làng Sịa. Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao lại trèo lên núp (nấp). Tôi trả lời là vì nghe con nít khóc ồn ào, chịu không nổi, phải trèo lên đấy để nghỉ. 

    Chùa Từ Đàm, nơi Việt cộng đặt bản doanh năm Mậu Thân

    Chúng dẫn một mình tôi -lúc ấy chẳng còn hồn vía gì nữa- đi xuống dốc nhà thờ, nhưng đến chắn xe lửa thì quẹo trái, men theo đường xe lửa tới chắn Bến Ngự. Từ đây, chúng dẫn tôi lên chùa Từ Đàm là nơi VC đang đặt bản doanh. Chúng rất đông đảo, vừa sắc phục vừa thường phục, vừa bộ đội miền Bắc vừa du kích nằm vùng miền Nam. Vào trong khuôn viên chùa, tôi nhận thấy ngôi nhà tăng 5 gian thì 4 gian đã đầy người bị bắt, đa số là giáo dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 (đối diện với cây bồ đề) còn khá trống, để nhốt những người bị bắt trong ngày mồng 7 Tết. Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói:

    - Thằng ni trắng trẻo chắc là cảnh sát, bắn quách nó đi cho rồi!

    May thay, có một người trong nhóm bị bắt đã vội lên tiếng:

    - Tội quá mấy anh ơi, đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự, cảnh sát mô mà cảnh sát!

    Nhờ thế ông Tin thoát nạn, được cho về. Tiếp đó, VC đưa cho tôi một tờ giấy để làm bản lý lịch. Chúng bảo phải khai rõ tên cha, tên mẹ, tên mình, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi, bản thân bây giờ làm chi. Khai rõ ràng chính xác, Cách mạng sẽ khoan hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay tại chỗ. Lúc ấy không hiểu sao Chúa cho tôi đủ sự thông minh và điềm tĩnh nên đã khai hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên mình, và giả mọi chi tiết khác, như nghề của cha là kéo xe ba gác, nghề của mẹ bán rau hành ở chợ Xép, bản thân thì đang học trường Kỹ thuật!?! May mà bọn VC chẳng kiểm tra chéo bằng cách hỏi những người cùng giáo xứ bị bắt đêm hôm trước. Bằng không thì tôi cũng rồi đời tại chỗ!

    Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 Tết, không được cho ăn gì cả. Lâu lâu tôi lại thấy VC dẫn về thêm một số tù nhân, trong đó tôi nhớ có cậu Long, 16 tuổi, học sinh, con ông Nguyện ở xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh thoảng chúng lại trói ai đó vào gốc cây bồ đề, bắn chết rồi chôn ngay trong sân chùa. Sau này người ta đếm được có 20 xác, trong đó có anh Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ, bị đám VC khi được thoát tù đã bắt đem theo lên đây. 

    VC cũng cho một vài kẻ về nhắn thân nhân bới cơm nước lên cho người nhà, nhưng với điều kiện: nhắn xong phải đến lại trong ngày, bằng không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là một số anh em Phủ Cam lên tiếng xin thả ông Hồ (khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc, nhà ở gần cabin điện đường Hàm Nghi) để ông về lo chuyện tiếp tế thực phẩm. Tay VC liền hỏi: “Ai tên Hồ?” thì có một cậu thanh niên nào đó nhảy ra nói: “Hồ đây! Hồ đây!” Thế là nó được thả về và rồi trốn luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi với tôi cũng được cho về nhắn chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ vậy thoát khỏi cơn thảm tử. Còn ai vì hãi sợ hay thương bạn mà lên lại Từ Đàm thì cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể. Các “sứ giả” về thông báo với bà con là ai có thân nhân “đi học tập” hãy bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn ùn gánh gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề (Tết mà!)… Họ chẳng thấy thân nhân đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ VC bảo họ hãy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm độc này mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi giết người tiếp!!

    Lân la dò hỏi và nhìn quanh, tôi thấy trong số thanh niên Phủ Cam bị bắt có rất nhiều người bạn của tôi: anh Trị tây lai con ông Ngọc đàn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng lương y thuốc Bắc ở chợ Xép, hai con trai ông Thắng nấu rượu, hai con trai ông Vang thổi kèn, anh Thịnh con ông Năm, hai anh em Bình và Minh con ông Thục mà một là bạn học với cha Phan Văn Lợi… Tôi cũng nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà sau này tôi mới biết là thầy Nguyễn Văn Thứ, nghĩa tử của cha Nguyễn Kim Bính và bạn cùng lớp với cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy Phạm Văn Vụ, đồng nghĩa phụ với cha Lợi… 

    Khi trời bắt đầu sẫm tối, VC bắt chúng tôi ra sân xếp hàng và một tên tuyên bố: 

    - Anh em yên tâm! Như đã nói, Cách mạng đưa anh em đi học tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ về thôi! Bây giờ chúng ta lên đường!

    Rồi chúng bắt đầu dùng dây điện thoại trói thúc ké từng người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng một sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm. Tôi nhớ là đếm được trên 25 chùm, tức hơn 500 người. 

    Khi chúng tôi bị lôi ra đường (đường Phan Bội Châu hiện giờ), chừng 7g tối, tôi thấy có một đoàn cố vấn dân sự Hoa Kỳ khoảng 14 người cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn đi theo ngã khác hẳn. Áp giải chúng tôi lúc này không phải là VC nằm vùng, địa phương, nhưng là bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn nằm vùng ở lại để đi bắt người tiếp. Bỗng một kẻ mặc áo thầy chùa xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà nói:

    - Mô Phật! Dân Phủ Cam bị bắt cũng nhiều đây! Chỉ thiếu Trọng Hê và Phú rỗ!

    Trọng (con ông Hê) và Phú (mặt rỗ) là hai thanh niên công giáo, nhưng lại là “tay anh chị” khét tiếng cả thành phố. Về sau tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 Tết tại nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh viên, thanh niên nhút nhát hiền lành. Còn hạng can đảm, có máu mạo hiểm hay hạng “du dãng, anh chị” đều đã đi theo binh lính, dân quân để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh chân trốn chạy, không tới nhà thờ trú ẩn, nên đều thoát chết. Sự đời thật oái oăm!

    Hết đường Phan Bội Châu, chúng tôi đi vào đường Tam Thai (bên trái đàn Nam Giao), sau đó men theo đường vòng đan viện Thiên An, xuôi về lăng Khải Định (xin xem bản đồ). Từ con đường trước lăng Khải Định, VC dẫn chúng tôi bọc phía sau trụ sở quận Nam Hòa (lúc đó chưa bị chiếm), ra đến bờ sông Tả Trạch (thượng nguồn sông Hương). Chúng tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối, giữa trời mờ sương và giá lạnh, vừa buồn bã vừa hoang mang, tự hỏi chẳng biết số phận mình rồi ra thế nào, tại sao VC lại tấn công vào đúng ngày Xuân, giữa kỳ hưu chiến!?! 



    Tới bờ sông, VC cho chặt lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn người vượt qua phía bên kia mà sau này tôi mới biết là khu vực lăng Gia Long, thuộc vùng núi Tranh hay còn gọi là vùng núi Đình Môn Kim Ngọc. Lúc ấy vào khoảng 9g tối. Từ đó, chúng tôi bắt đầu đi sâu vào rừng, lúc lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe, lần theo con đường mòn mà thỉnh thoảng lại được soi chiếu bằng những cây đèn pin hay vài ngọn đuốc của 30 tên bộ đội. Tôi thoáng thấy tre nứa và cây cổ thụ dày đặc. Trời mưa lâm râm. Đến khoảng 11g rưỡi đêm, chúng tôi được cho dừng lại để tạm nghỉ ăn uống. Tôi đoán chừng đã đi được hơn chục cây số. Mỗi người được phát một vắt cơm muối mè, đựng trên lá ráy (môn rừng). Hai cánh tay vẫn bị trói. Ít người ăn nổi. Riêng tôi làm hai vắt. 

    Đường vào Khe Đá Mài (hình chụp tháng 11-2007)

    Ăn xong thì được cho ngủ. Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn mưa, cố gắng chợp mắt để lấy lại sức. Bỗng nhiên như có linh tính, tôi chợt choàng dậy và thấy rung động toàn thân hết sức dữ dội. Máu tôi sôi sùng sục trong đầu. Có chuyện chẳng lành rồi đây! Quả thế, tôi thoáng nghe hai tên VC gần kề nói nhỏ với nhau: “Trong vòng 15–20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn này!” Tôi nghe mà bủn rủn cả người! Nghĩ mình đang là học sinh vô tội, lại còn trẻ trung, thế mà 15 phút nữa sẽ bị giết chết, tôi như muốn điên lên. Dù thế tôi vẫn cầu nguyện: “Lạy Chúa, từ lâu Chúa dạy con phải hiền lành thật thà, không được làm hại ai, vậy mà giờ đây lại có người muốn giết con và các bạn của con nữa. Xin Chúa ban cho con mưu trí, can đảm và sức mạnh để tự giải thoát mình…”. Tôi ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt: “Tụi mình ráng mở dây mà trốn đi! Mười lăm phút nữa là bọn hắn bắn chết hết đó!”. Chúng tôi quặt ra tay sau, âm thầm lần múi dây trói. Nhờ trời vừa mưa vừa tối, dây điện thoại lại trơn nên chỉ ít phút sau là nút buộc lỏng, vung mạnh cánh tay là sẽ bung ra. Chúng tôi cũng mở múi buộc dây thép gai đang nối mình với những người khác. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn giữ vị thế bị trói thúc ké, để bọn VC khỏi nghi ngờ. Tôi dặn thằng bạn tiếp: “Hễ tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi mình chạy nghe!” 

    Đánh thức chúng tôi dậy xong, một tên lên tiếng nói lớn cho cả đoàn:

    - Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai có một là vàng, hai là tiền, ba là đồng hồ, bốn là bật lửa thì nộp lại để Cách mạng giữ cho, học xong 3 ngày sẽ trả. Kẻo vào trại, ăn cắp lẫn nhau rồi lại đổ lỗi cho Cách mạng, nói xấu cán bộ!

    Thế là mọi người riu ríu và khổ sở móc ra những thứ quý giá còn giữ trong người. Ai chậm chạp hoặc ngần ngừ thì mấy tên bộ đội tới “giúp” cho. Bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy cái ba lô vải. Lúc đó tôi mới để ý thấy tay bộ đội áp giải chùm của tôi đang mang trên hai vai và cột quanh lưng ít nhất cả chục cái radio lớn nhỏ mà chắc hắn đã cướp được của dân dưới thành phố. Với khẩu AK trên tay lại thêm từng ấy máy móc trên người, hắn bước đi lặc lè, chậm chạp, khá cách quãng mấy tên khác. 

    Khe Đá Mài hiện nay (hình chụp tháng 11-2007)



    Chúng tôi lại bắt đầu đi xuống dốc. Tôi nghe có tiếng nước róc rách gần kề. Lại một khe nữa! Được vài bước, tôi vỗ nhẹ vào lưng thằng bạn. Cả hai chúng tôi vung tay, dây tuột, và nhanh nhẹn phóng ra khỏi hàng. Lấy hết sức bình sinh, tôi đá mạnh vào gót rồi vào dưới cằm tên bộ đội áp giải (tên mang cả chùm radio ấy!). Hắn ngã nhào. Hai chúng tôi lao vào rừng lồ ô. Bọn VC tri hô lên: “Bắt! Bắt! Có mấy thằng trốn” rồi nổ súng đuổi theo chúng tôi. Chạy khoảng mấy chục mét, thoáng thấy có một lèn đá -vì trời không đến nỗi tối đen như mực- tôi kéo thằng bạn lòn vào trong mất dạng. Tôi dặn hắn: “VC nó kêu, nó dụ, tuyệt đối không bao giờ ra nghe! Ra là chết!” Một lúc sau, tôi nghe có tiếng nói trong bóng đêm: “Bọn chúng chạy mất rồi, nhưng rừng sâu thế này khó mà thoát chết nổi! Thôi đi tiếp!!!”. 

    Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới bò ra khỏi lèn, đi ngược lên theo hướng đối nghịch. Chừng 15-20 phút sau, tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK nổ vang rền và lựu đạn nổ tới tấp, phải mấy chục băng và mấy chục quả. Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó là tiếng khóc la khủng khiếp –chẳng hiểu sao vọng tới tai chúng tôi rõ ràng– khiến tôi dựng tóc gáy, nổi da gà và chẳng bao giờ quên được. Hai chúng tôi đồng nấc lên: “Rứa là chết cả rồi! Rứa là chết cả rồi! Trời ơi!!!” Lúc đó khoảng 12 đến 12g30 khuya đêm mồng 7 rạng ngày mồng 8 Tết. Tôi bàng hoàng bủn rủn. Sao lại như thế? Các bạn tôi dưới ấy đều là những người hiền lành, chưa lúc nào cầm súng, chưa một ngày ra trận, chẳng hề làm hại ai, họ có tội tình gì? Bọn chúng có còn là người Việt Nam nữa không? Có còn là người nữa không? Sau này tôi mới biết đấy là vụ thảm sát khủng khiếp nhất trong cuộc chiến Quốc-Cộng. Địa danh Khe Đá Mài –mà lúc ấy tôi chưa rõ– in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt nung đỏ chẳng bao giờ nguội.

    Xương cốt các nạn nhân nằm dồn dưới khe (hình chụp tháng 10-1969)

    Chúng tôi tiếp tục chạy, chạy mãi, bất chấp lau lách, gai góc, bụi bờ, vừa chạy vừa thầm cảm tạ Chúa đã cho mình thoát chết trong gang tấc nhưng cũng thầm cầu nguyện cho những người bạn xấu số vừa mới bị hành quyết quá oan ức, đau đớn, thê thảm. Sáng ra thì chúng tôi gặp lại con sông. Biết rằng bơi qua ngay có thể gặp bọn VC rình chờ bắt lại, chúng tôi men theo sông, ngược lên thượng nguồn cả mấy cây số, đến vùng Lương Miêu thượng. Tới chỗ vắng, tôi hỏi thằng bạn:

    - Mày biết bơi không? 

    - Không! 

    - Tao thì biết. Thôi thì hai đứa mình kiếm hai cây chuối. Mày ôm một cây xuống nước trước, tao ôm một cây bơi sau, đẩy mầy qua sông. Rán ôm thật chặt, thả tay là chìm, là chết đó. Trời lạnh này tao không lặn xuống cứu mày được mô!

    Đúng là hôm đó trời mù sương và lạnh buốt. Thời tiết ấy kéo dài cả tháng Tết tại Huế. Có vẻ như Ông Trời bày tỏ niềm sầu khổ xót thương bao nạn nhân vô tội ở đất Thần Kinh này. Vừa bơi tôi vừa miên man nghĩ tới các bạn tôi. Máu của họ có xuôi theo triền dốc, hòa vào giòng nước sông Tả Trạch này chăng? Oan hồn họ giờ đây lảng vảng nơi nào? Có ai còn sống không nhỉ? 

    Sông Tả Trạch ở Lương Miêu

    Chúng tôi cập gần bến đò Lương Miêu. Từ đây, xuôi dòng sẽ về trụ sở quận Nam Hòa, hy vọng gặp binh lính quốc gia, nhưng cũng có nguy cơ gặp bọn VC chặn đường bắt lại. Thành thử chúng tôi nhắm hướng nam, tìm đường về Phú Bài. Thằng bạn tôi, do suốt đêm bị gai góc trầy xước, đề nghị đi trên đường quang cho thoải mái. Tôi gạt ngay: 

    - Ban đêm thì được, chớ ban ngày thì nguy lắm. Chịu khó lần theo đường mòn!

    Chúng tôi thấy máu và bông băng rơi vãi nhiều nơi, chứng tỏ có trận đánh gần đâu đó. Đang đi, tôi đột nhiên hỏi thằng bạn: 

    - Chừ (=bây giờ) gặp dân thì mày trả lời ra răng (=thế nào), nói tao nghe. 

    - Nhờ anh chứ tôi thì chịu! 

    Lúc khoảng 9g, chúng tôi gặp 3 thằng bé chăn trâu. Tôi lên tiếng nói:

    - Hai anh là học sinh ở đường Trần Hưng Đạo dưới phố (con đường chính của khu buôn bán, không nói là Phủ Cam). Cách mạng (không gọi là Việt cộng) số về đánh dưới, số còn trên ni. Hai anh vừa mang gạo lên chiến khu hôm qua cho họ. Nay họ cho hai anh về, nhưng ướt cả áo quần lại đói nữa. Mấy em biết Cách mạng có ở gần đây không, chỉ cho hai anh, để hai anh kiếm chút cơm ăn, kẻo đói lạnh quá! 

    - Hai anh qua khỏi đường này thì sẽ thấy mấy ông Cách mạng đang hạ trâu ăn mừng!

    Thế là chúng tôi hoảng hốt tuôn vào rừng lại. Chạy và chạy, chạy tốc lực, chạy như điên, không dừng lại để nghỉ. Một đỗi xa, chúng tôi mới hướng ra lại đồng bằng. Bỗng một đồn lính xuất hiện đằng xa, đến gần thấy bên trong lố nhố mũ sắt. Phe ta rồi! Lần này thì vô đây chứ không đi mô nữa cả. Nhất định vô! Lúc đó khoảng 10 giờ trưa. Đây là đồn biên phòng của một đơn vị quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi nghe từ trong đồn có tiếng dõng dạc vang vọng: “Hai thằng VC muốn về hồi chánh hả? Vào đi! Nhớ để tay lên đầu. Thả tay xuống là bắn đó!”

    Chúng tôi nhất nhất tuân theo. Vào được bên trong, hoàn hồn, chúng tôi mới nói: 

    - Hai đứa em là học sinh ở dưới Phủ Cam, Phước Quả, bị VC bắt lên rừng từ tối hôm qua với mấy trăm người khác. Nghe tụi nó định giết hết, hai đứa em đã liều mở dây trói, đánh thằng VC rồi bỏ chạy. Còn mấy người kia chắc là chết hết cả rồi! Giờ tụi em chỉ có một nguyện vọng : xin đồn phát súng cho bọn em đánh giặc với, chớ không thể đi ra khỏi đồn nữa. 

    Viên sĩ quan chỉ huy cất tiếng: “Tổ quốc đang lâm nguy! Đứa con nào trung, đứa con nào hiếu lúc này là biết liền. Thôi, mấy em thay áo quần, xức thuốc xức men, ăn uống thoải mái rồi ở lại với mấy anh. Tội nghiệp!!!”

    Họ hỏi chúng tôi về chỗ xảy ra cuộc hành hình nhưng chúng tôi hoàn toàn không thể trả lời được. Giữa rừng rậm lại đêm khuya, biết đâu mà lần. Gần nửa tháng sau tôi mới gặp lại gia đình họ hàng, bằng hữu thuộc giáo xứ Phủ Cam đang chạy về lánh nạn tại Phú Lương và Phú Bài. Hai chúng tôi quyết định bỏ học để đăng lính. Phải cầm súng bảo vệ tổ quốc thôi. Phải báo thù cho anh em bạn bè bị VC giết quá ư dã man, tàn ác, vô nhân đạo. Tôi nhập bộ binh. Thằng bạn tôi đi nhảy dù. Nhưng vài năm sau, tôi nghe tin nó chết trận! Tội nghiệp thật, nhưng đó là cái chết ý nghĩa!

    Đến gần tháng mười năm 1969, nhờ bắt được và khai thác mấy tù binh VC, chính phủ VNCH mới biết địa điểm tội ác chính là Khe Đá Mài, nằm trong rừng Đình Môn Kim Ngọc thuộc quận Nam Hòa (nay là xã Dương Hòa, quận Hương Thủy). Nơi đây không thể vào được bằng xe vì đường đi không có hoặc không thể đi lọt, mà chỉ vào được bằng lội bộ. Cây cối chỗ này rất cao, lá dày và mọc theo kiểu hai tầng, tầng thấp gồm những bụi tre và cây nhỏ, tầng cao gồm những cây cổ thụ, với những nhánh lớn xoè ra như lọng dù che khuất đi những gì bên dưới. Bên dưới hai tầng lá này, ánh sánh mặt trời không chiếu sáng nổi. Đúng là nơi có thể giết người mà không cần phải chôn cất. Công binh đã phải bỏ hai ngày, dùng mìn phá ngã các cây cổ thụ để tạo ra một khoảng trống lớn đủ cho máy bay trực thăng đáp xuống, và tiểu đoàn 101 Nhảy Dù Quân lực VNCH đã phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Các binh sĩ đã tìm thấy cuối một khe nước chảy trong veo (về sau mang thêm tên Suối Máu, Phủ Cam Tử bộ), cả một núi hài cốt, nào sọ, nào xương sườn, nào xương tay xương chân trắng hếu, nằm rời rạc, nhưng cũng có những bộ còn khá nguyên. Xen vào đó là dây điện thoại và dây thép gai vốn đã trói chúng tôi thành chùm. Rồi áo quần (vải có, da có, len có) nguyên chiếc hay từng mảnh, lỗ chỗ vết thủng. Rồi tràng chuỗi, tượng ảnh, chứng minh thư, ống hít mũi, lọ dầu nóng… vương vãi trên bờ, giữa cỏ, dưới nước. Nhờ những di vật này mà một số nạn nhân sẽ được nhận diện. Khi tất cả hài cốt, di vật được chở về trường tiểu học Nam Hòa (nay gọi là Thủy Bằng) bên hữu ngạn sông Hương, đem phân loại, thân nhân đã ùa đến và không ai cầm nổi nước mắt. Tất cả òa khóc, nghẹn ngào. Có người cầu nguyện, có người nguyền rủa, có người lăn ra ngất xỉu khi khám phá vật dụng của người thân. Cái chủ nghĩa nào, cái chế độ nào, cái chính đảng nào đã chủ trương dã man như thế? đã tạo ra những con người giết đồng bào ruột thịt cách tàn nhẫn như thế? 

    Hài cốt các nạn nhân được quy tập ở trường tiểu học Nam Hòa 
    (nay gọi là Thủy Bằng) bên hữu ngạn sông Hương

    Y phục còn lại của các nạn nhân đẻ ở sân trường tiểu học Nam Hòa




    Cuối cùng, đa phần các hài cốt (hơn 400 bộ) được quy tập một chỗ, mang tên nghĩa trang Ba Tầng, nằm phía Nam thành phố Huế, khá cận kề khu vực Từ Đàm (đất của Phật giáo) và Phủ Cam (đất của Công giáo). Nghĩa trang xây thành hình bán nguyệt. Hai bên, phía trước, có hai bàn thờ che mái, cho tín đồ Phật giáo và Công giáo đến cầu nguyện. Ở giữa, phía sau, một trụ đá dựng đứng với giòng chữ Hán làm bia tưởng niệm. Từ đó, tại giáo xứ Phủ Cam của tôi, hàng năm, ngày mồng 10 Tết được coi là ngày cầu nguyện tưởng nhớ các nạn nhân Mậu Thân. Chúng tôi có thể tha thứ cho người Cộng sản nhưng chúng tôi không bao giờ quên được tội ác của họ, y như một câu ngạn ngữ tiếng Anh: “Forgive yes! Forget no!”


    Nghĩa trang Ba Tầng hiện nay (ảnh chụp tháng 4-2012)

    Nghĩa trang Ba Tầng hiện nay (ảnh chụp tháng 4-2012)



    Tiếc thay, sau khi vừa chiếm được miền Nam, Cộng sản đã dùng mìn phá ngay trụ bia và hai bàn thờ. Lại thêm một phát súng vào hương hồn các nạn nhân mà nỗi oan vẫn chưa được giải. Đến bao giờ họ mới được siêu thoát đây? Cũng phải nói thêm một điều đáng tiếc nữa là trong Đại hội thường niên từ 8 đến 12-10-2007 năm nay tại Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã hoàn toàn im lặng trước đề nghị Giáo hội Công giáo VN hãy tưởng niệm 40 năm biến cố này, theo như Thỉnh nguyện thư mà cha Giải, cha Lợi cùng nhiều linh mục và giáo dân khác đã viết hôm 29-09-2007.

    Kể lại cho hai cha Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi trong tháng kính các đẳng linh hồn, Tháng 11-2007.

    Tết Mậu Thân: 'Những bộ hài cốt Khe Đá Mài'


    Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionTrong cuộc giao tranh dữ dội dịp Tết Mậu Thận 1968, các lực lượng Cộng sản đã chiếm giữ được Huế trong thời gian 26 ngày

    "Tại giáo xứ Phủ Cam, trước đây cứ đến khoảng ngày mùng 6, mùng 7 Tết là nhiều linh mục của giáo xứ lên núi Bân để làm lễ," linh mục Phan Văn Lợi từ Huế nói với BBC.

    "Ở khu mộ tập thể trên núi Bân có hai bàn thờ, một bên cho Phật giáo, một bên cho Thiên Chúa giáo."

    "Nhưng sau 1975, người ta đã phá huỷ hai bàn thờ đó và để cho nấm mộ hoang tàn, cỏ mọc um tùm."

    Trận Mậu Thân: 'Chúng tôi cố tránh tổn thất cho dân'

    Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

    4 điều có thể bạn chưa biết về Mậu Thân 1968

    USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

    Núi Bân, còn có tên là núi Ba Tầng, nằm về phía nam thành phố Huế. Nơi đây có khu nghĩa trang chôn cất hơn 400 bộ hài cốt, đa phần là được tìm thấy tại Khe Đá Mài hồi cuối năm 1969.

    Việc phát hiện ra hàng trăm bộ hài cốt lộ thiên, dồn đống với những dấu hiệu giống như bị giết chết khiến địa điểm nằm sâu trong rừng rậm, cách thành phố Huế chừng 15km về phía nam, được nhắc tới như sự kiện bi thảm nhất xảy ra tại cố đô.

    Số hài cốt tìm được trong "vụ thảm sát Khe Đá Mài" vẫn là điều chưa rõ ràng, tuy tin tức về vụ việc được loan tải rộng khắp trên truyền thông Sài Gòn.

    Con số chính thức mà Ngũ Giác Đài nêu tại thời điểm ban đầu là 250 bộ hài cốt, nhưng Douglas Pike, chuyên gia của Phòng Thông tin Mỹ điều tra về vụ việc, đưa ra sau đó vài tháng là 428, theo Gareth Porter, người giảng môn chính trị Đông Nam Á của trường American University's School of International Service.

    Trận chiến thành Huế

    Ngày 30/1/1968, lực lượng Bắc Việt và Mặt trận Giải phóng bất ngờ đồng loạt tấn công trên toàn lãnh thổ miền Nam Việt Nam.

    Chiến tranh Việt NamBản quyền hình ảnhTHREE LIONS
    Image captionGiao tranh trong cuộc chiến Việt Nam - hình tư liệu chỉ có tính minh họa

    Trong lúc ở hầu hết các tỉnh thành, làn sóng tấn công nhanh chóng bị bẻ gãy sau vài ngày, thì riêng ở Huế, phe cộng sản đã chiếm giữ thành phố được cho tới cuối tháng Hai.

    Sau khi Mỹ và Việt Nam Cộng hòa tái chiếm cố đô, hơn 10 mồ chôn tập thể được phát hiện ở quanh Huế.

    Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

    'The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

    4 điều có thể bạn chưa biết về Mậu Thân 1968

    1968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương

    Ước tính tổng số người bị giết trong thời gian quân Bắc Việt và Việt Cộng làm chủ thành phố là từ hàng trăm cho tới hàng ngàn người.

    Vào 9/1969, "theo lời khai của một số người Việt Cộng, người ta đã lên Khe Đá Mài để tìm", linh mục Phan Văn Lợi nói, và đã "tìm được những bộ xương".

    Tại đây, "bên cạnh các bộ xương, người ta đã tìm được y phục, những chuỗi tượng của người Công giáo và những thẻ căn cước".

    "Sau đó, người ta đem tất cả các bộ xương này, các vật dụng còn sót lại, y phục, thẻ bọc nhựa về trường tiểu học Nam Hoà."

    "Rất nhiều người tại Phủ Cam đã đến trường đó và có những người may mắn nhận ra được những vật dụng của thân nhân họ."

    Câu chuyện của nhân chứng


    Image result for thảm sát mậu thân huế

    Linh mục Phan Văn Lợi nói ông đã "may mắn thoát khỏi biến cố".

    "Cộng sản tấn công Huế vào ngày mùng 1 Tết. Sáng hôm đó tôi đã về làng quê, làng Dương Sơn, cách Huế chừng 8 km. Nếu họ tấn công vào đêm 30 Tết như ở các khu vực từ Quảng Nam tới Khánh Hoà thì chắc chắn tôi không thể thoát ra khỏi thành phố được."

    Sau khi cộng sản rút lui, linh mục Phan Văn Lợi trở về thành phố và "làm trong một văn phòng cứu trợ của tôn giáo, cứu trợ những nạn nhân Tết Mậu Thân".

    "Tôi đã gặp rất nhiều người. Họ tường thuật lại những chuyện đã xảy ra và sự khốn khổ của họ."

    Facebook Phan Van LoiBản quyền hình ảnhFACEBOOK PHAN VAN LOI
    Image captionLinh mục Phan Văn Lợi nói ông lần đầu tiên tình cờ gặp nhân chứng vụ Khe Đá Mài vào năm 2007, và vẫn giữ liên hệ với nhau kể từ đó tới nay

    Nhưng có lẽ đặc biệt nhất là lần gặp gỡ tình cờ giữa ông với một người, 40 năm sau khi ông có các hoạt động cứu trợ Mậu Thân, và là khi những người Cộng sản đã làm chủ cả nước được hơn 30 năm.

    Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

    30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

    Bà Hạnh Nhơn 'trọn đời giúp thương phế binh VNCH'

    Cuộc gặp diễn ra vào năm 2007.

    "Người này là nhân chứng duy nhất còn sống sót của vụ thảm sát tại Khe Đá Mài."

    "Tôi đã mời ông ấy đến nhà, nghe ông ấy tường thuật và sau đó tôi viết lại theo lời của ông ấy."

    Hiện hai người vẫn giữ mối liên lạc thường xuyên, linh mục Phan Văn Lợi cho BBC biết.

    Tuy nhiên, vì lo sợ cho sự an toàn bản thân nên nhân chứng, một thanh niên mới 17 tuổi vào thời điểm Tết Mậu Thân, từ chối tiếp xúc với BBC.

    Người thứ hai chạy thoát cùng nhân chứng đã chết trong những năm chiến tranh sau đó.

    Lời kể giúp dựng lại những gì đã xảy ra, "từ lúc đoàn người bị bắt đi" cho tới lúc nhân chứng sống sót "nghe thấy tiếng đạn" và những âm thanh cuối cùng từ các nạn nhân, linh mục Phan Văn Lợi nói.

    Nhân chứng nói với ông Lợi rằng người đó là một trong những thanh niên bị bắt đi từ nhà thờ Phủ Cam hôm mùng 6 và mùng 7 Tết Mậu Thân.

    "Họ bị dẫn lên chùa Từ Đàm. Ở đó có thêm một số người khác nữa, nhưng đại đa phần là người từ giáo xứ Phủ Cam, những thanh niên đã trốn trong nhà thờ."

    Trước đó, khu vực nhà thờ được một số nghĩa quân địa phương và binh lính (VNCH) "canh tất cả các đường đi vào", nên phía Cộng sản đã không thể vào được trong mấy ngày đầu.

    Do không có tiếp viện, các quân nhân này sau đó phải chạy đi, theo lời nhân chứng.

    Lực lượng cộng sản nói với những người bị gom, "Anh em đừng lo, cách mạng tới giải phóng cho nên đi học tập ba ngày rồi sẽ về," linh mục Phan Văn Lợi thuật lại lời nhân chứng.

    "Khi họ bị giam tại chùa Từ Đàm, cán binh Việt Cộng đã cho một vài người về nhắn với gia đình của những người ở Phủ Cam là hãy gửi đồ tiếp tế lên để cho họ có thể ăn uống."

    "Vì vậy, rất nhiều những thân nhân của những người bị bắt đó đã gánh gồng lên chùa Từ Đàm."

    "Tuy nhiên, khi lên tới nơi họ biết rằng đoàn người đã không còn ở đó nữa. Các cán bộ bảo hãy để lại đồ để tiếp tế."

    Số đồ đó không bao giờ đến tay người nhận, theo lời nhân chứng, bởi họ đã bị dẫn tới vùng rừng núi "không rõ là ở đâu".

    'Cần giải oan'

    "Trong hoàn cảnh chiến tranh, chuyện tên bay đạn lạc là chuyện bình thường, điều này đã xảy ra ở nhiều nơi trong chiến trận Mậu Thân như ở Sài Gòn."

    "Nhưng tại Huế, lực lượng Cộng sản chiếm 26 ngày."

    Central Press/Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
    Image captionNgười dân chạy nạn trở về Huế sau khi binh lính Mỹ và VNCH tái chiếm thành phố (hình chụp 13/3/1968)

    Hàng trăm thanh niên trong nhà thờ Phủ Cam khi đó "tất cả đã đi không trở lại", linh mục Phan Văn Lợi nói.

    "Đây không thể nói là lầm lẫn hay là tên bay lạc đạn trong chiến tranh được."

    "Tại Phủ Cam, có những người vẫn giữ được kỷ vật của thân nhân mà họ đã lấy được, đã thu được trong sân trường tiểu học Nam Hoà."

    Những gì được biết, được chứng kiến, được nghe kể là lý do khiến ông "có một chiến dịch cầu nguyện", linh mục Phan Văn Lợi nói với BBC.

    "Tôi vẫn tiếp tục cầu nguyện cho các oan hồn, cho những người đồng bào của chúng ta được giải thoát."

    "Tôi cũng cầu nguyện cho những người cán binh Cộng sản đã bị đẩy vào một trận chiến mà chắc chắn họ không ngờ rằng lại gây ra bao nhiêu tai hại cho đồng bào của mình, cho đất nước."

    "Những gia đình có thân nhân chết trong Mậu Thân là chết oan. Bây giờ họ chỉ mong là nhà nước này lên tiếng nhận trách nhiệm để cho các vong hồn được giải oan."

    "Đó là điều mà 50 năm rồi người ta không thấy."

    Cuộc phỏng vấn linh mục Phan Văn Lợi được thực hiện trong tháng 1/2018, nhân dịp 50 năm trận Tết Mậu Thân.

    CSVN Thừa Thiên Huế kỷ niệm 50 năm Tổng tiến công Xuân Mậu Thân 1968 giết chết hàng ngàn dân lành

    Xuân Hòa, Quốc Phương (VTV8)

    VTV.vn - Sáng nay (31/1), thành phố Huế đã tổ chức buổi gặp mặt và lễ viếng Nghĩa trang liệt sỹ thành phố, kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968.

    Sáng nay (31/1/2018), thành phố Huế tổ chức buổi gặp mặt kỷ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Tại buổi gặp mặt, các đồng chí lãnh đạo lực lượng vũ trang, các tổ chức, đoàn thể và đông đảo quần chúng nhân dân đã từng tham gia chiến dịch Xuân Mậu Thân 1968 cùng ôn lại những ký ức hào hùng của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy 50 năm trước ở Huế; chia sẻ những kỷ niệm ấm áp tình đồng đội, nghĩa đồng bào trong 26 ngày đêm quân và dân ta làm chủ thành phố Huế. Cuộc gặp mặt là dịp để lãnh đạo thành phố Huế hôm nay bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đối với những hy sinh to lớn của các thế hệ đi trước trong công cuộc giành độc lập tự do, thống nhất non sông và xây dựng quê hương đất nước. Những ý nghĩa và bài học từ cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên giá trị cho công cuộc hiện đại hóa đất nước hôm nay. Đó là tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối và chỉ đạo chiến lược, là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc trong xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.

    Cũng trong sáng 31/1, lãnh đạo Thành ủy, HĐND, UBND, UBMTTQVN, các cơ quan ban ngành, đoàn thể và đại diện các tầng lớp nhân dân thành phố Huế đã tổ chức lễ viếng Nghĩa trang liệt sỹ thành phố Huế; dâng hoa, dâng hương, mặc niệm tưởng nhớ công lao to lớn của các Anh hùng Liệt sỹ đã hiến trọn tuổi thanh xuân, máu xương, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Những nén hương của các đại biểu còn thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với sự hy sinh to lớn của quân và dân Huế trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, làm chủ thành phố suốt 26 ngày đêm, tạo ra bước ngoặt chiến lược trong công cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Sự tri ân của các thế hệ hôm nay đối với các anh hùng liệt sĩ thể hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn" của dân tộc và tạo dựng sức mạnh đoàn kết trong xây dựng quê hương ngày càng giàu đẹp.



Cuộc tấn công Mậu Thân 1968 trong hoàn cảnh chính trị lịch sử thế giới

Chu Chi Nam và Vũ Văn Lâm (Danlambao) - Sau 50 năm tết Mậu Thân, một cái Tết ghi rõ tội ác của cộng sản vô thần Việt Nam, đánh dấu một vết nhơ trong lịch sử Việt với cả chục ngàn người chết, bắt đầu đúng vào đêm Giao Thừa, thời điểm linh thiêng mà mọi người dân Việt tưởng niệm công ơn các anh hùng, liệt sĩ, ơn đức sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, thì cộng sản xé bỏ hiệp định đình chiến vào 3 ngày Tết, khai hỏa và tạo ra những cuộc thảm sát khắp miền nam Việt Nam. Cao điểm là cuộc thảm sát dã man tại Huế.

Lịch sử cận đại Việt Nam, từ ngày Hồ Chí Minh, được Đệ Tam Quốc tế Cộng sản đưa về, rồi nổi lên cướp chính quyền ngày 19/08/1945, đặt Việt Nam vào gông cùm cộng sản, biến đất nước trở thành bãi chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản mà dân tộc Việt là nạn nhân. Từ đó đến nay, không một biến cố chính trị lịch sử quan trọng nào của Việt Nam mà không có bàn tay quốc tế. Đúng hơn là của các siêu cường: Từ Hội nghị Genève 1954, qua Hội Nghị Paris 1973, tới Hội Nghị Thành đô 1990: Genève chia đôi nước Việt Nam, Paris làm mất miền Nam, Thành đô dâng đất, nhượng biển cho Tàu cộng. Tất nhiên trong đó có cuộc tấn công của cộng sản vào dịp Tết Mậu thân 1968, đưa đến cả chục ngàn người chết, máu chảy thành sông, xương chất thành núi.

Vậy chúng ta hãy nói sơ về hoàn cảnh chính trị và lịch sử thế giới của cuộc tấn công này.

Thật vậy, có người nói: "Hai tội đồ của dân tộc Việt Nam trong lịch sử cận đại là Hồ Chí Minh và De Gaulle". Điều này quả không sai.

Hồ Chí Minh, vì nghe lời Đệ Tam quốc tế Cộng sản, đã du nhập ý thức hệ Mác Lê, áp đặt lên đầu dân tộc Việt, chủ trương đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, xúi con đấu bố, vợ tố chồng, anh em, bè bạn sát hại lẫn nhau, gây ra không biết bao đau thương, tang tóc cho dân tộc.

Thêm vào đó, De Gaulle, sau khi theo chân đoàn quân Đồng minh, trở về Paris, có được chính quyền, đã quyết định lập tức gửi quân sang Đông Dương tái lập lại nền thuộc địa Pháp, trái với tinh thần công pháp quốc tế của 2 Hội nghị Yalta và Potsdam. Chính vì vậy mà Việt Nam đã trở thành chiến trường của cuộc tranh hùng tư bản - cộng sản và dân Việt là nạn nhân.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân nhằm đúng vào cao điểm của cuộc tranh hùng này. Nói khác đi là cao điểm của Chiến Tranh Lạnh. Chiến tranh Lạnh bắt đầu ngay sau khi Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) chấm dứt. Hai cường quốc dẫn đầu cuộc chiến tranh này: một bên là Liên Sô, bên kia là Hoa Kỳ.

Khi nói đến các cường quốc, chúng ta không thể không nói đến giới lãnh đạo của họ.

Phía cộng sản Liên Sô: Người lãnh đạo Liên Sô suốt trong thời gian Đệ Nhị thế chiến cho tới thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh là Staline. Ông chủ trương đẩy mạnh Chiến tranh lạnh, như việc phong tỏa thành phố Berlin năm 1948, đứng đằng sau việc giúp đỡ Kim Nhật Thành, ông nội của Kim Chánh Vân hiện nay, xua quân xuống miền Nam Triều Tiên, với ý đồ tiêu diệt chế độ tự do, dân chủ của Lý Thừa Vãn, khiến Hoa Kỳ phải đổ bộ quân vào để giải cứu năm 1950.

Nhưng vào năm 1953, Staline bị 2 người tay em thân tín là Khrouschev và Béria đầu độc chết. Khrouschev lên thay và lãnh đạo Liên Sô từ năm 1953 tới năm 1964. Ông này chủ trương hòa hoãn với tư bản, đưa ra những khẩu hiệu như tư bản, cộng sản chung sống hòa bình, nguyên tử phục vụ hòa bình.

Người ta có thể nói Khrouschev là một trong những người lãnh đạo cộng sản đã nhìn ra sự sai lầm của chủ nghĩa này, qua câu nói: "Mục đích chính của kinh tế là làm sao để tăng trưởng sản xuất, chứ không phải là chia đều sản xuất" như Marx chủ trương.

Hơn thế nữa ông còn là nạn nhân của chủ nghĩa độc tài, độc đoán, tôn thờ cá nhân của Staline. Trong nhật ký của ông, ông đã viết rằng mỗi đêm, khi nghe điện thoại của Staline kêu đi họp, ông đều phải trăn trối với vợ con, vì không biết mình còn sống để trở về hay không. Staline trong thời gian cầm quyền đã thủ tiêu 9/10 Bộ Chính trị và 2/3 Trung Ương đảng.

Tuy nhiên thời gian cầm quyền của Khrouschev cũng không kéo dài, vì tình hình chính trị, lịch sử thế giới thay đổi nhiều. Như việc Hoa Kỳ bị sa lầy ở Việt Nam, cuộc đảo chính nền Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam, tiếp theo là bất ổn chính trị với những cuộc đảo chính. Anh em Tổng Thống Ngô Đình Diệm bị sát hại ngày 01/11/963. Chỉ 2 tuần sau thì Tổng thống Hoa Kỳ bị ám sát ở Dallas.

Chính vì lẽ đó mà phe bảo thủ, chủ trương trở về Chiến tranh lạnh, cầm đầu bởi Brejnev, trở nên mạnh, đã đảo chính Khrouschev, và lên thay thế ông vào năm 1964.

Brejnev đã thuyết phục được Trung ương đảng qua một chính sách gồm 2 kế sách, với một tiền đề: Đừng nghĩ tư bản mạnh hơn cộng sản, mà phải nghĩ cộng sản mạnh hơn tư bản. Chiến lược của cộng sản không thể là một chiến lược phòng thủ, mà phải là một chiến lược tấn công.

Chiến lược tấn công đó gồm 2 kế sách:

Thượng sách, đó là tấn công tư bản ở khắp nơi trên thế giới, ngay ở trong lòng những nước tư bản như Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Đức, Ý v.v..., để tư bản sụp đổ, để ngọn cờ cộng sản có thể cắm ở mọi nơi.

Trung sách, đó là, nếu không được, thì lấy trục Sài gòn, Pnomph Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyến. Bên phía đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản. Chia đôi thế giới.

Ông đã dùng 3 quốc gia làm con chốt của mình để thực hiện chính sách này: Bên Nam Mỹ và châu Phi thì dùng Cuba của Fidel Castro, bên Âu châu thì dùng Đông Đức của Honnecker, bên Á châu thì dùng cộng sản Việt Nam của Lê Duẫn.

Lê Duẫn của Việt Nam gặp được Brejnev là như cá gặp nước, hết mình tuân theo ông này, sẵn sàng làm con chốt lót đường, dù hy sinh bao nhiêu sinh mạng dân Việt, nhất định đánh vào miền Nam.

Cuộc tấn công Tết Mậu Thân là nằm trong kế hoạch quốc tế của Liên Sô, và Lê Duẫn nhất nhất thi hành.

Cũng bắt chước cách lập luận của Brejnev, Lê Duẫn có viết một bài trong tạp chí Học Tập số 2.1964, nay là tạp chí Cộng sản, mang tựa đề "Một vài vấn đề trong nhiệm vụ quốc tế của đảng ta". Ông viết:

"...Nhìn tổng quát tình hình thế giới, phân tích những đặc điểm và những qui luật phát triển của ba vùng (ba vùng: các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa và phong trào nhân dân lao động trong các quốc gia tư bản chủ nghĩa - chú thích của tác giả bài này), chúng ta thấy rằng, lực lượng của cách mạng, lực lượng của chủ nghĩa xã hội và của hòa bình hơn hẳn lực lượng của đế quốc phản động và chiến tranh. Chúng ta mạnh hơn địch. Vì vậy cách mạng không thể ở thế thủ, chiến lược cách mạng không nên là thế thủ; mà cách mạng đang ở thế tấn công; chiến lược cách mạng nên là chiến lược tấn công, phá từng chính sách chiến tranh một, đi đến phá toàn bộ kế hoạch gây chiến tranh của chủ nghĩa đế quốc do Mỹ cầm đầu, nhằm đánh lùi từng bước một và đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc, đi đến thủ tiêu hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc..."

Theo kế hoạch Thượng sách của Brejnev, vào đầu năm 1967, một phái đoàn quân sự Liên Sô đã lén lút qua Hà nội, rồi bay qua Căm Bốt, vào miền Nam Việt Nam. Sau một thời gian quan sát, họ đã đi đến kết luận là chiến lược "Nông thôn bao vây thành thị", chỉ đánh du kích của Mao Trạch Đông là hoàn toàn thất bại, phải nâng cao chiến lược lên hàng sư đoàn, và bắt đầu bằng cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Brejnev không phải chỉ tấn công ở Việt Nam, mà tấn công ở trên toàn thế giới, từ Âu châu, với những cuộc khủng bố giết 2 người Chủ tịch nghiệp đoàn chủ nhân ông ở Đức và ở Ý, ở Pháp, do đảng Cộng sản Pháp đứng đằng sau, với sự hậu thuẫn của nghiệp đoàn thợ thuyền, sinh viên học sinh, đã bắt đầu cuộc đình công vô tiền khoáng hậu, bắt đầu vào tháng 5/1968. Ở Mỹ cũng vậy, những phong trào bị giới thiên tả trà trộn, cộng với phong trào sinh viên học sinh đòi hòa bình cũng đã biểu tình. Người ta có thể nói, chế độ gần như bị lung lay.

Tuy nhiên, chế độ tư bản bị lung lay, nhưng không bị sụp đổ như Brejnev và những người cộng sản mong đợi.

Brejnev đành bước sang Trung sách: chia đôi thế giới, lấy trục Sài Gòn, Pnomph Penh, Bangkok, Kaboul, Moscou làm giới tuyên, phía đông thuộc về cộng sản, phía tây thuộc về tư bản.

Tuy nhiên kế sách này bị một miếng xương mắc họng. Đó là Trung cộng. Cuộc tranh chấp đòi quyền lãnh đạo thế giới cộng sản giữa Trung cộng và Liên Sô trở nên gay gắt và cao điểm vào thập niên 70.

Và thế giới cộng sản hoàn toàn bị chia đôi, khi Nixon gặp Mao vào năm 1972, rồi Brejnev chết năm 1983 và Liên Sô sụp đổ vào năm 1990.

Trước khi chết, Brejnev thấy chính sách của mình gồm Thượng sách và Trung sách hoàn toàn thất bại, đã phải than lên: "Xã hội chủ nghĩa gì mà tham nhũng, hối lộ lan tràn khắp nơi, một phần ba xe chạy ngoài đường là ăn cắp xăng của công, một phần ba bằng cấp là bằng cấp giả, công chức đến sở làm việc là đến để có mặt, sau đó là làm việc tư hay đi xem hát."

Trở về phía Hoa Kỳ với cuộc tấn công Tết Mậu thân 1968.

Người Hoa Kỳ thay thế người Pháp ở Việt Nam sau Hiệp định Genève 1954.

Người Tổng thống gửi quân, theo đúng nghĩa lúc đầu là những cố vấn sang Việt Nam là ông Kennedy. Rồi ông này chết vì bị ám sát năm 1963. Người kế vị là ông Johnson. Johnson đã gửi quân ồ ạt sang Việt Nam từ năm 1965, đến cao điểm với cả nửa triệu quân vào thời điểm tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Chính sách về Việt Nam của cả 2 đời tổng thống Kennedy và Johnson, là do ông Bộ trưởng Quốc phòng Robert Mac Namara đảm trách, bị mắc nhiều sai lầm.

Nhưng sai lầm lớn nhất, đó là Mac Namara nhìn chiến tranh Việt Nam dưới khía cạnh kỹ thuật, quân sự, không có chính trị, cho rằng cuộc chiến này có thể chiến thắng bằng vũ lực hùng hậu, với tiền bạc, vũ khí.

Chính vì vậy mà có cuộc đảo chính chế độ Đệ nhất Cộng Hòa miền Nam Việt, khi ông Ngô Đình Diệm đã có thể dựng lại ngọn cờ quốc gia, bị chao đảo dưới thời Pháp thuộc. Khi Đệ Nhất Cộng hòa không còn nữa, ngọn cờ quốc gia bị vùi dập, với những cuộc đảo chính liên tiếp và với sự có mặt của nửa triệu quân Mỹ.

Johnson gửi quân đến mức cao điểm nhất, nhưng vẫn không thể thắng cuộc chiến, đành phải nghĩ đến giải pháp chính trị, không gì hơn là thương thuyết, công nhận Mặt trận Giải phóng Miền Nam, được dựng lên bởi cộng sản Hà Nội năm 1960. Từ đó người ta đi đến Hiệp định Paris 1973. Mỹ rút quân khỏi miền Nam và miền Nam sụp đổ 1975.

Miền Nam thất bại bởi nhiều nguyên do, trong đó có sự sai lầm trong chiến lược rút quân của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tạo ra khủng hoảng làm mất tinh thần dân quân, nhưng cũng có những nguyên do chính do các cường quốc quyết định đó là chính sách tấn công tư bản của Liên Sô cộng thêm với sai lầm chiến lược của Hoa Kỳ. Người Hoa Kỳ chỉ mong rút quân khỏi chiến trường Việt Nam đã công nhận Mặt trận Giải phóng Miền Nam, một cộng cụ xâm lăng của cộng sản Việt Nam, ép chính quyền miền Nam ký kết Hiệp Định Paris với đầy bất công và thiếu sót. Và sự thiếu sót và sai lầm lớn nhất là không bắt cộng sản phải rút toàn bộ quân chính quy khỏi miền Nam.

Nhìn lại cuộc tấn công Tết Mậu Thân chúng ta thấy cộng sản Việt Nam đã tạo ra một trang sử đẫm máu và đau thương nhất, là một sự lừa đảo, giết người lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Ngày hôm nay, bắt đầu bởi sự mù quáng của Hồ Chí Minh, đã du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam đưa đến hậu quả là Việt Nam đang bị đô hộ bởi Tàu lần thứ 5. Cuộc đô hộ này kéo dài bao lâu là tùy ở tinh thần yêu nước, ý chí quật cường của cả người dân trong và ngoài nước, tùy theo những cá nhân còn tinh thần quốc gia dân tộc trong hàng ngũ quân cán chính ở trong đảng cộng sản, tùy theo những tổ chức quốc gia yêu nước. Ngẫm lại lịch sử, thời kỳ bị đô hộ nào cũng có những khó khăn của nó, thể mà ông cha ta vẫn kiên cường đứng lên đuổi quân xâm lăng về nước. Họ cũng không có một tấc sắt trong tay lúc ban đầu, họ cũng chẳng có chính quyền. Cái mà họ có chính là chính nghĩa và lòng dân. Ngày hôm nay, những người Việt quốc gia, yêu nước, cũng đang được lòng dân, có chính nghĩa, hơn nữa chúng ta còn có thuận lợi, đó là mọi người Việt Nam đều nhận ra và lên án chính sách bành trướng của Trung Cộng. Chúng ta phải tự lực cánh sinh, tự trông cậy vào mình trước. Nhưng chúng ta cũng phải biết cập nhật hóa cuộc đấu tranh của chúng ta, để cho nó theo kịp đà tiến bộ của nhân loại, đồng thời vận động sự hỗ trợ của quốc tế, không nhất thiết một vài nước, mà càng nhiều càng tốt, không nhất thiết là chính quyền, có thể là những tổ chức nhân quyền, đấu tranh cho tự do, dân chủ quốc tế, không nhất thiết là những tổng thống, thủ tướng, ngoại trưởng, mà có thể là những nghị sĩ, thượng nghị sĩ, những viện nghiên cứu, đại học, không cần đi sao chép tư tưởng, ý thức hệ ngoại bang, như cộng sản đã làm, mà cần dựa trên căn bản tư tưởng cổ truyền, được cập nhật hóa. Cuộc đấu tranh cho Độc lập Quốc gia, cho Tự do, Dân chủ, Nhân quyền còn có rất nhiều khó khăn, tuy nhiên, chắc chắn nó sẽ đi đến thành công khi mỗi người Việt Nam chúng ta chung vai sát cánh, biến ý thức thành hành động. (1)

Paris ngày 02/02/2018


Ngày xuân nhớ lại

Nguyễn Mạnh An Dân (Danlambao) - 2:45' chiều, ngày 29 tháng Chạp âm lịch, đầu năm 1975, Tiểu đoàn trưởng 2/46, Thiếu tá Nguyễn Hữu, không thông qua âm thoại viên, trực tiếp gặp các Đại đội trưởng thuộc quyền trên tần số nội bộ và gọi tất cả đến gặp ông tại Bộ Chỉ Huy Tiểu đoàn: “Các cậu đến gặp tôi ngay bây giờ”. Giọng “ông già” chậm và rõ, cách nói vẫn là một kiểu ra lệnh nhưng không phải là thứ lệnh khô cứng, lạnh lùng như vẫn thường có ở một cấp chỉ huy ngoài mặt trận. Đơn vị vừa được rút về mấy giờ trước từ Trà Cao sau hơn nửa tháng lặn lội suốt một tuyến dài qua các mật khu lầy lội Trà Cú, Phước Chỉ. Tiểu đoàn trừ bố trí phòng thủ căn cứ Trâm Vàng và hai đại đội tác chiến còn lại rải dọc theo mép rừng cao su, cách quốc lộ và xóm nhà một đoạn ngắn và cách gia đình lớn không quá nửa tầm súng cối 60. Ngày cuối năm, vị trí đóng quân nhẹ nhàng. Không ai nói với ai nhưng tất cả ngầm hiểu: dưỡng quân, ăn Tết.

Trâm Vàng là Bộ Chỉ Huy tiền phương, là điểm tiếp liệu chung cho nhiều quân binh chủng trong chiến dịch hành quân Campuchia nhiều năm trước. Căn cứ rất rộng với một lô cốt vuông vức được xây âm dưới lòng đất bằng ximăng cốt sắt làm Trung Tâm Hành Quân và một vòng tuyến với bờ đất cao đủ chỗ rải quân cho một tiểu đoàn đầy đủ quân số. Căn cứ vẫn thường bị pháo và thỉnh thoảng đặc công vẫn bò vào quấy nhiễu nhưng đối với một đơn vị bộ binh, quanh năm hành quân lưu động thì về Trâm Vàng là nghỉ ngơi, hưởng phước.

Tết nhứt có khác, phòng hành quân có một chút gì vui vui, lạ lạ. Lố thùng đạn đại liên xếp vuông với tấm poncho phủ gọn ở trên như một cái bàn thấp cùng mấy hộp bánh mức Bảo Hiên và mấy chai rượu bọc giấy hoa như làm cho căn hầm sáng và đẹp hơn. “Phòng họp” lố nhố những người; các âm thoại viên đang lui cui kéo giây ráp nối máy móc vào trụ en-ten cao nhòng trên nóc; Chỉ Huy Trưởng Hậu Cứ, Sĩ Quan Ban Một, Sĩ Quan Tiếp Liệu và các Hạ Sĩ Quan chuyên môn gần như có mặt đầy đủ trong những bộ quần áo hồ cứng thẳng tưng đang tươi cười chảo hỏi những người mới đến. Ngày cuối năm, đơn vị được “ra hành quân” là một dịp lớn để mọi người vui với nhau một chút. Tiểu đoàn trưởng không cầm bản đồ, không hỏi han tình hình quân số và trang bị, không nhắc cái này, la điều kia như thường ngày, chỉ kêu lấy ra năm chai rượu, nhìn các Đại Đội Trưởng bằng ánh mắt trìu mến, nói “Mỗi cậu một chai, giao thừa lai rai một chút cho ấm bụng” và hất đầu ra dấu cho mấy anh em phục vụ “dọn tiệc”. Trà được bưng tới, bánh được mở ra. Mấy sĩ quan hậu cứ lễ nghĩa và bóng bẩy chúc Tết sớm, mấy sĩ quan tác chiến rổn rảng cười nói. Buổi tiệc tất niên bất ngờ, đạm bạc nhưng vui. Lính mà, vậy là tốt rồi, được ngồi thoải mái với nhau vài tiếng đồng hồ, nói năm điều bảy chuyện, uống hớp nước, ăn chút bánh mà không phải nơm nớp lo âu cho sự an nguy của chính mình và của đơn vị là tiên trên đời rồi, là số một rồi.

Giữa cuộc vui, Tiểu đoàn trưởng chậm rãi cho biết đã liên lạc với phòng ba chiến đoàn, không có kế hoạch gì đặc biệt, ông kết luận: “Chắc mình ăn Tết ở đây” và âu yếm nhìn các Đại đội trưởng trẻ, độc thân của mình, nói thêm, gọng ấm áp: “Cậu nào có bạn gái hay người quen biết gì nhắn hậu cứ mời lên chơi cho vui, không dễ gì được nằm gần lộ như thế này đâu!”. Các Đại đội trưởng mau mắn đáp lại: “45 làm gương trước đi, mời chị lên chơi”. Tiểu đoàn trưởng cười cười: “Có, chiều nay bà ấy và mấy cháu sẽ có mặt, mười sáu năm rồi tôi chưa bao giờ được ăn Tết ở nhà, cũng chưa bao giờ được ở trong một căn hầm nào đẹp như thế này, cả nhà ăn Tết ở đây cũng tốt, năm mới mấy cậu ghé chơi”. Giọng Tiểu đoàn trưởng đều đều, không có vẻ gì than vãn, trách oán nhưng có chút nao nao, buồn buồn. Lúc chia tay, ông đi với các Đại đội trưởng ra tận cửa hầm, dặn nhỏ: “Dưỡng quân ở đây, dặn em út lục soát, mở đường cẩn thận, nhưng cứ lờ cho anh em họ la cà ra xóm một chút, Tết nhứt chắc không đến nỗi nào đâu”. Ông nói với theo khi mọi người đã đi được một đoạn ngắn, giọng nghiêm lại: “Nhớ kiểm soát kỹ, tuyệt đối không được để em út say sưa, phá làng phá xóm”.

51 Tùng, Đại đội một, trở về vị trí đóng quân của mình. Lại hậu cứ, lại bánh, rượu và báo Xuân. Câu chuyện vui vẻ và thân mật; một ít giấy tờ phải ký, một ít tình hình quân số và tiếp liệu được trình báo, nhưng phần lớn là những lời thăm hỏi, chúc mừng. Hạ sĩ quan quân số, Trung sĩ nhất Thế, hỏi nhỏ khi Tùng đang lật lật mấy tờ báo Xuân: “51 cần tôi ghé Phú Nhuận không?”. Tùng suy nghĩ một chút rồi cười cười gật đầu: “Ờ, nhắn giùm cô ấy sáng mồng Một tôi đón ở Gò Dầu, quán Đồng Nội, chốc nữa tôi sẽ viết mấy chữ nhờ ông chuyển hộ”. Thường vụ đại đội, hạ sĩ quan tiếp tế, hạ sĩ quan chiến tranh chính trị bàn bạc rất lâu với nhau và cùng kéo đến gần Tùng: “Chắc mình nghỉ ở đây, có chút tiền phụ cấp Cây Mùa Xuân Chiến Sĩ, chúng tôi định chiều mai tăng khẩu phần ăn xôm xôm một chút, đại đội ăn chung với nhau một bữa, 51 nghĩ sao?”. Tùng gật đầu: “Được, nhưng nhớ đừng gom hết lại một chỗ, các trung đội quây quần bên phòng tuyến của mình, Ban Chỉ Huy, súng cối và BK tách riêng ra một chỗ khác, coi chừng bị pháo, tôi sẽ xuống từng chỗ với anh em.”

Buổi chiều cuối năm im ả, bên xóm vẳng tiếng trẻ đùa và xe cộ qua lại trên đường với dáng vẻ vội vàng, hối hả như đang chạy đuổi với thời gian. Các nhân viên hậu cứ lần lượt từ giã. Tùng đi suốt một vòng tuyến, từng lúc dừng lại chỗ này chỗ kia nói chuyện với những người lính đang ăn vội bữa cơm chiều, anh ngồi chơi với anh em một lúc lâu đợi cho các toán tiền đồn vào vị trí xong mới chậm rãi trở về hầm chỉ huy của mình. Kế hoạch đón Tết vừa riêng vừa chung đều làm Tùng thấy vui. Mấy năm liền, tuy mang tiếng là hòa bình, ngưng bắn nhưng chưa năm nào đơn vị được rời vùng hành quân và ngày đầu năm nào Tùng cũng chỉ có thể hút với anh em một điếu thuốc, nhắp với họ chút rượu chắt chiu trong những nắp bình đông sóng đổ ngay tuyến phòng thủ giữa mặt trận. Ý nghĩ về một bữa cơm đơn vị làm Tùng thấy ấm lòng, anh nghĩ đến lá thư viết vội cho Thiên Kim vừa gởi trung sĩ nhất Thế với lời tái bút vui vui: “Khi nào nghe lơ xe hô lớn Gò Dầu nghe bà con là em xuống xe, nhìn bên trái sẽ thấy anh đứng đón, nhớ đừng tìm ông có râu cao bồi, coi chừng lộn với ông nào khác. Tết nhứt anh sẽ làm đẹp để đón tiểu thư.”

Lần đầu Thiên Kim lên thăm Tùng ở đơn vị, nghe anh em nói với nhau “cô lên, cô lên” nàng đã thẹn đỏ mặt và chờ lúc không có ai mới phụng phịu cự nự người yêu: “Cô chắc là chữ mấy ông lính dùng gọi các bà vợ người chỉ huy của họ, em là gì của anh mà cũng cô cô trong này, kỳ cục”. Tùng đã cười ha hả trêu lại nàng: “Cô là tiếng ngắn gọn, dễ nghe và nhiều ý nghĩa nhất trong các tiếng, em không chịu cho gọi như vậy anh em họ sẽ kêu bằng bà người yêu của ông Trung úy nghe còn dễ sợ hơn nữa, tùy em quyết định đi” và Thiên Kim đã chịu thua, đã tiếp tục làm “cô lên” bất cứ lúc nào có thể.

Ước mơ của người lính thật đơn giản, ông Tiểu đoàn trưởng muốn được đoàn tụ cả nhà trong hầm chỉ huy qua với nhau một cái Tết gia đình; ông Đại đội trưởng muốn những người lính có thể ngồi ăn chung với nhau một bữa cơm bên bờ tuyến có chút thịt cá phụ trội và những lời thăm hỏi chúc mừng năm mới. Chuyện như đã chắc trong tầm tay mà cũng không thực hiện được. Trong vòng hai mươi bốn tiếng đồng hồ tiếp đó, nhiều sự việc bất ngờ đã xảy ra. Kế hoạch không đến từ Chiến đoàn, Sư đoàn, nó đến từ một chỗ cao hơn.

Tám giờ tối ngày 29, Tiểu đoàn 2/46 nhận lệnh yểm trợ đơn vị bạn thi hành công tác. Đại đội công sự nặng thuộc Tiểu đoàn 25 công binh chiến đấu kéo đến, có Tiểu đoàn trưởng, Sĩ quan tham mưu quân đoàn, Sĩ quan chuyên môn Cục Công Binh đôn đốc và kiểm soát. Máy phát điện được mở lên, xe ũi, xe xúc, xe cẩu hụ tới hụ lui. Lệnh phải hoàn tất một ụ thuyết trình dã chiến kiên cố và gọn đẹp trước sáu giờ sáng.

Trong đêm, Trinh sát Sư đoàn, Trinh sát Trung đoàn, các Tiểu đoàn 1 và 3/46, một số Tiểu đoàn Địa Phương Quân thuộc hai Tiểu khu Tây Ninh và Hậu Nghĩa nhận được lệnh chuyển quân. Toàn bộ các điểm trọng yếu chung quanh khu vực Trâm Vàng đều có lực lượng lục soát và án ngữ. Chưa có tin tức chính xác nào được phổ biến nhưng căn cứ vào lệnh điều động, mọi người đều có thể tiên đoán một giới chức rất quan trọng sẽ đến thăm căn cứ Trâm Vàng.

Sáu giờ sáng ngày 30 tháng Chạp, Tiếp liệu Tiểu đoàn 2/46 với lệnh cấp phát đặc biệt từ Phòng 4 Sư đoàn và phương tiện chuyên chở của Tiểu đoàn 25 vận tải đã có mặt và trang bị bổ sung cho toàn đơn vị. Những đôi giày bố, nón sắt, giây ba chạc và khăn quàng cổ mới được cấp phát ngoài cấp số. Tiểu đoàn 2/46 nhận lệnh kiểm tra quân phục, quân số, trang bị và lục soát, lập các toán án ngữ bảo vệ toàn bộ khu vực trước khi tập trung tại tọa độ XT... trước 10 giờ sáng.

Những khẩu lệnh quân trường được hô to: “Bên trái làm chuẩn, cao trước thấp sau, Trung đội hàng dọc, Đại đội hàng ngang”, Tiểu đoàn được tập hợp thành một khối hình chữ U dưới sự điều động của Tiểu đoàn phó. Tiểu đoàn trưởng và Ban Tham Mưu đang chuẩn bị thuyết trình trước phái đoàn Trung ương tại Trung  Tâm Hành Quân mới vừa hoàn tất trong đêm trước. Tin tức chính thức cho biết: Đại diện sư đoàn 25/BB, Tiểu đoàn 2/46 được vinh dự đón tiếp Nguyên thủ quốc gia và phái đoàn chính phủ thăm viếng và ủy lạo nhân dịp Tết dân tộc.

Băng đạn được tháo ra, sáu lần thao tác an toàn súng được lập lại. Đội hình sẵn sàng trong tư thế chờ đợi. Một chút kiêu hảnh, một chút xót xa. Máu của biết bao anh em đồng đội đã đổ ra ở Suối Đá, máu của biết bao anh em đồng đội khác đã đổ ra để dành lại từng tất đất, từng bụi cây trước khi cắm được ngọn cờ tổ quốc lên bờ đất đổ nát của căn cứ 82 và còn nhiều nữa ở Phú Thứ, ở Phước Tân, ở Cần Đăng, Trại Bí, Dầu Tiếng, Phú Hòa Đông, Chà Rầy, Hố Bò, Trung Lập... Tiểu đoàn 2/46 từng đổ máu, từng hy sinh nhưng chưa bao giờ lùi bước và cũng chưa bao giờ không chu toàn nhiệm vụ dù nhiều khi cái giá phải trả ra thật đáng đau lòng. Người lính 2/46 đã làm hết sức mình, họ không hiểu biết gì nhiều, không đại ngôn lớn lối tự khoát cho mình một lý tưởng, một mục đích gì to lớn, vĩ đại. Họ chỉ cố gắng chu toàn nhiệm vụ của những người lính nhỏ nhoi vì anh em đồng đội, vì đơn vị, vì quân đội và vì tổ quốc của mình. Họ không chờ đợi và cũng không hề biết sẽ có ngày hôm nay. Họ chỉ làm những gì phải làm, vậy thôi.

12 giờ 30, đợt khách đầu tiên ào tới. Những cận vệ vòng ngoài gườm gườm, M18 cặp nách, bố trí khắp nơi; những chuyên viên rà mìn, máy móc rè rè rà tìm từng gốc cây, bụi cỏ.

12 giờ 45 đợt khách thứ hai ào tới, máy vi âm được lắp ráp dù đã có sẵn, chuyên viên quay phim, chụp hình chạy tới chạy lui. 1 giờ chiều Nguyên thủ quốc gia tới. Quân cảnh, tùy tùng đông nghẹt. Kèn trống rộn ràng. 2/46 Hành Khúc vang lên “2/46 lừng vang chiến công, về đây chung sức đắp xây quê hương, một lòng vì dân đoàn ta chiến đấu, quyết đem thân mình bảo vệ quê hương. Long An giúp dân, giúp dân, giúp dân; Tây Ninh trấn biên, trấn biên, trấn biên, đây Campuchia xông pha bao lần...”

Những lời chào mừng bóng bẩy được đọc lên, những lời khen ngợi rườm rà được nói ra; những cái bắt tay, những lời thăm hỏi máy móc được lập lại. Người lính im phắt trong hàng, trong một giây phút, hình như lòng quặn lại, mắt mờ đi. Loáng thoáng đâu đó là hình ảnh mẹ già, vợ trẻ, con thơ, mái nhà tranh, khu xóm nghèo và những xôn xao ngày Tết không trọn vẹn; rồi đâu đó hình như có tiếng hô xung phong, những tiếng nổ, máu, những xác người, những anh em đồng đội nằm xuống, những người khác tràn lên, lại những người nằm xuống… Cứ như thế, nhập nhòa giữa những bóng bẩy hào quang là những hồi ức buồn thảm. Lại trống, lại kèn, những người lính thoáng vui rồi chợt buồn. Chiều ba mươi, giờ này đây, hàng ngàn anh em đồng đội, những người đã bất ngờ nhận lệnh, đã mò mẫm di chuyển, đã căng mắt bố phòng suốt đêm qua và đang ghìm súng bảo vệ ở đâu đó giữa hiểm địa, rừng sâu. Người lính không có giờ giấc, không biết tháng ngày, chiến đấu và hy sinh. Đằng sau mỗi vinh quang là những gian khó và thảm kịch. Người lính không hề có tròn nét môi cười, không biết thế nào là trọn vẹn niềm vui. Quân kỳ có thêm một giây biểu chương màu Bảo Quốc, người lính ưỡn ngực, ngẩn đầu nhưng trong lòng thoáng chút xót xa. Buổi lễ chấm dứt, những người khách lên xe, người lính ở lại. Ba lô lên vai và những ngày mới sẽ đến. Còn một đêm nữa là năm mới.

Đại đội 1 về tới truyến phòng thủ lúc 5 giờ 30. Bữa cơm chung dự định sẽ bắt đầu vào lúc 6 giờ. Poncho đã được trải ra, thịt quay, chả lụa đã đựng đầy nhiều nón sắt. Hình như có bánh chưng, dưa kiệu, mứt gừng, mứt bí  và vài món linh tinh khác. Binh nhất Vinh, thằng em phục vụ thân thiết lăng xăng chạy tới chạy lui báo cho Tùng biết diễn tiến việc chuẩn bị ở từng trung đội. Tùng nói “kiếm cho tao cái ly, năm nay ăn Tết đàng hoàng một chút, cứ nắp bình đông hoài coi không được”. Vinh đáp lớn “Xong rồi 51, sáng nay em hỏi mua lại cái ly  cà phê ngoài quán, định trả tiền nhưng bà chủ nói tặng ông sĩ quan uống rượu Tết cho vui” và cười cười, bước lại gần Tùng, nói nhỏ, giọng có vẻ ngượng:” “Chốc nữa em sẽ hát tặng Trung úy bài “Xuân Này Con Không Về”. Tùng nhìn người lính trẻ: “Cậu hát được à? Sao lâu nay không thấy nghêu ngao cho vui. Tốt lắm, nhưng đâu phải chỉ mình tao “không về”, hát tặng chung anh em đi”. Vinh dạ dạ và nói thêm, giọng nhỏ lại “Em cũng hát cho em nữa”. Tùng nói: “Đúng, hát tặng chung tất cả chúng ta”. Hai thầy trò đều cười vui, nhưng bài hát đó không bao giờ được hát .

5 giờ 45, súng cá nhân nổ rát hướng rừng cao su phía xa, cùng lúc, mưa pháo phủ ngập căn cứ Trâm Vàng. Chiến thuật mới: tấn công các đơn vị hành quân lưu động bằng bộ binh và khóa miệng các căn cứ hỏa lực, các đơn vị yểm trợ bằng pháo kích. Chưa có tin tức chính thức nào từ Chiến đoàn. Tiểu đoàn ra lệnh các đơn vị trực thuộc phân tán con cái bố trí dọc mép rừng cao su để tránh pháo và chờ lệnh. Bữa cơm tất niên của Đại đội 1 vừa được bày biện đã vung vãi vì sức nổ, mảnh đạn và sỏi cát của trận pháo kích. Những người lính bụng trống vượt bờ đất lao về phía trước giữa những tiếng nổ.

6 giờ chiều, Tiểu đoàn trưởng 2/46 gọi các Đại đội trưởng nhận lệnh hành quân tại bìa rừng cao su phía sau căn cứ Trâm Vàng. Sĩ quan Ban 3 đưa phóng đồ hành quân vỏn vẹn chỉ có một vòng tròn đỏ cách điểm xuất phát 2 cây số về phía Cầu Khởi. Tiểu đoàn trưởng ngắn gọn thông báo tình hình và ban hành những chỉ thị cần thiết. Theo đó, Tiểu đoàn X/49, đơn vị hành quân án ngữ bảo vệ an ninh cho buổi lễ đón tiếp thượng cấp đã bị tập kích trên đường rút lui sau khi hoàn tất nhiệm vụ. Liên lạc vô tuyến với X/49 đã hoàn toàn bị gián đoạn và khả năng có thể là đơn vị bạn đã bị tổn thất nặng và đang tản lạc trong khu vực hành quân. Nhiệm vụ của 2/46 là tiến về hướng được ghi nhận đã có giao tranh, giải tỏa áp lực địch, tìm đón những binh sĩ bị thất lạc, tải thương và gom nhặt xác những chiến sĩ đã hy sinh.

Tiểu đoàn trưởng dặn tới dặn lui: “Cẩn thận tối da. Chắc chắn có nhiều người của mình tản lạc trong khu vực, đừng ngộ nhận tác xạ lầm quân bạn nhưng cũng đừng lơ là để địch quân trà trộn tập kích”. Ông nói thêm trước khi các Đại đội trưởng trở về vị trí chuẩn bị điều động đơn vị di chuyển, giọng rất buồn: “Bảo em út cố gắng, rất nhiều anh em đang cần đến mình. Tết nhứt tôi biết, nhưng tình hình không thể trì hoãn được. Ráng lên.”

Trời tối dần, đơn vị di chuyển chậm chạp, từng lúc phải dừng lại bố trí, quan sát, nhận dạng và đón người. Những binh sĩ thất tán mừng rỡ gặp lại quân bạn nhưng trạng thái căn thẳng, hoảng hốt biến họ thành ngẩn ngơ, lơ lửng và những lời trình bày của họ lộn xộn, rối ren, trùng lập về diễn tiến của trận đánh và không ai chắc chắn được điều gì về số phận đơn vị của mình. Điều ghi nhận rõ nhất là trận đụng độ rất khốc liệt và phần thất lợi về phía quân bạn.

9 giờ 30 đêm, những đơn vị đầu tiên tiếp cận khu vực giao tranh. Trời tối đen, không khí lặng lờ, lạnh lẽo. Những ánh hỏa châu nhập nhoè, lung linh vội sáng vội tắt trên một khu vực tiêu điều, xác xơ vung vãi những cành cây đổ vì đạn pháo kích của cả hai phía. Những xác người đầu tiên được tìm thấy. Không ai có thể xác nhận được hình dạng và lý lịch của những chiến sĩ bất hạnh này.

9 giờ 40, Tiểu đoàn cho biết Chiến đoàn đã tái liên lạc vô tuyến được với Tiểu đoàn X/49. Đơn vị bạn bị đột kích, hai đại đội bọc hậu bị cắt đứt khỏi đội hình chung và bị thiệt hại nặng chưa liên lạc và kiểm kê được. Tiểu đoàn bị pháo kích và hệ thống liên lạc bị hư hại nhưng đã tái hoạt động trở lại. Đơn vị bạn đã về đến vị trí an toàn dù quân số không đầy đủ.

Lệnh dừng quân và phòng thủ đêm được ban hành. Những người lính lầm lũi đào hố, căng mìn. Những toán tiền đồn lặng lẽ tiến về phía những vị trí được chỉ định. Người lính mệt mỏi mở bao cơm sấy nguội lạnh mò mẫm dùng bữa cơm chiều. Không khí im ắng, nặng nề; người người lặng thầm, chịu đựng. Đêm cuối năm, vài tiếng đồng hồ nữa là giao thừa, năm mới. Rừng đêm, bất trắc và tử khí. Người lính uống vội hớp nước, nằm lăn ra đất nhìn lên trời cao tối tăm, cao thẳm cố quên những thực tế đau lòng, ráng dỗ giấc ngủ chờ đến phiên được kêu dậy, đổi gác.

10 giờ 30, Tiểu đoàn gọi các đại đội; đại đội gọi các trung đội để hỏi nhau cùng một câu hỏi: "Có nghe thấy gì không?”. Tiếng rên. Rất nhiều tiếng rên đau đớn và thê thiết, xa có, gần có. Các thương binh rải rác đâu đây có lẽ vừa qua cơn tê điếng lúc đầu cộng với khí lạnh trời đêm làm họ không còn chịu đựng được nữa. Tiểu đoàn trưởng gợi ý, không phải ra lệnh: “Ráng cho biệt kích dò theo tiếng kêu lên đón anh em về được không? Lạnh thế này, chờ đến sáng chắc chết hết”. “Không được, mìn cơ động đã gài cùng khắp, lạng quạng không giúp được ai mà hại thêm đến anh em mình”. Các Đại đội trưởng đồng loạt trả lời, trách nhiệm với đơn vị buộc phải từ chối nhưng lòng đau như cắt, đứng ngồi không yên. Tiếng rên như những viết đâm xé ruột những người hiện diện.

11 giờ 20, binh nhất Vinh mò tìm đến hầm chỉ huy, dúi vào tay Tùng chiếc bình động nặng nặng, thì thầm: “51 làm hớp rượu cho ấm”. Tùng mở nắp bình rượu, Vinh cười khẻ và nói tiếp: “51 dùng đỡ nắp bình đông, chiều nay có cái ly, lúc chạy qua bờ đất rớt lại nhưng pháo rát quá, em không dám quay lại lấy, 51 thông cảm”. Tùng cầm tay người lính trẻ bóp nhẹ: “Được rồi, không sao”. Vinh dục “51 uống đi”. Tùng cầm bình rượu định uống nhưng rồi ngừng lại, bảo Vình “Cậu ra gọi ông Thường vụ vào làm với tôi vài nắp, tôi không muốn uống một mình”.

Người Thượng sĩ già nhẹ nhàng đến ngồi bên Tùng, nói nhỏ, cố tỏ vẻ bình thản, dửng dưng nhưng giọng nói run run, xúc động: “Tôi mới đi một vòng tuyến, hết nghe tiếng rên rồi, chắc chịu hết nổi. Chết lảng xẹt, sao không rán một chút nữa cho biết năm mới với người ta!”. Tùng nói: “Thôi, mình không làm gì được, có đau lòng cũng vậy thôi. Phú cho trời đi. Ông làm với tôi chút rượu cho ấm. Tôi tưởng ở Trâm Vàng nên định sáng mai cho ông về hậu cứ chơi với bà  ấy và mấy cháu một bữa cho vui không ngờ mình ở đây. Tôi rất tiếc.” Tùng uống một nắp rượu và chuyển cả bình và nắp cho người đối diện. Người Thượng sĩ già cầm bình rượu, run run kê miệng bình sát vào nắp, cẩn thận rót nhẹ cho rượu khỏi đổ ra ngoài, nói nhanh trước khi đưa nắp rượu lên ực một hơi: “Cảm ơn 51 đã nghĩ đến nhưng không sao đâu, quen rồi, mấy chục năm nay có bao giờ tôi được ăn Tết ở nhà đâu, mẹ cháu và sắp nhỏ cũng quen rồi, không chờ và cũng không hy vọng sẽ có tôi ở nhà. Thêm một năm nữa cũng đâu có sao!”.

Tùng uống với người lính già phụ tá gần nửa bình rượu. Có tiếng bước chân khe khẽ và tiếng gọi thì thầm kêu nhau đổi gác. Tùng nói: “Thôi, ông về nghỉ đi, bảo khẩu trưởng súng cối thay ông đốc canh, tôi cũng còn thức đây, để tôi coi ngó anh em cho”. Người Thượng sĩ già đứng dậy, nói nhỏ “Mừng tuổi 51” rồi nói lớn hơn một chút “51 nghỉ đi, tôi không ngủ được, nói vậy chứ Tết nhứt mà, cũng nóng ruột. Tôi sẽ kiểm soát anh em canh gác cẩn thận”.

12 giờ 05 đêm, Tiểu đoàn trưởng gặp các Đại đội trưởng trên máy, nói gọn bốn chữ “Chúc mừng năm mới”. Các Đại đội trưởng cũng lập lại mấy chữ tương tự và hỏi thêm: “Chiều nay rồi chị và mấy cháu tính sao, 45?”“Không biết, gấp quá tôi dặn bà ấy đưa mấy đứa nhỏ về Sài Gòn nhưng không biết giờ đó còn đón được xe cộ gì không? Không khéo mấy mẹ con đón giao thừa lêu bêu ngoài đường không chừng. Tôi đã gọi hậu cứ nhờ tìm mà chưa thấy ai báo gì, cũng kẹt.”

12 giờ 10 Tùng gọi các Trung đội trưởng chúc mừng năm mới, nhận lại lời chúc rồi sang tần số nói chuyện với Thắng, chàng Trung úy có người yêu là nữ sinh viên Chính Trị Kinh Doanh thời còn là lính mới tò te ở trường Chiến Tranh Chính Trị, hai người đã đính hôn và cũng giống như Thiên Kim, cô nàng thường lên đơn vị thăm Thắng bất cứ lúc nào có thể. Bạn chiến đấu và đồng cảnh, Tùng nói chuyện với Thắng tự nhiên, thoải mái: “Ông có hẹn cô ấy mai lên không?”. “Có”, Thắng đáp và  nói thêm “10 giờ sáng, quán Đồng Nội, còn ông?”. “Cũng có, cũng quán Đồng Nội 10 giờ sáng”. Thắng cười cười và nói, giọng lo lắng: “Đã liên lạc được với thằng X/49 cũng nhẹ gánh. Không biết mai mình có ra sớm được không?”. “Hy vọng ra sớm”, Tùng nói nhưng thật tâm anh không nghĩ như vậy, và thực tế đã chứng minh không phải như vậy.

5 giờ 30 sáng ngày mồng Một tháng Giêng, Tiểu đoàn 2/46 cuốn mìn, lấp hố, rời vị trí đóng quân đêm, mở rộng đội hình án ngữ và lục soát toàn bộ khu vực. Mười chín thương binh nặng nhẹ, mười một tử thi được tìm thấy, hai mươi bốn binh sĩ thất lạc được đón về.

11 giờ sáng ngày mồng Một. Chiến đoàn cho biết đã kiểm kê đầy đủ quân số Tiểu đoàn X/49. Tiểu đoàn 2/46 chấm dứt nhiệm vụ tìm đón binh sĩ thất lạc, gom xác, tải thương và nhận nhiệm vụ mới: hành quân truy kích địch. Lệnh hành quân chỉ định 5 mục tiêu, lộ trình tổng cộng 11 cây số. Cuộc hành quân không chạm địch, không tổn thất nhưng kéo dài 5 ngày. Ngày mồng Năm tháng Giêng, Tiểu đoàn 2/46 được rút về làm lực lượng trừ bị cho Chiến đoàn tại căn cứ Đức Dũng, gần ngã ba Phước Hiệp.

Đại đội nhận tuyến phòng thủ, Thường vụ phân chia khu vực trách nhiệm cho các Trung đội rồi trở vào gặp Tùng ở hầm chỉ huy: “Mới mồng Năm, chưa hạ nêu, vẫn còn Tết, 51 muốn nói chuyện với anh em không tôi tập hợp?.

Tùng hỏi Vinh “Mấy chai rượu hậu cứ mang lên còn không?”. Vinh đáp “Còn, 51”. Tùng dặn Thường vụ tập họp đại đội rồi quay lại nói với Vinh: “Cậu đi mời mấy ông 50, 52, 53, 54 tới chơi và  chuẩn bị hát “Xuân Này Con Không Về”. Vinh cười, đưa tay gãi gãi đầu và nói, vẻ bẽn lẽn: “Em sẽ đi mời mấy thẩm quyền kia ngay, còn vụ Xuân Này Con Không Về, 51 cho em đổi lại là Đồn Vắng Chiều Xuân. Bài kia buồn quá em sợ mới làm mấy câu đã khóc không hát được hết”. Tùng thấy nghèn nghẹn những vẫn gượng cười, vỗ nhè nhẹ lên vai người lính trẻ, dễ dãi: “Muốn đồn vắng thì đồn vắng.”

Hôm đó Tùng đã nói chuyện rất lâu với những anh em sinh tử của mình, chia xẻ với họ nỗi niềm về cả một thế hệ nhiều kiêu hãnh và cũng đầy bất hạnh, uống với họ những nắp rượu đắng cay và kết luận với hy vọng một cái Tết vui hơn, đầy đủ hơn. Hy vọng đó không bao giờ có, năm âm lịch chậm sau dương lịch hơn ba mươi ngày, đã đầu tháng 2 năm 1975, không đầy ba tháng sau là thảm kịch 30 tháng tư. Thời gian không dài nhưng tai biến và dâu bể đã liên tục xảy ra cho một đơn vị bộ binh tác chiến giữa giai đoạn khó khăn, sinh tử cuối cùng. Nhiều anh em đã không còn, Trung sĩ nhất Võ Siêng, quyền Trung đội trưởng Trung đội 3 đã hy sinh ngày 27 tháng tư; người khách, người bạn chiến đấu, Trung úy Nguyễn Đức Thắng đã vĩnh viễn lìa xa anh em đêm 28 tháng tư; Thiếu úy Nguyễn Trung Còn, Trung đội trưởng trung đội 1 nằm lại giữa cánh đồng bưng ba tiếng đồng hồ trước khi đơn vị không còn biết một nơi nào còn có quân bạn để tìm đến chiều ngày 29 tháng tư. Đại đôi 1, Tiểu đoàn 2/46 không bao giờ còn có dịp ăn với nhau một cái Tết, cho dẫu là chỉ để uống với nhau chút rượu đắng trong nắp bình đông bên bờ tuyến phòng thủ.


Báo Nga nói về cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968

(Hồ sơ) - Tờ Lenta vừa có bài viết về cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu thân 1968 của quân dân Việt Nam.

Ngày 31/1/2018, nhân kỷ niệm 50 năm Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Tết Mậu Thân, một trong những tờ báo nhiều bạn đọc nhất tại Nga – tờ “Lenta” đã đăng bài và chùm ảnh về chiến dịch quân sự này.

Chúng tôi xin dịch để bạn đọc tham khảo cách nhìn của “người ngoài cuộc” về sự kiện lịch sử này của quân và dân ta. Các số liệu có thể không chính xác, cách nhìn có thể chưa thật sự khách quan. Chúng tôi có sửa một số địa danh và tên gọi theo cách gọi quen thuộc cho dễ hiểu.

Sau đây là nội dung bài báo và các bức ảnh của “Lenta.ru”:

“Ngày 31/1/1968, bộ đội chủ lực Bắc Việt Nam cùng quân du kích Việt Cộng đã tiến hành một chiến dịch quân sự lớn nhất trong toàn bộ lịch sử nước này. Trong khi miền Nam đang chuẩn bị đón tết- tức năm mới theo âm lịch, miền Bắc đã tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn trước tết một ngày- chiến dịch này sau được gọi là cuộc Tổng tấn công Tết (Mậu Thân).

Mặc dù xét từ góc độ quân sự thì quân Miền Nam (Việt Nam Cộng hòa) và đồng mình Mỹ cũng có gây tổn thất cho miền Bắc, nhưng cũng chính cuộc tấn công Tết này đã quyết định việc người Mỹ phải rút ra khỏi cuộc chiến và đặt nền móng cho khúc khải hoàn cộng sản mấy năm sau đó.

(Nhân sự kiện này) “Lenta.ru” nhắc lại (một số nét chính) của lịch sử một trong những chiến dịch quân sự nổi bật nhất của thế kỷ XX này .

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Đường phố Sài Gòn. Ảnh: Photo Quest / Getty Images

Đến năm 1968 , mức độ ủng hộ của dân chúng (Mỹ) đối với các hoạt động quân sự của Mỹ tại Việt Nam giảm đáng kế. Nếu như năm 1965, số người cho rằng việc cử quân Mỹ tới một đất nước xa xôi là một sai lầm chỉ chiếm 25% tổng số công dân Mỹ, thì đến tháng 12/1967, tỷ lệ trên đã tăng lên 45%.

Mặc dù vậy, vẫn còn hơn một nửa người Mỹ cho rằng: một khi đã đưa quân đến Việt Nam thì cần phải kết thúc những gì đã bắt đầu và trở về nước cùng chiến thắng.

Để có được sự ủng hộ của xã hội, chính quyền Mỹ cung cấp cho báo chí toàn những thông tin về các thắng lợi, các con số thống kế về số lượng những làng làng đã được “bình định” và số lượng cái gọi là “những Việt Cộng tàn ác” bị tiêu diệt.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Cuộc chiến giành thành phố Huế. Ảnh: Bettmann / Getty Images

Người Mỹ tin chắc rằng: nếu như họ giết được càng nhiều, bắt được tù bình càng nhiều những người đứng dậy cầm vũ khí trong tay, thì sớm hay muộn những người cộng sản cũng sẽ thua trong cuộc chiến tranh tiêu hao này.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Những thường dân phải cầm cờ trắng khi đến gặp các binh sỹ Mỹ. Ảnh: Tim Page / Corbis / Getty Images

Nhưng miền Bắc có những kế hoạch riêng của mình: tháng 4/1967, các tướng lĩnh Việt Nam bắt đầu lên kế hoạch tiến hành một cuộc tấn công quy mô lớn.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Lính thủy đánh bộ Mỹ bị thương trong một trận đánh giành giật thành phố Huế. Ảnh: Bettmann / Getty Images

Người miền Bắc cho rằng chính quyền Việt Nam Cộng hòa không được dân chúng ủng hộ, và bằng cách tiến hành một đòn tấn công quy mô lớn có thể phát động một cuộc nổi dậy của người dân.

Theo kế hoạch, họ sẽ chiếm giữ hoặc phá hủy một số lượng lớn vũ khí và phương tiện chiến tranh của Quân Mỹ để làm Mỹ không còn khả năng hỗ trợ các đồng minh của mình (Quân đội Việt Nam Cộng hòa).

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Những người lánh nạn chạy khỏi thành phố Huế. Ảnh: Tim Page / Corbis / Getty Images

Cũng theo kế hoạch, cuộc tấn công sẽ chia làm 3 giai đoạn: đầu tiên sẽ là một số cuộc tấn công nghi binh, sau đó là tổng tấn công vào các thành phố lớn. Nếu như cuộc tấn công (vào các thành phố lớn) thất bại, vào mùa xuân sẽ phát động giai đoạn (đợt) hai, và mùa hè- giai đoạn (đợt) ba. Mục đích của chiến dịch- làm tiêu hao lực lượng đối phương và buộc đối phương phải ngồi vào bàn đàm phán.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Lính thủy đánh bộ Mỹ đang kiểm tra lại kho đạn sau khi căn cứ bị Việt Cộng tấn công bằng tên lửa và đạn cối. Ảnh: John T. Wheeler / AP

Công tác chuẩn bị được khởi động từ mùa hè năm 1967, và đến đầu năm 1968, miền Bắc đã tập kết tại khu giới tuyến quân sự đến 200.000 bộ đội và 81.000 tấn đạn dược.

Đến thời gian đó, quân du kích Việt Cộng cũng đã tiếp nhận súng AK-47 mới và súng phóng lựu RPG-2. Nhờ vậy, quân Bắc Việt và Việt Cộng có ưu thế về hỏa lực trước quân Việt Nam Cộng hòa.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Máy bay Mỹ thả dù cung cấp thức ăn, nước uống và đạn dược cho Lính thủy đánh bộ Mỹ . Ảnh: John Lengel / AP

Tuy nhiên, người Mỹ không đánh giá đúng việc chuyển quân quy mô lớn (của Bắc Việt) xuống miền Nam. Họ (người Mỹ) cho rằng, Bắc Việt không đủ sức (lực lượng) để tấn công. “Nếu như chúng tôi có được biết toàn bộ kế hoạch của họ (Bắc Việt), thì chúng tôi cũng đã không tin. Chắc chúng tôi sẽ cho là đấy là tài liệu giả” - một nhà phân tích quân sự Việt Nam Cộng hòa sau này kể lại.

Bao Nga noi ve cuoc Tong tan cong Tet Mau Than 1968
Lính thủy đánh bộ Mỹ trong cuộc Tổng tấn công Tết. Ảnh: Dang Van Phuoc / AP

Quân đội Mỹ đã phần nào sa vào bẫy nghi binh của người Việt Nam: trước cuộc Tổng tấn công, Mỹ đã điều một lực lượng đáng kể đến biên giới với Căm pu chia để đánh trả các cuộc tấn công tại khu vực này.


Thảm sát Huế Tết Mậu Thân

31.1.1968 – 31.1.2018: Kỷ niệm 50 năm chiến cuộc Tết Mậu Thân – Nhìn lại bước ngoặt chiến tranh để giải ảo ngụy sử

Đỗ Kim Thêm

Tóm lược

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là một đại bại quân sự của ĐCSVN, vì khả năng chiến đấu tinh nhuệ của QLVNCH chưa bị bị tiêu hao và toàn thể dân chúng miền Nam không một lòng ủng hộ, nhưng nó đã tạo ra các thắng lợi chính trị tại Hoa Kỳ vả công luận thế giới thành một bước ngoặt chiến lược trong chiến tranh Việt Nam.

Với quyết định việc tấn công này, ĐCSVN đã lừa dối đồng bào miền Bắc về ý nghiã đấu tranh và thực trạng của miền Nam để buộc họ phải hy sinh xương máu cho Đảng. Vi phạm hưu chiến để gây bao đau thương tang tóc cho nhân dân miền Nam không phải là sự lựa chọn sáng suốt để ĐCSVN thực hiện sứ mệnh lịch sử do giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc giao phó.

50 năm trước, MTGPMN tháo chạy nhưng hô hào là chiến thắng và nạn nhân chiến cuộc được trao tặng 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường.“ 50 năm sau, bản chất không thay đổi, ĐCSVN lại tự tuyên dương chiến thắng, quên đi bao tổn thất nặng nề và những sai lầm gây tội ác thảm sát. Với những nghịch lý bi đát này, ngụy sử đã không được sáng tỏ mà còn làm trầm trọng hơn.

Thảm sát Xuân Mậu thân là một vết nhơ trong lịch sử của đất nước: Đó là lý do chính đáng để chúng ta không tham gia mừng lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Xuân Mậu Thân mà tưởng niệm cho những người quá cố của hai miền vì cái chết oan uổng là do các quyết định hiếu chiến, liều lĩnh, thiếu hiểu biết và vô nhân đạo của ĐCSVN trước lương tâm, công luận và lịch sử.

***

Bối cảnh

Trong tinh thần “Vui Xuân nhưng không quên nhiệm vụ“, Quân Dân Cán Chính miền Nam đón Tết Mậu Thân vào ngày 31 tháng Giêng 1968 và hy vọng có được những ngày hưu chiến an lành.

Khi cả Sài Gòn còn say ngủ, không ai ngờ, hai chiếc xe hơi mang theo Đội Biệt Động 11 do Ngô Thanh Vân (Ba Đen) chỉ đạo gồm 17 người dừng trước của Toà Đại Sứ Hoa Kỳ lúc 2 giờ 45 khuya. Chỉ một giây sau họ làm nổ một lổ lớn của bức tường an ninh rồi đột nhập vào trong khuôn viên và thi nhau bắn xối xã trong không khí tinh sương vắng lạnh. Bị tấn công bất ngờ, đội canh phòng Mỹ-Việt chạy tán loạn. Thừa thế, các cảm tử quân chạy lên các tầng một, hai và ba của Toà Đại Sứ và lục soát tứ tung. 20 phút sau lực lượng quân cảnh Mỹ mới phản ứng kịp và kêu trực thăng tới tiếp viện. Sáu tiếng đồng hồ sau, cuộc đột kích chấm dứt và quân cảnh Mỹ làm chủ được tình thế với năm người thiệt mạng, gây cho tất cả các du kích quân tử trận trừ tên đội trưởng bị bắt. Một phần văn phòng của Toà Đại Sứ bị thiệt hại nặng.

Không phải Toà Đại Sứ là địa điểm duy nhất, mà còn Dinh Độc Lập, Đài Phát thanh, Bộ Tổng Tham Mưu, Bộ Tư lệnh Hải quân, Phi trường Tân Sơn Nhất, các cơ quan dân sự cuả chính phủ Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) và các cơ quan quân sự Việt Mỹ khác tại Sài Gòn cũng bị khoảng hơn 4000 binh sĩ khác thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPNM) và Quân Đội Nhân Dân Việt Nam (QĐNDVN) tấn công. Với một lực lượng 100 tiểu đoàn, ước khoảng 84.000 quân, họ tấn công năm trong số sáu thành phố lớn, 36 tỉnh lỵ trong số 44 tỉnh và các cứ điểm khác của VNCH cùng trong dịp này.

Từ du kích chuyển sang toàn diện, chiến cuộc Tết Mậu Thân cực kỳ đẩm máu làm hoang mang giao động cho toàn dân miền Nam và nước Mỹ và trở thành một trang sử mới của chiến tranh. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày biến cố tang thương này, bài viết sau đây sẽ trình bày khái quát những diễn tiến trên chiến trường Việt Nam và các tác động chuyển biến cho chính trường và công luận Mỹ với hy vọng sẽ là một đóng góp khiêm tốn trong tinh thần giải ảo ngụy sử cho thế hệ hậu chiến.

Giai đoạn chuẩn bị

Tống tiến công, Tổng khởi nghĩa hay Tổng công kích là cách gọi chính thức của giới lãnh đạo MTGPMN từ khi thành lập vào năm 1960. Họ nghĩ đến một chiến lược đấu tranh du kích để giải phóng dân tộc theo binh pháp cổ điển của Mao Trạch Đông: từ rừng núi tiến về nông thôn rồi lấy nông thôn bao vây thành thị.

Để đạt mục tiêu này, MTGPMN đã lập nhiều mạng lưới nội tuyến và các toán biệt động thành để tấn công lẻ tẻ vào các thành phố và thủ tiêu các viên chức của VNCH, mà thí dụ điển hình là họ ám sát tỉnh trưởng Vĩnh Long năm 1960 và bắt tỉnh trưởng Phước Thành đem ra đấu tố giữa chợ và treo cổ năm 1961 nhằm gây tiếng vang. Tình trạng an ninh nông thôn tại một vài nơi bắt đầu suy yếu trong khi chính quyền miền Nam đang xây dựng cơ cấu hành chính phôi thai.

Sau khi một số tướng lãnh của VNCH đảo chính chính phủ Ngô Đình Diệm, Bộ Chính trị Đảng Lao Động Việt Nam có một cuộc họp vào Tháng Mười hai năm 1963 tại Hà Nội và nhận định là Cách Mạng 1963 và các xáo trộn nội chính liên tục sau đó là một thuận lợi to lớn và tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng. Đến tháng Chín năm 1964, họ chủ trương là phải tiếp tục mở rộng sự kiểm soát tại vùng nông thôn và chuẩn bị tổng khởi nghĩa mà các đô thị sẽ trở thành trọng điểm. Diễn biến chiến trường không thuận lợi như Hà Nội mong đợi.

Từ năm 1965, khi các lực lượng của Quân đội Hoa Kỳ được trang bị tối tân và yểm trợ bằng bằng hỏa lực không quân và hải quân hùng hậu, trận địa chiến theo quy mô kiểu Mỹ khởi đầu lan rộng khắp miền Nam. Trong hai năm 1966 và 1967 các lực lượng Mỹ-Việt thành công trên khắp các chiến trường và kiểm soát được nhiều vùng nông thôn hơn.

Vào cuối năm 1967, quân số Mỹ lên đến 486.000. Quân đội Mỹ và các lực lượng Đồng Minh khác sử dụng gần 500.000 quân đã bẻ gẩy các cuộc tấn công của Cộng Sản. Với chiến lược vừa truy tầm và tận diệt của Hoa Kỳ và QLVNCH làm cho MTGPMN tổn thất nặng nề. QLVNCH yểm trợ 54 tiểu đoàn cho 555 toán cán bộ Xây Dựng Nông Thôn (XDNT) bình định và cải tổ dần từng thôn ấp. Trong khi MTGPNM càng khó khăn chiêu dụ thêm các du kích quân tham gia, thì Mỹ không kích tại miền Bắc gây trở ngại cho việc tiếp tế vũ khí và đạn dược.

Trước tình hình này, giới lãnh đạo MTGPMN không còn hy vọng về một cuộc tổng nổi dậy mà phải đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi. Tháng 6 năm 1967, Tướng Nguyễn Chí Thanh, Bí thư Trung Ương Cục Miền Nam và Tư lệnh chiến trường miền Nam, được triệu tập ra Hà Nội để chung quyết về một binh pháp mới cho chiến trường để mong lật ngược tình thế.

Theo Tướng Thanh, miền Nam không thể áp dụng sách lược của Mao Trạch Đông, vì các tỉnh miền duyên hải trù phú đông dân kéo dài đến tận miền Đông hiểm trở, chỉ có vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long là có địa hình giống với Trung Quốc. Một cuộc tấn công vào các thành thị miền Nam chỉ khả thi khi dân chúng nội thành hưởng ứng nổi dậy làm cho chính quyền Tổng thống Thiệu sụp đổ; một chính phủ liên hiệp thành hình sau đó sẽ không còn làm người Mỹ có đủ lý do biện minh về sự cam kết của họ. Mỹ không thể mang ảo tưởng chiến thắng bằng quân sự và phải lo chuyện rút quân.

Để đúc kết về một binh pháp cho năm 1968, Bí Thư thứ Nhất Lê Duẩn của Đảng Lao Động Việt Nam đi đến quyết định là “chuyển hướng tiến công vào Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng. Mỹ khôngcòn con đường nào khác, …Mỹ phải chấp nhận thất bại về quân sự, cô lập về chính trị … Mỹ sẽ phải rút khỏi miền Nam.“

Trong khi họp, tướng Thanh bị đột tử đầy bí ẩn tại Quân y viện 108 ngày 6 tháng Bảy năm 1967. Có nhiều suy đoán về cái chềt này là tướng Thanh bị không kích của B.52 ở vùng Mỏ Vẹt, hoặc bị thanh toán nội bộ vì những sai lầm về binh pháp gây tổn thất nặng nề trong các trận Đức Cơ, An Khê, Pleimei, Ia Drang, Sa Thầy, Tây Ninh trong hai năm 1965 và 1966 hoặc vì quá chén tiệc tùng mà bị suy máu cơ tim.

Để thay cho tướng Thanh chuẩn bị tổng công kích, Hà Nội quyết định đưa Tướng Võ nguyên Giáp, người hùng của chiến thắng Điện Biên Phủ, Tổng Tư lệnh QĐNDVN, đảm nhiệm tư lệnh chiến trường miền Nam; phụ tá cho tướng Giáp là Hoàng Văn Thái nắm toàn bộ lực lượng vũ trang năm tỉnh phía Nam Trung bộ và toàn miền Nam và Vũ Nam Long nắm Đặc khu Trị-Thiên. Phạm Hùng làm Tân Bí thư cho Trung Ương Cục miền Nam.

Giai đoạn thực hiện

Công tác nội thành

Ngay từ đầu muà Thu 1967, MTGPMN đã cho các toán nội tuyến chuyển vô số vũ khí và đạn dược vào các cơ sở nội thành tại miền Nam. Vì các cơ quan an ninh quân sự cũng như dân sự của VNCH đã không kiểm soát được các hoạt động nội tuyến này và tệ nạn móc ngoặc đã làm cho việc vận chuyển vào các thành phố rất an toàn.

Trận Khe Sanh

Diễn tiến

Khe Sanh cách biên giới Lào 20 cây số, là một khu vực hiểm trở gần khu phi quân sự và đường mòn Hồ Chi Minh, có địa hình lòng chảo giống như Điện Biên Phủ. Từ năm 1962, Khe Sanh được Lực Lượng Đặc Biệt Mũ Xanh Hoa Kỳ sử dụng làm nơi xuất phát các phi vụ thám thính đất Làọ. Đến năm 1967, có hai Trung Đoàn Thủy quân Lục chiến Mỹ và Tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của VNCH đồn trú với khoảng 6.000 quân, họ có nhiệm vụ kiểm soát các hoạt động của QĐNDVN. Khi vây chặt Khe Sanh vào giữa năm 1967, QĐNDVN có một vài giao tranh nhỏ nhằm gây lạc hướng cho đối phương, đúng theo chiến thuật nghi binh của tướng Giáp.

Ngày 21 tháng Giêng năm 1968, QĐNDVN cho di chuyển hai sư đoàn 304 và 325 chính quy, khoàng 17.500 quân, tấn công Khe Sanh bằng hoả lực pháo binh nặng nề làm cho kho đạn bị hoàn toàn thiêu hủy và gây thiệt hại trầm trọng các công sự phòng thủ của Mỹ. Trước nguy cơ thất thủ như Điện Biên Phủ, Tướng William C. Westmoreland huy động thêm 15.000 binh sĩ giải cứu và ra lệnh tăng cường kiểm soát các tuyến đường thâm nhập Khe Sanh. Sau đó, tổng số binh sĩ Mỹ-Việt phòng thủ lên đến 50.000.

Trước hoả lực pháo binh dồn dập của đối phương, Tổng Thống Lyndon B. Johnson, từ Toà Bạch Ốc, cam đoan với các binh sĩ đang bị vây là sẽ yểm trợ tối đa và gia tăng các cuộc không kích các khu vực chung quanh Khe Sanh. Ông ra lệnh cho Tướng Earle G. Wheeler, Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, phải giử Khe Sanh bằng mọi giá vì ông không muốn thất bại như trận Điện Biên Phủ. Cho đến cuối tháng tư, Johnson đã ra lệnh ném trên 100.000 tấn bom xuống quanh Khe Sanh, một khối lượng bom lớn nhất lên trên một khu vực khỏ bé, gây tác hại lâu dài nhất về môi trường.

Trước các phản pháo liên tục của Mỹ, các binh sĩ của QĐNDVN phải tuần tự rút khỏi Khe Sanh, nhưng từ cứ điểm bên kia biên giới Lào họ tiếp tục pháo kích. Từ tháng Sáu năm 1968, họ không còn khả năng uy hiếp như trước, sau khi toàn bộ đã bị đánh đuổi ra khỏi Khe Sanh. Cuối cùng, ngày 6 tháng Bảy năm 1968 lính Mỹ rời Khe Sanh mà chỉ còn hành quân lưu động và tiếp tục ném bom. Khe Sanh thành vùng oanh kích tự do vì không còn giá trị phòng thủ chiến lược. Đến năm 1971, căn cứ Khe Sanh mới được QLVNCH sử dụng lại.

Tống kết thành tích

Lần đầu tiên trong lịch sử chiến tranh Việt Nam, Khe Sanh là một trận giao chiến ác liệt với cấp số sư đoàn, hoả lực pháo binh hùng hậu, thiết giáp tối tân và không kích quy mô nhất. Nhưng cho đến nay, không ai có thể kiểm chứng được là ai thắng và ai thua, mà các giải mật về sau cũng không thể soi sáng. Sở dĩ có nhiều lý giải khác biệt là vì hai phe xem tuyên truyền chính trị vẫn là quan trọng hơn quân sự.

Về ý nghiã chiến thắng được phe thắng cuộc ca ngợi trân Khe Sanh “mốc son chói ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng“ trong khi phía Mỹ cho tới nay cũng cho là “chiến thắng vang dội của quân đội Hoa Kỳ tại Nam Việt Nam“.

Về chiến thuật, phe thắng cuộc cho rằng Tướng Giáp dồn lính Mỹ vào Khe Sanh để có thể tấn công các vùng khác, cùng lúc tạo một chiến thắng như Điện Biên và buộc Hoa Kỳ phải đầu hàng. Trong khi Tướng Westmoreland cho là đã tương kế tựu kế để tiêu diệt đối phương, vì Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện hơn Pháp để phòng thủ và tiếp tế cho Khe Sanh trong lâu dài làm cho đối phương đã không chiếm nổi mà còn bị tử vong nặng nề.

Nhưng các con số thương vong của hai phiá là không chính xác. Phe thắng cuộc dựa vào ước tính sau 170 ngày chiến đấu, nên đã “loại khỏi vòng chiến đấu 11.900 tên địch, bắn rơi 480 máy bay, 120 xe quân sự, thu và phá hủy hàng trăm khẩu pháo” trong khi Hoa Kỳ nói là sau 77 ngày trực chiến đã đã giết tới 15 nghìn người.

Chiến cuộc Mậu Thân

Diễn tiến

Tuân thủ truyền thống cao đẹp của những ngày hưu chiến, nên hơn phân nửa các binh sĩ QLVNCH được nghĩ phép về thăm gia đinh, có đơn vị chỉ còn 30% quân số đồn trú. Do đó, QLVNCH không tập trung phòng thủ, nhất là các thành phố. Tổng thống Johnson, Tướng Westmoreland và Tổng Thống Thiệu đều tin mục tiêu chính của CSBV là Khe Sanh và không còn tấn công vào nơi nào khác trong dịp Tết. Theo ước lượng chung, sác xuất tấn công, nếu có, là từ 40-60% trong những ngày trước hoặc sau tết.

Đánh giá sai lầm này khởi đầu một trang sử mới cho chiến tranh Việt Nam: năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho VNCH với ba đợt tấn công của MTGPMN: 30 tháng Giêng đến 28 tháng Ba, 5 tháng Năm đến 15 tháng Sáu và 17 tháng Tám đến 30 tháng Chín trên chiến trường tạo các biến cố dồn dập trong chính trường Việt – Mỹ.

Tại Sài Gòn, MTGPMN thâm nhập tại nhiều địa điểm khác nhau trong thành phố. Dù thiếu chuẩn bị, nhưng ngay sau những hoảng loạn ban đầu, QLVNCH đã có những phản ứng quyết liệt chống trả. Gần 11.000 binh sĩ Hoa Kỳ và QLVNCH đã đẩy lui các cuộc tấn công khốc liệt; cả hai bên dành nhau từng con đường chật hẹp, nhất là khu vực Chợ Lớn. MTGPMN thất bại nặng nề vì không thông thạo địa hình và không có sự bao che của dân chúng như tại nông thôn. Sau một tuần giao tranh dữ dội, đặc biệt nhất là có trực thăng Mỹ yểm trợ đắc lực cho việc tiến chiếm này, MTGPMN bị đánh bật ra khỏi Sài Gòn. Theo một tài liệu chưa được kiểm chứng, kết quả là phía VNCH: 323 tử thương, 907 bị thương; phía CSVN: 5.289 tử thương và 415 bị bắt.

Tại Huế, được nhiều sinh viên và Phật tử thân Cộng hỗ trợ, với lực lượng chính quy hơn 7500 binh sĩ, CSBV đã chiếm cứ lâu nhất, có nhiều giao tranh khốc liệt và thảm sát dân chúng đẩm máu nhất. Trong 25 ngày chiến đấu, cả hai bên đều chịu nhiều thiệt hại: VNCH có hơn 4.400 thương vong; phía Mỹ có 147 chết và 857 bị thương, còn Quân Giải phóng mất khoảng 4.000 người, các tài liệu của hai phe phổ biến khác nhau và không chính xác vì khó kiểm chứng. Hỏa lực pháo binh VNCH yểm trợ tái chiếm và các cuộc chạm súng trên từng đường phố làm các di tích lịch của cố đô bị thiệt hại đến 85 phần trăm. Số thường dân bị giết khi đi học tập, bị thanh toán theo từng nhà và từng con đường qua hình thức Toà án Nhân dân và bị chôn sống trên đường tháo chạy lên đến khoảng 6.000 người. Trong số nạn nhân còn có cả những hai linh mục người Pháp dòng Thiên Ân và bốn người giáo sư Đức ở Viện Đại học Huế. Trên 100.000 dân phải di tản. Đến ngày 24 tháng Hai thành phố Huế được QLVNCH tái chiếm trong hoang tàn đổ nát.

Tại Bến Tre, hình ảnh giao chiến ít khốc liệt như Huế, nhưng cũng làm cho 451 VC, 60 VNCH, 35 Mỹ tử thương, nhiều thường dân thiệt mạng và bị thương và 50 phần trăm nhà cửa bị hư hỏng. Không có cảnh chôn sống như tại Huế, nhưng việc tái chiếm Bến Tre cũng bi thàm mà một câu nói của Thiếu tá Lục quân Phil Cannela, chỉ huy tái chiếm, đến nay vẫn còn được các phương tiện truyền thông Mỹ trích thuật một cách sai lạc gây tác hại về ngoại vận cho phe Mỹ:”Chúng ta phải phá hủy Bến Tre để giải cứu cho Bến Tre”. Thực ra toàn văn phải là: Việt Cộng đã phá huỷ thị xã và đó là điều đáng tiếc (“Vietcong had destroyed the town and that was a shame; It became necessary to destroy the town in order to save it”

Tại các thành phố khác của miền Nam, các cuộc giao chiến cũng có hình ảnh tương tự; dù có địa hình khác biệt, nhưng tựu chung tiến trình là giống nhau. Sau khi bị phe MTGPMN tấn công bất ngờ, QLVNCH phản công mãnh liệt, toàn thể dân chúng không nỗi dậy mà cũng không yểm trợ tiếp liệu, nên cuối cùng, kháng chiến quân thất bại và tháo chạy.

Tống kết thành tích

Khác hẳn trận Khe Sanh, thành tích quân sự trong chiến cuộc Mậu Thân nghiêng rõ rệt về phiá VNCH mà cả hai phe đều xác nhận. Lần đầu tiên, QLVNCH đã tỏ khả năng chiến đấu tinh nhuệ trước một cuộc chiến tranh toàn diện. Tướng Earle G. Wheeler đã nhấn mạnh: “QLVNCH đã kháng cự cuộc tấn công ban đầu với một sức mạnh thần kỳ.” Yves Gras, một tướng lãnh Pháp, cũng đã viết: “QLVNCH giữ vai trò chủ yếu trong các trận đánh bẻ gãy cuộc tấn công Tết Mậu Thân.” Tướng Westmoreland nhận xét: “Trong số 149 tiểu đoàn tác chiến của VNCH có 42 tiểu đoàn cực kỳ xuất sắc và chỉ có 8 tiểu đoàn thuộc loại kém.“

Tổn thất của phiá VNCH thật là thảm khốc: 4.954 sĩ quan và binh sĩ, 14.300 thường dân chết và 25.000 bị thương. Hoa Kỳ chết 3.895 sĩ quan, binh sĩ và nhân viên, các đồng minh khác chết là 214. Trên 84.000 nhà cửa bị thiêu hủy vả 30.000 hư hại nhẹ làm thiệt hại lên tổng số khoảng 4, 5 tỷ tiền VNCH vào năm 1968. 84 xí nghiệp bị thiệt hại nặng khoảng 4 tỷ, trầm trọng nhất là ngành dệt. Khoảng 670.000 (tài liệu khác cho là 821.000) dân chạy tỵ nan, trên 200.000 người lâm vào cảnh vô gia cư, đa số không có thể hồi hương lập nghiệp mà sống bất định tại 117 trại tập trung cứu trợ trong thành phố. Số thiệt hại của lực lượng Cảnh sát là 447 người chết, 758 bị thương và 157 người mất tích.

Tổn thất về phía MTGPMN nặng nề hơn, Tướng Trần Văn Trà đã thú nhận là  “… ta không đánh giá đúng về tương quan lực lượng ta địch cụ thể lúc ấy, không thấy hết khả năng còn lớn của địch và điều kiện còn hạn chế của ta, đề ra yêu cầu quá cao sức thực tế ta có…”

Sai lầm này cuả MTGPMN làm cho khoảng 32.000 thiệt mạng (có tài liệu khác cho là trên 44.000 hoặc dưới 58.000), 64.000 bị thương và 5.800 người khác bị bắt. Nguyên nhân chính của thảm hoạ này là vì dân thành phố không hướng ứng nổi dậy, phần lớn ủng hộ chính quyền VNCH, phần khác có thái độ trung dung, chỉ tìm cách tránh thiệt hại trong các cuôc giao tranh. Nhưng quan trọng nhất là sự chống trả anh dũng của QLVNCH và tệ hại nhất là vì các du kích quân không thông thạo địa hình thánh phố khi tháo chạy.

Hậu quả là chẳng những tinh thần dân chúng nông thôn mà cả thành phố bắt đầu sa sút và ý thức về nguy cơ sống còn sau chiến cuộc. Tình hình kinh tế miền Nam tệ hại hơn: mưu sinh khó khăn, lạm phát làm cho các mặt hàng hóa lên giá không lường được và chính phủ cũng bất lực trong việc kiểm soát. Ngược lại, đại đa số thanh thiếu niên tại các thành phố có tinh thần chống Cộng hơn; họ tham gia các phong trào cứu trợ nạn nhân chiến tranh hay nhân dân tự vệ.

Uy tín chính trị của MTGPMN xuống thảm hại vì không còn chiêu dụ kháng chiến quân ở nông thôn vì dân bỏ ra thành thị sinh sống; cán bộ cho cơ sở nội thành thưa thớt; các người thân Cộng bị lộ, nên họ phải rút ra bưng. Nguyễn Văn Linh thú nhận là các cơ sở nội thành bị tiêu diệt hay vỡ nhiều mảng. Cơ sở ngoại thành cũng bị quét sạch vì kế hoạch bình định cấp tốc. Bộ Chỉ huy Thành ủy phải trốn tránh và mất 1 năm 28 ngày mới tới được căn cứ.

Dù lui về các căn cứ, nhưng MTGPMN cũng không còn đựợc yên thân vì bị lực lượng quân sự Mỹ Việt truy kích ráo riết, nên thiệt hại nặng nề. Cuối tháng 9 năm 1968, CSVN đã ngừng hoạt động quân sự vì bị tiêu hao và bổ sung không kịp. Tiếp tế khó khăn nhất là ở Tây nguyên, nên giữa năm 1969 lương thực chỉ đủ nuôi bộ đội trong khoảng một tuần. Do đó, CSBV đã phải điều động một sư đoàn và các đơn vị không tác chiến khác “tập kết lần thứ hai”ra Bắc. Thực lực quân sự của MTGPMN không còn và lệ thuộc hoàn toàn vào sự điều động của QĐNDVN.

Dù đại bại về quân sự, nhưng chiến cuộc Tết Mậu Thân đã đem lại thành công chiến lựợc cho CSBV tạo nhiều phản ứng kinh hoàng trong chính trưòng và dân chúng Mỹ, đánh dấu một điểm chuyển biến mới làm bất lợi cho phiá VNCH trong mặt trận truyền thông quốc tế.

1968: Annus horribilis (Năm kinh hoàng) cho chính quyền và công luận Mỹ

Sợ hải lan rộng

Như thường lệ vào buổi cơm tối của gia đình, dân chúng Mỹ đang xem tin tức thế giới trong ngày 31 tháng Giêng năm 1968 trước màn kính truyền hình. Đột nhiên, các hình ảnh kinh hoàng hiện ra: Toà Đại Sứ Mỹ bị đột kích đẩm máu; thành phố Sài gòn với cảnh hai phe đánh cận chiến trên từng gốc phố, nhà cửa cháy rụi, dân chúng chạy tán loạn và người xác đầy trên đường phố. Kinh khiếp nhất là cảnh Tướng Nguyễn Ngọc Loan, Tư Lệnh Lực lượng Cảnh Sát, xử tử Nguyễn Văn Lém (Bảy Lốp), ngay tại ngả tư đường Ngô Gia Tự và Sư Vạn Hạnh, gần chùa Ấn Quang. Hình ảnh này được Eddie Addams, một phóng viên Mỹ, chụp đúng lúc và ký giả quốc tế đã đưa lên các phương tiện truyền thông; thế giới khinh bỉ lên án ông Loan là “vi phạm công ước Genève về tù binh” và “tội phạm chiến tranh”.

Thực ra, các hình ảnh khác còn thương tâm hơn mà báo chí và công luận thế giới trước đó và sau này không biết đến, đó là Bảy Lốp, một hung thủ đã giết nhiều thường dân vô tội, đặc biệt nhất là toàn gia đình của Trung Tá Nguyễn Tuân, một sĩ quan tùy viên của tướng Loan, trong đó có một người mẹ 80 tuổi. Phản ứng trả thù của Tướng Loan làm cho dân chúng Mỹ phẩn nộ, gây tác động lâu dài trong tâm trí mọi người là phía VNCH quá tàn nhẫn. Nhưng quan trọng hơn, họ tự hỏi tại sao Toà Đại Sứ uy nghi và Sài Gòn hoa lệ không còn an ninh nửa, trong khi con em của họ đang đem sinh mạng ra để ngày đêm bảo vệ cho VNCH và luôn tin là ngày chiến thắng Cộng Sản đã gần kề.

Ngạc nhiên trước biến cố này, Tổng thống Johnson tìm cách xoa dịu lòng căm phẩn của công luận khi tuyên bố là các phản công của các lực lượng Mỹ Việt đã có hiệu quả. Johnson càng trấn an thì càng vô hiệu, khi các phóng viên chiến trường gởi tới tấp các bài tường thuật sống động với tràn ngập các hình ảnh của Sài Gòn đẩm máu là khả tín hơn. Uy tín của Johnson xuống thấp từng ngày và đa số bắt đầu bất tín nhiệm ông trong vai trò Tổng Thống. Thăm dò dư luận cuối tháng Hai năm 1968 cho thấy chỉ còn 32 % dân chúng là ủng hộ Mỹ tiếp tục tham chiến.

Suốt ba năm trước đó, Johnson luôn giải thích là VNCH đang kiểm soát được tình hình, loại CSBV ra khỏi vòng chiến, các biện pháp leo thang chiến tranh sẽ giúp cho Mỹ sớm kết thúc chiến tranh, mọi tiến triến không thể đảo ngược và kẻ thù sẽ bị đánh bại. Tướng Westmoreland cho là QLVNCH rất kiên cường và chính phủ VNCH có nhiều hiệu năng, nhưng cả hai cần kết hợp hơn để gia tăng kiểm soát các khu vực nông thôn, đây chính là phương sách buộc MTGPMN đang suy yếu phải đầu hàng.

Vào mùa thu năm 1967, Tướng Westmoreland đã đề nghị tăng thêm quân số, nhưng không hề tiết lộ chi tiết. Tháng Hai năm 1968, ông yêu cầu mở thêm các cuộc hành quân phá vỡ các cứ điểm của CSBV dọc theo đường mòn Hồ chí Minh, song hành với việc không kích miền Bắc. Tài liệu giải mật về sau hé lộ là ngày 13 tháng Hai năm 1968, Bộ Quốc phòng Mỹ chấp thuận tăng 10.500 quân, con số quá ít so với yêu cầu.

Tại Washington, Tướng Earle G. Wheeler, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Bộ Quốc Phòng, chuẩn nhận mọi kế hoạch của Tướng Westmoreland, vì việc huy động các lực lưong trứ bị của Mỹ bị được đề ra từ năm 1967, nhưng còn chờ Johnson chấp thuận.

Để thuyết phục Johnson về một binh pháp mới cho Việt Nam, ngày 21 tháng Hai năm 1968, Tướng Wheeler đến Sài gòn để tham khảo ý kiến với Tướng Westmoreland. Sau khi quan sát về thành quả của QLVNCH trong chiến cuộc Mậu Thân, cả hai đồng thuận là quân số phải tăng thêm 206.000 người, nhưng quan điểm của Tướng Wheeler không quá lạc quan như Tướng Westmoreland.

Khi báo cáo với Tổng thống Johnson, Tướng Wheeler dè dặt cho là tương lai có nhiều triển vọng, nhưng cũng đầy nguy hiểm. Dù đối phương thất bại nặng nề, nhưng nếu khả năng hồi phục nhanh chóng và tinh thần chiến đấu còn cao, thì một cuộc tấn công mới là có thể xảy ra, dù là chuyện khan hiếm. Ông cảnh báo về một thái độ kiên quyết trong việc đòi thêm quân số. Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ Quốc Phòng McNamara không chấp thuận và Tổng thống Johnson cũng không dứt khoát

Trong dịp này, Bộ Quốc Phòng cũng thảo luận về triển vọng các cuộc không kích Hà Nội, Hải Phòng và các hệ thông đê điều của miền Bắc. Johnson bác bò các đòi hỏi này và nhất là việc huy động lực lượng trừ bị. Cuối cùng, Tướng Wheeler trình bày để cho Johnson chung quyết: Nếu Tổng thống không chấp thuận tăng 206.000 quân, thì cuộc chiến sẽ còn kéo dài và Mỹ sẽ có nguy cơ thảm bại; nếu chấp thuận tăng quân, thì Mỹ phải huy động lực lượng trừ bị và mở rộng chiến tranh. Báo cáo của Tướng Wheeler có tác dụng như một quả bom cho Toà Bạch Ốc.

Từ 1 tháng Ba năm 1968, Clark M. Cliiford đảm nhiệm chức vụ Tổng trưởng Quốc Phòng thay cho Mac Namara. Ngay sau khi nhận được đề nghị của Tướng Westmorland, ông thấy có khó khăn khi duyệt xét, nhất là không thể biết được mức độ gia tăng quân số và khả năng phòng thủ của đối phương.

Trong khi họp bàn, Bộ Quốc Phòng còn đề nghị một chiến lược mới: Để tìm một lối thoát danh dự, Mỹ sẽ trang bị thêm, giao trọn việc chiến đấu cho QLVNCH và chỉ bảo vệ các thành phố. Cùng lúc, Mỹ tuần tự rút quân và thúc đẩy cho VNCH chịu hoà đàm. Đó là các tiền đề mà sau này Richard Nixon và Henry Kissinger kế tục.

Đứng trước một tình huống nan giải, Johnson cố giử cho Mỹ thiệt hại ở mức tối thiểu. Trong phiên họp hai ngày 4 và 5 tháng Ba năm 1968, Johnson chấp thuận là Bộ Quốc Phòng cần phải nghiên cứu chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh, tạm thời tăng quân số với 22.000 và triển khai các sáng kiến về hoà đàm của Ngoại trưởng Dean Rush. Làm như vậy, Johnson cố tình kéo dài, nhưng Johnson lầm vì các chính biến dồn dập kinh hoàng cho nước Mỹ trong suốt năm 1968.

Ngày 10 tháng Ba năm 1968, New York Times tung tin là “Tướng Westmoreland xin thêm 206.000 quân“, gây sôi nổi trong công luận và quốc hội. Để làm sáng tỏ vấn đề, Ngoại trưởng Dean Rush phải ra điều trần tại Thượng viện và công luận có dịp theo dõi nội dung qua trực tiếp truyền hình, tuy nhiên ông không thuyết phục được cả hai. Các dân biểu Quốc hội có một nghị quyết với một tỷ lệ 139 trong tổng số 400, nội dung đòi hòi là phải có một việc duyệt xét toàn diện chương trình tham chiến của Mỹ tại Việt Nam.

Khi sợ hải lan rộng, mọi kế hoạch của chính quyền Mỹ luôn bị nghi ngờ, nhất là khó tìm ra ý nghĩa đích thực và quyền lợi sinh tử của Mỹ trong việc thực hiện kế hoạch này, trong khi ảnh hưởng kinh tế và tài chánh của chiến cuộc trở thành một đề tài sôi động.

Biến động thị trường tiền tệ quốc tế

Trước đây, theo Thoả uớc Breeton Woods từ tháng Sáu năm 1944, tất cả các nước châu Âu, ngoại trừ Pháp, có một nguyên tắc bảo đảm về dự trữ tiền tệ mà các Ngân hàng Trung ương đồng thuận là không sử dụng cách đổi tiền Đô là Mỹ thành vàng; tương thuận này không ảnh hưởng đến các giao hoán trong lĩnh vực tư nhân.

Vào đầu năm 1968, chiến tranh Việt Nam tác động thị trường khi giá trị của đồng Đô la trên thị trường tài chính quốc tế giảm trong khi thị trường lãi xuất tăng cao. Tình thế đạt tới cao điểm vào ngày 14 tháng Ba năm 1968, khi các ngân hàng thương mại châu Âu bán ra 370 triệu Đô la để đổi lấy vàng, kể cả Banque de France cũng bị ảnh hưởng đến khối lượng ngoại tệ dự trử.

Do áp lực của Qũy Dự trử Liên bang, Johnson không còn cách nào khác hơn là cho đình chỉ áp dụng nguyên tắc bảo đảm đổi Đô la thành vàng. Johnson phải báo động cho các Ngân hàng Trung ương châu Âu về viễn tượng sụp đổ cuả hệ thống tiền tệ thế giới, mà mức tác hại về chính trị còn trầm trọng hơn là khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 1929. Dù là một quyết định nhất thời, nhưng lại có giá trị biểu tượng là Mỹ không còn đủ khả năng đảm nhiệm các thanh toán quốc tế. Điều này có nghĩa là Mỹ không còn thống trị nền kinh tế thế giới mà khiếm hụt ngân sách do chiến tranh Việt Nam cũng góp phần.

Khiếm hụt ngân sách tăng cao

Nuôi quân Mỹ và kinh viện cho Việt Nam thành một áp lực nặng nề cho ngân sách. Riêng trong năm 1967 kinh phí quốc phòng đã lên đến mức kỷ lục là 20,3 tỷ Đô la và mức bội chi cho chương trình Great Society nhằm phục hồi kinh tế nội địa và phát triển cơ sở xã hội hạ tầng gây lo ngại nhiều hơn. Tình trạng khiếm hụt ngân sách của năm 1967 là 9 tỳ và dự đoán là sẽ lên đến khoảng 25 đến 28 tỷ trong năm 1968. Johnson buộc phải đề nghị tăng thu thuế 10% và kiểm soát gắt gao hơn các biện pháp chi ngân sách.

Các chuyên gia kinh tế ý thức về tầm vóc tác hại của khủng hoảng vàng cho Mỹ trong trường kỳ. Đối với dân chúng, hiệu ứng trên thị trường vàng không quan trọng bằng khiếm hụt ngân sách, tình trạng sẽ làm cho chính quyền phải tăng thuế. Cuối cùng, một thoả hiệp với Quốc hội đạt đuợc là giảm chi cho chương trình Great Society là 6 tỷ Đô la và tăng thuế ít hơn.

Không giải pháp cho Việt Nam

Để tham khảo vấn đề chiến tranh Việt Nam, ngày 26 tháng Ba năm 1968, Johnson triệu tập một phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia mở rộng; trong số khách mời tham dự này còn có Mc Georg Bundy, Georg Ball và Dean Acheson, ba khuôn mặt có uy tín nhất của Mỹ. Từ năm 1967, ba ông đã công khai ủng hộ Johnson không kích miền Bắc và viện trợ quân sự cho miền Nam. Qua lần triệu tập này, Johnson hy vọng được họ tiếp tục hỗ trợ.

Acheson, nổi danh là người đề ra chương trình tái thiết hậu chiến với Kế hoạch Marshall và Hoc thuyết Truman nhằm củng cố vai trò của Mỹ tại châu Âu và Nhật Bản, ông cảm thấy các công trình của Mỹ đang bị de dọa trước tình hình mới. Đối với Việt Nam, Acheson là ngoại trưởng Mỹ công nhận chế độ Bảo Đại và khởi động cho việc tái thiết Việt Nam trong thời kỳ xây dựng quốc gia. Nhưng ông nhận thấy nay tình hình khác hẳn so với trước đây và các thử nghiệm tại Việt Nam về việc thành lập quốc gia hoàn toàn thất bại.

Kể từ tháng Ba, cả ba đã nhận ra nhiều yếu tố ủng hộ cho Johnson không còn: sau chiến cuộc Mậu Thân thì áp lực của giới phản chiến lên cao, chia rẽ trong Đảng Dân Chủ nặng nề; Quốc hội và công luận chống đối chính quyền rõ rệt; Mỹ suy yếu trong việc lãnh đạo nền kinh tế thế giới và áp lực giới tài phiệt thuộc Wall Street mạnh hơn.

Trước tình hình này, ngày 31 tháng Ba năm 1968, Johnson đọc một bài diễn văn bày tỏ thiện chí trước truyền hình với nội dung là sẽ chấp nhận hoà đàm không điều kiện: Mỹ sẽ ngưng oanh tạc miền Bắc từ vĩ tuyến 20. Nếu Hà Nội phản ứng tích cực, ông sẽ bỏ hẳn việc ném bom miền Bắc. Dù không đề cập đến vấn đề giảm quân số Mỹ đồn trú tại Việt Nam, nhưng ông không cho leo thang chiến tranh và sẽ không ra tranh cử. Ông tuyên bố: “Accordingly, I shall not seek and I will not accept the nomination of my party for another term as your President.” Nhin toàn diện, Johnson muốn rời khỏi chính trường và cũng không có giải pháp nào cho Việt Nam. Trong khi Johnson còn chờ đợi Hà Nội phản ứng, thì một loạt biến động kinh hoàng cho nước Mỹ trong năm 1968.

Động loạn xã hội liên tục

Ngày 16 tháng 3 năm 1968 thảm sát Mỹ Lai gây kinh động cho lương tâm dân chúng Mỹ: Trung uý William Calley hướng dẫn một toán lính Mỹ hành quân, lục soát và giết khoảng 200 dân làng tại khu vực thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi; tất cả nạn nhân là trẻ con, phụ nử và ngưòi già. Đây là một biểu tượng thương tâm nhất về tội ác cuả Mỹ tại Việt Nam, tạo thành một hình ảnh đối kháng rõ rệt giữa lính Mỹ và người Việt, không phân biệt chiến tuyến. CSBV cũng vi phạm luật thời chiến trong việc bảo vệ thường dân, nhưng truyền thông Mỹ ít quan tâm. Ngược lại, thảm sát Mỹ Lai, dù về sau mới được phát hiện và Mỹ có đem ra toà án, nhưng được truyền thông khai thác triệt để nên gây bất lợi cho chính quyền Mỹ trong việc phát huy chính nghĩa yểm trợ cho VNCH.

Ngày 4 tháng Tư năm 1968, James Earl Ray ám sát Mục sư Martin Luther King jr. tại Memphis, Tennessee làm cho làn sóng sinh viên chống đối kỳ thị chủng tộc lan rộng, khởi đầu từ Đại học Berkely, sau đó đến New York và Columbia và Harvard. Cành đốt xe, đốt nhà và hôi của tại các cửa tiệm tại Washington và hàng trăm thành phố khác là hình ảnh tang thương rõ nét. Hai sinh viên da đen thuộc Đại học South Calorina đã bị cảnh sát bắn chết trong cuộc biểu tình. Tổ chức cực đoan Black Panther có nhiều trận giao tranh với cảnh sát tại các thành phố Oakland, California, Cleveland và Ohio. Tình hình trầm trọng hơn làm cho chính quyền phải ra lịnh giới nghiêm. Tổng số có 38 người chết, 3000 người bị bắt và thiệt hại vật chất là 14 triệu Đô la.

Ngày 6 tháng Sáu 1968, Sirhan Sirhan, một người nhập cư gốc Palestine bịnh tâm thần, giết Nghị sĩ Robert F. Kennedy tại khách sạn Ambassador thuộc Los Angeles. Trước đó, trong các cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Dân chủ tại Indiana và Nebraska, Robert Kennedy thắng Eugene MacCarthy;  tại California, Robert Kennedy thắng với tỳ lệ 46% so với MacCarthy là 42%, chỉ thua ở Oregon, kết qủa cho thấy là triển vọng thắng cử là thực tế, một hy vọng cho phe chống chiến tranh Việt Nam. Nội tình Đảng Dân chủ bất ổn sau cái chết đột ngột này và dân chúng biểu tình lan tràn trong cả nước.

Ngày 28 tháng 8 năm 1968 trong cuộc vận động tranh cử của Đàng Dân chủ tại Chicago gây xung đột đẩm máu giửa cảnh sát với nhóm sinh viên phản chiến Youth International Party (Yippies), một lực lưọng thuộc Students for a Democratic Society (SDS) làm cho hàng trăm cảnh sát và hơn 800 người bị thương; gần 700 người vào tù trong đó có nhiều phóng viên.

Nội tình nước Mỹ cưc kỳ rối rắm, nên truyền thông Mỹ không còn quan tâm nhiều đến hậu quả của chiến cuộc Mậu Thân như trước, mà chủ yếu là đòi Mỹ rút quân và ngưng viện trợ cho miền Nam, một bất lợi về ngoại vận cho phiá VNCH. New York Times, Boston Globe và Newsweek là ba biểu tượng truyền thông chính chống đối mãnh liệt chiến tranh Việt Nam trong thời gian này.

Khi Johnson còn đang hoang mang với nhiều bế tắc, thì ông lại ngạc nhiên khi thấy Hà Nội phản ứng tích cực trước bài diễn văn ngày 31 tháng Ba năm 1968 khi tỏ ý tham gia hoà hội Paris; Hà Nội giúp ông tìm ra một chiến lược mới phù hợp hơn cho tình thế.

Hoà hội Paris trì trệ: Vừa đánh vừa đàm

Hai tháng sau, hoà đàm Paris bắt đầu trước sự quan tâm của báo chí và công luận thế giới. Ngay từ đầu, cả hai phe CSBV và Hoa Kỳ còn đang trông chờ tin vui chiến trựòng, mà họ cho là một giải pháp ưu tiên, nên không ai bị áp lực về thời gian và thung dung tiếp tục vừa đánh vừa đàm. Cả hai phe không đề ra một giải pháp cụ thể nào cho việc chấm dứt chiến tranh trong khi các vấn đề phụ thuộc lại chiếm nhiều thời gian trong nghị trình đàm phán. Đó là việc sắp bàn hội nghị theo hình tròn hay vuông hay song song, một vấn đề để công nhận cho VNCH và MTGPMN tham gia hội nghị, mà cả hai còn có nhiều quan điểm dị biệt.

Trong giai đoạn này thì vừa đánh vừa đàm là một giải pháp thích hợp nhất cho Hà Nội. Thực ra, chiến lược này không mới lạ, vì từ đầu tháng Giêng năm 1967, Bộ Chính trị và Hội nghị lần thứ 13 đã chấp nhận lối vừa đánh vừa đàm để mở đường cho tuyên ngôn của Nguyễn Duy Trinh ngày 27 tháng Giêng năm 1967.

Nhưng quyết định của Mỹ ngưng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở lên là một thuận lợi tâm lý cho miền Bắc hơn trong khi họ tìm cách chỉnh đốn lại cho cơ sở hậu phương. Thảm bại Mậu Thân làm cho tinh thần binh sĩ xuống đến cực điểm. Với quân số còn lại khoảng 100.000 và với khối lượng viện trợ quân sự của Liên Xô còn tương đối hùng hậu, đó chính là lý do mà Hà Nội còn cho là may mắn, nên họ không nghĩ đến chuyện bỏ cuộc.

Tâm lý của Johnson cũng tương tự. Johnson vẫn chưa nghĩ tới chuyện rút quân và còn hy vọng về một chiến thắng quân sự, nhất là không muốn ô danh lịch sử là một Tổng Thống bại trận. Thực ra, chấm dứt ném bom từ vĩ tuyến 20 trở lên cũng không có kết quả khả quan vì đang trong những tháng có gió mùa và đầy sương mù. Nhưng bù lại, ông tăng việc ném bom gấp ba lần ở các khu vực do MTGPMN kiểm soát. Việc truy tầm và diệt Cộng trong hai tháng Ba và Tư năm 1969 tại ngoại thành Sài gòn do các cuộc hành quân bằng bộ binh ở miền Nam cũng có trên 100.000 binh sĩ Mỹ tham gia. Johnson không chủ trương ném bom các căn cứ địa của MTGPMN ở Miên và Lào cũng như miền Bắc trong thời điểm này, về sau nhìn lại, đó là một sai lầm của Johnson.

Trong khi Tướng Westmoreland còn đang thử nghiệm việc sử dụng nhiều đơn vị chiến đấu trong quy mô lớn hơn mà chiến cuộc Mậu Thân là một bài học, thì ngày 22 tháng Ba năm 1968, Johnson quyết định bổ nhiệm Tướng Creighton W. Abrams sẽ thay thế Tướng Westmoreland. Để chiến đấu hữu hiệu hơn, Abrams thay đổi triệt để chiến lược: đội hình quân lực Mỹ sẽ trở thành hình thức đơn vị nhỏ hơn; lập các đơn vị cơ động để đánh cận chiến trong các làng xã, đồng ruộng, núi đồi và vùng sình lầy.

Chiến dịch Phượng Hoàng và Bình Định cấp tốc

Song song với việc thay đổi binh pháp này, Mỹ bắt đầu huấn luyện cho phía VNCH cách tiêu diệt các cán bộ Cộng Sản nằm vùng qua chiến dịch Phượng Hoàng, một chương trình do William Colby và Robert Komer điều động, dù cực kỳ đẩm máu nhưng thành công vượt bực. VNCH mở rộng vùng kiểm soát làm cho tiềm lực của MTGPMN suy yếu hơn. Tình hình an ninh tại nông thôn cải thiện rõ rệt, nhất là từ khi có Chương trình Bình Định Nông thôn cấp tốc bổ sung.

Thực ra, các Chương trình Ấp Tân Sinh và Chiến Lươc là một kế hoạch của Robert Bob Thompson, một chuyên viên chống du kích người Anh đề ra, đã có từ năm 1959 do Tổng thống Ngô Đình Diệm áp dụng, với mục tiêu chính là gia tăng kiểm soát dân chúng tại nông thôn, nhưng kết qủa không khả quan.

Đến năm 1966, giới lãnh đạo Mỹ triển khai Chương trình Xây dựng Nông thôn (XDNT), một chiến lược và chiến thuật giống như của MTGPMN. Cụ thể là một toán cán bộ khoảng 59 người sẽ thâm nhập từng làng theo hình thức cùng ăn, cùng ở và cùng làm với dân chúng, để tìm cách đem lại an ninh cho xóm làng, một điều kiện đầu tiên cho phát triển kinh tế và thiện cảm chính trị cho chế độ VNCH.

Thành quả của các Chương trình XDNT thật là dị biệt. Vì thời gian đào tạo quá ngắn và địa bàn công tác luôn bị thay đổi, các cán bộ XDNT còn có khó khăn trong đấu tranh chính trị với phía MTGPMN và họ luôn tìm cách tấn công liên tục. Nếu năm 1967 hoạt động của các toán XDNT tỏ ra hiệu năng thì chiến cuộc Mậu Thân làm cho 79 cán bộ bị tử thương, 111 bị thương, và 845 mất tích. Số thiệt hại này làm hỏng phần nào các thành quả. Vào cuối tháng 2 năm 1968, chỉ còn 278 toán XDNT hoạt động tại các xã ấp, và 245 toán khác phải rút về lo việc an ninh các thị trấn và thị xã.

Từ đầu hè 1968, cả hai Chương trình Phượng Hoàng và Bình Định cấp tốc hoạt động khởi sắc làm cho MTGPMN tê liệt hoàn toàn. Hành vi tiêu diệt cán bộ Cộng sản nằm vùng quá đẩm máu, nên cũng gây tác động tuyên truyền có lợi cho phiá MTGPMN, nhất là trong số nạn nhân cũng có những thành phần thuần túy dân sự và đối lập chính trị với chính quyền của Tổng thống Thiệu. Đến năm 1971, 28000 du kích quân bị tử thương, 20.000 bị thương và 17.000 chiêu hồi.

Trong những tháng cuối cùng của nhiệm kỳ Tổng thống, ngoài việc tăng cường không kích tại các căn cứ của MTGPMN tại miền Nam và mở rộng hoạt động của chương trình Phượng Hoàng, Johnson còn khởi động việc Việt Nam Hoá chiến tranh: Quân số của QLVNCH tăng từ 685.000 lên đến 800.000; các chương trình huấn luyện quân sự được cải thiện và trang bị nhiều vũ khí tối tân. Nếu QLVNCH gia tăng quân số thì việc đào ngủ cũng là vấn đề, vì trong năm 1968 con số lên đến trên 100.000 người.

Lần đầu tiên Tướng Abrams đề nghị phối hợp hành quân Việt Mỹ để giúp cho QLVNCH làm quen với binh pháp mới và vũ khí tối tân. Phía Mỹ tỏ ra thất vọng về thiện chí hợp tác của QLVNCH vỉ tinh thần binh sĩ đang bắt đầu hoang mang về một chính sách tạm bợ của Washington. Tổng thống Thiệu không tin thiện chí của CSBV, tâm lý bị Đồng Minh phản bội càng làm cho ông không quan tâm giải pháp hoà giải, nhưng ông cũng không có một đối sách nào thích hợp, trong khi dân chúng ngóng chờ kết quả của cuộc bầu cử tổng thống Mỹ.

Cuộc bầu cử tổng thống

Mùa vận động sơ bộ để tranh cử tổng thống làm nội tình Đảng Dân chủ giao động. New Hampshire chọn Nghị sĩ Eugene McCarthy đạt tỷ lệ 42% số phiếu, một kết quả vang động ngạc nhiên dành cho một ứng viên chưa nổi tiếng, gây nhiều tranh luận trong Đảng. Mấy ngày sau, Nghị sĩ nổi danh là Robert Kennedy tuyên bố ra tranh cử. Quyết định của cả hai thuộc Đảng Dân chủ làm cho Johnson gặp khó khăn hơn.

Vào giờ chót, Đảng Dân Chủ đề cử Hubert Humphrey ra tranh chức vụ Tổng thống. Ông tuyên bố sẽ kế tục chính sách của Johnson. Đảng Cộng Hoà đưa Richard Nixon ra tranh cử; Nixon nổi danh là thành phần chống cộng cực đoan trong những năm 1950 và cũng tiếp tục tuyên chiến với CSBV. Đối với cử tri chỉ có hai giải pháp là chủ hoà hay chủ chiến, nhưng Nixon gây ngạc nhiên cho công luận hơn khi ông tuyên bố là có mật kế để kết thúc chiến tranh. Khi bị ký giả hỏi về chi tiết, ông từ chối thổ lộ. Humphrey cũng lần lượt từ bỏ chính sách của Johnson. Thăm dò dư luận cho rằng Humphrey phải chứng minh kết quả cụ thể của các cuộc hoà đàm. Cả hai Nixon và Humphrey đều tỏ ra dịu dọng trước công luận trong vấn đề Việt Nam.

Lần cuối cùng, Johnson muốn chứng minh thành quả của mình. Ngày 31 tháng Mười, Johnson tuyên bố sẽ có thương thuyết bốn bên và chấm dứt ném bom toàn miền Bắc. Sau khi bị Liên Xô đã tạo áp lực nặng nề, nên Hà Nội chịu thương thuyết nghiêm chỉnh. Kết qủa thăm dò dư luận nghiêng hẳn về phiá Nixon: Đa số theo Đảng Cộng Hoà đều đồng ý mở rộng chiến cuộc, trong khi 49% Đảng viên Dân chủ cũng đồng thuận cho việc gia tăng chiến tranh; 59 % giới trẻ cử tri từ 20 cho đến 29 tuổi đồng ý tiếp tục chiến cuộc. Dù thuận theo việc leo thang chiến tranh, nhưng 3/4 dân chúng muốn có hoà bình bằng thoả hiệp ngoại giao, mà không nhất thiết bắng thắng hay bại quân sự.

Về sau, Seymour Hersch và Christopher Hitchens cáo giác rằng trong chuyến đi Paris ngày 18 đến 22 tháng 9 Henry Kissinger nhận được mật tin về cơ hội tái lập hoà bình cho Việt Nam mà Averell W. Harriman và Cyrus Vance đã dày công chuẩn bị và trao lại cho Nixon. Qua trung gian là Anna Chennault, Nixon cho Tổng Thống Thiệu biết là khi thắng cử sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho VNCH thương thuyết hơn là Đảng Dân chủ. Tông Thống Thiệu vốn dĩ không tin giải pháp hoà đàm, nhưng tin Nixon, nên ông không cử người tham dự hoà hội Paris.

Theo Naill Ferguson, cáo giác là không có bằng chứng, vì lúc đó Kissinger không có điều kiện để thu thập nguồn tin về diễn tiến hoà đàm Paris và cũng chưa hợp tác với Nixon. Thái độ nghi ngờ của Tổng Thông Thiệu về thiện chí hoà đàm của CSBV là hợp lý và độc lập. Ngay trước khi bài diễn văn của Johnson được phát hình, Tổng Thống Thiệu đã phản ứng ngay với Đại Sứ Bunker về kế hoạch của Johnson; ngày 2 tháng Mười Một, ông đến Quốc hội VNCH để thông báo quyết định này và được nhiệt liệt ủng hộ. Kissinger và Nixon không hề can thiệp vào quyết định tẩy chay hòa hội của Tổng Thống Thiệu.

Mọi tình toán của Johnson thành sai lạc, việc chấm dứt ném bom chỉ còn còn là một thủ thuật trong lúc vận động tranh cử. Nixon thắng với 43,4%, Humphrey thua với 42,7% và Wallace với 13,5%. Thực ra, đó là một kết quả khá khích khao khi Nixon không hề có mật kế nào để kết thúc chiến tranh. Kissinger cũng ngạc nhiên trước chiến thắng này của Nixon. Cả hai không thích gì nhau, nhưng cuối cùng cũng tìm cách hợp tác và một bi kịch mới cho Việt Nam bắt đầu: Mỹ ký kết Hiệp Định Paris để rút quân và phản bội VNCH.

Giải ảo ngụy sừ Việt Nam

Cho đến nay, chính biến Tết Mậu Thân còn để lại quá nhiều nghi vấn vì phe thắng cuộc tiếp tục tuyên truyền về thành quả chiến thắng và không công bố hết các tài liệu liên quan về tổn thất. Dù một số người trực tiếp tham chiến đã can đảm đưa ra một vài ánh sáng mới trong các bí ẩn củ, nhưng các tin tức đó không phải là tất cả sự thật.

Do đó, trước sự đã rồi của lịch sử, giải ảo ngụy sử là một nhu cầu quan trọng. Với thời gian lắng động, hiện nay không phải là lúc để những người trong cuộc khơi động lại hận thù hay xí xoá khép lại quá khứ mà là cùng nhau soi sáng sự thật lịch sử giúp cho thế hệ hậu chiến tránh hiểm hoạ trong tương lai.

Tác nhân chủ yếu

Luận điểm thứ nhất được đặt ra là toàn Đảng hay toàn bộ Bộ Chính trị hay ai ra quyết định tấn công vào dip Tết Mậu Thân.

Dù nội tình là bí sử, nhưng giới am tường chuyện thâm cung có nhận định chung là Bộ Chính trị không phải là một khối ý chí thuần nhất mà tranh chấp quyền lực nội bộ đưa đến việc thanh trừng nhau để gìành quyền quyết định mà kết quả là một thiểu số duy ý chí xâm lăng miền Nam nhất quyết tiến hành chiến cuộc Tết Mậu Thân.

Thực tế cho thấy trong suôt một thời gian dài, Tướng Giáp luôn tỏ ra là một người biện hộ nhiệt thành cho một giải pháp hòa dịu đối với tình hình miền Nam. Cả hai ông Trường Chinh và Hồ Chí Minh cũng phần nào đồng tình theo luận điểm này, nhưng cả ba không tạo sức ép trong Bộ Chính Trị, trong khi Lê Duẩn có thanh thế hơn khi dựa vào Trung Quốc và luôn mang ý tưởng sử dụng bạo lực cách mạng để giải phóng miền Nam. Xung đột giữa Tướng Giáp với Lê Duẩn trong vấn đề một binh pháp cho miền Nam là cực kỳ gay gắt, nhưng cả hai vốn dĩ đã có nhiều bất hoà khác từ trước.

Không như dư luận thổi phòng về vai trò của Tướng Giáp trong thời kỳ soạn thảo kế hoạch, các sử liệu ghi lại hoàn toàn trái ngược nhau. Có tác giả cho là tướng Giáp không hiện diện ở bất kỳ cuộc họp kế hoạch nào; theo tác giả khác thì ngay từ đầu tướng Giáp phản đối kế hoạch bởi vì không khả thi và phải làm cho lực lượng Mỹ-Việt tê liệt trước khi tổng tấn công. Có tài liệu khác cho là Tướng Giáp chỉ đứng bên lề của Bộ Chính trị CSVN từ tháng 11 năm 1960 cho tới tháng 2 năm 1975; Tướng Giáp có thể vẫn là Bí thư của Quân ủy Trung ương, nhưng trên thực tế đã trao quyền hạn cho tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng QĐNDVN, vì tướng Dũng nhận lệnh trực tiếp từ Lê Duẩn. Sau tang lễ của Tướng Thanh, Tướng Giáp đi nghỉ mát dài hạn tại Hungaria, một hình thức bị loại ra khỏi Bộ Chính trị. Mãi tới ngày 29 tháng Giêng năm 1968, tức là hai ngày trước khi trận Mậu Thân nổ ra, thì Lê Duẩn mới cho Tướng Giáp về và xuất hiện trước công luận.

Còn Hồ Chí Minh ở Trung Quốc thường xuyên để trị bịnh vào lúc tuổi đời đã 75, không trưc tiếp tham gia kế hoạch. Khi thảo luận, ông Hồ đã phản bác là “kế hoạch của Bộ Chính Trị có thực tế không, phải chú ý đánh lâu dài và làm sao càng đánh càng mạnh, phải bảo đảm hậu cần, chú ý đến việc giữ sức dân, mở rộng chiến tranh du kích và tăng cường trang bị cho du kích quân.“ Vì thế, sau khi kế hoạch thành hình, báo cáo của Bộ Chính Trị cho ông Hồ chỉ là hình thức của sự đã rồi. Thư xuân của ông cho chiến sĩ cũng chuẩn bị từ trước. Lập luận bảo thủ lại hãnh diện giải thích tất cả các đồn đoán là đòn nghi binh thành công của miền Bắc dàn dựng để đánh lừa Mỹ và miền Nam.

Dù nhất quyết khởi công, nhưng Lê Duẩn cũng không thể tiến hành vì sau đó có những luồng chống đồi mãnh liệt từ những thân tín của Hồ chí Minh, Võ Nguyên Giáp và các giới trí thức khác mà về sau sử gia gọi chung là một phong trào phản chiến của miền Bắc. Trong giới quân sự nổi bật nhất là Đại tá Lê Trọng Nghiã, ông bị bắt vào đầu năm 1968. Sau đó, có trên 30 sĩ quan theo quan điểm của ông Hồ, ông Giáp và ông Nghĩa đồng loạt bị Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Công an, bắt. Giới trí thức như Vũ Đinh Hùynh, Hoàng Minh Chính và nhiều văn nghệ sĩ phản đối cũng bị bắt. Dù họ chống đối trong âm thầm, nhưng bị dập tắt trong tàn bạo. Các biện pháp thanh trừng cho thấy Lê Duẩn cương quyết đập tan mọi bất đồng mà ông quy kết họ là phá hoại chính sách đối ngoại và chống Mỹ cứu nước của Đảng, mà thực ra là về ý chí xâm lăng miền Nam của ông.

Nếu so chiếu mức độ khả tín của các tài liệu này thì có thể suy luận là Hồ Chí Minh, Tướng Giáp và Tướng Thanh không phải là tác giả của chiến dịch. Nếu phản bác của Tướng Giáp có sở thuyết phục; Hồ chí Minh còn sức khoẻ và đủ bản lĩnh lãnh đạo, thì Lê Duẩn không thể đi đến quyết định Tổng tấn công. Toàn bộ kế hoạch không phải là của toàn Đảng hay toàn Bộ Chính trị mà là một thỏa thuận ngầm giữa tướng Văn Tiến Dũng và Lê Duẩn và trực tiếp điều động toàn bộ về sau còn có thêm Lê Đức Thọ.

Cơ sở quyết định

Luận điểm thứ hai là Lê Duẩn đã quyết định trên cơ sở nào và đâu là thực tế của các lập luận này, mà cả một bộ máy tuyên truyền miền Bắc luôn sùng bái ông là sáng tạo và mưu trí như thần thánh.

Khi bắt đầu tổng tấn công, với lực lượng cơ hữu ước khoảng 147.200 quân, ông huy động đến 84.000 cho chiến dịch mà đa số dưới 18 tuổi. Lê Duẩn lập luận là “Sài Gòn có vài ba vạn đảng viên đang nằm im; quần chúng đã chín muồi muốn nắm chính quyền; hy vọng là sẽ có 300.000 người Sài Gòn cầm súng đánh Mỹ và tất cả các lực lượng phản chiến sẽ theo phe Cách mạng.“

Mục tiêu của cuộc Tổng tiến công là “tiêu diệt 150.000 lính Mỹ, 300.000 quân VNCH, giải phóng 8 triệu dân miền Nam và giải phóng các thành phố Đông Hà và Quảng Trị, tiêu diệt các căn cứ địch tại Ban Mê Thuột và Kon Tum, và tiến hành các đợt tấn công vào Huế, Sài Gòn, cũng như thủ phủ của nhiều tỉnh. Chiến thằng quân sự này sẽ trở thành các “yếu tố chính trị tác động cho các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ vào tháng 11 năm 1968.“ Đó là một nhận định quá mức lạc quan.

Vào đầu năm 1966, từ khi có các cuộc biến động của Phật Giáo miền Trung và các phong trào dân chúng chống Mỹ Thiệu, tình hình xã hội miền Nam phân hoá ngày càng gay gắt. Chủ trương của Phật Giáo là dùng tự thiêu làm suy yếu nền tảng của chính quyền VNCH, nhưng bị dẹp tan. Để lấp khoảng trống trong đấu tranh tại các đô thị, Lê Duẩn tin rằng bạo lực cách mạng sẽ có khả năng thay thế Phật Giáo và thực hiện được nguyện vọng của dân thành phố. Lê Duẩn thể hiện ý chí thôn tính miền Nam: “làm sập chính quyền của nó; phải phá hết, phá rất dữ hậu cứ của nó; phải chuyển qua tổng công kích, tổng khởi nghĩa“.

Nhưng tình trạng xã hội miền Nam bất ổn không có nghĩa khả năng chiến đấu của QLVNCH hoàn toàn bị tiêu hao và toàn dân miền Nam nhất lòng theo phe Cộng Sản. Đó là một nhận định sai lầm về nhân tâm, khả năng của đối phương và binh pháp.

Binh pháp cổ điển của Carl von Clausewitz có phân biệt các lợi thế của phòng thủ và tấn công. Tấn công là một mục tiêu chiến lược yếu cho các cứu cánh trước mắt trong khi phòng thủ bao giờ cũng là mạnh hơn cho những cứu cánh lâu dài. Muốn dùng tấn công quân sự để đạt cứu cánh chính trị thì cần phải xác định mục tiêu tấn công trong không gian và thời gian cụ thể để tránh tổn hao về nhân lực và hoả lực, một tiềm lực phải tiết kiệm cho cứu cánh trường kỳ.

Lê Duẩn không tiên liệu được tương quan lực lượng và thành quả chiến trường mà đánh liều xem mục tiêu tỗng diễn tập trở thành một yếu tố phiêu lưu quân sự để đạt mục tiêu chính trị, đó là nhằm gây phân hoá trên chính trường Mỹ và suy yếu tiềm lực chống Cộng của miền Nam. “Những cuộc nổi dậy tại các đô thị gặp khó khăn và chúng ta buộc phải rút lui lực lượng, thì cũng không vấn đề gì. Đó sẽ chỉ là một dịp cho chúng ta diễn tập và rút ra các bài học kinh nghiệm nhằm chuẩn bị cho sau này. Lực lượng của đồng chí Fidel Castro đã tấn công các đô thị ba lần mới thành công.“

Dùng tấn công để phô diễn quân sự trong khi suy yếu là một sai lầm chiến luợc mà bất cứ ai học tập binh pháp cổ điển đều biết đến, nhưng Lê Duẩn không có cơ hội học tập này. Với trình độ tiểu học và kinh nghiệm công nhân Sở Hoả Xa, nên sai lầm của Lê Duẩn gây tác hại cho bao thế hệ.

Thay vì phản đối,Tướng Văn Tiến Dũng đồng ý ngay với Lê Duẩn. Đó cũng là một sai lầm. Sau này, Tướng Dũng mới can đảm thú nhận: “Các mục tiêu và các chiến thuật, phương pháp đánh trận, đều vẫn giống như những gì chúng ta đã thực hiện năm trước đó, nhưng thực tế mặt trận cho thấy chúng ta sẽ không thể đạt được các mục tiêu ấy.“

Tại sao Tướng Dũng không phản bác đúng lúc với Lê Duẩn mà lại đồng tình không điều kiện? Vì ông muốn tranh giành chức vụ với Tướng Giáp và tạo thanh thế với Lê Duẩn, đó cũng là một quyết định phù hợp với trình độ lớp sáu và kinh nghiệm công nhân hảng dệt của Tướng Dũng.

Kết luận ở đây là Lê Duẩn nhận tin tức tình báo sai lạc, không có khả năng kiểm chứng, không am tường binh pháp, tỗng diễn tập để tìm một cứu cánh chính trị trong một tương lai bất định mà bất chấp hậu quả sát quân khi quyết định ba lần tấn công trong năm 1968. Duy trì ý chí xâm lăng, Lê Duẩn lừa dối đồng bào miền Bắc về thực trạng của miền Nam và đi ngược lại nguyện vọng hiếu hoà của nhân dân miền Nam.

Vì không có lợi ích nào của giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc và mơ ước nỗi dậy của người dân miền Nam trong binh biến này, do đó, việc tấn công vào dịp Tết Mậu Thân không phải là sự lựa chọn sáng suốt để ĐCSVN thực hiện sứ mệnh lịch sử.

Địch vận thành công

Luận điểm thứ ba là tại sao phiá VNCH lại để cho chiến cuộc xảy ra toàn diện như vậy, mà cụ thể là tại sao một số lượng vũ khí khổng lồ được vận chuyển vào các thành phố một cách an toàn để cho các du kích quân sử dụng; nếu không xảy ra hoặc ít trầm trọng hơn, thì mọi chuyển biến kế tiếp có thể sẽ khác hẳn cho định mệnh của VNCH.

Khái niệm đấu tranh địch vận, một thành tố trong công cuộc giải phóng dân tộc manh nha từ năm 1960 khi thành lập MTGPMN. Từ năm 1965, khi lính Mỹ tràn ngập miền Nam, cảnh ném bom và truy kích của Mỹ là thực tế thương đau làm cho lập luận chống Mỹ cứu nước bắt đầu thu hút cảm tình của người dân hơn. Dù nhân danh thế giới tự do bảo vệ chính nghĩa, nhưng chính phủ Mỹ không đủ biện minh cho vai trò tăng cường an ninh để tái thiết nông thôn. Từ đó, công tác địch vận của MTGPMN bắt đầu thâm nhập được vào trong tất cả sinh hoạt hàng ngày của người dân trong nông thôn cũng như tại thành thị và nhiều cơ quan công quyền VNCH.

Thực ra, nông dân miền Nam không bị bóc lột như trong các xã hội của các nước phương Tây, nhưng họ cũng không thể quá nghèo như nông dân trong chế độ Hợp tác xã của Miền Bắc, nên hình thái đói nghèo, dù có ít nhiều trong mức độ, họ không thể lập luận là muốn tham gia cách mạng để đấu tranh giai cấp.

Lý do khác khả tín hơn là đa số nông dân không phải lúc nào cũng ủng hộ cho cách mạng, mà vì họ không có một cách chọn lựa nào khác một cách tự do và có ý nghiã hơn trước các biện pháp cực kỳ tàn bạo của MTGPMN. Dân thành phố cũng không dành nhiều thiện cảm, vì đời sống tương đối sung túc, có trình độ và nhiều an ninh hơn. Thái độ hỗ trợ thường là bao che cho thân nhân tập kết theo Cộng sản hoặc muốn yên thân mà thờ ơ trước các biến chuyển của thời cuộc: Họ không ý thức là mình đang làm suy yếu miền Nam trước hiểm hoạ xâm lăng của Cộng Sản.

Dù có thuận lợi là được trang bị vũ khí tối tân, nhưng phiá VNCH dần dà thất bại trong việc thu phục nhân tâm với nhiều lý do khác. Trong khi cấu trúc của chính quyền còn phôi thai và cần nhiều thời gian và nỗ lực để xây dựng, nhưng giới lãnh đạo lại không tìm ra một khái niệm phù hợp để có thể đấu tranh chính trị với đối phương. Ý thức về một thể chế cộng hoà và dân chủ cũng chưa được phổ biến qua chương trình giáo dục công dân. Sau cuộc đảo chính 1963, tình trạng chung của miền Nam là bất ổn chính trị liên tục, các chính phủ không đoàn kết và hiệu năng; bộ máy hành chánh quá nặng nề, sinh hoạt công quyền đều lệ thuộc vào tham nhũng, đặc điểm chính của sự phân hoá chính trị là vì tinh thần kỳ thị địa phương và dị biệt tôn giáo đã có từ lâu đời; tất cả các yếu tố này làm xã hội ung thối và gây thuận lợi cho Cộng sàn nẩy mầm, đặc biệt nhất là ở những tỉnh mà Cộng Sản đã có sở từ trước như Thừa Thiên, Binh Định, Quảng Ngãi, Tây Ninh, Kiên Giang, Bến Tre và Cà Mau.

Ngoài những người thờ ơ với thời cuộc và bao che cho thân nhân theo phe Cộng Sản, MTGPMN còn móc nối được một thành phần mới hoạt động tích cực hơn trong công tác tình báo, được dân miền Nam gọi chung là ăn cơm Quốc Gia thờ ma Cộng Sản. Họ là các giới trí thức, nắm những chức vụ cao cấp trong chế độ VNCH mà lại trưc tiếp hay gián tiếp làm việc cho MTGPMN trong tinh thần chống Mỹ cứu nước. Nhờ có một mạng lưới nội gián dày đặt tại các cơ quan đầu nảo như Phủ Tổng Thống (Vũ Ngọc Nha, Huỳnh văn Trọng), Bộ Quốc Phòng (Nguyễn Hữu Hạnh), Toà Đại Sứ Mỹ (Phạm Xuân Ẩn) và Quốc Hội (Đinh văn Đệ) mà MTGPMN theo dõi và nhận được trực tiếp các kế hoạch tuyệt mật của VNCH. Làm việc gián tiếp khi họ tạo ra những người tổ chức cho các phong trào quần chúng đòi hỏi công bình xã hội, kêu gọi hoà bình, tự do tôn giáo, báo chí và dân chủ. Cả hai thành phần này đã làm vô hiệu hoá phần nào các nỗ lực chống Cộng của miền Nam. Một thiểu số sinh viên miền Nam đi du học cũng vì các lý do khác nhau mà trở cờ góp phần cho tiếng nói phản chiên ở các nước phương Tây.

Tất cả diễn biến trong giai đoạn này cho thấy là chế độ VNCH quá yếu về dân vận, tình báo và phòng vệ. Cụ thể là trường hợp chính quyền tỉnh Thừa Thiên không báo cáo hết sự thực về tình trạng an ninh trong tỉnh. Khi chính quyền tỉnh Bình Định bắt được những tài liệu tổng khởi nghĩa trong đó có cả máy ghi âm sẵn lời phát thanh kêu gọi dân chúng và báo cáo lên Tướng Vĩnh Lộc, thượng cấp của Bộ Tư lệnh Vùng II Chiến thuật, nhưng không quan tâm.

Dù hô hào tinh thần “Vui Xuân nhưng không quên nhiệm vụ“, nhưng đa số đơn vị ứng chiến không đầy đủ. Thí dụ như tại Quảng Ngãi, quân số một Tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn II Bộ Binh ứng trực vào ngày mồng Một Tết chỉ vỏn vẹn 50 người, tức chưa đầy hai trung đội, riêng ở Cần Thơ hay Bến Tre quân số ứng trực chỉ khoảng 30 phần trăm.

Nếu phá vỡ được các mạng nội tuyến và ứng chiến cao độ, thì phe VNCH có thể tránh được tình trạng khốc liệt bất ngờ của chiến cuộc, nhưng cuối cùng là chuyện sai phạm cực kỳ nghiêm trọng đã đến và tạo cho chiến cuộc xảy ra với bao hệ lụy từ trong nước cho đến quốc tế.

Thảm sát tại Huế

Luận đề cuối cùng là tại sao lại có khoảng 6.000 nạn nhân, (có tàì liệu khác cho là 8.000) bị thảm sát tại Huế. Họ là những nhà tu hành, sinh viên, học sinh, thường dân, quân nhân và công chức đã chấp hành lệnh trình diện để học tập về chủ trương chính sách của MTGPMN. Ai chịu trách nhiệm cho những cái chết này? Dĩ nhiên, không một ai, vì những người có trách nhiệm đều cho là mình vô tội.

Vô tội nhất là Tướng Giáp, không phải vì ông nghĩ dài hạn ở Hungaria, mà ông cho rằng: “Chúng tôi không dính gì tới chuyện đó, mà do MTGPMN thực hiện“, khi ông được hỏi trong một cuộc phỏng vấn vào năm 1969 là ai tổ chức tổng tấn công Tết Mậu Thân tại Huế.

Nhất định cũng không phải là do MTGPMN, vì nhiệm vụ của họ là cao cả khi chiếm đóng; họ tuyên bố là Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế ra đời để đảm nhận trách nhiệm vinh quang của chính quyền nhân dân và thành phố.

Vào ngày 3 tháng 3 năm 1968 họ tuyên dương thành tích là không có thường dân vô tội mà là đã giết nhiêu tên địch, diệt sạch những kẻ ác ôn, đặc biệt giải phóng toàn đất nước, thiết lập chính quyền cách mạng và mở rộng sự đoàn kết dân tộc để chống Mỹ và bảo vệ tổ quốc.

Sau khi chính quyền VNCH khám phá hàng loạt các mồ chôn tập thể, thì trong bảng tuyên bố vào ngày 27 tháng Tư năm 1969 MTGPMN cũng cho là chính phủ bù nhìn tại Huế đang đóng trò khôi hài dựng lên cái gọi là uỷ ban để tìm kiêm và mai táng cho những tai sai côn đồ, những ngươì mang nợ máu với đồng bào và những kẻ bị quân đội và người dân miền Nam thủ tiêu vào đầu Muà Xuân Mậu Thân.

Cho đến nay, MTGPMN luôn phủ nhận trách nhiệm về cuộc thảm sát, đó là sản phẩm tưởng tượng khuyếch đại của một cuộc tâm lý chiến Mỹ Ngụy.Số thường dân bị giết là do hỏa lực trong nỗ lực tái chiếm địa bàn của Mỹ cùng sự trả thù của phía VNCH lên những người theo MTGPMN.

Có phải Mỹ Ngụy là đao phủ thủ cho các nạn nhân trong các hố sâu, tay bị trói bằng giây điện, giây tre, bị đâm bằng lưỡi lê, bị đánh bằng cán cuốc, bị bắn bằng súng hoặc bị chôn sống? Hung thủ là ai?

Một bi kịch cho Huế. Chính một số người Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân và các đồng chí của họ đã tạo ra một bi kịch cho họ và cho Huế. Họ nhân danh là Phật tử quyết tử chống Mỹ cứu nước lại giết người Huế mà họ cho là tay sai Mỹ-Ngụy. Trước đây, họ là trí thức, sinh viên và học sinh tham gia trong những cuộc biểu tình chống chính phủ, bị an ninh đàn áp quá mức và không còn đất sống, nên họ đành phải thoát ly, nay trở về vì tư thù giết người quen mà họ cho là có tội ác với nhân dân. Sau này, dù bị tố cáo đích danh với các bằng chứng, nhưng họ phủ nhận là không có mặt ở Huế và giết người. Dù sắt máu để chứng tỏ lòng trung thành, nhưng họ không được Cộng Sản trọng dụng, một bi kịch mà 50 năm sau họ vẫn chưa sám hối, nhưng bia miệng ngàn đời của thế gian sẽ không bao giờ tha thứ cho họ với những ô danh. Còn ai có can đảm giải oan cho họ? Không một ai. Việc sử dụng vũ khí hạng nặng của Mỹ và VNCH tại Huế chỉ hủy hoại hầu hết các di tích lịch sử và giết người từ xa, không thể chôn sống hay thanh toán những người quen biết trong từng khu vực.

Thực ra, không chỉ là một chuyện tư thù, vì mục tiêu CSBV là cướp chính quyền, nên khủng bố và thảm sát tập thể là phương tiện bạo lực cách mạng để phá hủy bộ máy của chính quyền VNCH.

Theo một tài liệu, có hơn 3.000 người trong chính quyền bị giết. Thảm sát với quy mô “790 hội viên các Hội đồng tỉnh, 1892 nhân viên hành chánh và 38 cảnh sát” thì bộ máy chính quyền Huế không thể tồn tại, vì tái lập cơ cấu hành chánh có hiệu năng không thể dể dàng với những thành phần nhân sự tân tuyển thiếu kinh nghiệm. Theo một tài liệu khác, MTGPMN đã có sẳn một danh sách 22 trang đánh máy liệt kê các mục tiêu cần tiêu diệt và nhờ côn đồ địa phương tiếp tay thưc hiện.

Ai gây nên các mồ chôn tập thể? Một sản phẩm tưởng tượng do Mỹ Ngụy  khuyếch đại? Không, đó là một sự thực thương đau dành cho những người có tai còn nghe và có mắt còn thấy. Trong 25 ngày chiếm đóng, MTGPMN có đủ điều kiện để bắt nguời trình diện học tập, giết một cách tùy tiện khi tỏ ra chống đối và còn bắt người làm phu khuân vác hoặc bia đỡ đạn. Khi bị đối phương truy kích, họ phải rút lui và không thể mang theo tất cà, nên họ phải thủ tiêu để tự vệ bằng cách buộc nạn nhân đào hố, sau đó là trói thúc ké tay chân, quăng xuống hố rồi lấp đất lại. Chôn sống người là thượng sách vì không làm lộ mục tiêu, không còn gánh nặng, tiết kiệm đạn dược và bảo vệ cho cơ sờ: khi cán bộ nằm vùng địa phương đã lộ mặt, thì việc tàn sát dân chúng là một cách bịt miệng hay nhất để tránh tố giác về sau cho VNCH.

Ai ra các quyết định này? Lê Minh, người lãnh đạo tấn công Huế, chạy tội. Ông cho là một tình huống ngoài tầm kiểm soát, các đơn vị đã đơn phương hành động để thoát thân, không ai ra một lệnh nào cho bất cứ ai và cũng chỉ lấy làm tiếc trong muộn màng.

Giống như Lê Duẩn, Lê Minh tin là khi chiếm Huế, người dân sẽ nổi dậy chạy theo phe của MTGPMN, chuyện đã không xãy ra. Khi tháo chạy, họ gây thảm sát bao thường dân vô tội, chuyện họ không thể quyết định và kiểm soát. Không minh xác những sai lầm này, họ đã xúc phạm về nỗi đau của các nạn nhân; nhưng trớ trêu nhất là sau này, nhiều nạn nhân được phong làm liệt sĩ, vì có công đóng góp xương máu cho cách mạng thành công. Đó là các ngụy tạo lịch sử của người phiêu lưu quân sự, thiếu sáng suốt, đạo đức giả và vô nhân đạo.

Lịch sử của Huế vẫn tiếp diễn với những nghịch lý bi đát: Khi xưa, CSBV đại bại và tháo chaỵ bằng thảm sát, nhưng hô hào là chiến thắng và nhân dân Trị Thiên Huế bị chôn sống lại được Đảng trao tặng 8 chữ vàng “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường.“

Do bản chất không thay đổi, rồi 50 năm sau, chính quyền cho tổ chức Hội thảo khoa học cấp quốc gia “Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử” vào ngày 29-12-2017, nhưng không soi sáng sự thật lịch sử, chỉ là tuyên dương chiến thắng và hoàn toàn quên đi các tổn thất và thảm sát, nên ngụy sử đã không được làm sáng tỏ mà còn làm trầm trọng hơn.

Kết luận

Dù những vinh quang chiến thắng của QLVNCH và những đoạn trường tháo chạy của MTGPMN trong binh biến Mậu Thân đã thuộc về quá khứ, nhưng chúng ta nên nhìn lại bài học lịch sử này và cần tỉnh thức:

Một là, Đảng đã không có và sẽ không thể đào tạo được những nhà Sử học chân chính có tầm vóc quốc gia và quốc tế. Đảng tiếp tục dành độc quyền tuyên truyền thành tích và ban phát chân lý lịch sử. Do đó, ngụy sử không hề thay đổi nội dung.

Hai là, dù không còn miệt thị ngụy quân và ngụy quyền, nhưng Đảng vẫn không theo một khảo hướng khách quan để đánh giá về bản chất chiến tranh và thành tích của hai phe: Đảng khinh thường QLVNCH là lính đánh thuê và chính quyền miền Nam là tay sai cho Mỹ trong khi ca ngợi QĐNDVN và MTGPMN đấu tranh cách mạng là hy sinh xương máu thay cho Liên Xô và Trung Quốc; 500.000 lính Mỹ hiện diện tại miền Nam là xâm lược, trong khi hơn 100.000 lính Trung Quốc (có tàì liệu khác cho là dưới 300.000) đồn trú tại miền Bắc cần ém nhẹm. Hơn 1 triệu 1 binh sĩ miền Bắc hy sinh để Đảng hãnh diện vì chiến thắng và 330 ngàn binh sĩ miền Nam nằm xuống mà Đảng thoá mạ vì đánh thuê.

Không. Đảng nên tỉnh thức là xương máu của người dân hai miền qúy giá như nhau và họ chỉ là nạn nhân trong bối cảnh xung đột của Chiến tranh Lạnh. 74 chiến sĩ Hải Quân QLVNCH không là lính Ngụy đánh thuê cho Mỹ, khi họ hy sinh anh dũng để bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa. Đó là một sự thật của 44 năm trước Tuy nhiên, nay thay vì làm lể tri ân, Đảng lại can đảm cho huy động an ninh, dân phòng quấy phá và thản nhiên cho phép Trung Quốc mang đoàn ca nhạc sang trình diển trong dịp tưởng niệm.

Ba là, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 đã không đi vào chính sử dân tộc như một bản hùng ca sáng chói mà là một cuộc diễn tập phiêu lưu để mưu tìm ảnh hưởng chính trị tại Washington trong khi khả năng chiến đấu của QLVNCH chưa bị bị tiêu hao và toàn thể dân chúng miền Nam không một lòng ủng hộ. Quyết định này không phải là sự lựa chọn sáng suốt để thực hiện công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động miền Bắc giao phó như một sứ mệnh lịch sử. Nhân dân hai miền không ai có thắng lợi cụ thể nào trong binh biến này mà chỉ có Đảng lừa dối đồng bào miền Bắc về ý nghiã đấu tranh, thực trạng của miền Nam và gây bao tang tóc cho nhân dân miền Nam bằng cách vi phạm hưu chiến.

Bốn là, dù có chiến đấu oanh liệt, nhưng chiến thắng của QLVNCH trong Xuân Mậu Thân 1968 không thể bảo vệ được miền Nam, vì tương lai của chiến trường Việt Nam hoàn toàn do chính trường Mỹ định đoạt. Suy yếu về dân vận và ngoại vận nên VNCH không phát huy chính nghiã; tham nhũng và độc tài làm cho nền tảng xã hội miền Nam lung lay; Hiệp định Paris cho phép QĐNDVN ở lại miền Nam tiếp tục chiến đấu trong khi Mỹ rút quân, Mỹ cắt giảm quân viện nên QLVNCH không còn phương tiện và tinh thần chiến đấu, hậu quả của Watergate làm Nixon từ chức: Tất cả các chuyển biến dồn dập sau năm 1968 làm cho CSBV không mạnh hơn nhưng may mắn hơn, trong khi VNCH suy yếu và bất hạnh hơn. Cuối cùng, một kết cuộc bi thảm không thể tránh: toàn dân đại bại vào năm 1975.

Năm là, thảm sát Mậu Thân là vết nhơ trước lương tâm, công luận và lịch sử cho ĐCSVN vì quyết định hiếu chiến, liều lĩnh, thiêu hiểu biết và vô nhân đạo. Đó là một tang chung cho toàn dân tộc, một lý do chính đáng để chúng ta không tham gia mừng lễ kỷ niệm 50 năm chiến thắng Xuân Mậu Thân mà tưởng niệm cho các những người của hai miền đã nằm xuống; họ phải chết oan uổng và không còn cơ hội để nhận ra ý nghiã đích thực của sự hy sinh xương máu và thảm hoạ diệt vong của đất nước

Cuối cùng, chúng ta tin là bia miệng thế gian còn truyền tụng và lương tâm xã hội còn vang động với thời gian về cuộc thảm sát này. Hy vọng là sự thật của lịch sử sẽ làm cho thế hệ hậu chiến tránh hiểm hoạ này trong tương lai. Nhờ toàn dân tỉnh thức, may ra, tất cả sẽ làm nên một trang sử mới cho dân tộc.

***

Dr. Đỗ Kim Thêm L.L.M; M. A: Non Governmental Advisor, International Competition Network (ICN); Research Associate International Competition Law and Policy, United Nations Conference o­n Trade and Development (UNCTAD). Bài viết không phải là quan điểm của ICN và UNCTAD mà là ý kiến cá nhân; những số liệu còn đang kiểm chứng; các chú thích, trích dẩn và thư mục tham khảo sẽ được bổ sung khi bài viết này in thành sách.

Sách mới xuất bản của tác giả tại Amazon ´

Global Governance of Competition Law and Policy: Key Issues

Hòa Bình Theo Quan Điểm Của Immanuel Kant Và Phật Giáo

Quan Điểm Của Phật Giáo Trước Các Vấn Đề Hiện Đại

Nhà Nước Pháp Quyền: Kinh Nghiệm Quốc Tế về Lý Thuyết và Thực Tế

https://vietbao.com/p112a277049/31-1-1968-31-1-2018-ky-niem-50-nam-chien-cuoc-tet-mau-than-nhin-lai-buoc-ngoat-chien-tranh-de-giai-ao-nguy-su


Oan

Hoàn tất Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen 1975

Ghi ơn các chiến sĩ VNCH đã chọn cái chết uy dũng để đáp đền nợ nước

Bài THANH PHONG

WESTMINSTER - Trưa Thứ Ba, ngày 30 tháng 1, 2018, Ủy Ban Xây Dựng Công Trình Đài Tưởng Niệm Tháng Tư Đen 1975 đã tụ tập tại Tượng Đài nằm trong khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ tại Westminster để nói lời tri ân đến Thị Trưởng Tạ Đức Trí, Nghị viên Dr. Kimberly Hồ là hai người đề xướng, và cám ơn Liên Hội Cựu Chiến Sĩ là đơn vị thực hiện tượng đài, cũng đồng thời tri ân các cá nhân cũng như đơn vị, tổ chức, hội đoàn đã đóng góp tài chánh và công sức xây dựng Tượng Đài đến nay công trình đã hoàn tất tốt đẹp. 
Tượng đài gồm hai mặt, mặt trước có chân dung của Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá CSQG Nguyễn Văn Long. Ngoài ra có tên họ của khoảng 40 chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Cảnh Sát Quốc Gia đã tuẫn tiết trong ngày 30 tháng Tư, 1975 nhưng không có ảnh như bảy vị kia. Mặt sau có danh sách các các nhân và hội đoàn đã đóng góp để thực hiện tượng đài.
Ông Bùi Trọng Nghĩa phát biểu, “Trong lịch sử chiến tranh thế giới chưa có một nước nào khi thua trận mà có đến năm, sáu vị tướng lãnh tuẫn tiết như các chiến sĩ QL/VNCH.”


Các vị có mặt trước bia Tưởng Niệm trong buổi mừng công trình hoàn thành tốt đẹp. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Ông đặt câu hỏi: Giả dụ phía VNCH thắng thì liệu có tên tướng lãnh nào của bộ đội Bắc Việt dám tuẫn tiết như tướng lãnh VNCH hay không? 

Ông Bùi Trọng Nghĩa đã hỏi một số người tại miền Nam cũng như miền Bắc hiện ở trong nước, tất cả đều trả lời dứt khoát “Chắc chắn không có.”


Mặt sau Bia Tưởng Niệm với đầy đủ tên các cá nhân và tổ chức đónbg góp tài chánh để thực hiện Bia Tưởng Niệm (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Một vị khác nói, “Chính giữa là Tượng Đài Tưởng Niệm các Chiến Sĩ Việt Mỹ; bên phải là Phòng Sử Liệu, bên trái là Bia Tưởng Niệm các anh hùng tuẫn tiết trong Tháng Tư Đen; như vậy là quá đẹp, quá đủ rồi; từ nay trở đi chúng ta không còn xây dựng một công trình nào khác trong khuôn viên Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ nữa.”

Danh sách thường dân bị cộng sản thảm sát trong dịp Tết Mậu Thân tại tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế

Trần Giao Thuỷ

Dưới đây là tài liệu của chính phủ Việt Nam Cộng hoà ghi lại danh sách của 4.062 nạn nhân bị cộng sản thảm sát và bắt đi mất tích trong dịp Tết Mậu Thân 1968 ở 13 quận trong thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Cộng sản Việt Nam giết hại từ trẻ thơ đến phụ lão, nam nữ, đủ mọi thành phần trong xã hội. 

Thảm sát Tết Mậu Thân — Huế, 1968. Nguồn: DCVOnline tổng hợp

Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, theo tác giả Paul Schmehl, đã xẩy ra dựa trên với những sự kiện sau đây:

  • Quân cộng sản Việt Nam, trước khi khai chiến, đã nhận lệnh chi tiết trong đó có lệnh phải thủ tiêu những người ủng hộ chính phủ VNCH. Cộng quân đã được cung cấp đầy đủ danh sách chi tiết những người phải bị thủ tiêu.
  • Nhiều bản báo cáo của quân cộng sản tịch thu được sau chiến trận liệt kê số lượng người đã bị thủ tiêu, trong một số trường hợp xác định cả họ là ai và vai trò của họ trong chính quyền và cho biết rằng lệnh thủ tiêu đã được chấp hành một cách nghiêm chỉnh.
  • Nhiều nhân chứng ở cả hai phía, người dân địa phương và các nhà báo, xác nhận rằng nhiều người đã bị hành quyết. Cách họ chết tương ứng với dấu vết tìm thấy trên xác nạn nhân. Nhiều người trong số những nạn nhân cũng trùng hợp với những phúc trình của quân cộng sản cho biết ai là những người đã bị thủ tiêu.
  • Cuối cùng, những phúc trình chi tiết về những ngôi mộ tập thể đã được phát giác và số nạn nhân ở những nơi đó, được chứng thực bằng phúc trình của Douglas Pike, của US News release, phúc trình của Chính phủ Việt Nam và tài liệu của Alje Vennema xác nhận rằng cuộc thảm sát đã xảy ra và đã cung cấp bằng chứng về kích cỡ kinh hoàng của nó.

Theo bảng thống kê, gồm nhiều nguồn khác nhau, cho thấy cách nạn nhân chết tương ứng với dấu vết tìm thấy trên xác người chết: bị trói tay, trói chân, bị bắn vào đầu, bị chôn sống, bị đập vỡ sọ, bị ngộp nước, bị giết bằng lựu đạn, bị chém đầu, v.v. Nạn nhân thuộc nhiều thành phần khác nhau như người buôn bán, sinh viên, cảnh sát, quân nhân, thợ may, nhà thầu, công chức, nhân viên sứ quán Mỹ, nhân viên USAID, thầy giáo, xã trưởng và vợ, học sinh, linh mục (Urbain và Guy), nhân dân tự vệ, thợ máy, thợ hồ, phụ nữ, bác sĩ (người Đức), chủng sinh, thượng nghị sĩ (Trần Điền), người Đại Hàn, người Tầu, lãnh đạo VNQDĐ, v.v.

Trong phân tích sau cùng, có thể nói rằng đã có khoảng 5.000 người đã bị thảm sát và bị bắt đi mất tích; đã tìm được khoảng 3.000 xác người và có khoảng 2.000 nạn nhân đã được xác định nhân thân. Số nạn nhân còn lại chưa bao giờ được tìm được. Sau cùng 4.062 nạn nhân — bị giết và bị bắt đi mất tích — đã được xác định, và còn khoảng 1.000 người biến mất vào lịch sử không để lại một dấu vết nào.

Dưới đây là tài liệu của chính phủ Việt Nam Cộng hoà ghi lại danh sách của 4.062 nạn nhân (thường dân) bị cộng sản thảm sát và bắt đi mất tích trong dịp Tết Mậu Thân 1968 ở 13 quận trong thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên. Cộng sản Việt Nam giết hại từ trẻ thơ đến phụ lão, nam nữ, đủ mọi thành phần trong xã hội.

Đầu tháng Hai, 2017

Đọc thêm “Tết Mậu Thân – Bốn mươi năm sau (1968-2008)”, p1p2kết

© 2017 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin ghi nguồn và đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”

Thảm Sát Mậu Thân:
 Tội Ác Việt Cộng Muôn Đời Không Quên


Biến cố Tết Mậu Thân xẩy ra đã đúng 50 năm (1968 – 2018) nhưng đối với dân miền Nam Việt Nam, đặc biệt là xứ Huế, nỗi đau vẫn còn đó, vết thương lở loét chẳng bao giờ lành.  Ngoài cố đô bị tàn phá tang tành, niềm đau mất mát người thân kéo dài đến bây giờ bởi sự ngang ngược của chế độ cộng sản.  Cho đến nay họ vẫn chà đạp lên nỗi thống khổ của người dân, coi đó là “chiến thắng lịch sử”.


            Viết bài nầy, tôi không có mục đích tường thuật biến cố đau thương nầy.  Chuyện nầy đã có hằng chục, hằng trăm người viết rồi.  Hơn nữa, Tết Mậu Thân tôi đang thụ huấn tại Sài Gòn, và hứng trận trực tiếp biến cố nầy ở đó.  Riêng Huế, quê tôi, nơi chịu trận nặng nề nhất, tôi chỉ chứng kiến những hậu quả tang thương bởi bàn tay tội ác của VC.


            Vào khuya Mồng Một Tết Mậu Thân, tôi cùng người anh con ông bác ruột (đang thụ huấn tại Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung) được ra phép Tết và ở lại nhà một người chị bà con ớ Phú Nhận.  Đang ngủ, chừng 1-2 giờ sáng gì đó, bỗng nghe súng nổ tứ phía và liên tục, có khi đạn xéo đâu gần nhà.  Chúng tôi biết có chuyện nhưng chẳng biết đích xác chuyện gì.  Sáng ra vẫn chưa biết điều gì đã xẩy ra, cho đến gần trưa nghe thông báo từ trực thăng mới biết VC đang tấn công Bộ Tổng Tham Mưu và phi trường Tân Sơn Nhất (nhà chị tôi ở gần đó).  Cũng theo kêu gọi từ trực thăng, chúng tôi cùng đồng bào phải nhanh chân di tản ra khỏi khu vực.  Hai anh em tôi đang chạy trên đường Võ Di Nghi thì bị trực thắng nhà ta quạt cho một loạt đạn.  Tôi suýt chết vì một viên viên đạn bay như gió, vèo qua tai, chạm phải cửa sắt nhà người ta.  Tôi nhặt viên đạn còn nóng bỏ túi, đem về làm kỷ niệm.  Nếu viên đạn ấy nhích qua nhích về một tí thì tôi đã xong đời rồi.  Có lẽ mấy ông trực thăng tưởng hai anh em tôi là VC vì anh tôi mặc áo lính còn tôi thì mặc sắc phục cảnh sát, khác với đám thường dân chạy loạn bên cạnh.  Chiều hôm đó, anh tôi trình diện Tiểu Khu Gia Định, tôi lần mò về Học Viện, không dám tự ý đi đâu, nếu không được điều động làm công tác.


            Cuối năm 1968, tôi tốt nghiệp và được về Huế làm việc.  Thành phố Huế trước ngày tôi đi và bây giờ khác nhau một trời một vực.  Tất cả đã đổ nát.  Sự đổ nát của Cố đô Huế thật khủng khiếp.  Hoàng Thành tang hoang, cầu Trường Tiền gãy gục xuống sông Hương, phố xá phần lớn sập đổ, đường sá loang lổ vết đạn…Am thờ các vong linh tử nạn (bất kể phe nào) hình như nhà nào cũng có, nơi nào cũng có.  Nhà anh chị tôi ở đường Trần Hưng Đạo cũng có một cái am thờ một người lính VC!  Khi yên ổn, anh chị tôi từ chỗ tản cư về nhà thì thấy người lính nầy chết nằm vắt vẻo nơi cầu thang lên lầu.  Anh chị tôi phải thuê người đem chôn đâu đó.  Chị dâu tôi sợ quá, lập am thờ, rằm mồng một có hương hoa trái cây “tiếp tế” cho anh VC nầy!


            Cùng số phận với dân Huế, đại gia đình tôi dường như nhà nào cũng có người mất tích hoặc bị VC giết, gần nhất là chú em rể của tôi.  Sau Mậu Thân, khi đang làm việc tại Huế, tôi cùng em gái tôi đi tìm xác chồng nó là CSDC Quảng Ngãi về quê ăn Tết, bị VC bắt đi vào ngày Mồng Hai Tết khi đang ngồi với vợ con trong nhà.  Và em tôi đã tìm được xác chồng nhờ cái răng bạc và cái quần cụt nó mặc khi bị bắt.


            Với dân Huế, qua biến cố Mậu Thân, VC đã tự phơi bày sự dã man tàn độc, phi dân tộc nhất của csVN trong lịch sử đất nước.  Trong một ngàn năm bắc thuộc không hiểu người Tàu đã lần nào tàn sát dân Việt kiểu ghê gớm như thế không?  Trong một trăm năm đô hộ của giặc Tây, không biết người Pháp có lần nào chôn sống tập thể người Việt Nam một cách khủng khiếp như thế không?  Dù Tàu, Tây chẳng thương chi dân mình nhưng tôi tin là họ không làm như thế, nhưng nếu có làm thật thì cũng có thể hiểu được vì họ là người ngoại chủng.  Đằng nầy, cùng là người Việt Nam nhưng csVN đã làm như thế, họ chủ trương “giết lầm hơn bỏ sót” lùa tất cả những người mà họ nghi là quân nhân, cán bộ công nhân viên VNCH, các đảng phái quốc gia…đi, bắt những nạn nhân nầy tự đào hố, sau đó những nạn nhân nầy bị trói tay tập thể để rồi bị bọn cán binh VC tống xuống hố, chôn sống!!!  VC tàn bạo và dã man đối với người đồng chủng/đồng bào hơn cả người ngoại quốc.


            Có chứng kiến tận mắt những hố chôn tập thể mới thấy được bản chất khát máu của những con người cộng sản.  Em gái tôi và tôi đi từ địa phương nầy đến địa phương khác, từ hố mộ tập thể nầy đến hố mộ tập thể khác để tìm người thân.  Khi lớp đất/cát cuối cùng được đào lên, hằng chục, hằng trăm xác chết trong các tư thế nằm, ngồi, đứng chết sát nhau, chồng lên nhau, và tất cả đang bị trói trông thật khiếp đảm…  Xác người nằm dưới lòng đất gần như còn “tươi”.  Sau khi đem lên mặt đất mới đổi qua màu đen và bắt đầu phân rã.  Máu người trào ra…và mùi thối xông lên nồng nặc.  Tội nghiệp mấy người có nhiệm vụ bốc mộ, họ bất chấp mọi sự kinh tởm và mùi xú uế, đào và đem từng xác người đặt trên mặt đất để thân nhân đến nhận diện…Em gái tôi nhận ra chồng nó trong hằng trăm xác chết nầy tại quận Phú Thứ.


            Cứ thế, từ hố nầy đến hố khác, người dân Huế đã tìm được vào khoảng hơn năm ngàn người.  Những xác chết có thân nhân nhận diện, được gia đình đem về chôn cất.  Những xác chết không còn nguyên vẹn, hoặc không có thân nhân nhận lãnh, chính quyền tự lo liệu chôn cất đàng hoàng tại những vùng đất quanh thành phố Huế, nơi được chôn nhiều nhất là Đàn Nam Giao.  Chưa bao giờ xứ Huế có một đám tang tập thể “lớn” như vậy.  Chưa bao giờ kinh đô Huế phủ trắng một màu tang kinh khiếp từ nội thành đến các vùng phụ cận như vậy.  Khắp các trường học, màu khăn sô trên đầu các em học sinh cũng nhan nhãn trong lớp học và giữa sân trường.  Đó là hình ảnh trung thực, rất trung thực của Huế sau Tết Mậu Thân năm 1968 mà tôi là người tận mắt trông thấy.  Năm mươi năm, hình ảnh nầy chưa phai nhạt trong lòng người dân Huế.  Thế mà, nhà cầm quyền hiện nay tại Việt Nam cho đó là một “chiến thắng”!


            Chiến thắng là chiến thắng nào, thành quách đổ nát người đào hố chôn!


            Nếu đó là “chiến thắng” thì là chiến thắng của chủ nghĩa cộng sản đối với dân tộc Việt Nam mà kẻ thực hiện không ai khác là VC, những con người Việt Nam mất gốc, tôn thờ một chủ nghĩa ngoại lai.  Kể từ khi xuất hiện trên trái đất, cộng sản đã giết hại trên dưới 100 triệu sinh linh.  Nga và Trung cộng mỗi nước cũng đã tàn sát hàng chục triệu dân mình.  Từ Cải Cách Ruộng Đất tại đất Bắc đến Thảm Sát Mậu Thân ở Huế, VC giết dân Việt không gớm tay chẳng qua đó cũng là “truyền thống” khát máu chung của cộng sản quốc tế!  Đó là cái nhục mà đảng csVN phải gánh trước Tổ Quốc và Dân Tộc Việt Nam.


            Cho đến nay, hằng năm họ vẫn ăn mừng chiến thắng, một “chiến thắng” trên máu xương và nước mắt của chục hàng ngàn người dân trong 25 này đêm họ chiếm Huế.  Để tô vẽ cho “chiến thắng” nầy và chạy tội trước lương tâm và lịch sử dân tộc, họ từng tuyên bố, đại ý “những người bị giết trong biến cố Mậu Thân là do bom đạn Mỹ Nguỵ tàn sát, cách mạng không giết họ”!


            Đúng là luận điệu trơ tráo.  Biết rằng chiến tranh nào cũng chết chóc, bom đạn nào cũng vô tình, nhưng “bom đạn Mỹ Nguỵ” không giết đồng đội và đồng bào mình một cách tán tận lương tâm như thế.  Mỹ và VNCH không hề thù hận với người nhà mình, không có lý do để trói tay, chôn sống tập thể đồng đội và người dân của mình như thế.  Hành động man rợ đó chỉ được kích động bằng hận thù, một chủ trương đặc thù của chủ nghĩa cộng sản mà những kẻ cuồng tín csVN đã hấp thụ và thực hành triệt để.  Con người ai cũng thế, chín người mười ý, khác chính kiến là chuyện bình thường.  Chỉ có chủ nghĩa cộng sản mới chủ trương “đồng phục tư tưởng”, coi những người khác chính kiến là thành phần “đáng tội chết”.  Đó là lý do csVN đã coi đồng bào mình, những người không ở trong hàng ngũ của họ như kẻ thù.  Họ không ngần ngại giết sạch, giết hết để nhuộm đỏ đất nước Việt Nam.  Bất cứ một chính thể nào, dù độc tài sắt máu đến đâu, nếu có chút lương tri dân tộc, không ai tàn ác với dân tộc mình như csVN.


            Thử hỏi, ai lật lọng lợi dụng ba ngày hưu chiến trong dịp Tết để tấn công đối thủ?  Và khi đã tràn ngập được lãnh thổ của đối phương, ai bắt những người nghi là người của đối phương đem đi thủ tiêu?  VNCH không làm chuyện đó.  VNCH không tráo trở, lợi dụng dịp hưu chiến để tấn công Bắc Việt hoặc các vùng VC tạm kiểm soát tại miền Nam trong ba ngày Tết thiêng liêng của dân tộc.  VNCH là nạn nhân của sự gian dối, là kẻ bị tấn công bất ngờ trong khi cho phép một số quân nhân và công chức được phép về ăn Tết với gia đình.  Trong khi chật vật chống kẻ thù xâm lăng, không có thể chế nào, kể cả VNCH lại có chủ trương ngược đời là bắt con dân của mình đi thủ tiêu.  Trong khi mọi binh sỹ, mọi khẩu súng đều hướng về kẻ thù trước mắt, VNCH làm sao có thể có chủ trương đi gom tóm để tàn sát tập thể quân dân của mình đang vui Tết ở mọi địa phương?


            Nếu trên đường VC dẫn các “tội nhân” về núi bị Mỹ oanh tạc giết chết thì xác các nạn nhân sẽ nằm phơi trên mặt đất.  Đằng nầy, các nạn nhân bị trói chùm với nhau, nằm chết chồng chất lên nhau trong các hố chôn tập thể!  Ai trói họ?  Ai chôn họ trong các hầm chôn tập thể đó?  “Mỹ Nguỵ” sau khi oanh tạc, bắn đại bác giết họ rồi liền nhảy dù xuống trói từng người lại với nhau, chôn tất cả họ vào những hố chôn như thế?  Không ai có thể tin những luận điệu ngang ngược như thế của csVN.  Họ nói lấy được để chạy tội.  Nhóm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…đúng là những kẻ “ăn cơm quốc gia, thờ ma cộng sản”.  Họ sinh ra, lớn lên, được giáo dục tại miền Nam, ra đời phục vụ dưới các chính thể VNCH thế mà họ hoạt động cho VC, ít nhiều bàn tay họ đã dính máu dân Huế trong biến cố Thảm Sát Mậu Thân.  Ông HPNT, (thầy dạy Văn của tôi năm Đệ Nhị, trường Quốc Học) khi được phỏng vấn về vấn đề Mậu Thân đã trả lời tiên hậu bất nhất.  Tôi bất mãn nhất là phát biểu sau đây của ông: “Năm 75, 76, 77 khi đi làm thuỷ lợi tại Khe Đá Mài chúng tôi đào lên một hầm chôn tập thể toàn là người lính đội mũ tai bèo và mặc đồ quân giải phóng, chứng tỏ cái gọi là “Thảm sát Mậu Thân” chỉ là trò bịp của thực dân”! Tôi không biết điều nầy có thật hay không vì chưa hề nghe ai nói, ngoài “phát hiện” nầy của ông HPNT.   Có hai trường hợp.  Một, ông HPNT bịa chuyện nầy để bao che cho VC.  Hai, ông HPNT nói thật, nghĩa là có hầm chôn tập thể lính VC.


            Nếu trường hợp một đúng, nghĩa là ông HPNT bịa chuyện thì thật đáng khinh con người trí thức của ông.  Nếu không bịa chuyện thì trí óc ông cũng có vấn đề.  Sau Mậu Thân chiến tranh, súng đạn, chết choc…vẫn xẩy ra từng ngày nơi các vùng rừng núi xa xôi của tỉnh Thừa Thiên (kể cả Khe Đá Mài).  Từ Mậu Thân đến thời điểm ông “phát hiện” hố chôn tập thể lính VC là 8 năm (nếu chỉ tính tới năm 1975).  Với khoảng thời gian dài như thế, với thực trạng chiến tranh ngày càng khốc liệt như thế, tại sao ông dám quả quyết là mồ chôn các lính VC là do VNCH và Mỹ thực hiện trong dịp Tết Mậu Thân?  Chỉ với một “phát hiện” mơ hồ như thế, chỉ với một hố chôn tập thể lính VC không biết có từ bao giờ, ông đã đánh đồng tất cả những hố chôn tập thể khác do VC thực hiện trong dịp Tế Mậu Thân đều do Mỹ và VNCH làm!?  Và do đó, theo ông, chuyện “Thảm sát Mậu Thân” do VC ra tay là hoàn toàn bịa đặt?  Tôi luôn tôn sư trọng đạo, nhưng trong trường hợp nầy, ông thầy của tôi không còn đáng kính nữa.  Khi mới ra tù, tôi được bà xã dẫn đi xem buổi trình chiếu phim tài liệu “A Television of History” do PBS thực hiện, tại trường Nguyễn Chí Diễu.  Tới nơi, tôi thấy ông HPNT ngồi đó, chủ trì buổi trình chiếu.  Ông nhìn tôi không mấy thiện cảm và với vẻ mặc dương dương tự đắc của người “bên thắng cuộc”.  Cái gọi là “Chiến thắng Mậu Thân” đang được PBS bình luận và quảng bá đã đánh trúng tim đen ông!  Không còn dáng vẻ nghệ sỹ như ngày xưa đứng lớp, ông ngồi đó với một khuôn mặt thù hận và sắt máu! Tôi thật sự chán ngán cho người trí thức nầy.  Ông quá cuồng cộng đến độ quên cả lý trí và lương tri con người.


            Nếu trường hợp hai đúng, nghĩa là ông HPNT đã phát hiện hố chôn tập thể lính VC thật thì, ai là thủ phạm?  Như đã trình bày ở phần trên, tôi hoàn toàn không tin Mỹ và VNCH làm chuyện ấy trong biến cố Mậu Thân.  Khi VC đang tổng tấn công vào tỉnh Thừa Thiên và cố đô Huế, họ đang bận tay, quá bận tay để giữ vững phòng tuyến vốn đang quá mỏng (vì bất ngờ và binh sỹ nghĩ phép), làm sao họ có thể thực hiện chuyện vô lý đó.  Có thể hố chôn lính VC nầy đã có từ trước rất lâu hoặc sau Mậu Thân do Mỹ trải bom hoặc đụng trận được quân đội VNCH đào hố chôn tập thể.  Nếu đúng như thế thì ngôi mộ tập thể lính VC nầy không liên quan gì đến “Thảm sát Mậu Thân” do VC gây ra cả, thưa ông thầy.  Trường hợp hố chôn lính VC nầy có trong dịp Tết Mậu Thân thì khả năng đó là trò “gắp lửa bỏ tay người” của VC.  Có thể những người lính VC nầy bị giết trong khi tấn công Huế, đồng đội của họ đem về chôn ở đó để vừa trọn tình trọn nghĩa với đồng đội, vừa để vu oan giáng hoạ cho Mỹ và VNCH trong tội ác tàn sát và chôn sống người dân Huế.  Hơn nữa VC cũng có thể “trang bị” nón tai bèo, áo quần quân giải phóng cho các nạn nhân xấu số trước hoặc sau khi ra tay tàn sát họ, tạo một chứng cứ giả để đổ thừa việc chôn sống người đồng loạt trong biến cố Mậu Thân là do Mỹ và VNCH chủ mưu.


            Trò lưu manh, ném đá dấu tay là ngón “nghề chuyên nghiệp” của csVN, bọn người mà thầy tôn thờ, không lý ông thầy không biết?!


            Trường hợp của những hố chôn tập thể tại các quận ngoại ô, phát hiện một vài tháng sau khi VNCH và đồng minh đã đánh bại VC, chiếm lại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên có thể nguỵ tạo, tung hoả mù để đổ thừa.  Thế còn các hầm chôn tập thể trong nội thành Huế như tại Chùa Áo Vàng, Trường Tiểu Học Gia Hội, Bãi Dâu và rải rác nhiều nơi khác được phát hiệnngay sau khi VNCH chiếm lại Huế thì sao, do ai thực hiện?  Ai đào hố chôn sống bốn giáo sư người Đúc, dạy tại Đại Học Y Khoa Huế trong khuôn viên chùa Tường Vân?  Không lý cũng do “Mỹ Nguỵ” thực hiện trong thời gian VC tạm chiếm, làm chủ thành phố Huế?  Chỉ có những người mất trí mới tin như thế.  Chỉ có những kẻ vô lương mới tuyên truyền lếu láo như thế để chạy tội cho VC.


            Cái gì cũng thế, dù đau thương đến đâu rồi cũng được thời gian hoá giải.  Nhưng riêng biến cố Tết Mậu Thân là trường hợp ngoại lệ, không bao giờ phai nhạt đối với người dân Huế nói riêng, dân miền Nam Việt Nam nói chung.  Tại sao?  Tại vì hằng năm những kẻ tội đồ phi dân tộc ấy, chế độ csVN tàn bạo ấy vẫn kỷ niệm “chiến thắng Mậu Thân”.  Đó là một hành động cào vào vết thương đang mưng mủ nên vết thương chẳng bao giờ lành da liền thịt được.  Đã tàn sát đồng bào không nương tay, đáng tội diệt chủng, bây giờ dựa vào sức mạnh bất chính, họ vẫn huyênh hoang “chiến thắng”.  CSVN đã và đang thách thức lương tri dân tộc, xấc láo với tiền nhân, ngồi xổm trên hồn thiêng sông núi.  Do đó, không thể thứ.


            Đó là một tội ác tày trời ngàn đời không thể quên được.


ĐỊNH NGUYÊN
Viết để nhớ 50 năm biến cố Mậu Thân
(1968 – 2018)


Chiến dịch Mậu Thân 1968 và sự thật về nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường

authorMinh Anh Chủ Nhật, ngày 21/01/2018 09:33 AM (GMT+7)

(Dân Việt, b

áo VC

) Theo dòng lịch sử, vào đêm 30, rạng sáng 31.1.1968, quân và dân đồng loạt nổi dậy khắp muôn nơi. Nửa thế kỷ trôi qua, song ký ức về chiến dịch Mậu Thân 1968 vẫn còn nguyên vẹn trong tâm khảm bao người, đặc biệt là người dân Huế.

   

    Chiến dịch Mậu Thân và lòng tự tôn dân tộc

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng: “Mậu Thân là chiến thắng quan trọng nhất, buộc Mỹ không thể thực hiện chiến lược giải quyết chiến tranh Việt Nam bằng quân đội, mà phải ngồi vào bàn hội nghị Paris và rút quân khỏi Việt Nam. Nếu như năm 1968 là quyết định quan trọng thì chiến thắng 1975 là tất yếu xẩy ra. Điều quan trọng Huế đã làm được, mà không nơi nào có thể làm được - đó chính là vai trò đóng góp của người dân Huế, làm nên chiến thắng. Nói đến chiến dịch Mậu Thân là vấn đề lịch sử lớn. Trong cuộc chiến tranh, mặc dù chúng ta đã chiến thắng nhưng cũng không thể tránh được sai lầm, nên hãy thẳng thắn nhìn nhận vào sai lầm đó. Đã 50 năm rồi, theo tôi nên tổ chức kỷ niệm, tri ân những người dân Huế đã hy sinh cho thành công của chiến thắng Mậu Thân”.

    Lật dở những trang sử cho thấy, ngày ấy, Huế là một trong ba chiến trường trọng điểm để thực hiện cuộc tổng tiến công Tết Mậu Thân. Vũ khí được bí mật đưa vào nội thành bằng nhiều hướng và được ngụy trang cẩn thận. Đêm 30 Tết, bộ đội từ khắp nơi đồng loạt tiến vào thành phố Huế, bất ngờ tấn công địch, nhanh chóng chiếm giữ các mục tiêu quan trọng. Cuộc tổng tiến công đúng dịp Tết Nguyên Đán là thời điểm quyết định vận mệnh của đất nước. Và chỉ một ngày đêm, quân và dân ta đã làm chủ thành phố Huế. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968 ở Huế đi vào lịch sử dân tộc như bản hùng ca của lòng kiêu hãnh “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

      Đừng vì hận thù mà xuyên tạc lịch sử

    Chúng ta không quên quá khứ, nhưng vì sự hòa hợp, hòa giải dân tộc và hội nhập quốc tế, chúng ta khép lại quá khứ, hướng tới tương lai. Chiến dịch Mậu Thân 1968 cũng đã tròn nửa thế kỷ, vậy mà cứ mỗi dịp Tết đến Xuân về, thậm chí bất cứ lúc nào có cơ hội là lại có những ý kiến bị đặt để bôi nhọ chế độ, xuyên tạc về sự thật lịch sử cũng như làm giảm uy tín của những người có tiếng nói trong xã hội.

     chien dich mau than 1968 va su that ve nha tho hoang phu ngoc tuong hinh anh 1

    Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường

    Sự kiện 1968 ở Huế với nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường như một “bi kịch” cuộc đời, đeo bám ông trong suốt chừng ấy năm trời. Những câu hỏi nghi vấn được đặt ra sau những lời “vu khống, xuyên tạc” rằng: Hoàng Phủ Ngọc Tường ở đâu khi chiến dịch Mậu Thân vào thời điểm quan trọng? Thật nhẫn tâm khi còn có ý kiến cho rằng ông đã có mặt và trực tiếp tham gia vào vụ thảm sát ở Huế năm 1968. Song sự thật hiển nhiên không phải vậy.

    Nhà văn Nguyễn Quang Hà ghi theo lời kể của nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế - Nguyễn Trung Chính, nguyên thành ủy viên, Bí thư quận 1- Huế thì: “Cách một tuần trước khi nổ súng phát hỏa tấn công trong chiến dịch Mậu Thân. Để làm cho tư tưởng quân địch tan tác, cần có một cuộc binh vận bất ngờ. Hai người được lãnh đạo chọn cho cuộc ra quân quyết liệt này là anh Hà Lề và anh Nguyễn Xuân... Tin bộ đội giải phóng vác cờ xanh đỏ đi giữa đất Cố đô từ người nọ truyền tai người kia như một làn sóng. Phát huy thắng lợi binh vận, kế hoạch lần 2 vùng hoạt động ngắn hơn và lãnh đạo quyết định chọn: Hoàng Kim Thắng, Dương Thi Tho, Hoàng Kim Cuộc, Nguyễn Quốc Tròn”.

    Như vậy, trong suốt chiến dịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được giao nhiệm vụ để trở lại Huế. Vậy mà trong nhiều năm ròng, một số cây bút ở hải ngoại đã kết tội cho Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân với những lời lẽ xúc phạm. Họ gọi các nhà văn, nhà thơ này là "đồ tể", "thủ phạm chính của cuộc tàn sát", "các hung thần can dự tới bữa tiệc máu".

    Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho biết: “Tôi và 2 anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường - Hoàng Phủ Ngọc Phan đều bị vu khống với những lời lẽ rất nặng nề, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường “dính” nặng nhất. Có lẽ bởi sau này, vì muốn nêu thành tích nên ông ấy đã mắc sai lầm khi trả lời báo chí về tác phẩm của mình, mà thực tế khi viết, ông ấy có dùng tư liệu của tôi, chứ còn trong chiến dịch Mậu Thân, Hoàng Phủ Ngọc Tường không về Huế, vì ông ấy là Tổng thư ký mặt trận liên minh”.

    Vậy căn cứ vào đâu để họ xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn để làm giảm uy tín và phương hại đến thanh danh một nhà văn nổi tiếng và có uy tín ở Việt Nam. Theo nhà văn Ngô Minh: “Sự hiểu nhầm, hiểu sai rất oan ức này là do "Lời hiệu triệu" với giọng đọc của Hoàng Phủ Ngọc Tường được thu thanh từ trước, phát đi khắp các nẻo đường Huế sau chiến dịch, làm cho ai cũng tưởng anh đang ở Huế. Thứ nữa là tập ký sự Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu mang tên tác giả là Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về những người giữ cờ trên Phu Văn Lâu Huế. Không tham gia đánh trận trực tiếp làm sao mà viết về cuộc chiến với những chi tiết cụ thể như thế? Sự thật thì không phải vậy. Hoàng Phủ Ngọc Tường bảo rằng đây là một tập sách "viết chưa đạt".

    Theo lời kể của Hoàng Phủ Ngọc Tường mà nhà văn Ngô Minh ghi thì: "Đây là cuốn sách tôi viết từ một tư liệu ghi chép thực tế “những người giữ cờ ở Huế” của Nguyễn Đắc Xuân. Tôi nhớ bản thảo ấy cũng chỉ độ 5 đến 7 trang. Tôi đã hư cấu thêm theo sự cho phép của thể loại ký và theo suy nghĩ của tôi - chứ tôi đâu có mặt ở Huế vào thời điểm ấy. Viết xong gửi đi tôi ghi tên cả hai người cùng viết. Không hiểu vì sao khi in thành sách tên tác giả lại chỉ có mình tôi. Tôi trở thành thằng “hớt tay trên” của bạn. Tôi đã viết thư gửi ra Hà Nội phản ứng với Giám đốc NXB Giải Phóng, lúc đó là anh Khương Minh Ngọc. Nhưng sau đó tôi được anh Bảo Định Giang đang phụ trách Tiểu ban Văn nghệ miền Nam can ngăn; bảo rằng làm như thế sẽ ‘có lợi cho cách mạng hơn! Không biết có lợi là lợi gì? Lúc đó tôi đã kể cho anh Nguyễn Đắc Xuân nghe tất cả chuyện oái oăm này...

    Đời tri thức cũng có cái giá phải trả

    Chiến dịch Mậu Thân là sự thật khốc liệt và đau lòng cho cả 2 bên, khi chiến trường đầy bom, đạn, mà bom, pháo, súng, đạn có loại trừ binh lính hay dân thường đâu bởi tất cả đều chìm trong khói lửa.

    Quá khứ đã lùi xa, nhưng những vết thương để vẫn hằn in những nỗi đau mà những người trong cuộc và cả người thân, gia đình của họ phải mang theo. Hoàng Phủ Ngọc Tường đã từng thốt lên: "Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào ‘vụ Mậu Thân Huế. Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu thế thôi!"

    Image result for gia đình hoàng phủ ngọc tường 2018

    Nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường. ảnh: Hoàng Tuấn

    Chỉ mới đây thôi, trong một status nhiều comment ác ý với những lời cay độc đã đổ dồn vào facebook của con gái nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, khiến cho cuộc sống của chị tự nhiên bị xáo trộn. Tuy nhiên, cũng rất nhiều comment của các nhà văn, nhà thơ, bạn đọc, những người cùng thời, những người bạn vong niên của Hoàng Phủ Ngọc Tường và cả gia đình ông cũng đã chia sẻ động viên, khích kệ tinh thần.

    Võ sư Nguyễn Văn Dũng viết: “Hoàng Dạ Thư thương quí của thầy. Đọc bài “ Xin được nói một lần rồi thôi”, thầy hiểu nỗi lòng của con. Không phải bây giờ đâu mà suốt 50 năm qua, cứ mỗi dịp Tết đến, lại có người cố đào bới nỗi đau Tết Mậu Thân, cùng với luận điệu Hoàng Phủ Ngọc Tường là tên đồ tể giết người hàng loạt. Không biết họ nhân danh sự thật, nhân danh hận thù, hay là một cách chứng tỏ ta là?! Bài con viết, rất minh bạch và thẳng thắn. Rằng, ba con có thể mắc sai lầm, đặc biệt khi trả lời phỏng vấn của đài Mỹ. Rằng, ba con có thể “háo danh” khi lấy tư liệu của người khác để viết “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu” và kể lại như thể mình là người trong cuộc.

    Nhưng, thực tế ba con không có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân. Con cần biết thêm điều này, sự thật đó đã được những người bạn ở cùng ba con trên rừng suốt thời gian Tết Mậu Thân khẳng định; được những người bạn của ba con có mặt ở Huế trong Tết Mậu Thân khẳng định; và sự thật đó đã được những người chỉ huy chiến dịch Tết Mậu Thân khẳng định. Cái tâm con người cũng như tấm gương soi; khi bị bụi bặm che phủ, nó không soi chiếu được gì, nhưng khi lau sạch, nó phản ảnh trung thành mọi sự. Chuyện này cũng thế, khi hận thù không còn, khi ngã mạn mất đi, sự thật sẽ hiện ra”.

    Về chuyện nhà văn Hoàng Dạ Thư sẽ đóng cửa ngôi nhà facebook vì không muốn tiếp tục nghe những lời lẽ hằn học, thù hận. Võ Sư Nguyễn Văn Dũng viết: “Con ạ, dù con không muốn nghe họ thì vẫn không cấm được họ. Dù con đôi co với họ thì vẫn không thay đổi được họ. Chi bằng con cứ để họ nói, cứ nghe họ nói - nghe với cái tâm rỗn rang và độ lượng. Oan ức không cần biện bạch; và, hãy đón nhận nó với một cái tâm rỗn rang và độ lượng. Bởi vì, chỉ với cái tâm rỗn rang và độ lượng, con người ta mới có thể sống an lành giữa cái cõi thế quá đa đoan này.”

    Bi kịch với Hoàng Phủ Ngọc Tường đến từ nhiều phía, song kể cả khi nằm trên giường bệnh ông cũng vẫn cặm cụi viết. Hoàng Phủ Ngọc Tường quan niệm: “Sống ở đời một người tri thức cũng có một cái giá phải trả cho việc mà người khác cứ tưởng là mình được tín nhiệm. Là người sống bằng nội tâm, nên những vấn đề thời cuộc đất nước ám ảnh tôi nhiều hơn." 

    Nhà văn Ngô Minh từng viết: “Văn chương Hoàng Phủ thấm đẫm tình thương yêu, và được người đọc nhiều thế hệ mến mộ vì đó không phải là thứ văn chương "phải đạo" (chữ của Hoàng Ngọc Hiến) xưng tụng một chiều "ta thắng địch thua" mà đó là thứ văn chương thật có chính kiến rạch ròi mạnh mẽ là sự dấn thân để xây dựng một nền dân chủ và nhân văn cao cả. Không giống một số nhà văn xu thời nghĩ khác viết khác sống khác viết khác luôn đeo mặt nạ ngăn cách mình với xã hội, Hoàng Phủ Ngọc Tường sống như viết nói như viết nghĩ như viết”.

    Quá khứ đã lùi xa, hận thù xin khép lại. Hãy để tâm mình được rộng mở hướng về phía trước để thấy cuộc đời thật an vui!

    Hội đồng Liên tôn Việt Nam và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền: Tâm thư nhân 50 năm cuộc thảm sát Mậu Thân (1968-2018)

    A- Nhận định 

    1- Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đang rầm rộ tổ chức kỷ niệm 50 năm biến cố Mậu Thân (1968-2018) với chủ đề“Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt quyết định và bài học lịch sử”, qua một lễ nghi cấp nhà nước (31-01-2018), những cuộc hội thảo khoa học cấp quốc gia, những buổi giao lưu gặp gỡ cựu chiến binh mặt trận, những bài viết của một số lãnh đạo chính trị cao cấp và nhiều người khác, những buổi biểu diễn văn nghệ, những biểu ngữ tuyên truyền trong học đường… Họ trình bày đó như là cuộc nổi dậy của nhân dân miền Nam chống lại chế độ Việt Nam Cộng Hòa và là thắng lợi của nghệ thuật quân sự Cộng sản, biết nắm bắt thời cơ chiến lược để chủ động tiến công địch bằng các phương thức tác chiến mới giành thế bất ngờ…(theo chủ tịch nước Trần Đại Quang và bộ trưởng quốc phòng Ngô Xuân Lịch).

    2- Phản bội cam kết hưu chiến mà họ đã đưa ra trước (27-01 đến 03-02-1968, tức 28 tháng Chạp đến 05 tháng Giêng Mậu Thân) và chà đạp ngày Tết thiêng liêng của Dân tộc, nhà cầm quyền Hà Nội thời Hồ Chí Minh -trong đêm Giao thừa và đêm mồng một Tết- đã đánh úp vào 41 thành phố, thị xã, 72 quận lỵ, kể cả cố đô Huế và thủ đô Sài Gòn -nghĩa là các khu dân cư- nhằm kiểm soát chiếm giữ các cứ điểm quan trọng và lãnh đạo quần chúng nổi dậy cướp chính quyền. Tiếng pháo đã chen lẫn tiếng súng! Rượu hồng đã hòa vào máu đỏ! Bánh tét đã trộn lẫn với thịt người ! Thế nhưng, cả hai mục tiêu quân sự và chính trị ấy đều đã không đạt được, vì quân chính quy từ miền Bắc và quân du kích tại miền Nam đã bị đẩy lui ở tất cả mọi trận địa, tổn thất lên đến cả trăm ngàn người (gấp 10 lần quân VNCH và đồng minh Mỹ). Dân chúng cũng đã không nổi dậy mà trái lại còn bỏ chạy về phiá quốc gia.

    3- Thật ra, đó là cuộc thảm sát 14.300 dân lành vô tội, mà một nửa trong số đó là tại tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế, nơi đã bị Cộng sản chiếm đóng 26 ngày trời. Số nạn nhân này gồm có viên chức hành chính, bác sĩ kỹ sư, tu sĩ linh mục, giáo sư nghệ sĩ, tiểu thương lao động, quân nhân về hưu, sinh viên học sinh, thường dân trẻ nhỏ… Họ đã bị giết bằng những hình thức man rợ như dùng báng súng, cuốc xẻng bửa đầu, đóng cọc xuyên thân hình, đâm lưỡi lê vào bụng, cột thành chùm chôn sống, xả súng liên thanh và ném lựu đạn vào đoàn người bị trói chặt… Sau cuộc chiến, người ta đã tìm thấy nhiều mồ chôn tập thể hàng trăm con người tại chùa Theravada, trường Gia Hội, phường Phú Cát, vùng Phú Vang, quận Phú Thứ, khe Đá Mài v.v... (Nguồn: Viện Nghiên cứu Á châu, Đại học Texas, Hoa Kỳ). Chứng tích còn sờ sờ là ngôi mộ tập thể ở núi Ba Tầng, phía nam thành phố Huế, nơi đang chôn cất hơn 400 hài cốt tìm thấy ở khe Đá Mài, thuộc vùng núi Đình Môn, Kim Ngọc, quận Nam Hòa, tỉnh Thừa Thiên (nay là xã Dương Hòa, huyện Hương Thủy). Ngay sau tháng 4-1975, Cộng sản đã dùng mìn phá hủy trụ bia và 2 bàn thờ ở ngôi mộ tập thể này, khiến nhiều hài cốt cũng nổ tung lên. Mộ nay đang tình trạng hoang phế. Cộng sản cũng đặt tên “Xuân 68” cho một con đường trong Thành Nội.

    4- Cuộc thảm sát Mậu Thân được xếp vào bao cuộc thảm sát tập thể đồng bào mà đảng Cộng sản Việt Nam đã gây ra từ ngày họ nắm được quyền lực trên đất nước. Nào là cuộc Cải cách Ruộng đất giết trực tiếp lẫn gián tiếp nửa triệu nông dân miền Bắc; nào là cuộc xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa làm vong mạng gần 4 triệu sinh linh hai vùng Tổ quốc; nào là việc thủ tiêu hơn 100 ngàn quân nhân cán chính VNCH trong các trại tập trung cải tạo; nào là việc đẩy hàng triệu Đồng bào ra biển khơi hay vào rừng thẳm để chạy trốn chế độ mà một nửa đã bỏ thây… Rõ ràng là sự cai trị và sự trường tồn của đảng Cộng sản được xây trên xương máu dân lành Việt Nam.

    B- Tuyên bố:

    Với vai trò lãnh đạo tinh thần, có nhiệm vụ loan truyền sự thật, bảo vệ công lý và giáo dục lương tâm, Hội đồng Liên tôn Việt Nam -vốn quy tụ nhiều chức sắc của 5 tôn giáo: Cao Đài, Công Giáo, Phật Giáo Thống Nhất, Phật Giáo Hòa Hảo, Tin Lành-và Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền tuyên bố như sau:

    1- Đòi hỏi nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam hãy biết thừa nhận sự thật, lãnh nhận trách nhiệm, công nhận tội ác tầy trời mà chính họ đã gây ra cho Dân tộc và Đồng bào trong những ngày xuân năm 1968; phải giải oan cho các nạn nhân bằng cách chính thức tạ tội và để tự do cho bất cứ cá nhân hay tập thể nào tưởng nhớ đến họ; phải tôn tạo ít nhất hai ngôi mộ tập thể chôn cất di hài của họ là Ba Tầng và Ba Đồn gần núi Ngự Bình, phía Nam thành phố Huế. Yêu cầu chấm dứt ngay việc trình bày và ghi dấu cuộc tấn công nhân Tết cổ truyền đó như một chiến thắng oai hùng, vì chứng tích và chứng nhân vẫn còn đầy dẫy. Bằng không, danh xưng “Mậu Thân 1968” sẽ mãi in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa vào da thịt dân tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt nung đỏ chẳng bao giờ nguội.

    2- Kêu gọi toàn thể Đồng bào trong và ngoài nước cũng như mọi Tôn giáo của người Việt tưởng niệm, cầu nguyện, minh oan cho các nạn nhân biến cố Mậu Thân, để linh hồn họ được giải thoát, gia đình họ được an ủi. Ngoài ra cũng xin nhớ đến các chiến binh hai miền đã ngã xuống trong cuộc tương tàn huynh đệ này. Đó là căn cốt trong truyền thống của mọi tôn giáo cũng nhưtrong văn hóa của Dân tộc. Đây cũng là cơ hội để các đao phủ thảm sát đồng bào bày tỏ thành tâm thiện chí, thống hối lỗi lầm, dọn đường cho việc hòa giải Dân tộc cách đích thực. Xin Quý Chức sắc tôn giáo trong nước can đảm đặt ra một ngày tạm gọi là “Ngày nhớ Mậu Thân” và tổ chức lễ cầu hồn, cầu siêu khắp các thánh thất, giáo đường, chùa chiền cho các nạn nhân vô tội.

    Làm tại VN ngày 10 tháng 02 năm 2018, trong bầu khí áp Tết Mậu Tuất

    Hội đồng Liên tôn Việt Nam đồng ký tên:

    Cao đài :

    - Chánh trị sự Hứa Phi (điện thoại: 0163.3273.240)
    - Chánh trị sự Nguyễn Kim Lân (điện thoại: 0988.971.117)
    - Chánh trị sự Nguyễn Bạch Phụng (điện thoại: 0988.477.719).
    - Thông sự Đoàn Công Danh (điện thoại: 0977.961.750)

    Công giáo :

    - Linh mục Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý (điện thoại: 0932211438)
    - Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi (điện thoại: 0984.236.371)
    - Linh mục Giu-se Đinh Hữu Thoại (điện thoại: 0935.569.205)
    - Linh mục Phao-lô Lê Xuân Lộc (điện thoại: 0122.596.9335)
    - Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình (điện thoại: 01692498463)

    Phật giáo :

    - Hòa thượng Thích Không Tánh (điện thoại: 0165.6789.881)
    - Thượng tọa Thích Từ Giáo (điên thoại: 0912.717.819)
    - Thượng tọa Thích Đồng Minh (điện thoại: 0933.738.591)
    - Thượng tọa Thích Vĩnh Phước (điện thoại: 0969.992.087)
    - Thượng tọa Thích Đức Minh (điện thoại: 0165.348.2276)

    Phật giáo Hoà hảo :

    - Ông Nguyễn Văn Điền (điện thoại: 0122.870.7160)
    - Ông Lê Quang Hiển (điện thoại: 0167.292.1234)
    - Ông Lê Văn Sóc (điện thoại: 096.4199.039)
    - Ông Phan Tấn Hòa (điện thoại: 0162.6301.082)
    - Ông Bùi Văn Luốc (điện thoại: 0169.612.9094)
    - Ông Hà Văn Duy Hồ (điện thoại 012.33.77.29.29).
    - Ông Trần Văn Quang (điện thoại 0169.303.22.77)

    Tin lành :

    - Mục sư Nguyễn Hoàng Hoa (điện thoại: 0121.9460.045)
    - Mục sư Nguyễn Mạnh Hùng (điện thoại: 0906.342.908)
    - Mục sư Đoàn Văn Diên (điện thoại: 01676923013 )
    - Với sự hiệp thông của Mục sư Nguyễn Trung Tôn đang ở trong lao tù cộng sản.

    Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền đồng ký tên (đại diện):

    - Linh mục Phê-rô Nguyễn Hữu Giải, Tổng Giáo phận Huế
    - Linh mục Ta-đê-ô Nguyễn Văn Lý, Tổng Giáo phận Huế.
    - Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Giáo phận Bắc Ninh.
    - Linh mục Giu-se Nguyễn Công Bình, Giáo phận Vinh.

    Cùng hiệp thông:

    Liên hiệp Hội thánh Em và Tín đồ Cao đài Tòa thánh Tây Ninh Hải ngoại:

    - Cựu Chánh trị sự Bùi Văn Y, Trưởng ban Giám sát
    - Phạm Văn Đức, Trưởng ban Nội vụ
    - Sinh Cẩm Minh, Trưởng ban Ngoại vụ
    - Phó trị sự Trần Viết Hùng, Tổng thư ký

    Ủy ban chống văn hóa Tôn giáo vận Cộng sản.

    - Mục sư Nguyễn Công Chính, Chủ tịch
    - Nhân sĩ. Nguyễn Văn Tánh, Hội đồng giám sát.
    - Nhân sĩ Phan Kỳ Nhơn, Hội đồng giám sát.

    Oan hồn Mậu Thân trong thơ đao phủ Hoàng Phủ Ngọc Tường



     Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


    Những nội dung khác:




    Lên đầu trang

         Tìm kiếm 

         Tin mới nhất 
    Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đừng bóc lôt. bắt nạt các nước nhỏ như VN trước chuyến công du châu Á- Người VN nên hiến kế cho TT Trump đánh TQ đòi Hoàng Sa [NEW]
    Mật vụ Mỹ tiết lộ Tổng thống Trump từng thoát âm mưu ám sát ở Philippines [NEW]
    Sắp theo Quang, Cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện [NEW]
    Sắp theo Quang, Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện [NEW]
    Nhà hàng Tàu thịt người: Xác những người di cư bị đông đá rong nhà hàng Tàu Cộng ở Pháp
    Vì sao CSVN dung dưỡng bọn Tây ấu dâm làm hại thiếu nhi VN?
    Dốt Anh ngữ, đài Truyền hình quốc gia VTV dán nhãn IMF - International Monetary Fund là International Mother Fucker
    VN Tỷ Lệ Cao Kỷ Lục Thế Giới Về Ung Thư Gan Vì Nhậu Tới Xơ Gan- Cách trị liệu
    Làm nhục TQ: Chánh Văn phòng tòa Bạch Ốc yêu cầu quan chức Trung Quốc xin lỗi dưới cờ Mỹ
    VN thống nhất tiền tệ với TQ: Thông tư 19 cho dùng Nhân dân tệ trong nước
    Chính trị, Nhẫn tâm, Nghĩa tận và Mùa đảng tang
    100 triệu người VN trong ngoài nước đồng lòng tầy chay hàng TQ đòi lại Hoàng Sa, biển Đông Thượng Viện Hoa Kỳ thông qua đạo luật cắt đứt đường lưỡi bò của Trung Quốc trên biển Đông
    700 bác sĩ ngoại quốc đến Việt Nam học kỹ thuật mổ nội soi
    Một dân tộc nghe lời Tàu tàn sát nhau máu đổ thành sông xương chồng thành núi
    Xấu hổ khi biết mình là công dân Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam!

         Đọc nhiều nhất 
    Bảng Tổng sắp huy chương ASIAD 25/8: Bất ngờ VN thua Campuchia- Thắng túc cầu Syria [Đã đọc: 371 lần]
    4 Động tác phòng chống đột quỵ rất hiệu nghiệm -Trị gút, đái đường- Đọc bài nầy có thể cứu sinh mạng bạn và người thân [Đã đọc: 355 lần]
    Tin trong Nước: Phong trào toàn dân mặc áo cờ vàng xé tan cờ đỏ [Đã đọc: 335 lần]
    Thêm bằng chứng bán nước của CSVN: Quả địa cầu TQ với hình bản đồ Việt Nam không có tỉnh Quảng Ninh và các đặc khu kinh tê thuộc TQ [Đã đọc: 314 lần]
    Nguyễn Ái Quốc đã chết từ năm 1932, HCM là gián điệp người Tàu, lừa cả dân tộc VN gần suốt thế kỷ! [Đã đọc: 311 lần]
    Hiện tượng dã man trong học đường thời XHCN: Một Nữ sinh bị đánh lột tập thể tại VN. [Đã đọc: 288 lần]
    Lực lượng Nam Phi Châu phục vụ các nữ đại gia, mệnh phụ và quan chức VN khát tình [Đã đọc: 285 lần]
    Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain qua đời vì ung thư não [Đã đọc: 278 lần]
    SOS VIETNAM! The country sold by VC! [Đã đọc: 277 lần]
    Khủng bố: Xả súng liên tiếp tại London, ít nhất 3 người bị thương [Đã đọc: 259 lần]

    Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

    Bản quyền: Vietnamville
    Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.