Chủ nghĩa thực dân là một chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác để cai trị, ngõ hầu dễ dàng chiếm đoạt tài nguyên của nước bị trị cũng như dễ dàng bóc lột nguồn lao động của dân bản xứ nhằm làm giầu cho nước mình.

Người ta thường nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân phát xuất từ Âu Châu vào thế kỷ 12, 13 khi người Bồ Đào Nha và các nước khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Lan v.v. bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại xa xôi như Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu và Úc Châu. Thực ra thì trước đó, từ lâu, người Trung Hoa cũng đã thi hành chủ nghĩa này, nhưng chỉ để xâm chiếm những nước chung quanh. Bằng cớ là ngay từ thời Việt Nam lập quốc (2879 trước tây lịch) nước ta đã bị người Tầu (đời nhà Hán) xâm chiếm và lập thành quận huyện của họ để đô hộ.

Chủ nghĩa thực dân mỗi ngày một thịnh vượng và kéo dài tới đệ II Thế Chiến (1939-1945) thì bắt đầu suy thoái và tới giữa thập niên 50 (1954) thì được coi là chấm dứt và thay vào đó là việc các nước lớn và mạnh dùng ảnh hưởng kinh tế của mình để can thiệp vào nội tình chính trị của nước khác, nhỏ và yếu, để giành thị trường tiêu thụ mà người ta gọi đó là chủ nghĩa thực dân mới.

Trước năm 1975,  người Mỹ đã dùng sức mạnh kinh tế của mình nhưng không phải là để mở rộng thị trường tiêu thụ ở Việt Nam,  mà là dùng Việt Nam Cộng Hòa làm tiền đồn để ngăn chặn làn sóng đỏ (cộng sản) từ phương Bắc. Nhưng chính sách này đã bị một số trí thức thân Cộng thời đó gọi là “chủ nghĩa thực dân mới” và một số người vô ý thức thì gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là bọn lính đánh thuê cho Hoa Kỳ. Thực ra chính Liên Sô và Trung Cộng mới chính là bọn thực dân mới và chính quân đội nhân dân của ngụy quyền cộng sản Hà Nội mới là bọn lính đánh thuê cho Nga Tầu. Thực vậy, bọn Nga, Tầu đã dùng chủ nghĩa Mác Lê tức chủ nghĩa cộng sản để, không những chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt thị trường (với chủ trương vô tổ quốc) mà còn sai khiến luôn cả ngụy quyền Hà Nội với chiêu bài thi hành nghĩa vụ quốc tế để toan tính nhuộm đỏ toàn thể thế giới.

I/ Hình thức chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng được áp dụng tại VN như thế nào ?

Sau năm 1990, các nước cộng sản Nga Sô và Đông Âu tan rã, chỉ còn 4 nước theo chủ nghĩa cộng sản là Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cu Ba. Nhưng chỉ có Trung Cộng là hùng mạnh, nhờ vào sự chấm dứt chính sách thù nghịch của Mỹ và thay vào đó là sự bình thường hóa quan hệ Mỹ Trung. Việt Nam thì nợ nần Trung Cộng quá nhiều vì tham vọng thôn tính miền Nam Việt Nam nên đã bị Trung Cộng dùng chủ nghĩa này chi phối và lấn áp mọi mặt.

Để áp dụng chủ nghỉa thực dân mới này, Trung Cộng đã áp dụng những chính sách sau tại Việt Nam và một số các nước nghèo đói, chậm tiến trên thế giới:

1/ Xâm chiếm lãnh thổ.

Mặc dầu đi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác để nhập vào lãnh thổ của mình, ngày nay đã bị thế giới lên án nặng nề. Nhưng bọn bành trướng Trung Cộng cậy có sức mạnh, cậy có dân đông (trên 1.3 tỷ người), cậy có tiền bạc nhiều, cũng vẫn làm nếu chúng có thể làm được. Điển hình là chúng đã thôn tính Tây Tạng, Nội Mông. Đối với Việt Nam, chúng đã lấn chiếm ải Nam Quan, thác Bản Giốc, hàng chục ngàn cây số vuông giáp ranh với Trung Cộng, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa và hàng trăm ngàn cây số vuông lãnh hải của Việt Nam.

Nếu nơi nào mà bọn bành trướng Trung Cộng không lấn chiếm được, chúng dùng tiền nói là để thuê như chúng đã thuê mướn nhiều nơi thuộc 9 tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam để trồng cây kỹ nghệ, 1 tỉnh thuộc miền cao nguyên Trung phần của Việt Nam để khai thác quặng bô-xít và nhiều nơi thuộc những tỉnh miền Nam để xây những khu phố Tầu (khu thương mại) trong thời hạn 50 năm. Trung Cộng cũng bỏ tiền của ra mua hoặc thuê mướn đất ở nhiều nước ở Châu Phi và Châu Mỹ LaTinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Cộng có nhu cầu. Hậu quả của việc thuê mướn này rất là tai hại không những về kinh tế, kỹ nghệ mà cả về chính trị và xã hội cho nước bị lấn chiếm hay cho thuê mướn..

2/ Dùng chủ nghĩa cộng sản, dùng kỷ luật Đảng Cộng  Sản và dùng tài chánh để sai khiến nước khác.

Việt Nam cũng là một nước theo chủ nghĩa cộng sản như Trung Cộng nhưng lại là một nước nhỏ và nợ nần Trung Cộng nhiều, sau 20 năm chiến tranh. Do đó, đảng Cộng sản Việt Nam được coi như một đảng cộng sản đàn em, một chi nhánh của đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất nhất mọi sự đều phải theo lệnh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính tướng Việt Cộng là Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã thú nhận: “Tôi nói rồi, bất kỳ người nào lên lãnh đạo Trung Quốc họ cũng đều lấn át chúng tôi cả. Họ đều thực hành chủ nghĩa bành trướng, bá quyền đối với chúng tôi thôi. Còn phía lãnh đạo của chúng tôi, tôi còn theo dõi, thế mà từ trước đến nay họ không hề cãi gì với Trung Quốc cả.”

Đối với những nước không theo chế độ cộng sản nhưng nghèo đói như những nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Trung Cộng đã dùng tiền bạc thuê mướn đất đai dài hạn, mua chuộc chính quyền địa phương và truyền cấy chủ nghĩa cộng sản.

3/ Di dân.

Mặc dầu Trung Cộng thuê mướn đất đai để khai thác quặng mỏ, xây cất các nhà máy, cơ xưởng, nhưng Trung Cộng không thuê mướn các công nhân bản xứ mà đem, không những các chuyên viên tới mà cả công nhân Trung Cộng cùng gia đình của họ từ Trung Cộng tới.

Trung Cộng áp lực Việt Nam phải chấp nhận để cho dân Trung quốc tự do nhập cảnh vào Việt Nam. Họ không những không cần hộ chiếu mà ngay cả giấy tờ tùy thân cũng không bị đòi hỏi. Lợi dụng tình trạng này, nhiều người Trung Cộng đã sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và buôn bán một cách bất hợp pháp.

Tại phiên thảo luận về dự án luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chiều 28/11/2013, các đại biểu Quốc hội cộng sản Việt Nam đã nêu lên một vấn đề rất đáng lo ngại, lao động nước ngoài, đông nhất là từ Tàu, nhập cư vào Việt Nam, đang “lập xóm, lập làng, lập phố Tầu ở một vài địa phương”.

II/ Hậu quả chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng.

1/ Hậu quả về kinh tế và xã hội       

Với 3 chính sách trên: xâm chiếm đất đai để khai thác, chi phối chính quyền địa phương, và di dân, bọn Tầu chỉ cốt làm sao cho được càng nhiều lợi càng tốt. Chúng không cần biết những hậu quả tai hại gì sẽ xẩy ra cho môi trường, cho dân chúng địa phương. Nơi nào chúng tính chuyện lâu dài, thì chúng cho nhân công của chúng đem vợ con tới sinh sống, làm ăn buôn bán và lập nghiệp. Với những hàng hoá dư thừa hoặc không đủ tiêu chuẩn bị ngoại quốc trả về, chúng mang vào Việt Nam bán với giá rẻ như bèo. Thử hỏi hàng hoá Việt Nam nào cạnh tranh nổi ? Rút cuộc các xí nghiệp sản xuất của Việt Nam xạt nghiệp và Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ của Trung Cộng.

Không những làm ăn buôn bán, những nhân công nào chưa có gia đình thì lấy người Địa phương và sinh con đẻ cái, dần dần chúng trở thành người Việt gốc Hoa, nhưng phong tục tập quán của người Hoa thì chúng vẫn giữ. Đây chính là phương pháp trồng người của bọn chúng.

Tại một thị trấn tại Lào, thị trấn Boten, không những tiếng Hoa được dùng hoàn toàn trong việc buôn bán mà cả trong lãnh vực hành chánh. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Cộng cũng được dùng thay cho tiền Lào. Giờ giấc cũng chạy theo giờ Bắc Kinh. Rồi Việt Nam cũng sẽ tiến tới như vậy.  Tới lúc đó thì dù hợp đồng thuê mướn đã mãn hạn, cũng không thể nào mà trục xuất họ về nước được .

2/ Hậu quả về chính trị.

Với cái thái độ nhu nhược và hèn nhát của ngụy quyền Hà Nội như chúng ta đã thấy trong những vụ ngư dân Việt Nam đánh cá trong những vùng biển Việt Nam bị tầu Trung Quốc chận bắt. Không những cá của ngư dân Việt Nam bị cướp mà cả người lẫn thuyền cũng bị chúng bắt giữ và đòi tiền chuộc mà bọn ngụy quyền Hà Nội cũng không dám phản đối thì thử hỏi còn đâu là chủ quyền của một nước ?

Công an Việt Cộng hầu như không có thẩm quyền đối với những vụ tranh chấp giữa các nhân công Trung Cộng và người Việt Nam. Công nhân Trung Cộng không coi luật pháp Việt Nam ra gì cả. Chúng coi như vùng chúng ở là vùng tự trị của chúng. Chúng ăn uống, nhậu nhẹt tại các quán ăn của người Việt Nam có khi không những không trả tiền mà còn đập phá. Nếu chủ quán Việt Nam mà mạnh tay với chúng là có chuyện. Chúng kéo cả bọn mang gậy gộc, dao búa tới đập phá và đánh đập chủ quán và thân nhân của họ rất dã man mà công an Viêt Nam cũng bó tay, không dám can thiệp. Mới tới có ít lâu mà bọn chúng còn như vậy thì thử hỏi sau khi bọn chúng đã ở được vài ba chục năm, bọn chúng còn lộng hành đến đâu ?

Mới đây, vào dịp Tết Bính Thân 2016, bà Tuyết Hương về thăm Việt Nam đã có cảm nghĩ về tương lai Việt Nam như sau: “… Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp Trung Cộng, có thể nói rằng trong dịp Tết này, Trung Cộng nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng … Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác Trung Cộng mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy? … Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Tóm lại, với chế độ thực dân mới của Trung Cộng, với những chính sách mà Trung Cộng đã áp dụng tại Việt Nam, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì chỉ vài chục năm nữa, Việt Nam sẽ có cả chục triệu người Tầu hoặc người Việt gốc Tầu (Tầu lai). Loại dân này sẽ trở thành một thứ kiêu dân, nếu không trực tiếp nắm quyền chính trị thì cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, bọn kiêu dân này còn có những hoạt động ưu thế về kinh tế và tài chánh (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…cho vay lãi, kim cương, vàng bạc…) và có thể còn có cả những cơ quan truyền thông, báo chí, điện ảnh giống như  người Do Thái ở Đức trước đệ Nhị Thế Chiến và người Do Thái bây giờ tại Mỹ. Họ (Do Thái) sống cả ngàn năm ở Âu Châu, nhưng vẫn giữ tôn giáo riêng, phong tục tập quán riêng, không thèm hội nhập vào dòng văn hoá chính. Do đó, Trung Cộng cũng chẳng cần chiến tranh, chỉ sau vài thập niên nữa, Việt Nam nếu không trở thành quận huyện của Trung Quốc thì cũng sẽ trở thành một nước chư hầu tuyệt đối trung thành với mẫu quốc là Trung Cộng..

Đây cũng là điều mong muốn của bọn Việt Cộng bán nước. Chính Tố Hữu, một nhà thơ Việt Cộng đã có thời kỳ làm Phó Thủ Tướng ngụy quyền Việt Cộng (1981-1986) đã nói:

Bên này biên giới là nhà,

Bên kia biên giới cũng là quê hương.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản Trung Quốc tan rã như Liên Sô, lúc đó chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tan rã theo và Việt Nam mới mong thoát khỏi bàn tay của lông lá của TC. Mong rằng lời nói của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho tờ The Atlantic như sau, sẽ thành sự thật: Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm “những việc vô ích như những gã hề”.

##################

CHỦ NGHĨA THỰC DÂN MỚI CỦA TRUNG CỘNG

VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

Lê Duy San

Chủ nghĩa thực dân là một chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác để cai trị, ngõ hầu dễ dàng chiếm đoạt tài nguyên của nước bị trị cũng như dễ dàng bóc lột nguồn lao động của dân bản xứ nhằm làm giầu cho nước mình.

Người ta thường nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân phát xuất từ Âu Châu vào thế kỷ 12, 13 khi người Bồ Đào Nha và các nước khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Lan v.v. bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại xa xôi như Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu và Úc Châu. Thực ra thì trước đó, từ lâu, người Trung Hoa cũng đã thi hành chủ nghĩa này, nhưng chỉ để xâm chiếm những nước chung quanh. Bằng cớ là ngay từ thời Việt Nam lập quốc (2879 trước tây lịch) nước ta đã bị người Tầu (đời nhà Hán) xâm chiếm và lập thành quận huyện của họ để đô hộ.

Chủ nghĩa thực dân mỗi ngày một thịnh vượng và kéo dài tới đệ II Thế Chiến (1939-1945) thì bắt đầu suy thoái và tới giữa thập niên 50 (1954) thì được coi là chấm dứt và thay vào đó là việc các nước lớn và mạnh dùng ảnh hưởng kinh tế của mình để can thiệp vào nội tình chính trị của nước khác, nhỏ và yếu, để giành thị trường tiêu thụ mà người ta gọi đó là chủ nghĩa thực dân mới.

Trước năm 1975,  người Mỹ đã dùng sức mạnh kinh tế của mình nhưng không phải là để mở rộng thị trường tiêu thụ ở Việt Nam,  mà là dùng Việt Nam Cộng Hòa làm tiền đồn để ngăn chặn làn sóng đỏ (cộng sản) từ phương Bắc. Nhưng chính sách này đã bị một số trí thức thân Cộng thời đó gọi là “chủ nghĩa thực dân mới” và một số người vô ý thức thì gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là bọn lính đánh thuê cho Hoa Kỳ. Thực ra chính Liên Sô và Trung Cộng mới chính là bọn thực dân mới và chính quân đội nhân dân của ngụy quyền cộng sản Hà Nội mới là bọn lính đánh thuê cho Nga Tầu. Thực vậy, bọn Nga, Tầu đã dùng chủ nghĩa Mác Lê tức chủ nghĩa cộng sản để, không những chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt thị trường (với chủ trương vô tổ quốc) mà còn sai khiến luôn cả ngụy quyền Hà Nội với chiêu bài thi hành nghĩa vụ quốc tế để toan tính nhuộm đỏ toàn thể thế giới.

I/ Hình thức chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng được áp dụng tại VN như thế nào ?

Sau năm 1990, các nước cộng sản Nga Sô và Đông Âu tan rã, chỉ còn 4 nước theo chủ nghĩa cộng sản là Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cu Ba. Nhưng chỉ có Trung Cộng là hùng mạnh, nhờ vào sự chấm dứt chính sách thù nghịch của Mỹ và thay vào đó là sự bình thường hóa quan hệ Mỹ Trung. Việt Nam thì nợ nần Trung Cộng quá nhiều vì tham vọng thôn tính miền Nam Việt Nam nên đã bị Trung Cộng dùng chủ nghĩa này chi phối và lấn áp mọi mặt.

Để áp dụng chủ nghỉa thực dân mới này, Trung Cộng đã áp dụng những chính sách sau tại Việt Nam và một số các nước nghèo đói, chậm tiến trên thế giới:

1/ Xâm chiếm lãnh thổ.

Mặc dầu đi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác để nhập vào lãnh thổ của mình, ngày nay đã bị thế giới lên án nặng nề. Nhưng bọn bành trướng Trung Cộng cậy có sức mạnh, cậy có dân đông (trên 1.3 tỷ người), cậy có tiền bạc nhiều, cũng vẫn làm nếu chúng có thể làm được. Điển hình là chúng đã thôn tính Tây Tạng, Nội Mông. Đối với Việt Nam, chúng đã lấn chiếm ải Nam Quan, thác Bản Giốc, hàng chục ngàn cây số vuông giáp ranh với Trung Cộng, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa và hàng trăm ngàn cây số vuông lãnh hải của Việt Nam.

Nếu nơi nào mà bọn bành trướng Trung Cộng không lấn chiếm được, chúng dùng tiền nói là để thuê như chúng đã thuê mướn nhiều nơi thuộc 9 tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam để trồng cây kỹ nghệ, 1 tỉnh thuộc miền cao nguyên Trung phần của Việt Nam để khai thác quặng bô-xít và nhiều nơi thuộc những tỉnh miền Nam để xây những khu phố Tầu (khu thương mại) trong thời hạn 50 năm. Trung Cộng cũng bỏ tiền của ra mua hoặc thuê mướn đất ở nhiều nước ở Châu Phi và Châu Mỹ LaTinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Cộng có nhu cầu. Hậu quả của việc thuê mướn này rất là tai hại không những về kinh tế, kỹ nghệ mà cả về chính trị và xã hội cho nước bị lấn chiếm hay cho thuê mướn..

2/ Dùng chủ nghĩa cộng sản, dùng kỷ luật Đảng Cộng  Sản và dùng tài chánh để sai khiến nước khác.

Việt Nam cũng là một nước theo chủ nghĩa cộng sản như Trung Cộng nhưng lại là một nước nhỏ và nợ nần Trung Cộng nhiều, sau 20 năm chiến tranh. Do đó, đảng Cộng sản Việt Nam được coi như một đảng cộng sản đàn em, một chi nhánh của đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất nhất mọi sự đều phải theo lệnh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính tướng Việt Cộng là Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã thú nhận: “Tôi nói rồi, bất kỳ người nào lên lãnh đạo Trung Quốc họ cũng đều lấn át chúng tôi cả. Họ đều thực hành chủ nghĩa bành trướng, bá quyền đối với chúng tôi thôi. Còn phía lãnh đạo của chúng tôi, tôi còn theo dõi, thế mà từ trước đến nay họ không hề cãi gì với Trung Quốc cả.”

Đối với những nước không theo chế độ cộng sản nhưng nghèo đói như những nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Trung Cộng đã dùng tiền bạc thuê mướn đất đai dài hạn, mua chuộc chính quyền địa phương và truyền cấy chủ nghĩa cộng sản.

3/ Di dân.

Mặc dầu Trung Cộng thuê mướn đất đai để khai thác quặng mỏ, xây cất các nhà máy, cơ xưởng, nhưng Trung Cộng không thuê mướn các công nhân bản xứ mà đem, không những các chuyên viên tới mà cả công nhân Trung Cộng cùng gia đình của họ từ Trung Cộng tới.

Trung Cộng áp lực Việt Nam phải chấp nhận để cho dân Trung quốc tự do nhập cảnh vào Việt Nam. Họ không những không cần hộ chiếu mà ngay cả giấy tờ tùy thân cũng không bị đòi hỏi. Lợi dụng tình trạng này, nhiều người Trung Cộng đã sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và buôn bán một cách bất hợp pháp.

Tại phiên thảo luận về dự án luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chiều 28/11/2013, các đại biểu Quốc hội cộng sản Việt Nam đã nêu lên một vấn đề rất đáng lo ngại, lao động nước ngoài, đông nhất là từ Tàu, nhập cư vào Việt Nam, đang “lập xóm, lập làng, lập phố Tầu ở một vài địa phương”.

II/ Hậu quả chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng.

1/ Hậu quả về kinh tế và xã hội       

Với 3 chính sách trên: xâm chiếm đất đai để khai thác, chi phối chính quyền địa phương, và di dân, bọn Tầu chỉ cốt làm sao cho được càng nhiều lợi càng tốt. Chúng không cần biết những hậu quả tai hại gì sẽ xẩy ra cho môi trường, cho dân chúng địa phương. Nơi nào chúng tính chuyện lâu dài, thì chúng cho nhân công của chúng đem vợ con tới sinh sống, làm ăn buôn bán và lập nghiệp. Với những hàng hoá dư thừa hoặc không đủ tiêu chuẩn bị ngoại quốc trả về, chúng mang vào Việt Nam bán với giá rẻ như bèo. Thử hỏi hàng hoá Việt Nam nào cạnh tranh nổi ? Rút cuộc các xí nghiệp sản xuất của Việt Nam xạt nghiệp và Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ của Trung Cộng.

Không những làm ăn buôn bán, những nhân công nào chưa có gia đình thì lấy người Địa phương và sinh con đẻ cái, dần dần chúng trở thành người Việt gốc Hoa, nhưng phong tục tập quán của người Hoa thì chúng vẫn giữ. Đây chính là phương pháp trồng người của bọn chúng.

Tại một thị trấn tại Lào, thị trấn Boten, không những tiếng Hoa được dùng hoàn toàn trong việc buôn bán mà cả trong lãnh vực hành chánh. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Cộng cũng được dùng thay cho tiền Lào. Giờ giấc cũng chạy theo giờ Bắc Kinh. Rồi Việt Nam cũng sẽ tiến tới như vậy.  Tới lúc đó thì dù hợp đồng thuê mướn đã mãn hạn, cũng không thể nào mà trục xuất họ về nước được .

2/ Hậu quả về chính trị.

Với cái thái độ nhu nhược và hèn nhát của ngụy quyền Hà Nội như chúng ta đã thấy trong những vụ ngư dân Việt Nam đánh cá trong những vùng biển Việt Nam bị tầu Trung Quốc chận bắt. Không những cá của ngư dân Việt Nam bị cướp mà cả người lẫn thuyền cũng bị chúng bắt giữ và đòi tiền chuộc mà bọn ngụy quyền Hà Nội cũng không dám phản đối thì thử hỏi còn đâu là chủ quyền của một nước ?

Công an Việt Cộng hầu như không có thẩm quyền đối với những vụ tranh chấp giữa các nhân công Trung Cộng và người Việt Nam. Công nhân Trung Cộng không coi luật pháp Việt Nam ra gì cả. Chúng coi như vùng chúng ở là vùng tự trị của chúng. Chúng ăn uống, nhậu nhẹt tại các quán ăn của người Việt Nam có khi không những không trả tiền mà còn đập phá. Nếu chủ quán Việt Nam mà mạnh tay với chúng là có chuyện. Chúng kéo cả bọn mang gậy gộc, dao búa tới đập phá và đánh đập chủ quán và thân nhân của họ rất dã man mà công an Viêt Nam cũng bó tay, không dám can thiệp. Mới tới có ít lâu mà bọn chúng còn như vậy thì thử hỏi sau khi bọn chúng đã ở được vài ba chục năm, bọn chúng còn lộng hành đến đâu ?

Mới đây, vào dịp Tết Bính Thân 2016, bà Tuyết Hương về thăm Việt Nam đã có cảm nghĩ về tương lai Việt Nam như sau: “… Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp Trung Cộng, có thể nói rằng trong dịp Tết này, Trung Cộng nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng … Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác Trung Cộng mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy? … Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Tóm lại, với chế độ thực dân mới của Trung Cộng, với những chính sách mà Trung Cộng đã áp dụng tại Việt Nam, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì chỉ vài chục năm nữa, Việt Nam sẽ có cả chục triệu người Tầu hoặc người Việt gốc Tầu (Tầu lai). Loại dân này sẽ trở thành một thứ kiêu dân, nếu không trực tiếp nắm quyền chính trị thì cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, bọn kiêu dân này còn có những hoạt động ưu thế về kinh tế và tài chánh (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…cho vay lãi, kim cương, vàng bạc…) và có thể còn có cả những cơ quan truyền thông, báo chí, điện ảnh giống như  người Do Thái ở Đức trước đệ Nhị Thế Chiến và người Do Thái bây giờ tại Mỹ. Họ (Do Thái) sống cả ngàn năm ở Âu Châu, nhưng vẫn giữ tôn giáo riêng, phong tục tập quán riêng, không thèm hội nhập vào dòng văn hoá chính. Do đó, Trung Cộng cũng chẳng cần chiến tranh, chỉ sau vài thập niên nữa, Việt Nam nếu không trở thành quận huyện của Trung Quốc thì cũng sẽ trở thành một nước chư hầu tuyệt đối trung thành với mẫu quốc là Trung Cộng..

Đây cũng là điều mong muốn của bọn Việt Cộng bán nước. Chính Tố Hữu, một nhà thơ Việt Cộng đã có thời kỳ làm Phó Thủ Tướng ngụy quyền Việt Cộng (1981-1986) đã nói:

Bên này biên giới là nhà,

Bên kia biên giới cũng là quê hương.

Chỉ khi nào chế độ cộng sản Trung Quốc tan rã như Liên Sô, lúc đó chế độ cộng sản Việt Nam sẽ tan rã theo và Việt Nam mới mong thoát khỏi bàn tay của lông lá của TC. Mong rằng lời nói của bà Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton trong một cuộc phỏng vấn dành riêng cho tờ The Atlantic như sau, sẽ thành sự thật: Chế độ của Trung Quốc chắc chắn sẽ sụp đổ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc giờ đây đang làm “những việc vô ích như những gã hề”.

CHỦ NGHĨA THỰC DÂN MỚI CỦA TRUNG CỘNG

VÀ TƯƠNG LAI CỦA VIỆT NAM

Lê Duy San

Chủ nghĩa thực dân là một chủ nghĩa nhằm chiếm đoạt lãnh thổ của nước khác để cai trị, ngõ hầu dễ dàng chiếm đoạt tài nguyên của nước bị trị cũng như dễ dàng bóc lột nguồn lao động của dân bản xứ nhằm làm giầu cho nước mình.

Người ta thường nghĩ rằng chủ nghĩa thực dân phát xuất từ Âu Châu vào thế kỷ 12, 13 khi người Bồ Đào Nha và các nước khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Hòa Lan v.v. bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại xa xôi như Phi Châu, Mỹ Châu, Á Châu và Úc Châu. Thực ra thì trước đó, từ lâu, người Trung Hoa cũng đã thi hành chủ nghĩa này, nhưng chỉ để xâm chiếm những nước chung quanh. Bằng cớ là ngay từ thời Việt Nam lập quốc (2879 trước tây lịch) nước ta đã bị người Tầu (đời nhà Hán) xâm chiếm và lập thành quận huyện của họ để đô hộ.

Chủ nghĩa thực dân mỗi ngày một thịnh vượng và kéo dài tới đệ II Thế Chiến (1939-1945) thì bắt đầu suy thoái và tới giữa thập niên 50 (1954) thì được coi là chấm dứt và thay vào đó là việc các nước lớn và mạnh dùng ảnh hưởng kinh tế của mình để can thiệp vào nội tình chính trị của nước khác, nhỏ và yếu, để giành thị trường tiêu thụ mà người ta gọi đó là chủ nghĩa thực dân mới.

Trước năm 1975,  người Mỹ đã dùng sức mạnh kinh tế của mình nhưng không phải là để mở rộng thị trường tiêu thụ ở Việt Nam,  mà là dùng Việt Nam Cộng Hòa làm tiền đồn để ngăn chặn làn sóng đỏ (cộng sản) từ phương Bắc. Nhưng chính sách này đã bị một số trí thức thân Cộng thời đó gọi là “chủ nghĩa thực dân mới” và một số người vô ý thức thì gọi quân đội Việt Nam Cộng Hòa là bọn lính đánh thuê cho Hoa Kỳ. Thực ra chính Liên Sô và Trung Cộng mới chính là bọn thực dân mới và chính quân đội nhân dân của ngụy quyền cộng sản Hà Nội mới là bọn lính đánh thuê cho Nga Tầu. Thực vậy, bọn Nga, Tầu đã dùng chủ nghĩa Mác Lê tức chủ nghĩa cộng sản để, không những chiếm đoạt đất đai, chiếm đoạt thị trường (với chủ trương vô tổ quốc) mà còn sai khiến luôn cả ngụy quyền Hà Nội với chiêu bài thi hành nghĩa vụ quốc tế để toan tính nhuộm đỏ toàn thể thế giới.

I/ Hình thức chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng được áp dụng tại VN như thế nào ?

Sau năm 1990, các nước cộng sản Nga Sô và Đông Âu tan rã, chỉ còn 4 nước theo chủ nghĩa cộng sản là Trung Cộng, Bắc Hàn, Việt Nam và Cu Ba. Nhưng chỉ có Trung Cộng là hùng mạnh, nhờ vào sự chấm dứt chính sách thù nghịch của Mỹ và thay vào đó là sự bình thường hóa quan hệ Mỹ Trung. Việt Nam thì nợ nần Trung Cộng quá nhiều vì tham vọng thôn tính miền Nam Việt Nam nên đã bị Trung Cộng dùng chủ nghĩa này chi phối và lấn áp mọi mặt.

Để áp dụng chủ nghỉa thực dân mới này, Trung Cộng đã áp dụng những chính sách sau tại Việt Nam và một số các nước nghèo đói, chậm tiến trên thế giới:

1/ Xâm chiếm lãnh thổ.

Mặc dầu đi xâm chiếm lãnh thổ của nước khác để nhập vào lãnh thổ của mình, ngày nay đã bị thế giới lên án nặng nề. Nhưng bọn bành trướng Trung Cộng cậy có sức mạnh, cậy có dân đông (trên 1.3 tỷ người), cậy có tiền bạc nhiều, cũng vẫn làm nếu chúng có thể làm được. Điển hình là chúng đã thôn tính Tây Tạng, Nội Mông. Đối với Việt Nam, chúng đã lấn chiếm ải Nam Quan, thác Bản Giốc, hàng chục ngàn cây số vuông giáp ranh với Trung Cộng, cũng như Hoàng Sa, Trường Sa và hàng trăm ngàn cây số vuông lãnh hải của Việt Nam.

Nếu nơi nào mà bọn bành trướng Trung Cộng không lấn chiếm được, chúng dùng tiền nói là để thuê như chúng đã thuê mướn nhiều nơi thuộc 9 tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam để trồng cây kỹ nghệ, 1 tỉnh thuộc miền cao nguyên Trung phần của Việt Nam để khai thác quặng bô-xít và nhiều nơi thuộc những tỉnh miền Nam để xây những khu phố Tầu (khu thương mại) trong thời hạn 50 năm. Trung Cộng cũng bỏ tiền của ra mua hoặc thuê mướn đất ở nhiều nước ở Châu Phi và Châu Mỹ LaTinh để tìm kiếm những quặng mỏ mà Trung Cộng có nhu cầu. Hậu quả của việc thuê mướn này rất là tai hại không những về kinh tế, kỹ nghệ mà cả về chính trị và xã hội cho nước bị lấn chiếm hay cho thuê mướn..

2/ Dùng chủ nghĩa cộng sản, dùng kỷ luật Đảng Cộng  Sản và dùng tài chánh để sai khiến nước khác.

Việt Nam cũng là một nước theo chủ nghĩa cộng sản như Trung Cộng nhưng lại là một nước nhỏ và nợ nần Trung Cộng nhiều, sau 20 năm chiến tranh. Do đó, đảng Cộng sản Việt Nam được coi như một đảng cộng sản đàn em, một chi nhánh của đảng Cộng sản Trung Quốc, nhất nhất mọi sự đều phải theo lệnh của đảng Cộng sản Trung Quốc. Chính tướng Việt Cộng là Nguyễn Trọng Vĩnh cũng đã thú nhận: “Tôi nói rồi, bất kỳ người nào lên lãnh đạo Trung Quốc họ cũng đều lấn át chúng tôi cả. Họ đều thực hành chủ nghĩa bành trướng, bá quyền đối với chúng tôi thôi. Còn phía lãnh đạo của chúng tôi, tôi còn theo dõi, thế mà từ trước đến nay họ không hề cãi gì với Trung Quốc cả.”

Đối với những nước không theo chế độ cộng sản nhưng nghèo đói như những nước ở Phi Châu, Châu Mỹ La Tinh, Trung Cộng đã dùng tiền bạc thuê mướn đất đai dài hạn, mua chuộc chính quyền địa phương và truyền cấy chủ nghĩa cộng sản.

3/ Di dân.

Mặc dầu Trung Cộng thuê mướn đất đai để khai thác quặng mỏ, xây cất các nhà máy, cơ xưởng, nhưng Trung Cộng không thuê mướn các công nhân bản xứ mà đem, không những các chuyên viên tới mà cả công nhân Trung Cộng cùng gia đình của họ từ Trung Cộng tới.

Trung Cộng áp lực Việt Nam phải chấp nhận để cho dân Trung quốc tự do nhập cảnh vào Việt Nam. Họ không những không cần hộ chiếu mà ngay cả giấy tờ tùy thân cũng không bị đòi hỏi. Lợi dụng tình trạng này, nhiều người Trung Cộng đã sang Việt Nam làm ăn, sinh sống và buôn bán một cách bất hợp pháp.

Tại phiên thảo luận về dự án luật nhập cảnh, xuất cảnh và cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam chiều 28/11/2013, các đại biểu Quốc hội cộng sản Việt Nam đã nêu lên một vấn đề rất đáng lo ngại, lao động nước ngoài, đông nhất là từ Tàu, nhập cư vào Việt Nam, đang “lập xóm, lập làng, lập phố Tầu ở một vài địa phương”.

II/ Hậu quả chủ nghĩa thực dân mới của Trung Cộng.

1/ Hậu quả về kinh tế và xã hội       

Với 3 chính sách trên: xâm chiếm đất đai để khai thác, chi phối chính quyền địa phương, và di dân, bọn Tầu chỉ cốt làm sao cho được càng nhiều lợi càng tốt. Chúng không cần biết những hậu quả tai hại gì sẽ xẩy ra cho môi trường, cho dân chúng địa phương. Nơi nào chúng tính chuyện lâu dài, thì chúng cho nhân công của chúng đem vợ con tới sinh sống, làm ăn buôn bán và lập nghiệp. Với những hàng hoá dư thừa hoặc không đủ tiêu chuẩn bị ngoại quốc trả về, chúng mang vào Việt Nam bán với giá rẻ như bèo. Thử hỏi hàng hoá Việt Nam nào cạnh tranh nổi ? Rút cuộc các xí nghiệp sản xuất của Việt Nam xạt nghiệp và Việt Nam trở thành thị trường tiêu thụ của Trung Cộng.

Không những làm ăn buôn bán, những nhân công nào chưa có gia đình thì lấy người Địa phương và sinh con đẻ cái, dần dần chúng trở thành người Việt gốc Hoa, nhưng phong tục tập quán của người Hoa thì chúng vẫn giữ. Đây chính là phương pháp trồng người của bọn chúng.

Tại một thị trấn tại Lào, thị trấn Boten, không những tiếng Hoa được dùng hoàn toàn trong việc buôn bán mà cả trong lãnh vực hành chánh. Đồng Nhân Dân tệ của Trung Cộng cũng được dùng thay cho tiền Lào. Giờ giấc cũng chạy theo giờ Bắc Kinh. Rồi Việt Nam cũng sẽ tiến tới như vậy.  Tới lúc đó thì dù hợp đồng thuê mướn đã mãn hạn, cũng không thể nào mà trục xuất họ về nước được .

2/ Hậu quả về chính trị.

Với cái thái độ nhu nhược và hèn nhát của ngụy quyền Hà Nội như chúng ta đã thấy trong những vụ ngư dân Việt Nam đánh cá trong những vùng biển Việt Nam bị tầu Trung Quốc chận bắt. Không những cá của ngư dân Việt Nam bị cướp mà cả người lẫn thuyền cũng bị chúng bắt giữ và đòi tiền chuộc mà bọn ngụy quyền Hà Nội cũng không dám phản đối thì thử hỏi còn đâu là chủ quyền của một nước ?

Công an Việt Cộng hầu như không có thẩm quyền đối với những vụ tranh chấp giữa các nhân công Trung Cộng và người Việt Nam. Công nhân Trung Cộng không coi luật pháp Việt Nam ra gì cả. Chúng coi như vùng chúng ở là vùng tự trị của chúng. Chúng ăn uống, nhậu nhẹt tại các quán ăn của người Việt Nam có khi không những không trả tiền mà còn đập phá. Nếu chủ quán Việt Nam mà mạnh tay với chúng là có chuyện. Chúng kéo cả bọn mang gậy gộc, dao búa tới đập phá và đánh đập chủ quán và thân nhân của họ rất dã man mà công an Viêt Nam cũng bó tay, không dám can thiệp. Mới tới có ít lâu mà bọn chúng còn như vậy thì thử hỏi sau khi bọn chúng đã ở được vài ba chục năm, bọn chúng còn lộng hành đến đâu ?

Mới đây, vào dịp Tết Bính Thân 2016, bà Tuyết Hương về thăm Việt Nam đã có cảm nghĩ về tương lai Việt Nam như sau: “… Ở Đà Nẵng, đi đâu cũng gặp Trung Cộng, có thể nói rằng trong dịp Tết này, Trung Cộng nhiều hơn người Việt tại thành phố Đà Nẵng … Có thể nói trong dịp Tết này, cảm giác Trung Cộng mới là chủ nhân thực sự của dải đất hình chữ S này chứ không phải là người Việt Nam. Sao lại có chuyện kì cục như vậy? … Thử nghĩ, tương lai Việt Nam sẽ về đâu với chứng sốt rét tâm hồn của đại bộ phận nhân dân? Và tội lỗi này do đâu mà có? Liệu có còn tương lai để chúng ta nói rằng đến một ngày nào đó lịch sử sẽ phơi bày ra ánh sáng ai công ai tội khi mà nguy cơ bị xóa sổ một dân tộc đang rất cận kề bởi kẻ địch không cần tốn viên đạn nào, họ chỉ cần đứng nhìn chúng ta chết dần chết mòn trong chứng sốt rét tâm hồn và lăn ra chết?

Tóm lại, với chế độ thực dân mới của Trung Cộng, với những chính sách mà Trung Cộng đã áp dụng tại Việt Nam, nếu chế độ cộng sản Việt Nam còn tồn tại thì chỉ vài chục năm nữa, Việt Nam sẽ có cả chục triệu người Tầu hoặc người Việt gốc Tầu (Tầu lai). Loại dân này sẽ trở thành một thứ kiêu dân, nếu không trực tiếp nắm quyền chính trị thì cũng có ảnh hưởng rất mạnh đối với chính quyền Việt Nam. Ngoài ra, bọn kiêu dân này còn có những hoạt động ưu thế về kinh tế và tài chánh (ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán…cho vay lãi, kim cương, vàng bạc…) và có thể còn có cả những cơ quan truyền thông, báo chí, điện ảnh giống như  người Do Thái ở Đức trước đệ Nhị Thế Chiến và người Do Thái bây giờ tại Mỹ. Họ (Do Thái) sống cả ngàn năm ở Âu Châu, nhưng vẫn giữ tôn giáo riêng, phong tục tập quán riêng, không thèm hội nhập vào dòng văn hoá chính. Do đó, Trung Cộng cũng chẳng cần chiến tranh, chỉ sau vài thập niên nữa, Việt Nam nếu không trở thành quận huyện của Trung Quốc thì cũng sẽ trở thành một nước chư hầu tuyệt đối trung thành với mẫu quốc là Trung Cộng..

Đây cũng là điều mong muốn của bọn Việt Cộng bán nước. Chính Tố Hữu, một nhà thơ Việt Cộng đã có thời kỳ làm Phó Thủ Tướng ngụy quyền Việt Cộng (1981-1986) đã nói:

Bên này biên giới là nhà,

Bên kia biên giới cũng là quê hương.