Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười 2018
T2T3T4T5T6T7CN
1 2 3 4 5 6 7
8 9 10 11 12 13 14
15 16 17 18 19 20 21
22 23 24 25 26 27 28
29 30 31        
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 11380509

 
Vietnam News in English 18.10.2018 17:24
Vì sao Mỹ làm ngơ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa? Nhìn lại hải chiến sau 44 năm
08.02.2018 09:39

(TNO) - Mỹ đã cố ý phớt lờ để mặc cho Trung Quốc tấn công quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa vào năm 1974 vì đã đoán trước là VNCH sẽ thất bại trước miền Bắc, theo nhận định của các chuyên gia quân sự phương Tây.

Vì sao Mỹ làm ngơ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa? 1
Sau khi bắt tay với Trung Quốc….

Theo bản tin của tờ New York Times (Mỹ) đăng ngày 21.1.1974, mặc dù đã bại trận trước Trung Quốc trong cuộc đụng độ ở quần đảo Hoàng Sa ngày 19.1.1974, nhưng chính quyền VNCH vẫn không thừa nhận thất bại và đã lên án hành động xâm phạm chủ quyền của Bắc Kinh lên Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc.

Sau khi đã chiếm được Hoàng Sa vào ngày 19.1.1974, Bắc Kinh đã điều động 43 chiến hạm đến quần đảo này để đề phòng VNCH phản công.

Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho 4 phi đội tiêm kích F-5 bay từ Biên Hòa ra Đà Nẵng (mỗi phi đội có 24 tiêm kích) kết hợp với 1 phi đội ở Đà Nẵng để chuẩn bị giành lại Hoàng Sa.

Nhưng lệnh tác chiến không được ban ra, dù các phi công đều đã tuyên bố sẵn sàng chết để giành lại lãnh thổ đất nước.

Chính quyền Tổng thống Thiệu cũng đã nhiều lần thông báo tình hình trận Hoàng Sa với Đại sứ quan Mỹ nhưng Washington không hề có động thái hỗ trợ gì.

Vì sao Mỹ làm ngơ để Trung Quốc chiếm Hoàng Sa? 2
… Mỹ đã bỏ rơi đồng minh VNCH - Ảnh: Tư liệu

Mỹ làm lành với Trung Quốc, bỏ rơi VNCH

Tháng 2.1972, Tổng thống Mỹ Richard Nixon đã gặp gỡ Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông tại Bắc Kinh.

Sau cuộc gặp này, Mỹ và Trung Quốc đã cùng đưa ra tuyên bố chung phản đối "bá quyền" tại châu Á - Thái Bình Dương, theo tài liệu của Đại sứ quán Mỹ trên Tạp chí điện tử của Bộ Ngoại giao Mỹ hồi tháng 4.2006.

Đến năm 1973, Bắc Kinh và Washington mở “văn phòng liên lạc” ở thủ đô mỗi nước, chẳng khác gì đại sứ quán ngoại trừ cái tên, được cho là nhằm bình thường hóa quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc.

Ngoài việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Mỹ đã ký kết Hiệp định Paris cũng trong năm 1973, chấp nhận rút quân khỏi miền Nam Việt Nam, một động thái cho thấy Washington đã tiên liệu được rằng miền bắc Việt Nam sẽ chiến thắng, nên không can dự đến vấn đề tranh chấp chủ quyền của VNCH.

BBC hồi tháng 10.2011 dẫn các tài liệu mật của Bộ Ngoại Mỹ cho biết sau trận hải chiến Hoàng Sa, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng liên quân Mỹ, từng báo cáo với Ngoại trưởng Mỹ lúc bấy giờ là ông Henry Kissinger rằng: "Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa, Hoàng Sa và các đảo khác có cùng vấn đề - đó là vùng lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó".

"Mỹ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này", Ngoại trưởng Kissinger nói trong cuộc gặp với ông Hàn Tự, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Trung Quốc tại Washington, vào ngày 23.1.1974.

Mặc dù Mỹ nói không can dự vào trận chiến Hoàng Sa, nhưng Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) đã theo sát tình hình ở Hoàng Sa, cập nhật tình hình mỗi ngày, theo bài viết nhan đề “CIA theo dõi sát trận Hoàng Sa 1974” do BBC đăng tải ngày 30.12.2013.

Các nhà quan sát cho rằng do mới “làm lành” với Trung Quốc và cũng không muốn xích mích với Bắc Kinh nên Washington đã “án binh bất động” trong trận hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

VNCH bị Mỹ gây áp lực

“Chừng nào còn một hòn đảo thuộc phần lãnh thổ ấy của VNCH bị nước ngoài chiếm giữ bằng bạo lực thì chừng ấy Chánh phủ và nhân dân VNCH còn đấu tranh để khôi phục những quyền lợi chánh đáng của mình”, chính quyền VNCH ra tuyên cáo vào ngày 14.2.1974 sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa.

Tuy nhiên, chính quyền Tổng thống Thiệu đã không ra lệnh cho chiến đấu cơ xuất kích để oanh tạc tàu chiến Trung Quốc, dù rằng với thực lực F-5 lúc bấy giờ có thể giúp VNCH giành lại được Hoàng Sa từ tay Trung Quốc.

Nhiều tài liệu quốc tế cho rằng chính Mỹ đã gây áp lực để chính quyền ông Thiệu không ra lệnh xuất kích vì không muốn đụng chạm đến Trung Quốc, lo ngại điều này sẽ làm ảnh hưởng đến kế hoạch rút quân của Mỹ.

Nhưng Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hoàng Sa năm 1974. Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường XHCN. Việc Washington “làm ngơ” cho Trung Quốc ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa tạo ra sự thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến sự chia rẻ giữa các nước cộng sản.

Sự thật là cho đến nay, giữa Trung Quốc và Việt Nam vẫn còn.

Hoàng Sa 1974: Chính phủ Mỹ nói gì?

(BBC) – Ngày 19/1/1974 đánh dấu sự kiện Trung Quốc dùng vũ lực kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa.


Hình chụp ngày 19/1/2017, khi diễn ra một cuộc tuần hành
kỷ niệm sự kiện 1974 của người dân ở Hà Nội

Dựa theo các tài liệu đã giải mật của Hoa Kỳ, BBC tóm lược các phản ứng của chính phủ Mỹ ngay tại thời điểm sự kiện vừa diễn ra. Nhiều thông tin, quan điểm có thể đã bị những cứ liệu sau này vượt qua, nhưng thông tin dưới đây phản ánh cái nhìn trong chính phủ Mỹ tại thời điểm năm 1974:

18/1/1974:

Cơ quan tình báo Mỹ CIA gửi báo cáo nói Trung Quốc và Nam Việt Nam “có thể đã đụng độ” ngày 16/1 vì Trung Quốc chiếm đảo Cam Tuyền trong khu vực Hoàng Sa.

“Phía Nam Việt Nam cũng nói rằng Trung Quốc đã đổ bộ lên hai đảo khác trong Nhóm Nguyệt Thiềm của Hoàng Sa.”

Tài liệu của CIA ghi nhận Bắc Kinh và Sài Gòn đều đòi chủ quyền Hoàng Sa, và có sự hiện diện quân sự tại đây từ giữa thập niên 1950. Trung Quốc chiếm Nhóm Tuyên Đức ở phía bắc, còn Nam Việt Nam chiếm Nhóm Nguyệt Thiềm ở phía nam.

Báo cáo của CIA nhắc lại trước đó Bắc Kinh và Sài Gòn chỉ duy nhất một lần va chạm vào năm 1959 khi “phía Nam Việt Nam bắt giữ các ngư dân Trung Quốc ở Nhóm Nguyệt Thiềm”.

“Việc quan tâm trở lại về sở hữu các đảo có thể xuất phát từ triển vọng tìm thấy dầu trên đảo hoặc vùng nước xung quanh,” CIA nói.


Bản đồ quần đảo Hoàng Sa trong một báo cáo của CIA tháng Ba 1974

21/1/1974:

Sau khi Trung Quốc đã kiểm soát được toàn bộ Hoàng Sa, báo cáo của CIA ngày 21/1 thừa nhận thông tin về diễn biến cuộc đụng độ vẫn “vô cùng sơ sài”.

Báo cáo này phân tích căng thẳng bắt đầu từ tuyên bố tháng Chín 1973 của Nam Việt Nam khẳng định chủ quyền ở quần đảo Trường Sa.

“Ban đầu Bắc Kinh bỏ qua tuyên bố này, nhưng đến ngày 11/1, họ phản ứng bằng tuyên bố bộ ngoại giao tái khẳng định chủ quyền ở Trường Sa, Hoàng Sa và Bãi Macclesfield.”

“Lần đầu tiên, Bắc Kinh cũng chính thức đòi chủ quyền với “tài nguyên tự nhiên ở vùng biển xung quanh” các đảo.”

“Cùng lúc này, Trung Quốc cũng đưa một số ngư dân đến Nhóm Nguyệt Thiềm, nơi mà theo phía Nam Việt Nam, những người này dựng lều và cắm cờ Trung Quốc.”

“Vào lúc này, Sài Gòn chuyển hướng chú ý từ Trường Sa sang Hoàng Sa.”

Báo cáo nói Sài Gòn đưa hải quân ra Nhóm Nguyệt Thiềm, khiến các ngư dân Trung Quốc phải rút đi.

CIA nói Trung Quốc “rõ ràng đã có chuẩn bị” cho diễn biến này.

“Sau khi Nam Việt Nam bắn vào ngư dân Trung Quốc trên đảo Quang Hòa ngày 16/1, Trung Quốc đưa các đơn vị quân đội hướng về nam, can thiệp bằng lực lượng bộ binh và hải quân khá lớn, cùng với không kích,” CIA viết.

23/1/1974:

Tại trụ sở bộ ngoại giao Mỹ, Ngoại trưởng Henry Kissinger gặp ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Washington.

Ông Kissinger nói chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đang đưa nhiều thư phản kháng lên các tổ chức quốc tế như SEATO và LHQ.

“Chúng tôi không dính líu đến các phản kháng đó,” Ngoại trưởng Kissiger nói.

Ông nói thêm: “Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này.”

25/1/1974:

Tại một cuộc họp khác, Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân, báo cáo: “Chúng ta đã tránh xa vấn đề.”

Ngoại trưởng Kissinger hỏi lại: “Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?”

Đô đốc Moorer trả lời: “Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề – đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó.”

Ông Kissinger hỏi “Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?”

Đô đốc Thomas H. Moorer mô tả: “Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm.

“Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.

“Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui.”

Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: “Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?”

William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: “Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào.”

Ông William Smyser, từ Hội đồng An ninh Quốc gia, nói thêm: “Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực.”

Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:

“Ngoại trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?

Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.

Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.

Ông Clements [Thứ trưởng Quốc phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.

Đô đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy.”

Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: “Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực.”

28/1/1974:

Bộ Ngoại giao Mỹ gửi điện cho tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn, nói rằng có một bản tin của UPI viết các tàu chiến Nam Việt Nam đã “bao vây” Hoàng Sa, sau khi đã bị mất đảo về tay Trung Quốc.

Bức điện nói “lo lắng sâu sắc về rủi ro phía Việt Nam bày tỏ giận dữ về Hoàng Sa bằng hành động quân sự phi lý với Trung Quốc”.

Bức điện yêu cầu Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn “kiềm chế” chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. 

Hồ sơ ngoại giao Mỹ về Hải chiến Hoàng Sa

 Bàn cờ nước lớn

hủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai (trái) đãi tiệc Tổng thống Mỹ Richard Nixon (giữa) trong chuyến thăm lịch sử năm 1972 - Ảnh: Corbis
hủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai (trái) đãi tiệc Tổng thống Mỹ Richard Nixon (giữa) trong chuyến thăm lịch sử năm 1972 – Ảnh: Corbis

Câu hỏi liệu có sự thông đồng giữa Trung Quốc và Mỹ trong việc Bắc Kinh đánh chiếm Hoàng Sa vào tháng 1.1974 vẫn là vấn đề chưa có câu trả lời dứt khoát sau 40 năm. Tuy nhiên, mối quan hệ mới được vun đắp giữa hai nước vào lúc đó cũng như thái độ của Mỹ trong vấn đề Hoàng Sa chắc chắn góp phần khuyến khích Trung Quốc mạnh dạn thôn tính trọn vẹn quần đảo của Việt Nam.

Các hồ sơ ngoại giao của Mỹ được giải mật trong thời gian qua gợi ý Washington đã chủ động bỏ rơi và gây sức ép buộc Việt Nam Cộng hòa (VNCH) không được “manh động” trong vấn đề Hoàng Sa nhằm bảo vệ “thời kỳ trăng mật” trong quan hệ với Trung Quốc.

Như một sự trớ trêu, Liên Xô lại là một trong những quốc gia tỏ ra thông cảm với VNCH trong vụ Hoàng Sa, qua việc chỉ trích Trung Quốc, dù chỉ để phục vụ mục đích tuyên truyền chống Bắc Kinh vào lúc đó. Ngược lại, bằng một thái độ lạnh nhạt, Washington và các đồng minh đã cố gắng thuyết phục Sài Gòn không đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc.

Thái độ của Mỹ trong vấn đề Hoàng Sa đã được một đại diện ngoại giao Liên Xô tại Liên Hiệp Quốc mô tả bằng một câu nói mỉa mai rằng Washington đang bối rối trong việc lựa chọn ủng hộ “đồng minh cũ và người bạn mới”.

Bối cảnh quốc tế

Hải chiến Hoàng Sa cần phải đặt trong bối cảnh những rạn nứt quan hệ Liên Xô – Trung Quốc. Quan hệ Xô – Trung trong thập niên 1960 bị phủ bóng bởi những bất đồng sâu sắc về tình trạng của khu vực Ngoại Mông cũng như nhiều tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới sau vụ “đoạn giao” năm 1960.

Cuộc đụng độ ở biên giới năm 1969 mang lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) niềm tin rằng họ có thể chống trả Hồng quân Liên Xô. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Mỹ, với cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon vào tháng 2.1972. Sau chuyến thăm của Nixon, Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông đã ra lệnh tiến hành chương trình hiện đại hóa quân đội lớn, kêu gọi phát triển hải quân viễn dương, cũng như tiếp tục mở rộng việc phòng thủ bờ biển. Điều này mang lại cho hải quân Trung Quốc phương tiện cần thiết để tiến xuống biển Đông. Trong khi đó, Mỹ đã rút quân khỏi miền Nam Việt Nam theo hiệp định Paris ký kết tháng 1.1973.

Trong bối cảnh cuộc chiến Việt Nam sắp đi vào hồi kết, Bắc Kinh đã quyết định đánh chiếm Hoàng Sa ngay trước khi Việt Nam thống nhất. Việc Bắc Kinh lên kế hoạch kỹ càng cho việc tiến chiếm Hoàng Sa cũng được ghi nhận trong một bức điện tín được Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin gửi về cho Bộ Ngoại giao Mỹ vào ngày 20.1.1974, một ngày sau khi hải chiến nổ ra: “Rõ ràng, Trung Quốc không đơn giản tăng viện lực lượng ở Hoàng Sa mà đang tiến hành một kế hoạch chuẩn bị kỹ lưỡng nhằm chiếm quần đảo”. Chính vì việc này, ông Martin đã đề nghị Washington hãy cân nhắc gây sức ép lên Bắc Kinh và đẩy mạnh các bước đi trong lĩnh vực ngoại giao. Tuy nhiên, Bộ Ngoại giao Mỹ khi đó có vẻ như bận rộn bảo vệ mối quan hệ với Trung Quốc hơn là với một đồng minh hết thời.

Thái độ của Mỹ

Tháng 11.1973, Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger công du Trung Quốc và có các cuộc mật đàm với Thủ tướng Trung Quốc Chu n Lai. Trước đó, vào tháng 2.1973, hai nước đã tuyên bố thiết lập văn phòng liên lạc. Khi tình hình biển Đông căng thẳng vào tháng 12.1973, Đại sứ quán Mỹ tại Singapore đã gửi điện tín cho Bộ Ngoại giao Mỹ hỏi về lập trường của chính phủ trong các tranh chấp tại khu vực. Bộ Ngoại giao Mỹ đã gửi điện tín cho các đại sứ quán và văn phòng liên lạc ở VNCH, Singapore, Philippines, Đài Loan và Trung Quốc rằng lập trường của Washington là không đứng về bên nào trong các tuyên bố chủ quyền tại đây. Quan điểm này được tái xác nhận trong các cuộc họp ngày 25.1.1974 và 31.1.1974 của nhóm hành động đặc biệt do Kissinger đứng đầu. Theo đó, phía Mỹ sẽ tránh xa những tranh chấp ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Trước đó, ngày 11.1.1974, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã đơn phương tuyên bố chủ quyền với quần đảo Hoàng Sa. Ngay sau đó, ngày 12.1, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao VNCH đã cực lực bác bỏ những tuyên bố vô căn cứ của Trung Quốc. Ngày 16.1, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc của VNCH ra tuyên bố tố cáo Trung Quốc cử người và tàu bè đến vùng biển xung quanh các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa và Duy Mộng, vi phạm trắng trợn chủ quyền của VNCH. Sau khi Hải chiến Hoàng Sa nổ ra vào ngày 19.1, Đại sứ Mỹ Martin ngày 20.1 đã gửi điện tín báo cáo về Bộ Ngoại giao cho biết họ đã tức tốc đề nghị các quan chức VNCH hãy kiềm chế, tránh hành động leo thang và khẳng định quân đội Mỹ sẽ không hề can thiệp trong bất kỳ tình huống nào. Bộ Ngoại giao Mỹ trước đó thông báo cho các đại sứ quán của Mỹ rằng họ đã yêu cầu Bộ Quốc phòng chỉ thị cho hải quân tránh xa khu vực.

Trong cuộc gặp với quyền trưởng Văn phòng Liên lạc Trung Quốc ở Washington Hàn Tự ngày 23.1.1974, Kissinger đã đề nghị Bắc Kinh xem xét trường hợp của nhân viên người Mỹ Gerald Emil Kosh bị bắt giữ trong trận chiến và khẳng định Mỹ không ủng hộ tuyên bố chủ quyền của VNCH với Hoàng Sa.

“Chính quyền Nam Việt Nam đang gửi một số kiến nghị đến các tổ chức quốc tế như SEATO cũng như Liên Hiệp Quốc. Chúng tôi muốn các ông biết rằng chúng tôi không liên kết với những kiến nghị đó”, Kissinger phát biểu, theo một biên bản được giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ

Kỳ 2: Hoàng Sa ở Hội đồng Bảo an LHQ

Giới chức ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã xúc tiến các nỗ lực đưa vấn đề Hoàng Sa ra các tổ chức quốc tế, song bất thành.

Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin - Ảnh: Digital Journalist
Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn Graham Martin – Ảnh: Digital Journalist

Trong điện tín gửi về Bộ Ngoại giao ngày 20.1.1974, Đại sứ Mỹ Graham Martin cho biết Ngoại trưởng Vương Văn Bắc của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã gặp ông để thảo luận về “tình hình rất nghiêm trọng” tại quần đảo Hoàng Sa. Theo đó, chính quyền Sài Gòn đã kết luận rằng việc sử dụng biện pháp quân sự, kể cả không quân, để tái chiếm Hoàng Sa là không khả thi trước sự vượt trội về sức mạnh của quân Trung Quốc. Do vậy, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã chỉ thị cho ông Bắc thực hiện một số bước đi ngoại giao để bảo vệ chủ quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa.

“Ông Bắc nói với tôi rằng trong tình huống nghiêm trọng này, Tổng thống Thiệu cảm thấy ông cần phải kêu gọi sự giúp đỡ của Mỹ, người bạn và đồng minh thân thiết nhất của VNCH. Ông hy vọng Mỹ sẽ ủng hộ các sáng kiến ngoại giao khác nhau mà VNCH dự định tiến hành”, ông Martin viết.

Nỗ lực ngoại giao

Cụ thể, theo ông Martin, các bước đi mà Sài Gòn dự định thực hiện gồm: thông báo cho Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc (LHQ) và Tổng thư ký LHQ về cuộc tấn công của Trung Quốc ở Hoàng Sa; kiến nghị đến Hội đồng Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO); cân nhắc đưa tranh chấp ra Tòa án Công lý Quốc tế. Ngoài ra, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc cũng được lệnh thông báo sự việc cho các bên ký kết Định ước của Hội nghị quốc tế về Việt Nam (định ước đảm bảo việc thực thi Hiệp định Paris), với lý do Trung Quốc, một thành viên ký kết định ước, đã vi phạm Hiệp định Paris, vốn quy định mọi quốc gia phải tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Ngoại trưởng Bắc cũng triệu tập ngoại giao đoàn để thông báo về tình hình và đề nghị chính phủ các nước ủng hộ VNCH.

Ngày 20.1.1974, VNCH đã chính thức gửi thư đến Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ, yêu cầu triệu tập cuộc họp khẩn của Hội đồng Bảo an để xem xét hành động xâm lược của Trung Quốc “nhằm thực hiện các hành động khẩn cấp để sửa chữa tình hình và chấm dứt việc xâm lược”. Tuy nhiên, các nhà ngoại giao Mỹ tại Hội đồng Bảo an tỏ ra bi quan về việc đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an bởi Trung Quốc vốn là một thành viên thường trực của cơ quan này trong khi VNCH chỉ là quan sát viên của LHQ và tư cách đại diện còn là vấn đề gây tranh cãi.

Đại sứ Mỹ tại LHQ John A. Scali nhận định trong một bức điện gửi cho Bộ Ngoại giao Mỹ trước đó: “Dự định đưa vấn đề Hoàng Sa ra Hội đồng Bảo an sẽ gây ra rắc rối rõ ràng và nghiêm trọng cho chúng ta. Phía Việt Nam có vẻ như không có cơ hội đạt được một quyết định thuận lợi từ Hội đồng Bảo an và có ít triển vọng đạt được bất kỳ lợi thế nào”.

“Tình thế của chúng ta sẽ cực kỳ bất tiện ngay cả khi Việt Nam có quyền hợp pháp hiển nhiên với quần đảo tranh chấp. Trong tình cảnh hiện tại, chúng ta sẽ tìm cách trì hoãn tiến trình của Hội đồng Bảo an. Điều này sẽ giúp phái bộ VNCH có thời gian thăm dò trực tiếp các thành viên Hội đồng Bảo an và báo cáo kết quả về cho Sài Gòn”, đại sứ Mỹ tại LHQ John A. Scali viết.

Kết quả bất lợi

Cuộc tham vấn các thành viên Hội đồng Bảo an của Chủ tịch Hội đồng Bảo an người Costa Rica Gonzalo J. Facio mang lại kết quả bất lợi cho VNCH. Các nước như Pháp, Úc và Áo đều tỏ ra nghi ngờ về ích lợi của việc ra tuyên bố về vấn đề Hoàng Sa trong khi Iraq và Indonesia đặt câu hỏi về việc ai là đại diện hợp pháp của Việt Nam tại Hội đồng Bảo an, theo tường thuật của ông Facio.

Indonesia là nước đã công khai ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa. Peru thì thắc mắc về việc liệu một bên không phải là thành viên của LHQ có thể đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an hay không. Đáng chú ý đại sứ Liên Xô tại LHQ Yakov Malik thừa nhận sẽ bất tiện cho Liên Xô nếu phải ủng hộ Trung Quốc. Ông Malik châm chọc rằng Mỹ sẽ gặp vấn đề trong việc chọn lựa “giữa đồng minh cũ và người bạn mới”.

Trước tình hình đó, VNCH đã quyết định gửi thư đến Chủ tịch Facio rút lại yêu cầu về việc triệu tập cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng Bảo an. Ngày 25.1, Chủ tịch Facio thông báo Hội đồng Bảo an sẽ không nhóm họp để thảo luận vấn đề Hoàng Sa bởi VNCH đã rút lại yêu cầu.

Ông Facio nói không có đủ ủng hộ cho cuộc họp của Hội đồng Bảo an vì Trung Quốc cho biết sẽ phủ quyết mọi quyết định và có khả năng đại diện của VNCH không được quyền phát biểu trước Hội đồng Bảo an. Trong cuộc tham vấn, một số thành viên đã tranh cãi về quyền triệu tập cuộc họp Hội đồng Bảo an của VNCH, vốn không phải là thành viên LHQ. Theo khảo sát của ông Facio, VNCH sẽ không có đủ 9 phiếu cần thiết. Chỉ có 5 nước phản ứng tích cực là Mỹ, Anh, Úc, Costa Rica và có thể là cả Áo. Những nước phản đối cuộc họp của Hội đồng Bảo an bao gồm Liên Xô, Belarus, Iraq, Indonesia và có thể là cả Pháp. Trả lời một câu hỏi tại cuộc họp báo, ông Facio nói Mỹ không thúc đẩy một cuộc họp của Hội đồng Bảo an và ông có cảm giác Mỹ không thực sự muốn có cuộc họp.

Song song với việc rút lại yêu cầu ở Hội đồng Bảo an, VNCH cũng gửi thư đến Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) yêu cầu kêu gọi các thành viên của tổ chức này “xem xét cách thức và biện pháp để khắc phục tình thế nguy hiểm do cuộc xâm lược của Trung Quốc gây ra” (VNCH không phải là thành viên của SEATO song được bảo hộ bởi hiệp ước này).

Tuy nhiên, một lần nữa VNCH lại gặp phải sự thờ ơ. Ngoại trừ Philippines, vốn lo lắng trước động thái của Trung Quốc, các thành viên còn lại của SEATO đã đưa ra quan điểm rằng SEATO không phải là một tổ chức phù hợp để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ và Sài Gòn không đủ tư cách để viện dẫn điều khoản 2 Điều 4 của Hiệp ước về các biện pháp phòng thủ tập thể vì không phải là thành viên chính thức. (Còn tiếp)

Giải mã một số bí ẩn trong hải chiến Hoàng Sa 1974Một Thế Giới

Một bức điện đã được giải mã cho thấy Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) đã dừng việc ném bom tái chiếm Hoàng Sa sau hải chiến 19.1.1974 để ngăn Trung Quốc đánh xuống Trường Sa...

Giải mã một số bí ẩn trong hải chiến Hoàng Sa 1974 - Ảnh 1

Tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn trình bày về những bức điện sau hải chiến Hoàng Sa mà ông đã tiếp cận được - Ảnh: Lê Đình Dũng

Cuộc chơi của những nước lớn

Chiều 19.1, tại trụ sở UBND huyện Hoàng Sa (132 Yên Bái, Đà Nẵng), chính quyền huyện này đã tổ chức gặp mặt 12 nhân chứng đã từng công tác, sinh sống trên quần đảo Hoàng Sa trước ngày 19.1.1974.

Giải mã một số bí ẩn trong hải chiến Hoàng Sa 1974 - Ảnh 2

Các nhân chứng từng sinh sống và công tác ở Hoàng Sa trước 19.1.1974 - Ảnh: Lê Đình Dũng

Tại đây, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn (một người chuyên nghiên cứu, thu thập các tài liệu về Hoàng Sa và đóng góp các tư liệu, bằng chứng quý hiếm cho huyện đảo này) đã công bố nhiều tình tiết quan trọng liên quan đến hải chiến Hoàng Sa 19.1.1974.

Theo tiến sĩ Sơn, ông đã đi 3 thư viện lớn ở Mỹ và tiếp xúc với nhiều nhân chứng cho thấy nhiều dữ liệu về Trường Sa - Hoàng Sa trước đây đưa ra chưa chính xác.

Thứ nhất là VNCH đã bắn trước khi cảm thấy Trung Quốc có hành động xâm lấn mà ngăn chặn không được, lệnh do ông Vũ Ngọc San đưa ra.

Thứ hai là chiến hạm của VNCH đã bắn lẫn nhau do phối hợp tác chiến không chính xác. Nguyên nhân do khi Mỹ bàn giao tàu cho VNCH thì tháo hết đồ tác chiến điện tử và không tổ chức thực tập tác chiến hợp đồng cho các tàu tác chiến khi có sự cố mà chỉ dùng như tàu tuần duyên, đại tá Vũ Ngọc San đã xác nhận.

Thứ 3, công bố 2 bức điện mật của Đại sứ Mỹ, một bức gửi về Mỹ sáng 20.1.1974 và một bức gửi về sáng 21.1.1974. Một bức gửi về tướng trợ lý cho ông Henry Kissinger. Bức thứ 2 gửi cho Nhà Trắng.

Theo đó, thông tin cho biết sau khi Hoàng Sa bị chiếm thì VNCH đã chuẩn bị 5 phi đội máy bay tập hợp tại Đà Nẵng để chuẩn bị đánh lại Hoàng Sa.

Bức điện thứ nhất gửi cho trợ lý ông Kissinger từ Đại sứ Mỹ ở Sài Gòn cho hay lúc đó Ngoại trưởng Vương Văn Bắc xác nhận Tổng thống Thiệu hủy việc ném bom ở Hoàng Sa kèm đề nghị Mỹ ủng hộ VNCH vì khi Hoàng Sa bị chiếm, VNCH phát tín hiệu cầu cứu mà Mỹ không cứu.

Do đó, ông Thiệu đề nghị ông Vương Văn Bắc gửi điện cho phía Mỹ đưa ra một số giải pháp: Thứ nhất là đồng ý cho VNCH đưa vấn đề ra Hội đồng Bảo an (nhưng phía Mỹ ngăn chặn không cho Hội đồng Bảo an ra một nghị quyết lên án Trung Quốc).

Thứ hai là đề nghị Mỹ ủng hộ đưa vấn đề ra tòa án quốc tế (nhưng Mỹ không ủng hộ việc tổ chức một cuộc họp báo và ra nghị quyết để chống lại Trung Quốc).

Thứ ba là Mỹ không cứu VNCH bằng Hoàng Sa mà sẽ tìm mọi cách để ngăn chặn không cho Trung Quốc đi xuống Trường Sa, tức là lúc đó họ đã dự đoán Trung Quốc sẽ tấn công xuống Trường Sa nên họ dùng từ "cứu VNCH không cho Trung Quốc xuống Trường Sa".

Thứ tư là thỏa thuận VNCH và Mỹ dùng mọi cách bằng ngoại giao để ép Trung Quốc trao trả tù binh cho VNCH trước Tết.

Clip tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn tiết lộ bức điện mật lý do không ném bom tái chiếm Hoàng Sa:

Một vấn đề nữa là một người Mỹ bị bắt lúc ở Hoàng Sa là nhân viên tình báo của Mỹ nhưng thời điểm đó Đại sứ Mỹ không biết là ai.

Một việc quan trọng nữa là Mỹ yêu cầu Trung Quốc không được tấn công truy đuổi bắn giết những người lính VNCH trở về.

"Bức điện thứ 2 là đối sách của Nhà Trắng trong việc đàm phán về vấn đề Nam Việt Nam. Văn bản đó rất đầy đủ", ông Sơn nói.

"Qua những tài liệu chúng tôi tìm kiếm thì thấy rằng đó là cuộc chơi của những nước lớn và tất cả đều kiềm tỏa lẫn nhau vì lợi ích của các bên. Và họ biết rằng thế nào Trung Quốc cũng đánh xuống Trường Sa thời điểm đó, nhưng Trung Quốc chắc đã biết động thái của Mỹ nên đã dừng lại và tiến hành đánh Trường Sa năm 1988", vị tiến sĩ nhận định.

Một vấn đề theo nghiên cứu của ông Sơn nữa là Trung Quốc đưa dân ra Hoàng Sa rất sớm, có dân, có trẻ con, có vũ khí và cái dã tâm của họ có từ xưa rồi, đầy đủ hết không thiếu gì cả.

Huyện Hoàng Sa cần sớm có pháp lý

Tại cuộc gặp, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa, ông Đặng Công Ngữ tiếp tục tha thiết đề nghị: "Nên sớm khẳng định địa vị pháp lý của UBND huyện Hoàng Sa. Đến giờ này theo luật chính quyền địa phương còn chông chênh lắm. UBND huyện Hoàng Sa phải được bổ nhiệm theo một cơ chế đặc biệt hoặc hải đảo".

"Nhà nước cần thành lập ngay huyện Hoàng Sa có dân, có đất để thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ của một địa phương để đấu tranh. Cái này chúng ta làm chưa sâu chưa kỹ".

Giải mã một số bí ẩn trong hải chiến Hoàng Sa 1974 - Ảnh 3

Ông Đặng Công Ngữ, nguyên Chủ tịch UBND huyện Hoàng Sa đã nghỉ hưu - Ảnh: Lê Đình Dũng

Cũng theo ông Ngữ, đã đến lúc nên phát động ngoài việc sưu tầm tài liệu, chứng cứ thì nên lập một quỹ về Hoàng Sa. Nhiều nhà nghiên cứu mất công thầm lặng đi tìm các tài liệu chứ mình chưa có điều kiện hỗ trợ cho họ trong quá trình đi tìm tài liệu. Nhiều tài liệu mua cả ngàn đô la Mỹ mà chúng ta không có điều kiện về kinh tế, không thể tự mình bỏ tiền ra mua hết được.

"Chúng ta thường tổ chức lễ kỷ niệm các chiến thắng. Lịch sử của mình các cuộc chiến thắng đều ca ngợi, đều đưa vào sách. Còn những cuộc mà bại, mà bại này có giá trị lịch sử của nó thì chúng ta phải ghi nhận, phải có kỷ niệm và 1 ngày tưởng niệm cho rõ ràng, chính thống, chính danh để thế hệ sau này vẫn nhớ. Để muôn đời sau đều biết ngày này chúng ta mất Hoàng Sa để thúc đẩy đấu tranh và đưa Hoàng Sa về", ông Ngữ nói.

Nguyên Chủ tịch huyện Hoàng Sa cũng đề nghị chính quyền huyện này nên thành lập Hiệp hội nghề cá Hoàng Sa. Những người đánh cá ở Hoàng Sa họ có thể thành lập hiệp hội được. "Những hoạt động ở Hoàng Sa phải đi vào thực chất chứ không thể nói không được. Bây giờ chúng ta có tư liệu nhiều nhưng phương pháp đấu tranh như thế nào, mình nói đấu tranh bằng phương pháp hòa bình, ngoại giao… thì mình phải xúc tiến mạnh. Mình có tài liệu rồi thì mình phải nói chứ không thể để ở đó đắp được".

Đồng ý với ông Đặng Công Ngữ, ông Bùi Văn Tiếng, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Đà Nẵng còn cho rằng: "Trong cả nước hiện nay chỉ có Đà Nẵng đưa vào lịch sử địa phương hải chiến Hoàng Sa. Tôi cũng nhiều lần phát biểu trên nhiều diễn đàn làm sao Bộ GD-ĐT phải nhanh chóng đưa Hoàng Sa vào SGK lịch sử chung cho cả nước chứ không phải chỉ có Đà Nẵng".

"Mới đây trong một hội nghị của Hội Khoa học lịch sử Việt Nam tổ chức ở Hà Nội, tôi đã nói Đà Nẵng giải phóng cách đây 43 năm nhưng mà chưa giải phóng hoàn toàn được. Giải phóng thì làm sao còn một huyện đảo bị ngoại bang chiếm đóng".

Ông Tiếng cũng đề nghị phải làm sao Hoàng Sa có dân, phải tổ chức chính quyền Hoàng Sa. "Tôi cũng đã đề nghị hai đồng chí Chủ tịch nước Trần Đại Quang và Trương Tấn Sang. Giờ tôi tiếp tục đề nghị huyện Hoàng Sa phải đề nghị chính thức bằng văn bản", ông Tiếng nói.

Lê Đình Dũng ghi

Một người Việt tại Mỹ chứng minh chủ quyền của Việt Nam tại Trường Sa và Hoàng Sa

Lần đầu tiên những bản đồ cổ giúp chứng minh chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa do Việt kiều Trần Thắng sưu tầm được trưng bày ở Mỹ.

Prevost Bellin, Đức, 1747, cho thấy lãnh thổ Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Ảnh: Trần Thắng.

20 bản đồ Hoàng Sa, 20 bản đồ cổ Trung Quốc và 2 sách atlas Trung Quốc được triển lãm tại Hội thảo quốc tế “Sự xung đột trong Biển Đông”, tổ chức tại ĐH Yale, Mỹ cuối tuần qua. Ðây là 40 bản đồ trong bộ sưu tập 150 bản đồ cổ Hoàng Sa và Trung Quốc, cùng 3 sách atlas Trung Quốc mà ông Trần Thắng, Việt kiều Mỹ, sưu tập từ giữa năm 2012. Những bản đồ này đã được ông Thắng gửi tặng cho Việt Nam và UBND huyện đảo Hoàng Sa, Đà Nẵng.

20 bản đồ Hoàng Sa do các nước phương Tây và Việt Nam vẽ, từ năm 1618 đến 1859, chứng minh vùng quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Trong khi đó, 20 bản đồ các nước phương Tây vẽ về Trung Quốc từ năm 1626 đến 1980, cho thấy miền Nam của Trung Quốc chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam. Hai sách bản đồ Atlas, một cuốn do Nhà nước Trung Hoa phát hành tại Nam Kinh năm 1933, cuốn còn lại do Phái bộ truyền giáo Trung Quốc phát hình tại Anh năm 1908 cũng chỉ rõ lãnh thổ nước này dừng lại ở Hải Nam.

Giáo sư Carl Thayer, chuyên gia người Australia nghiên cứu các vấn đề về Biển Đông, từng nhận xét bộ sưu tập của ông Trần Thắng cho thấy những mâu thuẫn trong tuyên bố của Trung Quốc về cái gọi là “chủ quyền không thể tranh cãi” đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ông Trần Thắng (bìa phải) và Giáo sư Carl Thayer tại Hội thảo.

Ông Trần Thắng, chủ tịch Viện văn hóa – giáo dục Việt Nam (IVCE), cho biết các học giả tham dự hội thảo đều cho rằng, hiện chưa có sách hoặc công trình nghiên cứu về Hoàng Sa và Trường Sa được viết bằng tiếng Anh được phát hành rộng rãi. Điều này khiến các học giả quốc tế than phiền rằng họ không có tài liệu để nghiên cứu.

“Việt Nam được một số học giả quốc tế tranh đấu bảo vệ lợi ích Biển Ðông. Chính phủ Việt Nam cũng cần lập ra quỹ về Biển Ðông để tạo mọi điều kiện phát triển thông tin về Biển Ðông. Từ nguồn ngân sách này, có thể dùng dịch sách, các công trình nghiên cứu, phim tài liệu và tài liệu về Biển Ðông sang tiếng Anh và tiếng Trung Quốc”, ông Thắng nói và cho rằng quỹ Biển Ðông cũng sẽ hỗ trợ cho các công trình nghiên cứu Biển Ðông.

The Atlas of The World, Johnsons Atlas, New York, 1869. cũng cho thấy chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam. Ảnh: Trần Thắng.

Hiện Trung Quốc và các nước trong khối Ðông Nam Á tăng cường phát triển quân sự, có nghĩa là phát triển “sức mạnh cứng”. Cái giá phát triển sức mạnh cứng là hàng tỷ tỷ USD, trong khi giá thành phát triển sức mạnh mềm như đầu tư nghiên cứu Biển Đông chỉ vài triệu USD. “Ðiều quan trọng của sức mạnh mềm là gìn giữ được hoà bình trong khu vực trong các cuộc xung đột về Biển Ðông”, ông Thắng nói.

“Tôi nghĩ Chính phủ cần phải công khai giải pháp cụ thể về Biển Đông. Ví dụ như trường hợp Philippines họ chọn giải pháp về môi trường biển và giá trị pháp lý về đường lưỡi bò để chống lại Trung Quốc tại tòa án quốc tế, và giải pháp này được công khai trong nước và cả thế giới”, ông cho biết thêm.

Ông Trần Thắng tốt nghiệp kỹ sư cơ khí tại University of Connecticut và làm việc cho công ty động cơ máy bay Pratt & Whitney từ năm 2000. Ông đồng thời là Chủ tịch Viện văn hóa – giáo dục Việt Nam (IVCE) tại New York, nhằm phát huy giáo dục Mỹ tại Việt Nam và giới thiệu văn hóa Việt Nam tại các ÐH Mỹ.

Năm 2012, ông Trần Thắng sưu tầm 150 bản đồ cổ Trung Hoa, bản đồ Hoàng Sa và 3 sách atlas Trung Hoa chứng minh chủ quyền biển đảo Việt Nam. Với đóng góp này, ông nhận được bằng khen của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Ủy Ban biên giới – Bộ Ngoại giao, UBND thành phố Ðà Nẵng.




Số phận khác nhau của 4 chiến hạm VNCH tại Hoàng Sa tháng 1/1974

Minh Đức |

Số phận khác nhau của 4 chiến hạm VNCH tại Hoàng Sa tháng 1/1974

(Soha.vn) - Việt Nam Cộng hòa đã huy động 4 tàu chiến, một trung đội biệt kích cùng đội phá hủy dưới nước đã tham gia Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.

Đầu năm 1974, 6 quân nhân Việt Nam Cộng hòa cùng 1 quan sát viên người Mỹ trên tàu khu trục Lý Thường Kiệt HQ-16 tiến hành khảo sát quần đảo Hoàng Sa. Họ đã phát hiện các hoạt động bất thường của hải quân Trung Quốc.

Trước tình hình đó, hải quân Việt Nam Cộng hòa đã điều động tàu khu trục nhỏ Trần Khánh Dư HQ-4 cùng đến khu vực này. Sau đó điều động thêm 1 tàu khu trục nhỏ Trần Bình Trọng HQ-5 và tàu hộ tống Nhật Tảo HQ-10. Đây là 4 con tàu đã tham gia sự kiện Hoàng Sa, ngày 19/1/1974.

Lý Thường Kiệt HQ-16

Đây là loại tàu khu trục nhỏ được sản xuất tại Mỹ vào năm 1941, đưa vào hoạt động chiến đấu trong hải quân Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ 2 với tên gọi USS Chincoteague (AVP-24). Sau khi kết thúc chiến tranh, tàu này được cho ngưng hoạt động vào năm 1946.

Tàu khu trục nhỏ HQ-16 Lý Thường Kiệt
Tàu khu trục nhỏ HQ-16 Lý Thường Kiệt

Đến năm 1949, con tàu lại được "hồi sinh" để phục vụ trong lực lượng tuần duyên Mỹ giai đoạn 1949-1972. Tháng 06/1972, con tàu này lại được sửa đổi và chuyển giao cho hải quân Việt Nam Cộng hòa với vai trò tàu khu trục nhỏ.

Tàu khu trục HQ-16 có chiều dài 94,72 mét, rộng 12,5 mét, mớn nước 4,9 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.766 tấn, đầy tải 2.800 tấn, thủy thủ đoàn 200 người, tốc độ hành trình 18 hải lý/h. Vũ khí chính trên tàu bao gồm 1 pháo hạm 127mm, 2 cối 81mm. HQ-16 là tàu chiến lớn nhất, hỏa lực mạnh nhất của hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, tàu khu trục HQ-16 gia nhập biên chế hải quân Philippines cho đến khi "nghỉ hưu" vào năm 1993.

Trần Khánh Dư HQ-4

Đây là loại tàu khu trục nhỏ lớp Edsall được đưa vào hoạt động trong hải quân Mỹ vào năm 1944 với tên gọi USS Forster (DE-334). Con tàu này ngưng hoạt động vào năm 1954. Đến năm 1956, nó được huy động trở lại phục vụ trong biên chế cảnh sát biển Mỹ ở vịnh Subic, Philippines. Ngày 25/09/1971, con tàu được chuyển giao cho hải quân Việt Nam Cộng hòa.

Tàu khu trục nhỏ HQ-4 Trần Khánh Dư
Tàu khu trục nhỏ HQ-4 Trần Khánh Dư

Tàu khu trục Trần Khánh Dư HQ-4 có chiều dài 93 mét, rộng 11,15 mét, mớn nước 3,18 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.253 tấn, đầy tải 1.590 tấn. Tàu được trang bị 4 động cơ diesel truyền động cho chân vịt 2 trục, tốc độ tối đa 21 hải lý/h.

Tàu được trang bị 3 pháo 76mm, 2 pháo 40mm, 8 pháo 20mm, 3 ống phóng ngư lôi 533mm, 8 máy phóng mìn sâu chống tàu ngầm. Sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam, tàu HQ-4 được chuyển giao hoạt động trong hải quân Việt Nam với tên gọi HQ-3. Đến nay tình trạng hoạt động của tàu này không rõ ràng.

Trần Bình Trọng HQ-5

HQ-5 cùng lớp với tàu HQ-16. Tàu này được đóng mới và đưa vào hoạt động trong hải quân Mỹ năm 1944 với tên gọi USS Castle Rock (AVP-35). Nó đã tham chiến ở khu vực trung tâm Thái Bình Dương trong Chiến tranh thế giới thứ 2.

Tàu khu trục nhỏ HQ-5 Trần Bình Trọng cùng lớp với tàu HQ-16.
Tàu khu trục nhỏ HQ-5 Trần Bình Trọng cùng lớp với tàu HQ-16.

Năm 1949, tàu USS Castle Rock được chuyển giao hoạt động trong biên chế lực lượng tuần duyên Mỹ. Ngày 21/12/1971 tàu được chuyển giao cho hải quân Việt Nam Cộng hòa. Tàu khu trục HQ-5 có chiều dài 94,72 mét, rộng 12,5 mét, mớn nước 4,9 mét, lượng giãn nước tiêu chuẩn 1.766 tấn, đầy tải 2.800 tấn, thủy thủ đoàn 200 người, tốc độ hành trình 18 hải lý/h. Vũ khí chính trên tàu bao gồm 1 pháo hạm 127mm, 2 cối 81mm.

Sau Chiến tranh Việt Nam, tàu khu trục HQ-5 cũng sang Philippines. Con tàu sau đó được đưa vào hoạt động trong biên chế hải quân Philippines với tên gọi BRP Francisco Dagohoy (PF-10). Tàu đã ngưng hoạt động vào năm 1985.

Nhật Tảo HQ-10

Nguyên gốc của Nhật Tảo HQ-10 là tàu quét mìn USS Serene (AM-300), được đưa vào hoạt động trong hải quân Mỹ ngày 31/10/1943. Tàu này đã được sử dụng vào nhiệm vụ quét mìn xung quanh quần đảo Okinawa (Nhật Bản) nhằm dọn đường cho các lực lượng tấn công của hải quân Mỹ.

Tàu hộ tống HQ-10 Nhật Tảo.

Tàu hộ tống Nhật Tảo HQ-10.

Sau đó con tàu này còn thực hiện nhiệm vụ giải phóng các bãi mìn do hải quân Nhật Bản sử dụng phong tỏa các vùng biển Hoàng Hải, eo biển Tsushima và biển Nhật Bản. USS Serene (AM-300) đã được tặng 6 sao cho các thành tích trong chiến đấu.

Năm 1964, con tàu được chuyển đổi thành tàu hộ tống theo chương trình hỗ trợ quân sự của Mỹ dành cho Việt Nam Cộng hòa và mang tên mới là Nhật Tảo HQ-10. Tàu có chiều dài 56,24 mét, rộng 10 mét, mớn nước 2,97 mét. Lượng giãn nước tiêu chuẩn 650 tấn, tốc độ hành trình 14,8 hải lý/h, thủy thủ đoàn 104 người.

Tàu hộ tống HQ-10 được trang bị một pháo 76mm, 6 pháo 20mm, 4 pháo 40mm, 1 dàn phóng cối chống ngầm, 4 ống phóng mìn biển sâu cùng 2 hệ thống xử lý mìn.

Trong trận chiến ngày 19/1/1974 tại Hoàng Sa, sau khoảng 15 phút giao tranh, Nhật Tảo HQ-10 bị trúng đạn vào tháp pháo và chìm tại chỗ sau đó. 62 sĩ quan, thủy thủ Việt Nam Cộng hòa trên tàu đã tử trận. Một số người khác được một tàu buôn Hà Lan cứu vớt sau gần 4 ngày lênh đênh trôi giạt trên biển. Trước đó, Hạm đội 7 của Mỹ đã từ chối lời đề nghị tham gia tìm kiếm, cứu hộ các sĩ quan, thủy thủ còn sống trên tàu HQ-10 của phía VNCH.

theo Trí Thức Trẻ

Bài học từ Hải chiến Hoàng Sa 1974

Print Friendly, PDF & Email

Tác giả: Ngô Minh Trí & Koh S.L. Collin | Biên dịch: Nguyễn Thị Nhung

Đã bốn mươi năm trôi qua, nhưng đến hôm nay những bài học từ trận hải chiến Hoàng Sa vẫn còn nguyên giá trị cho quá trình hiện đại hóa hải quân của Việt Nam

Vào ngày 16/01/1974, Lực lượng Hải quân của Việt Nam Cộng hòa (VNCH) phát hiện nhóm lính thuộc Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) có mặt trên nhóm đảo Lưỡi Liềm (Crescent Group) ở phía tây quần đảo Hoàng Sa (lúc bấy giờ thuộc sở hữu của chính quyền Nam Việt Nam). Lúc này Nhóm đảo An Vĩnh (Amphitrite Group) ở phía đông Hoàng Sa thuộc quyền kiểm soát của Trung Quốc, còn Nam Việt Nam nắm giữ Nhóm đảo Lưỡi Liềm. Dù vào thời điểm đó Mỹ đã cắt giảm hỗ trợ quân sự dành cho chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Hòa bình Paris năm 1973, dẫn đến việc Nam Việt Nam cũng cho rút dần các lực lượng đồn trú trên quần đảo, nhưng đây thực sự là một diễn biến bất ngờ do Trung Quốc chưa bao giờ tiến hành bất kỳ hành động đơn phương nào để phá vỡ nguyên trạng.

Hai ngày tiếp theo, lực lượng hải quân hai bên đã có các vụ va chạm ở cự ly gần, và sau đó đấu pháo nổ ra khi quân Nam Việt Nam cố gắng giành lại Đảo Quang Hòa (Duncan Island). Cuộc đụng độ tiếp tục leo thang, trong đó Trung Quốc nắm thế áp đảo với lực lượng tăng viện được cử đến khu vực giao tranh, bao gồm cả yểm trợ không quân triển khai từ đảo Hải Nam gần đó và các tàu tuần tra tên lửa lớp Hải Nam. Trước tình hình bất lợi là Mỹ đã cắt giảm hỗ trợ hải quân và Hạm đội 7 của Hải quân Hoa Kỳ đang rút dần sự hiện diện trên Biển Đông theo hiệp định hòa bình năm 1973, Hải quân VNCH đã bị đánh bại thảm hại. Bắc Kinh sau đó đã nhanh chóng tận dụng chiến thắng này để cho đổ bộ lực lượng quy mô lớn và hoàn tất việc kiểm soát quần đảo Hoàng Sa.

Hải chiến Hoàng Sa từ đó đã đi vào lịch sử với ý nghĩa là trận đụng độ hải quân đầu tiên giữa Việt Nam và Trung Quốc trong cuộc tranh giành quyền kiểm soát các đảo trên Biển Đông. Trận giao tranh trên biển tái diễn giữa hai nước tại khu vực gần quần đảo Trường Sa vào năm 1988 là lần thứ hai và đến nay cũng là lần cuối cùng. Kể từ đó, căng thẳng đã lắng dịu. Việt Nam và Trung Quốc vẫn tiếp tục tiến hành các cuộc trao đổi cấp đảng lãnh đạo và giữa quân đội hai nước (bao gồm cả sự kiện đoàn đại biểu Hạm đội Nam Hải của Hải quân PLA đến thăm một căn cứ hải quân của Việt Nam theo lời mời). Bắc Kinh và Hà Nội gần đây cũng đã bắt đầu thực hiện những cuộc tham vấn song phương về vấn đề hợp tác phát triển nguồn tài nguyên biển tại Biển Đông.

Tuy nhiên, từ trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974, chúng ta vẫn có thể rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích và có giá trị lâu dài cho Hà Nội cũng như công cuộc hiện đại hóa lực lượng hải quân mà Việt Nam đang thực hiện, đặc biệt là trước những diễn biến địa chính trị hiện nay.

Bài học lịch sử thứ nhất: Ngoại giao là giải pháp đầu tiên… nhưng không phải là duy nhất

Không có bất cứ hiệp định khu vực và quốc tế nào có thể tạo thành lá chắn tuyệt đối trước các hành động đơn phương, dù là sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực. Bản Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC) ký kết năm 2002 giữa Trung Quốc và các nước có tranh chấp tại Đông Nam Á là một bước ngoặt lớn nhưng lại không hoàn toàn hiệu quả. Trên thực tế, các hành vi đơn phương đe dọa sử dụng hay thực sự sử dụng vũ lực với mục đích lật đổ nguyên trạng hiện nay trên Biển Đông vẫn tiếp tục diễn ra như một xu thế áp đảo. Đoạn video hiện trường do đài CCTV Trung Quốc công bố vào tháng 1/2014 vừa qua đã quay lại một cuộc đụng độ giữa các tàu chấp pháp của Việt Nam và Trung Quốc từ năm 2007 ở vùng biển quanh quần đảo Hoàng Sa. Gần đây hơn, Biển Đông liên tục chứng kiến các vụ căng thẳng, bao gồm hành động quấy nhiễu tàu thăm dò địa chấn phía Việt Nam của Trung Quốc, vụ đối đầu Trung Quốc – Philippines tại Bãi cạn Scarborough/Hoàng Nham vào tháng 4/2012, và tiếp đó là hành vi khoa trương lực lượng của các tàu tuần tra và khu trục hải quân Trung Quốc tại Bãi Cỏ Mây (Second Thomas Shoal) mà Philippines đang nắm quyền kiểm soát. Những tình tiết này chứa nhiều điểm tương đồng đến kỳ lạ với kịch bản đụng độ hải quân trước kia từng dẫn đến trận hải chiến dữ dội năm 1974

Trong khi các bên tranh chấp ở Biển Đông đã ngồi lại tham dự vào những cuộc tham vấn về Bộ quy tắc ứng xử Biển Đông (COC), Bắc Kinh từ tuyên bố đơn phương trước đó về áp đặt Vùng nhận dạng phòng không (air defense identification zone – ADIZ) trên biển Hoa Đông vào tháng 12/2013 đã lên tiếng khẳng định mình có đủ những quyền không thể tranh cãi cho việc thiết lập các vùng ADIZ lên những khu vực khác nếu muốn. Một Vùng nhận dạng phòng không trên Biển Đông một khi được thiết lập chắc chắn sẽ củng cố lợi thế cho Bắc Kinh tại các vùng biển tranh chấp ở đây, bởi nó hỗ trợ cho các lệnh cấm đánh bắt mà nước này đơn phương áp đặt hàng năm, tăng cường quyền thi hành luật biển mở rộng trước đó cho chính quyền đảo Hải Nam cũng như luật ngư nghiệp được thông qua mới đây, theo đó yêu cầu tàu bè đánh bắt cá của nước khác phải có sự cho phép của Bắc Kinh mới được hoạt động trên phần lớn Biển Đông. Những diễn biến trên nếu tiếp tục phát triển sẽ chỉ đẩy cao nguy cơ bùng nổ xung đột nóng trên Biển Đông, dù là vô tình hay có suy tính trước.

Bài học lịch sử số 2: Không phải lúc nào các cường quốc ngoài khu vực cũng ở kề bên, và không phải lúc nào họ cũng giúp đỡ

Hiện nay các cường quốc ngoài khu vực ngày càng có nhiều lợi ích ràng buộc tại Biển Đông. Ngoài chính sách tái cân bằng châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, Nhật Bản dưới thời Thủ tướng Shinzo Abe thời gian qua cũng tích cực đẩy mạnh các hoạt động ngoại giao của mình ở Đông Nam Á, một trong những mục đích của chính sách này là nâng cao lập trường lãnh hải của Tokyo trên biển Hoa Đông. Việt Nam chính là một trong những nước được hưởng lợi nhiều nhất từ chiến lược này. Nhân dịp Đối thoại Chính sách Quốc phòng Việt Nam – Hoa Kỳ lần thứ 4 tổ chức tại Washington vào cuối tháng 10/2013, hai bên đã đi đến ký kết một thỏa thuận tăng cường hợp tác an ninh hàng hải. Cũng trong tháng này, có nguồn tin cho hay Tokyo đã rất nhiệt tình với việc cung cấp các tàu tuần tra cho Việt Nam trong một phần của kế hoạch đẩy nhanh quá trình xây dựng tiềm lực an ninh hàng hải của quốc gia Đông Nam Á này. Đáng chú ý không kém, Hà Nội cũng đang có mối liên kết thân tình với New Delhi, trước đó họ đã chào đón nhiều chuyến viếng thăm cảng thường xuyên của Hải quân Ấn Độ trong một thập kỷ qua.

Tuy vậy, không có cường quốc ngoài khu vực nào thể hiện rõ thái độ đứng về một bên cụ thể trong các tranh chấp Biển Đông, mà chủ yếu chỉ hướng tập trung vào duy nhất tự do hàng hải. Điều này đồng nghĩa với việc ngay cả trong trường hợp các tuyến đường giao thương hàng hải huyết mạch bị bóng đen xung đột vũ trang trên Biển Đông đe dọa, và Washington hay Tokyo có nguyên nhân chính đáng để can dự vào đây, thì khả năng họ hay bất kỳ thế lực ngoài khu vực nào sẽ giang tay hỗ trợ cho các bên tranh chấp vẫn không thể đoán định. Ví dụ như nếu Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại châu Á – Thái Bình Dương (U.S. Pacific Command) có thể phát hiện những ám hiệu về hoạt động quân sự bất thường phía Trung Quốc trên Biển Đông, siêu cường này có thể không phản ứng kịp thời. Trong quá trình triển khai một phần chiến lược tái cân bằng, Hạm đội Hải quân Số 7 của Hoa Kỳ đã tăng cường hoạt động tuần tra biển trong khu vực này: theo công bố, tàu chiến đấu ven biển mới mang tên U.S.S Freedom đang thực hiện những nhiệm vụ vượt mức công tác huấn luyện thông thường trong khu vực, trong khi có thông tin cho biết tuần tra biển trên không cũng đã được Hải quân Hoa Kỳ đẩy mạnh kể từ tháng 7/2012.

Tuy nhiên, trong thời gian diễn ra giao tranh năm 1974, Sài Gòn từng tìm kiếm hỗ trợ từ Hạm đội Số 7 của Mỹ, nhưng lực lượng này đã tuân theo mệnh lệnh không can dự vào tranh chấp, và kết quả là Hải quân Nam Việt Nam hoàn toàn đơn độc khi chiến đấu tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày nay Washington cũng có lý do để áp dụng quan điểm tương tự, ngay cả nếu một cuộc giao tranh hải quân khác thực sự tái bùng nổ giữa Trung Quốc và Việt Nam, đặc biệt là khi ở các tình huống đối đầu cục bộ, tranh chấp không hẳn sẽ gây ảnh hưởng đến tự do hàng hải của các bên khác.

Hơn nữa, Hạm đội Nam Hải của Hải quân PLA hiện tại và trong tương lai không còn là một lực lượng yếu kém, chỉ bám sát ven biển và vận hành những trang thiết bị tấn công và tuần tra cỡ nhỏ thời Liên Xô cũ như trước nữa. Sau một thời gian tích lũy đầu tư nâng cấp về năng lực triển khai lực lượng, bao gồm cả khả năng tiến công đổ bộ, Hải quân PLA ngày nay đã sở hữu nền tảng vững chắc hơn so với thời kỳ năm 1974, đồng thời đủ sức triển khai lực lượng trên quy mô lớn trong một khoảng thời gian dài liên tục, ở những khu vực xa bờ hơn để phục vụ cho mục tiêu khẳng định chủ quyền, và sức mạnh chiến đấu tổng quát của lực lượng này cũng hứa hẹn sẽ hùng mạnh hơn rất nhiều một khi được “cởi trói” ra Biển Đông.

Bài học lịch sử số 3: Cần phải sở hữu ít nhất một lực lượng kiểm soát biển nhất định

Chắc chắn Việt Nam sẽ không thể đuổi kịp năng lực hải quân của PLA trên Biển Đông về quy mô và số lượng. Như các phát biểu chính sách Hà Nội, một cuộc chạy đua vũ trang với Trung Quốc không chỉ là một ý định bất khả thi từ trứng nước, mà còn được đánh giá là chứa đựng nguy cơ tiềm ẩn đối với công cuộc Đổi mới mà Việt Nam đang tiến hành. Quá trình hiện đại hóa hải quân của Việt Nam thời hậu Chiến Tranh Lạnh đã được xác định là nhằm lấp đầy những thiếu sót năng lực sau hàng thập kỷ bị bỏ bê.

Trong những năm gần đây, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể khi sở hữu dàn máy móc mới thay thế cho những phương tiện lạc hậu từ thời Liên Xô. Tuy nhiên, những trang thiết bị mới, chủ yếu là do Nga cung cấp như tàu khu trục nhẹ Gepard-3.9, tàu ngầm lớp Kilo, máy bay đa chức năng Su-30MK2V Flanker được trang bị để tấn công trên biển và hệ thống tên lửa phòng thủ bờ biển Yakhont/Bastion, các tàu hộ thống lớp SIGMA của Hà Lan cũng như những tàu tấn công và tuần duyên sản xuất trong nước,… tất cả để cho thấy một quá trình hiện đại hóa lực lượng chủ yếu nhằm vào mục tiêu ngăn chặn mọi thế lực thù địch tiếp cận với vùng tranh chấp. Dù vậy, những thiết bị này không chứng tỏ năng lực đảm bảo khả năng tiếp cận của chính Việt Nam.

Tuy nhiên, trận Hải chiến Hoàng Sa vào năm 1974 đã nhấn mạnh cho Việt Nam ngày nay một bài học: ngăn chặn kẻ thù chỉ bằng cách phong tỏa các thực thể đảo đá trên Biển Đông là chưa đủa, mà quan trọng hơn còn phải đảm bảo khả năng tiếp cận của chính mình tới những đơn vị đồn trú có vị trí dễ bị tấn công và nhạy cảm trên Biển Đông. Chỉ có cuộc chuyển đổi từ năng lực ngăn chặn sang kiểm soát trên biển mới hy vọng có thể đạt được điều này. Trong bối cảnh khu vực dọc biên giới trên bộ với các nước láng giềng vẫn được duy trì trong hòa bình, Việt Nam nên tân dụng cơ hội để tập trung vào năng lực chiến đấu trên biển bằng không lực.

Với một Việt Nam luôn đi theo hướng duy trì nguyên trạng (cũng giống như chính sách mà chính quyền Sài Gòn năm 1974 theo đuổi) và trong bối cảnh hải chiến trên Biển Đông có nguy cơ tái diễn, lực lượng quần đảo Việt Nam càng có thêm lý do để giành lại các thực thể trên biển đã bị chiếm cứ, hoặc ít nhất là củng cố những căn cứ mà họ đang đồn trú trước mối đe dọa bị tấn công vũ trang. Theo kịch bản này, tình thế khó khăn của quốc phòng Việt Nam có lẽ cũng không khác so với của Nhật Bản trên biển Hoa Đông. Trong chiến lược quốc phòng mới công bố gần đây, Tokyo đã vạch rõ tính cấp thiết của chính sách phòng ngự cơ động hợp nhất và mạnh bạo , để chủ động dự trù cho tương lai Lực lượng Tự vệ nước này cần tái chiếm các đảo thuộc biển Hoa Đông trong thời gian xảy ra chiến sự căng thẳng. Tất nhiên Việt Nam không thể hy vọng tập trung được trang thiết bị ngang với sức mạnh của Nhật Bản do còn nhiều hạn chế về kinh tế. Để xây dựng được quân lực kiểm soát biển tốt, ít nhất là ở mức hữu hạn, Hà Nội nên tập trung vào việc cải thiện khả năng báo hiệu sớm (early warning) và hải vận đổ bộ (amphibious sealift) trên phạm vi rộng.

Nhiệm vụ cảnh báo sớm của Việt Nam hiện tại đang được trao cho một mạng lưới giám sát điện tử cố định lắp đặt dọc bờ biển Việt Nam và trên những thực thể ở Biển Đông thuộc sở hữu của nước này, và chỉ những năm gần đây máy bay tuần dương mới được tăng cường bổ sung cho lực lượng hải quân và cảnh sát biển Việt Nam. Những máy bay này có nhiệm vụ chủ yếu là do thám trên bề mặt biển, nhưng lại chịu hạn chế về thời gian hoạt động cũng như thiếu khả năng chiến đấu chống tàu ngầm phù hợp, đặc biệt là trong bối cảnh thách thức trong lòng biển của PLA càng tăng cao. Một lực lượng không quân tuần dương với khả năng hoạt động kéo dài và được lắp đặt cảm biến tầm xa chính là phương tiện thích hợp cho thời điểm hiện tại, và có lẽ sẽ bám trụ tốt hơn những thiết bị lắp đặt cố định.

Thủy quân lục chiến của Việt Nam – lực lượng chuyên trách tiến công đổ bộ, sau nhiều lần cải tổ trong những thập niên qua đã trở nên gọn nhẹ nhưng cũng tinh nhuệ hơn, sở hữu trang thiết bị tiên tiến hơn. Mặc dù vậy, lực lượng này vẫn còn yếu về mặt chuyển quân, trong khi các tàu đổ bộ thời Liên Xô và tàu cổ của Mỹ đã quá cũ và gần như không thể hoạt động. Các công ty đóng tàu hải quân non kém của Hà Nội đến nay đã cho xuất xưởng một vài phương tiện vận chuyển tấn công mới, có vẻ như để lấp đầy lỗ hổng này. Tuy nhiên, Thủy quân lục chiến của Việt Nam cần phải bổ sung thêm một số lượng tàu lớn hơn thế nếu muốn triển khai các lực lượng vững mạnh hơn, hoạt động với tốc độ cao hơn để có thể củng cố những căn cứ đóng quân trên Biển Đông hoặc tái chiếm chúng từ đối thủ.

Những suy nghĩ cuối cùng

Hải chiến Hoàng Sa đã qua đi bốn mươi năm. Tuy vậy, dù Biển Đông đến nay tương đối tĩnh lặng, đây vẫn là bài học nhắc nhở Hà Nội tiếp tục thận trọng qua việc duy trì nhịp độ đẩy nhanh hiện đại hóa hải quân. Trong khi ngoại giao vẫn đang là phương sách được ưa chuộng và các cường quốc ngoài khu vực ngày càng phụ thuộc mạnh mẽ vào khu vực, sức mạnh quân sự tương xứng theo chính sách phòng vệ tự lực vẫn còn rất cần thiết, nhất là khi khu vực tiếp tục còn ẩn chứa nhiều bất ổn. Để duy trì nguyên trạng trên Biển Đông, so với quân lực VNCH, lực lượng Không quân và Hải quân của Việt Nam hiện tại và trong tương lai đang và sẽ phải đối mặt với một thách thức còn lớn hơn gấp nhiều lần.

Nguồn: The Diplomat

Vì sao Trung Quốc đánh chiếm Hoàng Sa

40 năm trước, ngày 19/1/1974, một biến cố trọng đại trong lịch sử Việt Nam hiện đại đã diễn ra – hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng hòa và Hải quân Trung Quốc. Sau trận chiến, quần đảo Hoàng Sa – một bộ phận thiêng liêng và không thể tách rời của Việt Nam đã bị Trung Quốc chiếm giữ.

Thạc sĩ Nguyễn Hùng Cường (Viện Nghiên cứu Khoa học Biển và Hải đảo), đã có bài viết tái hiện những sự kiện chính diễn ra trước, trong và sau trận hải chiến:

Suốt nhiều thế kỷ, Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hòa bình và công khai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa khi các quần đảo đó chưa thuộc chủ quyền bất cứ quốc gia nào. Từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện hiệu quả chủ quyền với hai quần đảo này và luôn bảo vệ các quyền, danh nghĩa của mình trước mưu đồ và hành động xâm phạm chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam với hai quần đảo thiêng liêng của mình.

Đầu thế kỷ XX, nhận thấy vị trí chiến lược cũng như tầm quan trọng của biển Đông nói chung và quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa nói riêng, một số quốc gia (điển hình là Trung Quốc) đã xâm chiếm bất hợp pháp các vùng lãnh thổ này của Việt Nam.

Trung Quốc luôn coi biển Đông, đặc biệt là các quần đảo của Việt Nam là bàn đạp quan trọng để thực hiện chiến lược bành trướng xuống Đông Nam Á. Vì vậy, giới cầm quyền Trung Quốc từ Trung Hoa Dân Quốc cho đến Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã không ngừng đẩy mạnh thực hiện âm mưu độc chiếm biển Đông.

Lợi dụng tình hình rối ren khi Nhật đầu hàng đồng minh và việc giải giáp quân Nhật theo Hiệp định Postdam 1945, Trung Hoa Dân Quốc đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (quần đảo Hoàng Sa) và đảo Ba Bình (quần đảo Trường Sa) vào cuối năm 1946. Sau đó Trung Hoa Dân Quốc rút quân khỏi Hoàng Sa, và Nhật rút quân khỏi quần đảo này theo Hòa ước San Fransisco 1951. Sau khi Hiệp định Geneva 1954 được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 21/1/1956 Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đưa quân chiếm đóng đảo Phú Lâm và Lin Côn.

Năm 1974, nhận thấy thời cơ đã chín muồi, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực toàn bộ nhóm đảo Trăng Khuyết phía tây nam quần đảo Hoàng Sa. Thời cơ này xuất phát từ tình hình, bối cảnh quốc tế và trong nước.

Đầu thập niên 1970, phong trào phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra sôi nổi và rộng khắp trên thế giới khiến Mỹ ngày càng xa lánh Việt Nam Cộng hòa; đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, Hoa Kỳ và các lực lượng đồng minh phải rút quân khỏi Việt Nam. Do không muốn tham gia vào một cuộc chiến đã bước vào hồi kết, tháng 6/1973 Lưỡng viện Hoa Kỳ đã thông qua đạo luật “Case-Church” cấm cơ quan hành pháp nước này tái can thiệp quân sự vào ba nước Đông Dương trừ khi được chấp thuận của Lưỡng viện.

Ngoài ra, Mỹ được cho là có một “toan tính” sâu xa hơn khi không can dự vào trận Hải chiến 1974 vì khi đó, Việt Nam và Trung Quốc đều đi theo con đường Xã hội chủ nghĩa. Việc Washington “làm ngơ” cho Bắc Kinh ngang nhiên chiếm Hoàng Sa sẽ tạo thù địch giữa Hà Nội và Bắc Kinh, dẫn đến chia rẽ giữa các nước cộng sản. Khi người “bảo trợ” đã ra đi, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa rơi vào tình thế đơn độc và bất lợi trong cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa.

Cuộc đụng độ biên giới năm 1969 mang lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Hoa (PLA) niềm tin rằng họ có thể chống trả Hồng quân Liên Xô. Từ đó, Trung Quốc bắt đầu thực hiện sáng kiến đối ngoại mới bằng cách thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Mỹ, cao trào là chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Richard Nixon tháng 2/1972. Sau chuyến công du đó, Trung Quốc trở thành “đồng minh giai đoạn” của Mỹ để kìm chân và chống lại Liên Xô. Mỹ không muốn quan hệ chiến lược này bị rạn nứt vì vụ Hoàng Sa. Việc lựa chọn giữa “đồng minh cũ” hay “người bạn mới” trong “thời kỳ trăng mật” này không phải là sự lựa chọn khó khăn đối với Mỹ.

Thực tế, trong trận Hải chiến Hoàng Sa chính quyền Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã nhiều lần thông báo tình hình với Đại sứ quán Mỹ nhưng Washington đã không có động thái hỗ trợ nào.

Trên vùng biển Đông ngoài khơi Việt Nam gần với đảo Hải Nam (Trung Quốc) và Hoàng Sa (Việt Nam) thời điểm đó có mặt Hải đoàn 77 (Task Force 77) của Hải quân Mỹ gồm các hàng không mẫu hạm và các chiến hạm yểm trợ. Hải đoàn này đủ khả năng kiểm soát không và hải phận, cũng như hoạt động của các tàu ngầm trong vịnh Bắc Bộ. Tuy nhiên, Mỹ đã hoàn toàn đứng ngoài cuộc.

Cũng thời điểm đó, Việt Nam Cộng hòa mới chỉ là quan sát viên mà chưa phải thành viên của Liên Hợp Quốc trong khi Trung Quốc là một trong 5 nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Vị thế quốc tế của Trung Quốc khiến nước này tự tin rằng, Việt Nam Cộng hòa không có đủ tư cách sử dụng các cơ chế để tự vệ và bảo vệ Hoàng Sa theo các điều khoản của Hiến chương Liên Hợp Quốc.

Ngày 30/1/1974, Lãnh sự quán Mỹ ở Hồng Kông đã báo cáo về Bộ Ngoại giao và Đại sứ quán Mỹ ở các nước liên quan về những tính toán của Trung Quốc trong việc thôn tính quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Cơ quan này nhận định, Trung Quốc đã có ý đồ đánh chiếm Hoàng Sa từ trước.

Theo phân tích của lãnh sự quán Mỹ, quyết định đánh chiếm Hoàng Sa phụ thuộc vào một số yếu tố như tiềm năng về dầu khí tại khu vực, lo ngại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có thể đưa ra tuyên bố chủ quyền ở Hoàng Sa cũng như lợi ích chiến lược về lâu dài của quần đảo.

Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng có thể lo sợ việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ không tiếp tục giữ thái độ im lặng trước vấn đề chủ quyền quần đảo Hoàng Sa. Bằng việc sử dụng vũ lực, Trung Quốc đã tránh tình huống nguy hiểm hơn nhiều sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đưa ra tuyên bố chủ quyền về Hoàng Sa. Điều này đã được Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tiến hành sau khi đất nước thống nhất.

Theo nhận định trong các hồ sơ ngoại giao được giải mật, nỗi lo sợ ngày càng lớn của Trung Quốc trước hoạt động của hải quân Liên Xô tại biển Đông và các vùng biển khác ở châu Á có thể là yếu tố dẫn đến quyết định của Trung Quốc. Đây là thời kỳ đỉnh điểm rạn nứt quan hệ Xô – Trung liên quan đến tranh chấp lãnh thổ dọc biên giới hai nước, cũng như các vấn đề Nam Phi, Trung Đông và Đông Dương.

Trong lúc nhiều yếu tố bên ngoài nghiêng về hướng có lợi cho một cuộc chiến chớp nhoáng của Trung Quốc thì bối cảnh trong nước cũng hết sức bất lợi cho Việt Nam Cộng hòa khi Lưỡng viện Mỹ giảm dần viện trợ từ 1,4 tỷ USD năm 1972 xuống 1 tỷ USD năm 1973 và 700 triệu USD vào năm 1974. Quân đội Việt Nam Cộng hòa dần rơi vào thế thụ động vì thiếu nhiên liệu, vũ khí. Bất lợi hơn là ý định “bỏ rơi” miền Nam Việt Nam của Mỹ. Tình trạng phân chia Bắc – Nam cũng là một trở ngại cho phía Việt Nam Cộng hòa trong trận hải chiến 1974.

Lợi dụng bối cảnh đó, Trung Quốc đã không e ngại khi điều động chiến hạm đến cưỡng chiếm quần đảo Hoàng Sa.

Nguồn: VnExpress

Diễn biến cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974

Ngày 14/1/1974, một tàu của quân Việt Nam Cộng Hòa đã phát hiện 2 tàu hải quân Trung Quốc đang thả neo tại đảo Hữu Nhật (thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm của quần đảo Hoàng Sa), đây vốn là đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Lập tức ngày 16/1/1974, tàu HQ-16 của Việt Nam Cộng Hòa tức tốc ra thẳng đảo Hữu Nhật và phát hiện đảo Hữu Nhật và các đảo gần đó là Duy Mộng, Quang Hòa đều đã bị Trung Quốc ngang nhiên chiếm giữ. Phía Việt Nam Cộng Hòa yêu cầu Trung Quốc rời khỏi các đảo thuộc chủ quyền của Việt Nam, nhưng Trung Quốc cũng yêu cầu Việt Nam phải rời ngay khỏi các đảo thuộc chủ quyền của Trung Quốc.

Ngày 17/1/1974, một toán “người nhái” đã lên các đảo Trung Quốc chiếm đóng trái phép, nhổ cờ Trung Quốc và cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa.

Sự kiến này đã khiến Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh viết báo cáo gửi Mao Trạch Đông và đề nghị dùng vũ lực, Mao Trạch Đông phê vào bản báo cáo là “đồng ý” và nói thêm rằng “trận này không thể không đánh”.

Ngày 18/1, Chu Ân Lai họp Bộ Chính Trị và quyết định sẵn sàng tấn công hạm đội Việt Nam Cộng Hòa, sẵn sàng điều quân đến Hoàng Sa.

Ngày 18/1/1974, Việt Nam Cộng Hòa đã chuẩn bị 4 tàu chiến nhằm chiếm lại đảo. Đây đều là 4 tàu cũ của Mỹ để lại, trong đó có một tàu để quét thủy lôi được cải tiến để thành tàu tuần tra.

10 giờ sáng ngày 18/1/1974 , tàu HQ-16 mang theo quân đổ bộ đến đảo Quang Hòa, nhưng bị tàu Trung Quốc cản không cho lại gần đảo, khiến tàu HQ-16 chuyển hướng khác rồi dùng xuồng cao su tấn công chiếm lại đảo. Thế nhưng phía Trung Quốc phát hiện và nổ súng khiến 1 thiếu úy tử trận, cuộc đổ bộ bất thành và phải rút lên tàu HQ-16.

Sáng 19/1/1974, các tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa nhận lệnh đến chiếm lại đảo Quang Hòa trong hòa bình với mệnh lệnh không được nổ súng trước, yêu cầu phía Trung Quốc rời khỏi đảo.

Trên đảo Quang Hòa lúc này có cả một đại đội Trung Quốc chiếm giữ, phía Việt Nam Cộng Hòa chỉ có 74 người. Khi những người lính Việt Nam Cộng Hòa vừa đặt chân lên đảo yêu cầu Trung Quốc rút khỏi đây, lập tức phía Trung Quốc nổ súng đáp trả, khiến bên Việt Nam Cộng Hòa 2 người tử trận, 2 người bị thương.

Trước Việc Trung Quốc hung hăng không chịu rút khỏi đảo, phía Việt Nam Cộng hòa quyết định phải nổ súng để chiếm lại đảo. 4 tàu chiến của Việt Nam Cộng Hòa chia 2 hướng tiến đánh. Tàu HQ-10 và HQ-16 tiến vào lòng chảo quần phía bắc đảo Quang Hòa; tàu HQ-4 và HQ-5 tiến vào lòng chảo từ hướng tây nam.

10h25 ngày 19/1/1974, các tàu Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu khai hỏa dùng pháo bắn vào các tàu Trung Quốc, các tàu chiến của Trung Quốc di chuyển liên tục nhằm tránh đạn và nổ pháo bắn trả. Lúc này các thiết bị của Việt Nam Cộng Hòa do quá cũ kỹ nên rất khó liên lạc được với nhau ảnh hưởng lớn đến việc phối hợp.

Tàu HQ-4 vừa nhả đạn thì bộ phận bắn tự động bị hỏng, phải bắn bằng tay từng phát một rất nặng nề và chậm chạp lại không chính xác, vì vậy tàu HQ-4 phải rút lui để sửa chữa dưới sự yểm trợ của tàu HQ-5.

10h35 tàu HQ-10 bị trúng đạn, hạm trưởng bị thương, nước bắt đầu tràn vào tàu, nhưng binh sĩ trên tàu vẫn bình tĩnh giao tranh với các tàu Trung Quốc. Tàu Trung Quốc mang số hiệu 389 bị trúng đạn bốc cháy. Tàu Trung Quốc mang số hiệu 396 cũng bị trúng đạn, nhưng trước khi bị chìm tàu này đã tìm cách đâm vào tàu HQ-10 rồi chìm hẳn. Tàu HQ-10 vừa trúng đạn lại bị đâm nên không điều khiển được.

10h55 do thiết bị quá cũ kỹ nên đạn pháo của tàu HQ-5 bắn nhầm vào tàu HQ-16 khiến tàu này không thể tham chiến được và rút lui.

Thêm một tàu Trung Quốc số hiệu 274 bị trúng đạn bốc cháy phải dạt vào đảo Quang Hòa.

11h Trung Quốc điều thêm tàu trợ lực tấn công tàu HQ-5 khiến tàu này bị trúng đạn hỏng mất tháp pháo và hệ thống liên lạc. Tuy thế tàu HQ-5 vẫn cố gắng cầm cự khiến tàu Trung Quốc bị trúng đạn.

11h10 tàu HQ-10 dần dần chìm hẳn, hạm trưởng cùng 62 binh sĩ khác đã nằm lại tại nơi đây mãi mãi, số còn lại tìm cách thoát được ra ngoài tàu.

Lúc này bên Việt Nam Cộng hòa có 4 tàu thì 1 tàu bị hỏng, 1 tàu bị chìm, 2 tàu bị trúng đạn và số đạn pháo còn lại rất ít. Lúc này cố vấn Hoa Kỳ cho biết Trung Quốc điều thêm 17 tàu đến (gồm 4 tàu ngầm và 13 chiến hạm), vì thế nên quyết định rút lui. Các tàu Trung Quốc sau giao tranh bị trúng đạn hỏng nặng cũng phải rút về đảo.

Phía bên Việt Nam Cộng Hòa có 74 binh sĩ tử trận (trong đó riêng tàu HQ-10 có 63 binh sĩ gồm cả hạm trưởng Ngụy Văn Thà).

Nguồn: Tổng hợp từ Internet

Khu tưởng niệm Hoàng Sa: Nhắc nhớ nghĩa sĩ Việt Nam

Đề cập đến những sự kiện sẽ được khắc tên tại trong khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa sẽ được xây dựng ở đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), ông Nguyễn Văn Đông, Trưởng ban Tuyên giáo Lien đoàn Lao động (LĐLĐ) VN cho biết: “Người dân đất Việt không tiếc máu xương để bảo vệ chủ quyền. Khu tưởng niệm được làm trên tinh thần đó chứ không làm riêng sự kiện gì”.

Đồ án “Người mẹ thắp lửa - Ngọn lửa tưởng niệm và thắp sáng hy vọng” được chọn xây dựng Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa - Ảnh: Trung Hiếu chụp lại đồ án
Đồ án “Người mẹ thắp lửa - Ngọn lửa tưởng niệm và thắp sáng hy vọng” được chọn xây dựng Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa - Ảnh: Trung Hiếu chụp lại đồ án
Đồ án “Người mẹ thắp lửa - Ngọn lửa tưởng niệm và thắp sáng hy vọng” (của Công ty cổ phần tư vấn đầu tư bất động sản Việt Tín) đã được LĐLĐ VN chọn để xây dựng Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa tại H.Lý Sơn, Quảng Ngãi. 
Phương án này theo ban tổ chức đã nhận được 88,9% số phiếu tán thành của Hội đồng bình chọn (Tổng LĐLĐ Việt Nam chủ trì, cùng sự tham gia của Hội Kiến trúc sư Việt Nam, Hội Mỹ thuật TP.HCM, Hội Kiến trúc sư TP.HCM).
Bao nhiêu người đã ngã xuống
Chia sẻ lý do xây dựng khu tưởng niệm khi một số đồ án thiết kế tiêu biểu được trưng bày lấy ý kiến người dân ở TP.HCM tuần trước, ông Đặng Ngọc Tùng – Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam – nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã được người Việt xác lập chủ quyền từ xa xưa. Trong thời nhà Nguyễn, các đội hùng binh được chúa Nguyễn cử đi thực hiện nhiệm vụ ngoài Hoàng Sa vẫn còn lại những bút tích, công lệnh do các đời vua nhà Nguyễn ký. Các ngư dân Việt Nam từ xa xưa cũng đã có mặt và thực hiện nhiệm vụ ở Hoàng Sa.
Tuy nhiên từ năm 1974, Trung Quốc ngang ngược đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa và thành lập chính quyền Tam Sa. Từ đó, ngư dân Việt Nam không yên ổn đánh bắt cá ở đây vì bị Trung Quốc thường xuyên xua đuổi. Đến năm 1988, Trung Quốc lại đánh chiếm một số đảo chìm của quần đảo Trường Sa, đặc biệt là chiếm bãi Gạc Ma, tiếp tục gây khó dễ cho ngư dân trong việc đánh bắt ở các ngư trường truyền thống của người Việt.
“Chính phủ Pháp đã trao trả chủ quyền Hoàng Sa cho Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Việt Nam sau này đã kế thừa chủ quyền này. Để gìn giữ chủ quyền quần đảo Hoàng Sa, biết bao người con đất Việt đã ngã xuống, kể cả binh lính Việt Nam Cộng hòa vào năm 1974 và sau này nhiều ngư dân của Việt Nam đã ngã xuống vùng biển này. Việc xây dựng khu tưởng niệm là bắt nguồn từ nguyện vọng của nhân dân, ngư dân và đặc biệt là để cho thế giới và thế hệ sau này hiểu rằng quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam”, ông Tùng nói.
Ông Tùng nhấn mạnh: “Bây giờ quần đảo Hoàng Sa lọt vào tay Trung Quốc nhưng chúng tôi tin rằng con cháu chúng ta phải lấy lại bởi đó là một phần máu thịt, đất nước Việt Nam”.
Khu tưởng niệm Hoàng Sa: Nhắc nhớ nghĩa sĩ Việt Nam - ảnh 1
Ông Đặng Ngọc Tùng (ngoài cùng bên phải) - Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam - xem một số đồ án thiết kế tiêu biểu trong lần trưng bày lấy ý kiến người dân ở TP.HCM - Ảnh: Trung Hiếu
"Miễn là người Việt Nam..."
Trao đổi với phóng viên Thanh Niên qua điện thoại sáng 21.12, ông Nguyễn Văn Đông - Trưởng ban Tuyên giáo Tổng LĐLĐ Việt Nam - cho hay tối nay (21.12) ông Đông sẽ vào Quảng Ngãi khảo sát thật kỹ chuẩn bị cho lễ đặt viên đá đầu tiên của khu tưởng niệm vào ngày 17.1.2016.
Trước câu hỏi liên quan về trận chiến Hoàng Sa năm 1974 để giữ đảo có được đề cập, ông Đông cho hay sẽ không đưa danh sách 74 người lính Việt Nam Cộng hòa (VNCH) đã ngã xuống ở Hoàng Sa vào khu tưởng niệm.
Ông Trần Văn Dũng, Tổng giám đốc Công ty đầu tư bất động sản Việt Tín – đơn vị có phương án thiết kế được chọn – chia sẻ: Hoàng Sa là vùng biển đảo rất hiểm trở mà từ hàng trăm năm trước có nhiều người ra đi không trở về. Khi ra bờ kè biển thì thấy những người phụ nữ ở Lý Sơn ngóng đợi chồng con.
“Người dân hàng trăm năm qua vẫn bám vùng biển Hoàng Sa để mưu sinh. Nhưng giờ đây vùng biển đó Trung Quốc chiếm, ngư dân không có chỗ trú núp tránh bão, lại thường xuyên bị đánh, cấm, tịch thu thuyền bè, ngư cụ. Tôi nhìn hình ảnh những người vợ mỗi lần tiễn, chờ chồng, con ra khơi rất xúc động. Từ đó, tôi nghĩ đến hình tượng người mẹ ngóng chồng con trở về", ông Dũng nói.
Theo ông Đông, ý tưởng xây dựng khu tương niệm là để tri ân nghĩa sĩ Hoàng Sa từ xưa đến nay, đó là ngư dân và lực lượng bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa chứ không nói cụ thể lực lượng nào. Tuy nhiên, lịch sử và quá trình bảo vệ Hoàng Sa sẽ được điểm lại trong phần nghi lễ khởi công khu tưởng niệm.
“Người dân đất Việt không tiếc máu xương để bảo vệ chủ quyền. Khu tưởng niệm được làm trên tinh thần đó chứ không làm riêng sự kiện gì”, ông Đông nói.
Họa sĩ Huỳnh Văn Mười - Chủ tịch Hội Mỹ thuật TP.HCM, thành viên hội đồng bình chọn khu tưởng niệm - cho biết ý nghĩa của tượng đài người mẹ được chọn nhìn ra hướng biển để nhắc nhở mọi người rằng đó là một phần của tổ quốc mà bà mẹ đang đau lòng nhìn về Hoàng Sa, mong muốn đứa con trở về với đất liền.

Theo ông Mười, từ nghĩa sĩ phải hiểu theo nghĩa rộng. Đó không hẳn chỉ là người chiến sĩ mà là bao gồm cả ngư dân, đội hùng binh, nhân viên khí tượng, chiến sĩ… Tổng LĐLĐ Việt Nam đã rất tinh tế khi lấy cái tên nghĩa sĩ mang ý nghĩa khái quát lịch sử Hoàng Sa và chọn tượng đài là hình ảnh bà mẹ cầm đèn bão chờ chồng con về chứ không phân biệt từng đối tượng cụ thể.

“Việc đưa danh sách 74 người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng rất đáng làm và sẽ được lòng dân. Bởi việc bảo vệ Hoàng Sa không cần phân biệt chính thể, miễn là người Việt Nam thì phải đứng lên bảo vệ chủ quyền biển đảo, bảo vệ Hoàng Sa. Người lính Việt Nam Cộng Hòa cũng được coi là chiến sĩ bảo vệ chủ quyền biển đảo như biết bao người dân Việt Nam từ trước đến nay”, ông Mười khẳng định.

Cũng ở trong hội đồng bình chọn, KTS Nguyễn Tấn Vạn - Chủ tịch Hội Kiến trúc sư Việt Nam – cũng đồng tình khu tưởng niệm để tri ân mọi thế hệ người Việt liên quan đến lịch sử bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa chứ không phân biệt bất cứ chế độ, thời kỳ nào.

“Trong khu tưởng niệm sẽ có bức tường dài hơn trăm thước sẽ diễn tả tất cả lịch sử thăng trầm của Hoàng Sa. Hiện nội dung ghi trên bức tường này chưa được công bố và đây chính nhiệm vụ của các nhà lịch sử. Quan điểm của tôi thì không nên phân biệt”, ông Vạn bày tỏ.

Cựu binh Lê Hữu Thảo, người trực tiếp tham gia trận hải chiến Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa ngày 14.3.1988, khẳng định nên đưa danh sách 74 người lính hi sinh ở Hoàng Sa vào khu tưởng niệm. Theo cách hiểu của cựu binh Thảo, từ nghĩa sĩ chính là chiến sĩ cầm súng, giáo, gươm để chống ngoại xâm và bảo vệ lãnh thổ, chứ ngư dân, người làm khí tượng thì không gọi là nghĩa sĩ.

“Tôi tin rằng một phần khu tưởng niệm chắc chắn để tri ân 74 người lính Việt Nam Công Hòa đã hi sinh trong trận chiến Hoàng Sa. Là người Việt Nam và không tiếc máu xương bảo vệ lãnh thổ Việt Nam thì phải coi đó là người có công đối với dân tộc. Trong trận Hoàng Sa đó, những người lính Việt Nam Cộng Hòa không đụng độ với quân đội nhân dân Việt Nam mà là đánh nhau với ngoại xâm để bảo vệ biển đảo thì sự hi sinh của họ cần được ghi nhớ”, ông Thảo nói.   Trung Hiếu
Đồ án “Người mẹ thắp lửa - Ngọn lửa tưởng niệm và thắp sáng hy vọng” được chọn xây dựng Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa - Ảnh: Trung Hiếu chụp lại đồ án

Cát Hoàng Sa chứa hồn cốt cha ông


TTO - Hai năm kể từ ngày khởi công, công trình "Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa" trên đảo Lý Sơn hướng về phía Hoàng Sa với dòng chữ "Hẹn gặp lại Hoàng Sa", nằm trong chương trình "Nghĩa tình Hoàng Sa - Trường Sa" vẫn còn ở giai đoạn khởi công.

Cát Hoàng Sa chứa hồn cốt cha ông - Ảnh 1.

Nâng niu những chiếc bình đựng cát Hoàng Sa đổ vào chân viên đá đầu tiên tại lễ khởi công “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa” ngày 17-1-2016 - Ảnh: TẤN VŨ

Dù có khó khăn mặt này mặt khác, tôi tin công trình “Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa” sẽ được hoàn thành. Tôi mong từng ngày, từng giờ. Những hạt cát Hoàng Sa đã nằm ở công trình, anh linh của hải đội Hoàng Sa, nghĩa sĩ Hoàng Sa cũng đã ở đó để chờ đợi

Ông ĐẶNG NGỌC TÙNG

"Đó là một trong những việc tôi dành nhiều tâm huyết nhất khi làm việc ở Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam. Khi nghỉ hưu, tôi đã ghi vào biên bản bàn giao với người kế nhiệm: "Phải cố gắng hoàn thành công trình". 

Những ngày tháng 1 này, nỗi niềm với công trình chưa hoàn thành trong tôi lại cuộn lên" - ông Đặng Ngọc Tùng, cựu chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, giãi bày.

Cát Hoàng Sa chứa hồn cốt cha ông - Ảnh 3.

Ông Đặng Ngọc Tùng - Ảnh: TỰ TRUNG

Run tay cầm hạt cát Hoàng Sa

* Nhắc về công trình ấy, điều gì ông nghĩ đến đầu tiên?

- Ông Đặng Ngọc Tùng: Nghĩ đến đầu tiên chính là những hạt cát trắng Hoàng Sa. Chúng tôi ấp ủ, tìm cách để thực hiện công trình: khảo sát Lý Sơn nhiều lần tìm địa điểm, tổ chức cuộc thi toàn quốc tuyển chọn thiết kế dự án, tổ chức triển lãm để lấy ý kiến góp ý, tổ chức quyên góp kinh phí...

Nhưng tất cả vẫn chưa thể sánh bằng tấm lòng của người dân Lý Sơn. Những ngư dân Lý Sơn đã không màng nguy hiểm, vượt sóng đến tận Hoàng Sa, lặn lội vào đảo để mang về cả tấn cát Hoàng Sa cho ngày khởi công, đặt viên đá đầu tiên của công trình.

* Họ làm thế nào để lấy được cát từ Hoàng Sa đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm?

- Khi nghe các ngư dân bày tỏ ý định, tôi đã ngăn cản, sợ xảy ra nguy hiểm nhưng họ quả quyết: "Đó là đảo của Việt Nam, là ngư trường mưu sinh của cha ông chúng tôi. Chúng tôi vẫn đến đó, thuộc như lòng bàn tay. Công trình vọng nhớ Hoàng Sa không thể thiếu hạt cát Hoàng Sa".

Tôi không ngăn được quyết tâm của họ. Các ngư dân âm thầm đi. Rồi họ về, mang theo mấy tấn cát.

* Cảm giác của ông hẳn là khó có thể tả bằng lời...

- Nghe báo tin, tôi ngỡ ngàng xúc động, không nói nên lời. Cầm hạt cát Hoàng Sa trên tay mà tôi run run, nghĩ đó là xương máu của cha ông.

Tại lễ khởi công "Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa", chúng tôi đã rất trân trọng bê những chiếc bình đựng hạt cát Hoàng Sa đổ vào chân viên đá đầu tiên. Lòng biết ơn của chúng tôi với bao thế hệ người đã khuất ở đó. Lòng yêu nước, sắt son, kiên trung vì Tổ quốc trường tồn của người dân cũng ở đó.

Chúng tôi đã đóng những hạt cát ấy vào biểu tượng cột chủ quyền Hoàng Sa làm bằng thủy tinh, trao tặng các nhà hảo tâm đã đóng góp vào chương trình "Tấm lưới nghĩa tình", "Nghĩa tình Hoàng Sa - Trường Sa" theo đúng nguyện vọng của ngư dân.

* Chương trình "Tấm lưới nghĩa tình" đã trợ giúp ngư dân cụ thể như thế nào?

- Từ năm 2011, 2012, Trung Quốc đơn phương tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa, lấy đảo Phú Lâm làm trung tâm và họ đẩy mạnh việc kiểm soát ngư trường Hoàng Sa, liên tục bắt bớ, tịch thu ngư cụ và phương tiện đánh bắt của ngư dân Việt Nam, đẩy ngư dân ra khỏi ngư trường truyền thống... 

Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam phát động chương trình "Tấm lưới nghĩa tình", vận động đoàn viên đóng góp để giúp ngư dân trang bị lại ngư cụ, tiếp tục ra khơi bám biển, bám ngư trường truyền thống, góp phần giữ chủ quyền biển đảo.

Cờ Việt Nam vẫn tung bay trên ngư trường Hoàng Sa bất chấp sự hăm dọa, xua đuổi, bắt bớ, đánh đập, tịch thu... của phía Trung Quốc.

* Hiện giờ, các chương trình ấy vẫn được duy trì tốt chứ?

- Phải nói thật là từ ngày nghỉ hưu, tôi không còn điều kiện để theo dõi, đốc thúc sát sao, nhưng tôi biết anh em vẫn đang tích cực thực hiện vì ai cũng hiểu đây là việc chung phải làm vì người dân Việt, vì đất nước Việt Nam. 

Mỗi khi gặp các anh em ở tổng liên đoàn, tôi đều nhắc đi nhắc lại ý nghĩa nhân văn sâu sắc của các công trình "Nghĩa tình Hoàng Sa - Trường Sa": gắn kết toàn dân tộc, tri ân các thế hệ người Việt đã đứng ngoài đầu sóng ngọn gió, hi sinh bảo vệ Tổ quốc.

Cát Hoàng Sa chứa hồn cốt cha ông - Ảnh 4.

Ông Nguyễn Quốc Chinh - Ảnh: MINH THU

Mong ngày xúc cát đàng hoàng, an nhiên

Giọng ông Nguyễn Quốc Chinh - chủ tịch Hội Nghề cá An Hải, Lý Sơn (Quảng Ngãi) - sôi nổi khi kể về hạt cát: 

"Cát Hoàng Sa đặc biệt lắm, chỉ nhìn chúng tôi cũng phân biệt được chứ chưa cần cầm trên tay. Ấy là những hạt cát trắng, mịn và đặc biệt là rất nặng, nặng hơn hẳn cát vàng. Ngư dân chúng tôi tin nó chứa hồn cốt cha ông mình nên mới nặng như vậy".

* Nghe như thể các ông rất quen thuộc với Hoàng Sa?

- Ông Nguyễn Quốc Chinh: Ngư dân Lý Sơn đều thuộc ngư trường Hoàng Sa, những đảo Hoàng Sa như lòng bàn tay, như vườn cây ao cá nhà mình. Tuy đã bị Trung Quốc cưỡng chiếm 44 năm nay nhưng đó vẫn là ngư trường truyền thống của chúng tôi, vẫn là nơi chúng tôi neo tàu trú bão, tránh gió.

Hoàng Sa ngoài khơi, ngay trước mặt Lý Sơn. Ngư dân Lý Sơn chưa có ngày nào bỏ Hoàng Sa, cha ông di ngôn luôn nhắc Hoàng Sa. 

Lời ca của người Lý Sơn nhắc: "Hoàng Sa trời nước mênh mông / Người đi thì có mà không thấy về / Hoàng Sa mây nước bốn bề / Tháng 2 khao lề thế lính Hoàng Sa"... Bao nhiêu xương máu cha ông chúng tôi đã nằm lại nơi đó.

* Ngoài những ngôi mộ gió, lễ khao lề thế lính đã duy trì hàng trăm năm, Lý Sơn còn tập tục nào liên quan đến Hoàng Sa?

- Mỗi năm tết đến, các gia đình Lý Sơn sửa soạn lại bàn thờ, thay cát trong các lư hương. Cát ấy nhất định phải là cát Hoàng Sa, vì cha ông chúng tôi đã để xương cốt lại Hoàng Sa. Tập tục ấy vật đổi sao dời cũng không thể bỏ.

* Ông nghĩ gì trong những lần lấy cát ở Hoàng Sa?

- Ngư trường là của Việt Nam, đảo là của Việt Nam. Dù đảo đã bị cưỡng chiếm nhưng chúng tôi vẫn bám ngư trường để đánh bắt, tất nhiên cũng vẫn sẽ vào đảo lấy được cát. Nói thật là nguy hiểm. 

Ban ngày chúng tôi neo gần các bãi cát không có quân Trung Quốc đóng, ban đêm ngậm ống thở lội vào xúc cát rồi cột dây kéo ra. Khi lấy cát để đưa vào công trình tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa cũng làm như vậy. 

Nhiều người ở đất liền nói tụi tôi như thế là dũng cảm, nhưng chúng tôi chỉ mong một ngày được xúc bụm cát đàng hoàng, an nhiên.

* Người dân Lý Sơn nghĩ thế nào về công trình tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa?

- Mỗi người Lý Sơn, nhất là những ngư dân như chúng tôi, đều đã có công trình tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa trong lòng mình, nhưng chúng tôi vẫn mong công trình được xây dựng và hoàn thành từng giờ từng phút.

Đó sẽ là điểm tập hợp, sẽ là nơi chúng tôi giới thiệu với du khách đến đảo, với con cháu mình về truyền thống của Lý Sơn và truyền thống của Hoàng Sa. Hai năm qua, thấy công trình chậm trễ, chúng tôi sốt ruột lắm chứ, nhưng cũng biết có nhiều cái khó...

* Việc khai thác ngư trường Hoàng Sa thời gian gần đây đã diễn tiến thế nào?

- Rất khó khăn và nhiều thiệt hại. Nguồn vốn vay của Nhà nước, hỗ trợ của các tổ chức tuy không lớn, không bù đắp lại nổi nhưng là nguồn động lực, động viên rất lớn để chúng tôi bám ngư trường. 

Mấy năm nay, nguồn ấy rất hạn hẹp khiến nhiều ngư dân mất tàu phải bỏ nghề. Nghiệp đoàn An Hải giảm mất một nửa số tàu so với cách đây 3 năm, bên An Vĩnh cũng vậy. Chúng tôi rất buồn, nhưng những người còn lại vẫn phải cố giữ nghiệp đi biển, giữ ngư trường Hoàng Sa...

buivancuong-qh1 3(read-only)

Ông Bùi Văn Cường (chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam):

Sẽ cố gắng hơn nữa

Công trình "Khu tưởng niệm nghĩa sĩ Hoàng Sa" tại đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi vẫn đang được chúng tôi lên kế hoạch thực hiện với tất cả sự trân trọng và cẩn trọng, chứ không phải gấp rút cho xong.

Thời gian qua, chúng tôi đã tổ chức lấy ý kiến người dân Quảng Ngãi và Lý Sơn một lần nữa để điều chỉnh tượng đài cho thật phù hợp: điều chỉnh cây đèn bão thành đèn chai, có nên thêm một em bé bên cạnh người phụ nữ?...

Địa điểm đặt tượng cũng làm khảo sát địa chất một lần nữa thật kỹ lưỡng để tính toán về đất nền, gió bão. Kinh phí đang phải tính thêm nguồn. Hồ sơ xây dựng cũng đã được làm hoàn chỉnh cho thật đúng quy định...

Sau hai năm như vậy có lẽ là chậm, nhưng chúng tôi vẫn đang tích cực xúc tiến. Biết người dân Lý Sơn và cả nước đang chờ đợi, chúng tôi sẽ cố gắng hơn nữa.

Hoàng Sa - Trường Sa lãnh hải

Biển cả mênh mông

Tháng năm vô định

Biết mấy phen thề non hẹn biển

Quyết một lòng chiến đấu đến cùng

Mong ơn trên soi thấu tấm kiên trinh

Trường tranh đấu biết đâu là số mệnh...

(Trích Văn tế khao lề thế lính Hoàng Sa)

Huệ Vũ: Nhân ngày tưởng niệm chiến sĩ Hoàng Sa

Ngày 19/1 là ngày tưởng niệm 75 chiến sĩ VNCH đã hy sinh bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Điều chúng tôi cảm thấy vô cùng lạc quan cho tương lai đất nước là hàng năm, nhất là những năm gần đây, thanh niên, người dân trong nước đã tổ chức những buổi lễ tưởng niệm họ.

Tại sao Bắc Kinh quyết định đánh chiếm Hoàng Sa, và đã có sự đồng ý trước của Hoa Kỳ hay không , vẫn còn là một bí mật của lịch sử. Nếu không biết chắc chắn Đệ Thất Hạm Đội sẽ không can thiệp, Bắc Kinh khó thể mạo muội làm điều này. Lúc bấy giờ, hải quân Trung Cộng so ra còn yếu kém hơn Hải quân VNCH.  Ngay 4 chiến hạm tham gia trận chiến Hoàng Sa của 2 bên, các chiến hạm VNCH cũng tân tiến hơn.

Nhiều nghi vấn đã được nêu lên:

Thứ nhất: Tại sao viên cố vấn Gerald Kosh đã đòi lên đảo Hoàng Sa trước khi hải chiến diễn ra, rồi sau đó viên cố vấn này ra lệnh, cho nên quân đội trú phòng trên đảo buông súng đầu hàng!

Thứ nhì: Tại sao Hoa Kỳ đã ngăn cản không cho phi cơ F-5 ở phi trường Đà Nẵng cất cánh. Theo nhiều chuyên gia, phi cơ F-5 ở Đà Nẵng có khả năng bay ra Hoàng Sa tấn công địch trong vòng thời gian 20 phút.

Thứ ba- VNCH đã yêu cầu Hạm Đội 7 giúp đỡ, nhưng bị từ chối, thậm chí Hải Quân Hoa Kỳ cũng đã không tham gia cứu giúp quân nhân VNCH đang trôi giạt trên biển.

Thứ tư: Trong thời gian chiến sự cơ quan DAO thông báo cho Hải Quân VNCH rằng thì là..radar của Đệ Thất Hạm Đội cho thấy một số tàu chiến rất lớn của Trung Cộng đang từ Hải Nam ra Hoàng Sa tăng viện, nhưng hoàn toàn không có điều này.

Sau khi chiếm Hoàng Sa, Trung Cộng đã ca tụng lòng dũng cảm của quân nhân họ: “Tương quan sức mạnh của hai bên có sự chênh lệch quá lớn, hiếm thấy trong lịch sử chiến tranh hải quân. Hải quân Việt Nam Cộng hòa được đánh giá là có sức mạnh nằm trong Top 10 thế giới, trong khi phi cơ  chiến đấu của Trung Quốc không thể bay tới Tây Sa (Hoàng Sa), hạm đội Nam Hải phải gánh vác trọng trách lớn nhất trong trận đánh. ..Mặc dù hải quân Trung Quốc kém hơn về trang bị, nhưng binh sĩ có lòng can đảm và tinh thần chiến đấu tốt..” !!!

Chiến tranh VN vẫn đang còn nhiều bí mật. Nhiều tài liệu cho biết, lúc bấy giờ ảnh hưởng của Nga đối với Hà Nội rất lớn, Trung Cộng không muốn Bắc Việt chiến thắng, giữ nguyên trạng phân chia, nhưng Hoa Kỳ đã muốn bỏ VNCH nên đã để Trung Cộng chiếm Hoàng Sa nhằm sau này ngăn chận hạm đội Nga, và khó biết phải như vậy hay không?  Năm 1974, tình hình Nam VN đã nguy ngập, cho nên khó lòng đưa ra kế hoạch tái chiếm Hoàng Sa! Tuy nhiên, cũng có nhiều nhân chứng cho biết, VNCH đã có những kế hoạch tái chiếm, nhưng cũng đã bị Hoa Kỳ cảnh cáo và phải dẹp bỏ.

Chiếm Hoàng Sa năm 1974, thì vào đầu năm 1988, Trung Cộng đã đưa quân đánh các chiếm bãi đá Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Xu Bi, Cô Lin, Gạc Ma và Len Đao. CSVN đã đưa quân ra tái chiếm theo kế hoạch CQ-88. Chiến cuộc hai bên xảy ra vào ngày 14-3-1988, phía CSVN mất 3 chiếc tàu, 64 thủy quân. Và chỉ chiếm lại được đá Len Đao.  Từ năm 1988 đến nay, Trung Cộng tiếp tục chiếm giữ 7 hòn đá trong quần đảo Trường Sa, ra sức biến các đảo đá này thành đảo nhân tạo.

Vào  tháng 11/2007 Quốc Hội Trung Cộng tuyên bố thành lập quận mới đặt tên Tam Sa Thị gồm quần đảo Hoàng Sa (Tây Sa), Trung Sa (Macclessfiled Bank) và Trường Sa (Nam Sa) đã tạo nên một cuộc phản đối của người Việt khắp hải ngoại, và lần đầu tiên thanh niên Việt Nam trong nước đã “dám” xuống đường biểu tình khi chưa “được phép” của chính quyền Hà Nội. Thành phố Tam Sa đã được thành lập trong tháng 7 năm 2012 trên đảo Phú Lâm.

Quần đảo Hoàng Sa có tên quốc tế là Paracel Islands, Trung Cộng gọi là Tây Sa quần đảo  gồm 130 hòn đảo, đá ngầm,  cồn cát nằm trải rộng trên Biển Đông trong một vùng dài 250 cây số, rộng 150 cây số.  Đảo Phú Lâm, Trung Cộng gọi là đảo Vĩnh Hưng, là hòn đảo lớn nhất trong  quần đảo, dài 1.3 cây số, rộng khoảng 1 cây số, được chọn mà nơi đặt cơ sở hành chánh cho Tam Sa Thị.

Quần đảo Trường Sa, Tàu gọi là Vạn Lý Trường Sa hay Vạn Lý Thạch Đường gồm 148 đảo, cồn san sô, bãi cát ngầm có địa danh và trên 600 trăm cồn, đụn, đá ngầm vô danh khác. Tuy diện tích đất tổng cộng chỉ khoảng 5 cây số vuông, nhưng nằm trải rộng trên một diện tích 410.000 cây số vuông, là vùng vựa cá, hải sản hiếm quý và có trử lượng dầu lửa và dầu khí rất lớn. Ước tính khoảng 17.7 tỷ tấn dầu. Sau khi chiếm 7 hòn đá, Trung Cộng đã nỗ lực mở rộng biến thành đảo nhân tạo.  Cho tới nay Trung Cộng đã xây các hải cảng, và xây 3 phi trường ở Trường Sa là Vĩnh Thử trên đá Chữ Thập, Chử Bích trên đá Xu-bi và Mỹ Tế trên đá Vành Khăn. Phi trường Vĩnh Thử có thể dùng cho phi cơ phản lực chiến đấu, phi cơ vận tải hạng nặng. Theo Asia Maritime Transparency Initiative – AMTI – Trên các đảo Tư Nghĩa, Ga Ven, Gạc Ma, Vành Khăn, Chữ Thập, Xu-Bi, Châu Viên, Trung Cộng đều đã xây những công sự phòng không, súng nặng..

Để nêu ra chủ quyền đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Trung Cộng đã tìm cách đưa ra nhiều chứng minh lịch sử. Những dẫn chứng lịch sử của Trung Cộng gồm: Dương Phúc đời Đông Hán viết sách Nam Châu Dị Vực Chí đã nói tới các hải đảo, bãi đá ngoài biển “Thương Hải” tức biển đông ngày nay. Đời Tam Quốc, Ngô Quyền đã phái  Khang Thái đi sứ Phù Nam và Khang Thái đã viết cuốn sách Phù Nam Truyện nói về các đảo trên biển Đông. Uông Đại Nguyên đời nhà Nguyên đã viết sách nói về Nam Sa, những danh từ Vạn lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường, Vạn Lý Ba Bình đã có từ đời Tống, đời Nguyên v.v. Đời Minh, Thái Giám Trịnh Hòa cũng đã vẽ bản đồ hải hành ở Biển Đông, trên bia mộ của viên tướng trấn đóng trên đảo Hải Nam đời Minh tên là Tiền Thế Tài  nói rằng viên tướng này đã đưa hàng chục ngàn quân đi tuần xa trên biển hàng ngàn lý v.v.

Những dẫn chứng lịch sử dù “lâu đời” của Trung Cộng  có thực đi nữa cũng không có giá trị để có thể nói những quần đảo trên biển Đông thuộc chủ quyền của Trung Cộng. Sự hiểu biết địa lý giống như Trương Khiên đời Hán Vũ Đế đi sứ Tây Vực, nói tới các nước Trung Á ngày nay rồi những nước này phải thuộc chủ quyền của Trung Cộng! Hay nếu Kha Luân Bố trên đường đi tới Mỹ Châu, gặp hòn đảo nào ghi lại trên chuyến hành trình của ông thì những đảo đó phải thuộc chủ quyền của Tây Ban Nha! Hạm đội Hoa Kỳ đi tuần khắp nơi trên thế giới thì những đảo ngoài hải phận quốc tế phải thuộc Hoa Kỳ! Khi biết nhưng không lấy, không chiếm giữ của vẫn là của giữa trời, ai chiếm giữ, chứng tỏ có chủ quyền trước thì người đó là chủ.

Quần đảo Hoàng Sa đã được Việt Nam làm chủ từ thời Vua Lê, Chúa Nguyễn. Sách Đại Nam Thống Nhất Chí viết: “ Hồi đầu bản triều, đặt đội Hoàng Sa, có 70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hàng năm, cứ tháng 3, là ra biển tìm kiếm hải vật, đến tháng 8 thì do cửa Tư Hiền về nộp; lai đặt ra đội Bắc Hải, do đội Hoàng Sa kiêm quản, để đi lấy hải vật ở các đảo… Đầu đời Gia Long phỏng theo lệ cũ đặt đội Hoàng Sa. Đầu đời Minh Mệnh thường sai người đi thuyền đến đấy thăm dò đường biển… Năm Minh Mệnh thứ 16, sai thuyền công chở gạch đá đến đấy xây đền, dựng bia đá…”   Theo Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ năm 1838 lãnh thổ Việt Nam đã được bao gồm hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Sau khi Việt Nam bị Pháp đô hộ, Pháp vẫn coi hai quần đảo là đất Việt Nam, tiếp tục bảo vệ và chính thức tuyên bố chủ quyền với thế giới. Trong thời gian Thế Chiến Thứ Hai, hai quần đảo lọt vào tay Nhật. Hội nghị San Francisco năm 1951, gồm 51 nước tham dự để ký hiệp ước hòa bình với Nhật, Thủ tướng Trần Văn Hữu đại diện chính phủ Việt Nam tham dự hội nghị đã tuyên bố hai quần đảo thuộc chủ quyền Việt Nam cũng không nước nào phản đối. Trong thời gian Việt Nam Cộng Hòa, chính phủ  đã đưa quân đóng giữ Hòang Sa và Trường Sa. Có thể nói hai quần đảo này đã được Việt Nam khai thác, chiếm giữ liên tục từ thế kỷ thứ 17.

Sau năm 1974, Hà Nội đã mặc nhiên công nhận sự chiếm đóng của Trung Cộng ở Hoàng Sa. Rồi Từ năm 1988 tới nay Hà Nội vẫn nằm im, không chứng tỏ ý chí quyết tâm tranh chấp với Trung Cộng đối với quần đảo Trường Sa, mặc nhiên công nhận sự chiếm đóng của Trung Cộng. Đây là điều đáng tức giận.

Trước việc Trung Cộng bắt bớ ngư dân người Việt chúng ta đã nhiều lần đứng lên chống đối mạnh mẽ, thể hiện lòng yêu nước của con dân Việt. Sự xuống đường của sinh viên, thanh niên Việt Nam trong nước càng đáng kính phục và ngưỡng mộ. Đây là điều chứng tỏ thế hệ mới của Việt Nam trong nước sẽ làm nên lịch sử. Sẽ không còn mãi cúi đầu trước bạo quyền.

Tuy nhiên, nhân cơ hội này, có lẽ người Việt chúng ta cũng cùng phải nghĩ lại là phải làm gì thực tế hơn để cứu lấy non sông? Chúng ta chống Trung Cộng chiếm biển đảo, nhưng chính quyền, quân đội, tư cách pháp nhân vẫn nằm trong tay Việt Cộng, một tập đoàn sẳn sàng bán nước, dâng đất dâng biển thì phải chăng chúng ta cũng khó làm được điều gì! Phải chăng nhu cầu cấp thiết nhất để cứu lấy non sông vẫn là phải lật đổ cho được chế độ bán nước.

Để có thể sẳn sàng giành lại Hoàng Sa, Trường Sa  trên mặt pháp lý trước Tòa Án Quốc Tế, hay biện pháp nào khác đi nữa, Việt Nam phải có một chính phủ quyết tâm, thật sự đại diện cho toàn dân, cho quyết tâm của toàn dân, chứ không phải là một chính phủ tay sai Tàu Cộng.

Để có thể giành lại chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, Việt Nam phải có một chính phủ hoàn toàn mới, không phải là chính phủ của chế độ đã từng gởi công hàm bán nước cho Tàu Cộng.

Hy vọng rằng tinh thần yêu nước của người Việt trong và ngoài nước sẽ được hướng dẫn đúng mục tiêu, thấy rõ chúng ta bị bọn bán nước cai trị, phải giải quyết thành phần này, cáo chung chế độ này trước khi tìm cách lấy lại đất đai, hải đảo và biển cả đã mất.

Huệ vũ

PHẠM VŨ thực hiện

Khu tưởng niệm Hoàng Sa: Nhắc nhớ nghĩa sĩ Việt Nam



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Hai máy bay do Trung Quốc sản xuất rơi liên tiếp ở Myanmar, 3 người chết- VN từ chối nhân viện trợ máy bay TQ! [NEW]
Mẹ Nấm thoát địa ngục [NEW]
Diễn biến kinh khủng vụ nhà báo Ả rập nghi bị “phân xác” tại lãnh sự quán [NEW]
Kế hoạch phản công tái chiếm Hoàng Sa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ cảnh báo Trung Quốc đừng bóc lôt. bắt nạt các nước nhỏ như VN trước chuyến công du châu Á- Người VN nên hiến kế cho TT Trump đánh TQ đòi Hoàng Sa
Mật vụ Mỹ tiết lộ Tổng thống Trump từng thoát âm mưu ám sát ở Philippines
Sắp theo Quang, Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Sắp theo Quang, Cựu Trung tướng Phan Văn Vĩnh cựu tổng cụ trưởng Cành Sat bệnh nặng phải nhập viện
Nhà hàng Tàu thịt người: Xác những người di cư bị đông đá rong nhà hàng Tàu Cộng ở Pháp
Vì sao CSVN dung dưỡng bọn Tây ấu dâm làm hại thiếu nhi VN?
Dốt Anh ngữ, đài Truyền hình quốc gia VTV dán nhãn IMF - International Monetary Fund là International Mother Fucker
VN Tỷ Lệ Cao Kỷ Lục Thế Giới Về Ung Thư Gan Vì Nhậu Tới Xơ Gan- Cách trị liệu
Làm nhục TQ: Chánh Văn phòng tòa Bạch Ốc yêu cầu quan chức Trung Quốc xin lỗi dưới cờ Mỹ
VN thống nhất tiền tệ với TQ: Thông tư 19 cho dùng Nhân dân tệ trong nước
Chính trị, Nhẫn tâm, Nghĩa tận và Mùa đảng tang

     Đọc nhiều nhất 
Bảng Tổng sắp huy chương ASIAD 25/8: Bất ngờ VN thua Campuchia- Thắng túc cầu Syria [Đã đọc: 388 lần]
4 Động tác phòng chống đột quỵ rất hiệu nghiệm -Trị gút, đái đường- Đọc bài nầy có thể cứu sinh mạng bạn và người thân [Đã đọc: 376 lần]
Nguyễn Ái Quốc đã chết từ năm 1932, HCM là gián điệp người Tàu, lừa cả dân tộc VN gần suốt thế kỷ! [Đã đọc: 330 lần]
Thêm bằng chứng bán nước của CSVN: Quả địa cầu TQ với hình bản đồ Việt Nam không có tỉnh Quảng Ninh và các đặc khu kinh tê thuộc TQ [Đã đọc: 326 lần]
Lực lượng Nam Phi Châu phục vụ các nữ đại gia, mệnh phụ và quan chức VN khát tình [Đã đọc: 304 lần]
Hiện tượng dã man trong học đường thời XHCN: Một Nữ sinh bị đánh lột tập thể tại VN. [Đã đọc: 299 lần]
Thượng nghị sĩ Mỹ John McCain qua đời vì ung thư não [Đã đọc: 297 lần]
Khủng bố: Xả súng liên tiếp tại London, ít nhất 3 người bị thương [Đã đọc: 270 lần]
Chủ tịch nhà nước(tổng thống) Trần Đại Quang từ trần theo bác Hồ - CS sắp sụp đổ [Đã đọc: 268 lần]
Những nguyên thủ và chính khách quốc tế nào đã lây nhiễm vi rút độc lạ của Chủ tịch Trần Đại Quang cần đi khám nghiệm máu? [Đã đọc: 262 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.