Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Bảy 2018
T2T3T4T5T6T7CN
            1
2 3 4 5 6 7 8
9 10 11 12 13 14 15
16 17 18 19 20 21 22
23 24 25 26 27 28 29
30 31          
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 3
 Lượt truy cập: 10828016

 
Tin tức - Sự kiện 22.07.2018 09:28
Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường xin lỗi vụ thảm sát Mậu Thân
11.02.2018 05:22

Nhà văn cộng sản nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa cho công bố một bức thư cuối đời gửi cho bạn bè. Trong đó, lần đầu tiên ông đã nhìn nhận sai lầm của quân nổi dậy CSVN  trong vụ tàn sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế.

Nhà văn cộng sản nằm vùng Hoàng Phủ Ngọc Tường vừa cho công bố một bức thư cuối đời gửi cho bạn bè. Trong đó, lần đầu tiên ông đã nhìn nhận sai lầm của quân nổi dậy CSVN  trong vụ tàn sát Tết Mậu Thân 1968 ở Huế.

Thư đề ngày 1 tháng 2, vừa được nhà văn CSVN Nguyễn Quang Lập công bố trên mạng. Trong thư, ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, 81 tuổi, đã công nhận mình nói dối trước đây,  khi trả lời phỏng vấn ông Wilfred Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam: Một Thiên Lịch Sử Truyền Hình”. Ông đã trả lời như một nhân chứng sống trong biến cố Mậu Thân Huế 1968. Nhưng nay, Ông nói mình đã không hề về Huế, do “tình hình phức tạp”.

Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn nhận rằng sai lầm này khiến ông luôn day dứt suốt nhiều năm và muốn “ngàn lần xin lỗi”.
Trong đoạn phim trả lời phỏng vấn, để chứng tỏ mình là người “trong cuộc”, ông Tường đã dùng đại danh từ nhân xưng “tôi” và “chúng tôi” khi kể một vài chuyện ở Huế. Thực ra, ông chí kể những câu chuyện mà ông nghe người khác kể lại.
Cũng trong cuộc trả lời phỏng vấn này, khi nói về cuộc thảm sát ở Huế, ông Tường đã hăng hái bảo vệ cộng sản miền Bắc và đổ tội cho Hoa Kỳ. Bức thư nói ông Tường đã nhận ra sai lầm của mình trong thập niên 1980, và tự gọi đó là “ngụy biện”

Ông Tường xác nhận: Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu Thân 1968. Ông đã mang theo một “nỗi thống thiết tận đáy lòng”, mỗi khi nghĩ về “những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân”. Theo ông Tường, đây là “một sai lầm không thể nào biện bác được”.

Lời thú tội lúc cuối đời của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường tung ra vào thời điểm này là hết sức quan trọng. Nhà cầm quyền CSVN hiện đang tổ chức rầm rộ lễ kỷ niệm 50 năm biến cố Mậu Thân 1968 như một “trận đại thắng”.  Phía CSVN trước đây vẫn sử dụng ông Tường như là một nhân chứng sống để phản bác các cáo buộc về vụ thảm sát Mậu Thân. Theo phía CSVN và ông Tường, tội ác này là do Mỹ gây ra, và đổi tội cho phe cộng sản Bắc Việt.
Sau đây là toàn văn bức thư của ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, cùng video ông Tường dẫn theo bức thư.

Huy Lam / SBTN

Hoàng Phủ Ngọc Tường: Lời cuối cho câu chuyện quá buồn
“Tôi đọc cho con gái chép một bài viết nhỏ này xin gửi tới bà con bạn bè thương mến, những ai yêu mến, quen biết và quan tâm đến tôi. Còn những kẻ luôn đem tôi ra làm mồi nhậu cho dã tâm của họ như ông Liên Thành và bè đảng của ông ta, tôi không muốn mất thời giờ đối đáp với họ. Dĩ nhiên bài viết này không dành cho họ.

Năm nay tôi 81 tuổi, và tôi biết, còn chẳng mấy hồi nữa phải về trời. Những gì tôi đã viết, đã nói, đã làm rồi trời đất sẽ chứng nhận. Dầu có nói thêm bao nhiêu cũng không đủ. Tốt nhất là im lặng bằng tâm về cõi Phật. Duy nhất có một điều nếu không nói ra tôi sẽ không yên tâm nhắm mắt. Ấy là câu chuyện Mậu thân 1968.Vậy xin thưa:
Mậu Thân 1968 tôi không về Huế. Tôi, ts Lê Văn Hảo và bà Tùng Chi (những người lên chiến khu trước) được giao nhiệm vụ ở lại trạm chỉ huy tiền phương- địa đạo Khe Trái (Thuộc huyện Hương Trà- tỉnh Thừa Thiên)- để đón các vị trong Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế như Hoà thượng Thích Đôn Hậu, cụ Nguyễn Đoá, ông Tôn Thất Dương Tiềm… lên chiến khu.Mồng 4 tết tôi được ông Lê Minh (Bí thư Trị- Thiên) báo chuẩn bị sẵn sàng về Huế. Nhưng sau đó ông Lê Minh báo là “tình hình phức tạp” không về được. Chuyện là thế. Tôi đã trả lời ở RFI, Hợp Lưu, Báo Tiền Phong chủ nhật… khá đầy đủ. Xin không nói thêm gì nữa.
Sai lầm của tôi là nhận lời ông Burchett và đoàn làm phim “Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình” trả lời phỏng vấn với tư cách một nhân chứng Mậu thân Huế 1968, trong khi tôi là kẻ ngoài cuộc.Tôi xác nhận đây là link clip tung lên mạng là bản gốc cuộc phỏng vấn:

https://youtu.be/MaNr16RDrzQĐể chứng tỏ mình là người trong cuộc, tôi đã dùng ngôi thứ nhất- “tôi”, “chúng tôi” khi kể một vài chuyện ở Huế mậu thân 68. Đó là những chuyện anh em tham gia chiến dịch kể lại cho tôi, tôi đã vơ vào làm như là chuyện do tôi chứng kiến.

Đặc biệt, khi kể chuyện máy bay Mỹ đã thảm sát bệnh viên nhỏ ở Đông Ba chết 200 người, tôi đã nói: “Tôi đã đi trên những đường hẻm mà ban đêm tưởng là bùn, tôi mở ra bấm đèn lên thì toàn là máu… Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…”. Chi tiết đó không sai, sai ở chỗ người chứng kiến chi tiết đó không phải là tôi, mà là tôi nghe những người bạn kể lại. Ở đây tôi là kẻ mạo nhận, một việc rất đáng xấu hổ, từ bé đến giờ chưa bao giờ xảy ra đối với tôi.

Cũng trong cuộc trả lời phỏng vấn này, khi nói về thảm sát Huế tôi đã hăng hái bảo vệ cách mạng, đổ tội cho Mỹ. Đó là năm 1981, khi còn hăng say cách mạng, tôi đã nghĩ đúng như vậy. Chỉ vài năm sau tôi đã nhận ra sai lầm của mình. Đó là sự nguỵ biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu thân 1968.
Tôi đã nói rồi, nay xin nhắc lại:
Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
Từ hai sai lầm nói trên tôi đã tự rước hoạ cho mình, tự tôi đã đánh mất niềm tin yêu của nhiều người dân Huế đối với tôi, tạo điều kiện cho nhiều kẻ chống cộng cực đoan vu khống và qui kết tôi như một tội phạm chiến tranh.Tôi xin thành thật nhìn nhận về hai sai lầm nói trên, xin ngàn lần xin lỗi.

Sài Gòn, ngày 1 tháng 2 năm 2018
Hoàng Phủ Ngọc Tường”

Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nhìn nhận ‘sai lầm’ về Mậu Thân ở Huế

Có thể hiểu phát ngôn của ông Tường là cách ông phủ nhận việc mình đã có mặt ở Huế trong cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân và bác cáo buộc ông “can dự vào các vụ thảm sát ở Huế thời điểm đó.”

Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời vấn của đài truyền hình WGBH hồi năm 1981. (Hình: Cắt từ clip Youtube)

Tuy nhiên, dù bác bỏ cáo buộc “can dự vào các vụ thảm sát ở Huế thời điểm đó,” và dù thừa nhận “những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân,” nhưng trong bức thư, ai, kẻ nào là thủ phạm cuộc thảm sát Mậu Thân ở Huế thì ông Tường không nên đích danh.

Trong bối cảnh dư luận chưa hết phẫn nộ về việc nhà cầm quyền CSVN tổ chức sự kiện Mậu Thân rầm rộ ở Sài Gòn vừa qua, lời “tự thú muộn màng và thiếu chân thành” của ông Tường càng khiến cộng đồng mạng dấy lên sự phẫn nộ.

Nhà báo tự do Mạnh Kim ở Sài Gòn bình luận trên trang Facebook cá nhân: “Tôi không lên án sự chọn lựa chỗ đứng lịch sử của các ông trong thời điểm đó. Thái độ và sự chọn lựa cách thức để nhìn lại mình của các ông hàng chục năm qua mới là điều cần quan tâm. Tôi không chỉ trích sự chọn lựa quá khứ. Tôi chỉ thắc mắc sự chọn lựa hiện tại và cách nhìn hiện tại khi nhắc lại quá khứ. Hàng chục năm qua, các ông vẫn chỉ gỡ tội cho cá nhân mình chứ không phải giải oan cho hàng ngàn nạn nhân, tiếp tục nhất mực rằng những ‘mất mát’ đó là ‘ngoài ý muốn’ và Mậu Thân vẫn là một ‘chiến thắng lịch sử’ – như lời lặp đi lặp lại của Nguyễn Đắc Xuân. Thái độ hậu chiến và nhãn quan về tội ác chiến tranh của những người như Nguyễn Đắc Xuân đã khiến những kẻ hậu sinh như tôi xin được mạn phép thưa rằng, cho tôi gạt qua sự kính trọng cần có đối với người cao niên để thay bằng một cảm giác đối ngược.”

Còn nhà văn Nguyễn Đình Bổn thì viết: “Trong cái thư gọi là ‘bạch hóa’ cá nhân này, Hoàng Phủ Ngọc Tường tiếp tục ngụy biện cho mình và đồng đội khi vẫn ra rả cái luận điệu ‘địch thì ác còn ta chỉ… sai lầm.’ Ví dụ câu: ‘Đó là sự ngụy biện. Không thể lấy tội ác của Mỹ để che đậy những sai lầm đã xảy ra ở Mậu Thân 1968.’ Điều này cho thấy, dù nhà nước này luôn xem vụ Mậu Thân như một chiến thắng vĩ đại do các lực lượng chính quy đảm nhiệm thì ông Tường và bạn bè ông ta như Nguyễn Quang Lập, vẫn cố tình làm nhẹ đi khi gọi là “quân nổi dậy,” và vẫn xem thủ phạm chính của thảm sát Mậu Thân là do Mỹ ném bom! Hài hước thay, trước cổng địa ngục đang mở, dù run sợ, ông ta vẫn tiếp tục hèn nhát đổ vấy cho kẻ thù của mình, mà vẫn muốn “về trời,” thậm chí là “im lặng bằng tâm về cõi Phật.” Vậy có cái cõi trời nào sẽ dung chứa ác nghiệp mà ông ta tạo ra?”

Hồi tháng trước, báo điện tử Dân Việt viết: “Trong suốt chiến dịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường không được giao nhiệm vụ để trở lại Huế. Vậy mà trong nhiều năm ròng, một số cây bút ở hải ngoại đã kết tội cho Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đắc Xuân với những lời lẽ xúc phạm. Họ gọi các nhà văn, nhà thơ này là ‘đồ tể,’ ‘thủ phạm chính của cuộc tàn sát,’ ‘các hung thần can dự tới bữa tiệc máu.’”

Tờ báo còn dẫn lời của chính ông Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Không hiểu sao đến giờ vẫn có những kẻ xấu miệng cứ tìm cách buộc chặt tôi vào vụ Mậu Thân Huế. Tôi đành xem họ như những kẻ vu khống bẩn thỉu thế thôi!” (T.K., Người Việt)

Cảm nghĩ:

Tôi đọc đi đọc lại lá thư của Hoàng Phủ Ngọc Tường về sự kiện Mậu Thân 1968 ở Huế, và nhận ra vài điều sau đây (ngoài những điều nhiều người đã phân tích rõ):

1) Nhiều độc giả đọc nhanh nên dễ dàng nhận định và kết luận rằng lá thư đó vừa là lời sám hối của Hoàng Phủ Ngọc Tường, vừa là sự thừa nhận quân đội cộng sản Bắc Việt chính là thủ phạm của cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế.

Theo tôi hoàn toàn không phải như vậy. Hãy bình tâm đọc kỹ và lưu ý cách dùng từ của một tay viết giỏi vốn được các trường lớp tuyên truyền của cộng sản đào tạo và nhồi sọ nhiều chục năm.

2) Thật vậy, đây đơn thuần là lời xin lỗi về hành động mạo nhận thiếu trung thực trong cuộc phỏng vấn năm 1981 mà thôi, không có sự ân hận nào trong đó.

Tuy Hoàng Phủ Ngọc Tường cảm thấy "thống thiết" trước cuộc tàn sát kinh hoàng đó, nhưng chỉ xem đó là sai lầm, chứ không phải tội ác. Sai lầm thì rút kinh nghiệm và cùng lắm là xin lỗi, chứ không ân hận hay sám hối như cảm xúc của thủ phạm khi nhận ra mình đã phạm tội ác tày trời.

3) Những "tang tóc thê thảm" mà nhiều gia đình Huế gánh chịu, theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, là do hành động giết oan của "quân nổi dậy", chứ không phải của bộ đội cộng sản Bắc Việt. Độc giả cần lưu ý điểm này.

Chúng ta đều biết, phía cộng sản vẫn gọi chiến dịch Mậu Thân 1968 là trận "tổng tiến công và nổi dậy", tức là bộ đội chính quy Bắc Việt tiến công, còn người dân địa phương nổi dậy. Đó cũng chính là "học thuyết" quân sự của Lê Duẩn trong chiến tranh Việt Nam.

Vậy, tuy thừa nhận có cuộc thảm sát, nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã khéo léo đổ lỗi đó cho người dân địa phương ở Huế qua cách dùng chữ "quân nổi dậy". Nói cách khác, người Huế giết người Huế, chứ không hề có bàn tay của quân đội cộng sản Bắc Việt ở đây.

4) Đoạn nói rằng sai lầm của quân nổi dậy là không thể chấp nhận từ góc độ lương tâm dân tộc lẫn quan điểm "chiến tranh cách mạng", cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn biện minh và bảo vệ đến cùng sự vô can của quân đội cộng sản trong cuộc thảm sát Mậu Thân 1968 ở Huế, bởi họ không chủ trương như vậy trong cái gọi là "chiến tranh cách mạng".

5) Tận phút cuối cùng vẫn tiếp tục che đậy tội ác đối với đồng bào của mình và đồng bọn bằng một lá thư được viết với ngôn từ khôn khéo thượng thừa, khiến nhiều người lầm tưởng, cho thấy bản chất của những tay đồ tể cộng sản là không bao giờ thay đổi.

Do vậy, đừng trông mong vào sự thừa nhận và hối lỗi về cuộc thảm sát Mậu Thân từ nhà cầm quyền này trong tương lai. Hãy nhìn cách họ tổ chức ăn mừng nhân dịp 50 năm sự kiện bi thương ấy để biết lòng dạ họ thế nào. Nếu chế độ này còn kéo dài, tôi tin chắc rằng họ sẽ tiếp tục nhảy múa như những kẻ vô can.

(Ls Lê Công Định)


La imagen puede contener: 1 persona, primer plano
La imagen puede contener: texto
La imagen puede contener: texto


A. Đôi lời của Nguyễn Quang Lập:

Tôi vốn là em kết nghĩa của chị Lâm Mỹ Dạ năm 1975, mặc nhiên là em kết nghĩa của anh Hoàng Phủ Ngọc Tường. Từ 1989-1992 tôi làm phó cho anh Tường, anh em gắn bó với nhau cho tới khi Tạp chí Cửa Việt bị ông Trần Hoàn cho tạm đình bản, anh Tường về Huế, tôi ra Hà Nội. Từ bấy đến nay tôi luôn coi anh Tường như người anh, người thầy, gắn bó không rời với anh và gia đình anh.

Nói vậy để biết tôi và anh Tường rất hiểu nhau. Mọi tâm sự lớn nhỏ riêng chung chúng tôi đều nói với nhau, trừ chuyện mậu thân Huế 1968. Chuyện này có lý do riêng của nó.

Năm 1968 tôi chỉ là chú học trò lớp 5 ở Quảng Bình, chẳng biết gì Mậu thân Huế 68 và cũng không mấy quan tâm. Tới năm 1988, tôi được Thành uỷ Huế mời tham gia viết về Mậu Thân Huế 68, được phân công ghi lời kể của ông Nguyễn Trung Chính, lúc đó là Trưởng ban tổ chức Tỉnh uỷ Bình Trị Thiên (Ông Chính còn sống và còn rất tỉnh táo). Tôi còn gặp gỡ thêm nhiều người khác để nghe kể bổ sung câu chuyện của ông Nguyễn Trung Chính, trong đó có ông Lê Minh nguyên là bí thư chiến trường Trị- Thiên. Do đó tôi nắm khá tốt toàn cảnh Mậu thân Huế 1968.

Lúc đó có nhiều xì xào về câu chuyện “thảm sát Mậu Thân Huế” và anh Tường dính líu tới vụ này. Nên tôi không hỏi anh Tường, vì biết nếu hỏi thế nào anh cũng nói không. Tôi chủ tâm đi hỏi người khác cho ra lẽ. Ông Nguyễn Trung Chính và tất cả những ai ở Huế Mậu thân 68 mà tôi gặp gỡ hoặc tình cờ hoặc chủ ý đều cho tôi hay Mậu thân Huế 68 anh Tường không về Huế hoặc là không hề thấy anh Tường ở Huế. Có vài người cho hay họ nghe người này người kia nói “thấy bóng ông Tường”, “nghe tiếng anh Tường”…. hoặc “thấy giống ông Tường”, không một ai, không một bài viết nào xác thực anh Tường ở Huế trong tết mậu thân 1968.

Còn như trong sách “Huế Thảm sát Mậu Thân” ông Liên Thành kể tù binh của ổng khai Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chủ tịch toà án nhân dân ở trường Gia Hội cùng với 2 thành ủy viên là Phan Nam, Hoàng Lanh… quả là câu chuyện tiếu lâm. Ông Tường ngồi ghế chủ tịch toà án nhân dân mà dân Huế không ai biết, chỉ có ông Liên Thành và tù binh của ổng biết(!)

Nhân đây nói luôn, chính bà Tùng Chi- Nguyễn Đình Chi- đã kể lại, Liên Minh của bà , ts Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường… mới thành lập chưa làm được gì nhiều ở Mậu Thân 68. Duy có một việc làm rất đáng kể, ấy là khi Chính quyền Cách mạng muốn lập toà án để xử “ những tên nợ máu của nhân dân”, Liên Minh đã can gián Chính quyền nên đình chỉ những toà án như thế. Và chính quyền đã nghe theo.

Về câu hỏi: “Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế mậu thân 68 hay không?”, tôi có trong tay hai cuốn sách ra đời sau Mậu Thân Huế, những năm 1969-1971, viết về Mậu thân Huế, đều với thể loại bút kí, đó là “Giải khăn sô cho Huế” và “Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu” đưa ra những thông tin trái chiều rất thú vị. “Giải khăn sô cho Huế” của Nhã Ca, một cuốn sách cực chống cộng, đã dành gần hai trang kể chuyện anh Tường ( dưới cái tên Phủ) để cho hay anh Tường không về Huế trong tết mậu thân 68. Trong khi đó cuốn ”Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, một cuốn sách cực cách mạng, được tác giả viết với ngôi thứ nhất, mọi việc diễn ra dưới mắt tác giả. Tuy nhiên giới văn nghệ Huế đều biết Hoàng Phủ Ngọc Tường viết theo tài liệu của Nguyễn Đắc Xuân cung cấp. Cả anh Tường và anh Xuân đều công khai chuyện này. Tôi tin điều này vì cũng chẳng có gì phải nói dối ngoại trừ hai người muốn che giấu việc anh Tường về Huế. Nhưng nếu anh Tường về Huế thật thì muốn giấu cũng chẳng được. Huế thì nhỏ, anh Tường thì quá nổi tiếng, giấu làm sao được.

Dù cuốn sách “Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu” đã được bạch hoá tác giả của nó sáng tác theo tài liệu của người khác, cũng không vì thế mà khẳng định Hoàng Phủ Ngọc Tường không có mặt ở Huế mậu thân 68. Tôi tiếp tục phỏng vấn nhiều người. Hồi đó phỏng vấn không có ghi âm nên bây giờ dù có kể bao nhiêu cũng không mấy ai tin, nên tôi không kể lại làm gì. Tôi chỉ nhớ nhất lời ông Lê Minh, ông nói Liên Minh do ông Lê Văn Hảo làm chủ tịch chỉ là ngọn cờ cách mạng dựng lên để đối thoại với Mỹ và Chính quyền Sài Gòn thôi, “Liên Minh mới thành lập, chưa được tham gia chỉ huy chiến dịch Mậu Thân, ngoài lá cờ Liên Minh được treo ở Phú Văn Lâu”. Ông Lê Minh nói một câu tôi không thể quên:”Tường không về Huế, mà có về Huế cũng không có quyền hành chi đâu. Chức Tổng thư ký của Tường, nghe thì oai thực chất là thư kí cho ông Hảo bà Chi mà thôi. Với cả Tường không có khả năng làm điều ác”. Tôi nghe rất nhiều người nói câu này, bản thân tôi cũng tin vậy, ai ở gần anh Tường cũng tin vậy.

Tôi tin anh Tường không dính líu gì đến Mậu thân Huế 1968, dính líu tới cuộc thảm sát lại càng không. Cuốn sách “Huế xuân 68” dày 344 trang nhắc tên hàng trăm người tham gia mậu thân Huế 68, tuyệt không một dòng nào nói đến cái tên Hoàng Phủ Ngọc Tường ( ngoại trừ khi kể chuyện ở chiến khu). Những nhân vật chủ chốt tham gia chiến dịch mậu thân Huế đều có mặt trong cuốn sách, và không một ai cho hay họ đã thấy hoặc nghe nói anh Tường từ chiến khu về Huế. Đủ cho tôi thấy niềm tin của tôi là có cơ sở.

Cho tới một ngày tôi được xem clip phát tán trên mạng về bản gốc cuộc phỏng vấn của đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình”. Thú thật tôi sốc rất nặng. Anh Tường nói những gì tôi có thể hiểu, anh muốn gửi thông điệp của anh tới ai tôi cũng hiểu, nhưng cái “liếm môi huyền thoại” và ánh mắt láo liên của anh trước cuộc phỏng vấn thì tôi không thể hiểu nổi. Biết anh đã hết sức bối rối khi đứng giữa sự thật và “ý đảng”, tổ chức mà anh đang nguyện phấn đấu, dù thế nào hành vi ấy cũng thật đáng ngờ. Từ đó tôi lẳng lặng tìm kiếm sự thật, để nếu anh Tường đúng là kẻ sát nhân như đồn đại thì tôi sẽ ỉa vào mặt anh và bỏ ra Hà Nội không thèm làm phó cho anh, cũng chẳng chị em kết nghĩa với chị Dạ gì nữa. Ba mạ tôi làm điều ác tôi cũng không tha thứ, đừng nói anh Tường.

Mặc dù vậy, càng tìm hiểu tôi càng thấy anh Tường vô tội. Lý do thật đơn giản là anh Tường không có mặt ở Huế mậu thân 1968. Anh cũng chẳng có một cái quyền chỉ huy từ xa nào dù nhỏ. Nghĩa là anh Tường vô can mọi sự xaỷ ra ở Huế trong suốt thời gian xảy ra chiến dịch mậu thân 1968. Tội lớn nhất của anh Tường là ở cái clip kia. Nói cách khác, không có cái clip kia thì anh Tường không có tội gì hết.

Tuy nhiên để chứng minh anh Tường vô tội không phải dễ. Tất cả những ai làm nhân chứng đều bi coi là không đáng tin. Người sát cánh bên anh Tường từ 1967-1971 là Nguyễn Đắc Xuân thì bị coi cùng một giuộc “đồ tể”. Tô Nhuận Vĩ, Trần Vàng Sao, Trần Nguyên Vấn, Nguyễn Khoa Điềm đều là bạn văn của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Họ nói gì nói thế nào cũng bị nghi ngờ bao che cho Hoàng Phủ Ngọc Tường. Còn như những lãnh đạo thời đó như Lê Minh, Lê Văn Hảo, Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Vạn, Hoàng Lanh… thì có nói bao nhiêu người ta cũng bảo cộng sản dối trá. Và vì anh Tường không về Huế nên chẳng biết tìm ai phía bên kia để làm nhân chứng về cái sự không về Huế ấy. Không lẽ lại hỏi: Ai biết Hoàng Phủ Ngọc Tường không về Huế dơ tay lên?

Vào khi tôi cực kì bế tắc trong cuộc giải toả tội trạng cho Hoàng Phủ Ngọc Tường thì chiều ngày 23 tết, tức ngày 08/02/2018 anh Tường cho con gái gọi tôi sang nhà đem cho bài viết này. Anh nói: “Nhờ Lập đăng bài này trước giao thừa.” anh chỉ nói vậy thôi, không nói gì thêm. Tôi hiểu anh muốn kết thúc câu chuyện quá buồn này trong năm nay, để từ năm sau trở đi nhà anh, con cháu anh, bạn bè anh… và những người yêu mến anh sẽ không còn phải nghe sự chửi rủa nửa thế kỉ qua.

Mong là như vậy nhưng khó lắm. Sẻ chia cảm thông có rất nhiều nhưng ác ý cay nghiệt, đục khoét nhấm nháp nỗi đau của người khác cũng nhiều không kém. Luôn luôn là vậy. Đời mà.

Với tôi, câu chuyện Mậu thân Huế 68 vẫn còn và còn mãi cho tới khi nào Nhà nước chính thức công bố sự thật nửa thế kỉ qua hoặc một uỷ ban điều tra quốc tế được thành lập để làm rõ trắng đen, còn câu chuyện Hoàng Phủ Ngọc Tường có dính mậu thân Huế 68 hay không đã chấm dứt kể từ khi anh Tường cho công bố bài viết này.

Sài Gòn ngày 9/2/2018
Nguyễn Quang Lập

* * *

B. Tư liệu Tham Khảo

Chung quanh việc Mậu Thân Huế và Hoàng Phủ Ngọc Tường có rất nhiều bài nhưng hầu hết chỉ là những bài viết thiên về cảm tính, ức đoán hoặc qui chụp… lặp đi lặp lại của phía cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường có gây tội ác ở Huế. Thậm chí có nhiều bài vu khống trắng trợn, mạt sát Hoàng Phủ Ngọc Tường rất nặng nề. Loại bài vở này có rất nhiều ở google, bất cứ ai cũng tìm kiếm được. Ở đây tôi chỉ xin dẫn ra một số bài để chứng tỏ Hoàng Phủ Ngọc Tường không có mặt ở Huế mậu thân 68 và vì sao lại như vậy, để mọi người một biết một kênh thông tin mà tôi truy tầm được. Hãy xem đây như một chiều thông tin cho mọi người thẩm định để đưa ra đánh giá của mình.

1. Giải khăn sô cho Huế- Nhã Ca- Chương 10

http://vnthuquan.org/(X(1)S(f4xzgiyoff5zryuojynzqpal))/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n3nmnqn2n31n343tq83a3q3m3237nvn0n

Đoạn trích dưới đây thuộc chương 10 của cuốn sách. Nhân vật Phủ được tác giả công khai cho biết đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường.

“Có người nói Ðắc với Ðoan với Ngọc cùng trốn một lượt. Lần này Ðắc trở về, chắc Ngọc và Phan cũng trở về rồi. Tôi thầm lo ngại, ngày trước Phủ có một cô nhân tình cũng ở trong thành nội này, sau khi Phủ đi ít lâu, cô tình nhân đã vội thay lòng đổi dạ theo một người khác. Ngoài việc bị khổ sở vì trốn tránh, Phủ còn mất luôn người yêu nữa. Lần này nếu trở về, chắc Phủ sẽ đau khổ ghê lắm. Liệu chuyện gì sẽ xảy ra? Tôi hỏi gặng mãi em gái tôi có nhìn thấy Phủ không. Có ai nhìn thấy Phủ không? Nó quả quyết là nó không thấy, cả bạn bè của nó đi họp cũng nói không thấy. Tôi hơi yên tâm và mừng thầm cho kẻ phản bội. Nếu Phủ trở về, thêm một mối thù hận nữa, cô bé thay lòng kia chắc cũng không tránh được hậu quả thương tâm. Nhưng em gái tôi cười gượng:

"Anh tưởng về tới Phủ mới biết răng! Em tin là Phủ không chấp nhận mô. Nhưng Phủ và Ngọc không có mặt ở nội thành."

2. Thuỵ Khuê nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu thân ở Huế- RFI-12-1997

http://thuykhue.free.fr/tk97/nchpngoctuong.html

Đây là bài Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời pv khá đầy đủ xung quanh Mậu thân Huế và vai trò của anh, anh ở đâu làm gì khi chiến dịch xảy ra.

3. Trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường- Đặng Tiến- Thông Luận 1/1995

Trên Thông Luận tháng 11-1994, mục Tạp ghi, trang 31, bạn Nguyễn Gia Kiểng đã có đoạn viết quá đáng về nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường, tôi xin được bổ túc, một mặt để bạch hóa trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường, mặt khác đả thông quan hệ giữa nhừng người, không nhiều, trong và ngoài nước, hiện đang đấu tranh cho dân chủ, trong gian nan và đơn lẻ.

Bạn Kiểng lấy lý do trả lời Đinh Quang Anh Thái, một cộng tác viên Thông Luận. Ngay khi đăng câu hỏi, là có ác ý với Hoàng Phủ Ngọc Tường : « Nghĩ thế nào về trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường, anh ta có trách nhiệm lớn trong vụ thảm sát tại Huế, nhưng giờ đây lại xuất hiện như một khuôn mặt trí thức tiến bộ ». Nguyễn Gia Kiểng trả lời lấp lửng : « Hoàng Phủ Ngọc Tường chỉ cho mượn tên chứ có lẽ không có trách nhiệm trực tiếp nào… ». Sự thật là : khi xảy ra vụ Mậu Thân 1968, Hoàng Phủ Ngọc Tường không có mặt tại Huế, điều này đã được chính đương sự khẳng định, và nhiều người trong cuộc xác nhận từ lâu. Trong một bài ký viết năm 1978, Nguyễn Đắc Xuân đã kể lại lúc được lệnh từ chiến khu về Huế : « Chuyện giận nhau xảy ra giữa tôi và Tường – người bạn thân nhất của tôi – lý do đơn giản : tôi có trong danh sách xuất quân đợt 1, trong lúc đó Tường được cử làm tổng thư ký Mặt Trận Liên Minh, ở lại chiến khu chuẩn bị đón các vị nhân sĩ ở Huế sắp ra (trong đó có Lê văn Hảo, bạn cũ của chúng tôi). Lúc cầm cái lệnh xuất quân trong tay, tôi không còn đủ kiên trì để ngôi vỗ vỗ chà chà (…) in cho xong tập thơ Nổi Lửa. Tường trách tôi nôn nóng ra đi, để việc in dở dang cho người ở lại. Thế là chúng tôi giận nhau. » (Huế, những ngày nổi dậy, nxb Tác Phẩm Mới, Hà Nội, 1979, tr.82). Chính Lê văn Hảo cũng xác nhận điều đó trong một bài ký khác (Huế, Xuân 68, nxb Thành Ủy Huế, 1988, tr. 241) và trong một tuyên bố gần đây tại Paris, trên báo Quê Mẹ. Thời điểm Mậu Thân 1968, Lê văn Hảo làm Chủ Tịch Mặt Trận Liên Minh, bà Nguyễn Đình Chi làm phó chủ tịch đã ghi lại : « Những ngày cuối tháng hai đầu tháng ba năm 68 thật bận rộn. Các cơ quan văn hóa văn nghệ ở căn cứ thăm chúng tôi luôn… Anh Lê văn Hảo và anh Thuyết (tức là nhà văn HP) đến thăm… » (Huế, Xuân 68, sđ d, tr. 254-255). Bà Nguyễn Đình Chi lên đến chiến khu Khe Trái ngày 18 tháng 2. Hòa Thượng Thích Đôn Hậu đến ngày 19 tháng 2-1968, nghĩa là đúng thời điểm xảy’ ra vụ thảm sát Mậu Thân, vậy họ cùng với Hoàng Phủ Ngọc Tường không có mặt tại Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng không « cho mượn tên » như Nguyễn Gia Kiểng nói. Lúc đó, anh tranh đấu thật sự cho một lý tưởng, mà anh và nhiều người khác cho là đúng, và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho lý tưởng đó, chứ không phải chỉ « cho mượn tên ».

Sau đó, Nguyễn Gia Kiểng còn bồi thêm cho Tương một nhát dao trí mạng : « Điều kinh khủng gấp nhiều lần là, hơn mười năm sau đó, Hoàng Phủ Ngọc Tường còn tuyên bố, trong một phim truyền hình được chiếu tại Mỹ và tại Pháp, rằng những nạn nhân đó chỉ là những tên phản bội, và (lời Hoàng Phủ Ngọc Tường) « cách mạng giết chúng cũng như giết loài rắn độc mà thôi ». Tôi đồng ý với bạn Kiểng rằng một câu nói như vậy là vô đạo, không thể chấp nhận được. Và tôi tìm hiểu. Tôi hỏi Tường : ông nói câu ấy thời điểm nào, hoàn cảnh nào ? Thì đương sự không nhớ, chỉ nhớ là có trả lời một phóng viên Mỹ, trong một bài phỏng vấn dài, mà câu trên chỉ là trích đoạn, rời khỏi văn mạch. Trên bộ phim, ngày nay còn có thể kiểm chứng, thì đại ý là : « Dân chúng tích lũy thù hận quá lâu, đã vùng dậy trả thù và giết họ như loài rắn độc ». Bạn Kiểng trích vội, thành ra « Cách mạng giết họ… » lại càng xa nguyên ý. Hình tượng « rắn độc » hết sức thô bạo, nằm trong ngôn từ cộng sản, mà Hoàng Phủ Ngọc Tường từ vị trí tiêu thụ, trở thành nạn nhân và tòng phạm. Hãy nghe ông Tố Hữu nói về Nhân Văn Giai Phẩm, những người từng ăn một mâm, nằm một chiếu, đã từng « chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng » (Việt Bắc), ông bảo « đánh rắn phải đánh đập đầu, đánh tận hang, diệt tận trứng » (4-6-1958). Trong đám « rắn » này có Phùng Quán, cháu gọi ông bằng cậu ruột. Rồi ông Hoài Thanh, bàn thêm tán rộng : « Vấn đề là phải tẩy trừ những nọc đọc bọn họ phun ra. Những luận điệu (..) chạy rông như chuột dịch… Trong khi Bạch Tố Trinh khao khát được làm người thì thứ rượu tai ác kia bắt nàng trở lại nguyên hình kiếp rắn » (Tuyển Tập II, nxb Văn Học, Hà Nội, 1982, tr.324-325). Tôi chọn trích dẫn Tố Hữu, Hoài Thanh ở cấp lãnh đạo cao nhất, chứ ở lớp văn nghệ cung đình điếu đóm thì không thiếu gì văn thơ rắn rết và chuột dịch như thế.

Dĩ nhiên, dưới bất cứ hình thái nào, một câu nói như trên vẫn không chấp nhận được vì nội dung vô đạo của nó. Nhưng chúng ta còn nhớ sau ngày nước Pháp giải phóng, một người hiền hòa và độ lượng như Albert Camus mà đã tuyên bố : « Một nước thất bại việc thanh lọc thì thất bại việc canh tân » (Un pays qui manque son épuration manque sa rénovation), báo Combat ngày 5-1-1945. Lời lẽ văn hoa, nhưng nội dung cũng đại khái vậy thôi.

Bạn Nguyễn Gia Kiểng còn trách Hoàng Phủ Ngọc Tường « chưa hề công khai hối tiêc câu nói đó. Có thể sau này sẽ xin lỗi ». Thật ra, những câu nói vô ý thức, người nói dễ quên, và đương sự cũng đã quên béng nói đi rồi. Hơn nữa, đất nước sau bao nhiêu chìm nổi, con người đã làm việc nọ, nói việc kia, biết đâu là sai là đúng. Bây giờ thì ai có quyền hỏi tội, và ai có quyền tha thứ ? Phạm Công Thế, một danh sĩ khởi loạn thời Lê, trước khi ngửa cổ chịu chém, còn trả lời triều đình : « Lâu nay danh phận không rõ, lấy gì phân thuận nghịch ? ». Hoàng Phủ Ngọc Tường có nông nổi nói sai, thì từ đó đến nay đã đem cuộc đời mình ra để đấu tranh cho tự do dân chủ, làm báo Sông Hương tại Huế, 1989, bị dẹp, chạy ra Quảng Trị làm Cửa Việt, cũng bị dẹp. Trả lời Tào Tháo kể lể công ơn, Quan Vân Trường đáp rằng chém Nhan Lương, giết Văn Xú, là đủ lễ, bây giờ lấy hai tờ Sông Hương và Cửa Việt ra chuộc lời nói vô ý thức thốt ra trong bóng chạng vạng giữa sói và cầy, vô tình lọt lên màn ảnh Phương Tây, chưa đủ lễ sao ?

Cuối cùng bạn Kiểng kết luận rằng : « Sẽ không ai có thể thuyết phục được tôi rằng một người như Hoàng Phủ Ngọc Tường là một trí thức ». Ai trí thức ai không trí thức, trên cõi đời này, ai công đâu mà đi thuyết phục ai những chuyện trần ai như vậy ?

Đấu tranh cho dân chủ, chúng ta làm việc đội đá vá trời. Sức yếu thế cô, chúng ta phải tranh đấu với một chế độ đã nhiều vũ lực lại lắm mưu cơ. Đã thế, khi đánh vào thành đồng vách sắt kia, chúng ta chỉ đánh bằng một tay, mà là tay trái, còn tay phải thì thủ sau lưng, đề phòng đánh nhau, hoặc khều nhau chơi. Ví dụ, sau vụ Hoàng Phủ Ngọc Tường, thì Thông Luận khều sang Phan Đình Diệu. Trong bài « Đảng Cộng sản và phương pháp cây kiểng » (tháng 12-1994), ông (bà) Mai Chi nào đó đã vi vu : « Một trí thức đảng viên rất có tiếng vì kiên trì xin đảng bố thí dân chủ cho mọi người (..) đã trả lời trước một số anh em có mặt hôm ấy rằng anh ta lúc nào cũng làm hai báo cáo : một báo cáo chân thật theo tình thực tế, một báo cáo theo ý thích các cụ (..) Anh ấy là Phan Đình Diệu ».
Theo chỗ tôi biết, anh Diệu không phải là đảng viên, lại càng không phải là người hai lưỡi. Dân chủ, và những quyền làm người khác, chưa bao giờ là của bố thí trong lịch sử nhân loại, và cộng sản chưa bao giờ bố thí cái gì cho ai trong lịch sử đảng dài non thế kỷ. Phan Đình Diệu đấu tranh cho dân chủ, tiếng nói vang vang trên nhiều diễn đàn trong và ngoài nước, không làm chuyện « kiên trì xin bố thí ». Nếu lấy hình ảnh ăn mày, ta chỉ có thể xếp Phan Đình Diệu vào hàng ngũ những « anh em khất thực trong dòng khổ tu Cách Mạng », ces frères de l’ordre mendiant de la Révolution, như những nhân vật của André Malraux trong La Condition Humaine.

Báo Thông Luận trong tinh thần hòa giải và hòa hợp, trong cuộc đấu tranh cho dân chủ nên tránh khơi dậy hận thù và gây hiềm khích, chia rẽ giữa những người dù không đi cùng đường, cùng nhìn về một hướng.

Đặng Tiến
Noel 1994

4. Cái hoạ của người nổi tiếng- Thanh Tùng thực hiện-Đăng lần đầu ở Báo Tiền Phong chủ nhật số 18 (từ 28/4-4/5/2008)

http://sachhiem.net/NDX/VNTP.php

Phỏng vấn này nói rất rõ về cuốn “Ngôi sao trên đỉnh Phú Văn Lâu” vì sao lúc đầu lấy tên Hoàng Phủ Ngọc Tường và Nguyễn Đắc Xuân, về sao chỉ có tên Hoàng Phủ Ngọc Tường.

5. Ký ức Mậu thân 68 và lời cầu nguyện cho những linh hồn đã khuất – Phỏng vấn nhà văn Trần Nguyên Vấn – Báo Dân Việt o­nline 03/02/2018

http://m.danviet.vn/van-hoa/ky-uc-mau-than-68-va-loi-cau-nguyen-cho-nhung-linh-hon-da-khuat-846056.html

Trích: “Như ông vừa nói thì lúc đó có cả nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường, vậy thực tế ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có trở về Huế trong cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968?

- Anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là bạn thân của tôi từ khi học Trường Trung học Khải Định ở Huế, niên khóa 1953-1954, anh Tường học đệ tư B3 tôi học đệ tứ B6. Khi chúng tôi thi bằng Diplom thì Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trương Quang Minh là người đỗ nhất nhì.

Tháng 6 năm 1967, tôi vào chiến trường, anh Hoàng Phủ Ngọc Tường thay mặt ban Tuyên giáo đi đón tôi và chúng tôi cùng ở, làm việc với nhau. Sau đó tôi lên khu ủy làm việc mấy tháng rồi quay trở lại ở cùng các anh Hoàng Phủ Ngọc Tưởng, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha, Lê Khánh Thông. Lúc đó, chúng tôi làm tờ báo “Cờ giải phóng” và anh Hoàng Phủ Ngọc Tường là Tổng thư ký Liên minh dân tộc dân chủ hòa bình thành phố Huế. Nhiệm vụ anh Tường được giao rất vất vả, luôn túc trực máy ghi âm, ghi chép để làm những lời kêu gọi, hưởng ứng các chủ trương của trong Nam ngoài Bắc và viết các tuyên bố sự việc xảy ra ở Huế, cho nên anh Tường rất bận rộn và anh không về Huế trong dịp Mậu Thân.

Sau này, tôi có đọc được những bài viết nói anh Tường lập toà án Huế để xử và gây ra những vụ thảm sát ở Huế. Bản thân tôi năm 2002, sang Mỹ 3 tháng, tôi cũng gặp một số bạn bè và nhiều người hỏi tôi về anh Hoàng Phủ Ngọc Tường thì tôi cũng đã từng trả lời là anh Tường không về Huế và không có mặt ở Huế trong sự kiện Mậu Thân.

Sơ xuất xảy ra từ khi anh Tường nhận tài liệu của anh Nguyễn Đắc Xuân để viết “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”, anh đã tả những cảnh đẫm máu như là người trong cuộc. Sau này nhiều người cứ vin vào câu nói anh viết rằng: “anh đi trong thành nội, đi ở dưới bùn nhưng mà đấy thực chất là máu...” chính sự thiếu cẩn trọng khi viết đã để xảy ra điều đáng tiếc, chứ bản thân anh Tường là một người tham gia phong trào đấu tranh năm 1966, sau đó lên rừng hoạt động và trở thành cây bút chiến đấu dũng cảm, kiên trì. Anh viết văn và bút ký của anh rất hay, là người gắn bó với phong trào, sống hết lòng với công việc của mình.

Thời gian ở trong rừng điều kiện khó khăn lắm, nhưng mỗi lần phải suy nghĩ để viết thì rất vất vả, thèm thuôc lá mà không có thuốc hút anh còn phải lấy rau tàu bay, hơ lửa để cuốn thành điếu thuốc. Những lời độc địa được thêu dệt thêm, hoặc chỉ dựa vào một vài thông tin để bịa đặt là điều khó chấp nhận.

Thực tế, anh Tường vất vả để lo lời tuyên bố, lời kêu gọi nên đã không về Huế. Bản thân anh Tường khi viết hồi ký cho tướng Lê Minh, chỉ huy chiến dịch mà trong cuốn Huế - Xuân 68 có trích: “Rốt cuộc là đã có những người bị xử lý oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi. Nhiệm vụ này bây giờ của cách mạng là phải minh oan cho gia đình con cái của những người đã chết, trong hoàn cảnh như vậy, trong khi luật pháp cách mạng chưa hề có ý định xử họ vào tội chết; có một người phải minh oan cho một người, có một trăm người cũng phải minh oan cho một trăm người. Đó là lẽ phải và tình thương, quần chúng sẽ thông cảm và không bao giờ lẫn lộn đen trắng”.

6. Nhà báo Minh Tự phỏng vấn một số nhân vật tham gia Mậu Thân Huế 1968.

Nhà báo Minh Tự đã giúp tôi (NQL) phỏng vấn các nhân chứng về việc ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có về Huế trong Tết Mậu Thân hay không. Bản Phỏng vấn có ghi âm rất dài, dưới đây là những tóm lược chính từ băng ghi âm:

1/ Ông Nguyễn Đắc Xuân, nhà văn, nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử, hiện đang sống tại Huế. Ngày 28-1-2018, ông Xuân đã trả lời:

Tôi xin khẳng định một lần nữa: ông Hoàng Phủ Ngọc Tường không có mặt ở thành phố Huế trong những ngày Tết Mậu Thân 1968. Điều này tôi đã nói nhiều lần, đã viết trong nhiều bài báo, đã in trong sách hồi ký “Từ Phú Xuân đến Huế” (Nxb Trẻ, 2012), đã đăng trên Facebook của tôi.

Vì sao ông Tường lại không về Huế trong những ngày mà hầu như các lực lượng trên chiến khu đều có mặt ở thành phố Huế để tham gia cuộc tổng tấn công và nổi dậy? Để trả lời câu hỏi này, tôi phải kể lại câu chuyện sau đây, cho rõ ngọn ngành.

Tôi và Hoàng Phủ Ngọc Tường vốn xuất thân trong phong trào đấu tranh đô thị. Sau bị chính quyền Sài Gòn truy nã, chúng tôi đã thoát ly lên rừng theo Mặt trận Giải phóng, vào tháng 7-1966. Cả hai chúng tôi được Thành ủy Huế bố trí làm báo Cờ Giải Phóng. Đến cuối năm 1967, chúng tôi được gọi vào gặp Thường vụ Thành ủy báo cáo về phong trào đấu tranh đô thị ở Huế. Thành ủy đánh giá phong trào này rất tiến bộ và cho biết Trung ương có chủ trương thành lập thêm một Mặt trận thứ hai gồm các vị nhân sĩ, trí thức, văn nghệ sĩ, các nhà tu hành, doanh nhân liên minh với Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam để đấu tranh giải phóng đất nước. Đó là Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Thành phố Huế.

Hoàng Phủ Ngọc Tường là người văn hay chữ tốt, đã chấp bút hoàn thành bản thảo Cương lĩnh cho Liên minh. Ông Tường cũng viết thư mời TS Lê Văn Hảo - giáo sư Đại học Văn khoa và Đại học Sư phạm Huế - tham gia Liên minh này. Ngoài ra, Thành ủy Huế còn mời hòa thượng Thích Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi... Sau đó, Liên minh này của Huế được thành lập, giáo sư Lê Văn Hảo làm Chủ tịch Liên minh, hòa thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm phó chủ tịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường làm Tổng thư ký.

Liên minh thành lập, nhưng mới chỉ có ông Lê Văn Hảo từ Huế ra chiến khu vào khoảng cuối tháng 1-1968, các vị còn lại phải sau khi đã chiếm được thành phố mới ra được chiến khu. Thành ủy Huế đã đào một địa đạo xuyên núi ở Khe Trái phía tây huyện Hương Trà để làm nơi ở và làm việc của Liên minh. Địa đạo Khe Trái là cơ quan bí mật của Thành ủy Huế, ai không có trách nhiệm làm việc với Liên minh thì không được vô. Vì vậy, nhiều người có hoạt động trên chiến khu nhưng vẫn không biết chỗ này. Bây giờ địa đạo Khe Trái vẫn còn đó, đã thành di tích lịch sử.

Trong những ngày diễn ra trận chiến Tết Mậu Thân ở TP Huế, ông Tường là Tổng thư ký của Liên Minh nên phải ở tại địa đạo Khe Trái để đón những vị còn lại của lãnh đạo Liên minh từ thành phố Huế đang chuẩn bị lên. Các vị lãnh đạo Liên minh lớn tuổi, lại mới lên rừng nên mọi việc của Liên minh đều trong tay anh Tường. Ngoài hòa thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi, còn có cụ Nguyễn Đóa, ông Tôn Thất Dương Tiềm, ông Nguyễn Thúc Tuân.

Sau Tết Mậu Thân 1968, vùng chiến khu Thừa Thiên Huế bị bom đạn dữ dội. Khoảng đầu tháng 3-1968, đoàn Liên Minh phải lên tá túc ở chiến khu Trị Thiên giáp biên giới Lào. Đến tháng 7-1968 thì được đưa ra Hà Nội. Nhưng tôi và Hoàng Phủ Ngọc Tường vẫn ở lại Khe Trái, sau đó cùng làm báo Cứu lấy quê hương.
Ông Tường ở đó, không ra đến cửa rừng nữa là về Huế, mà sao người ta cứ nghĩ là ông có về Huế, cũng là vì một chuyện khác có liên quan đến tôi. Đầu năm 1969, chúng tôi dự Đại hội văn nghệ Trị Thiên. Sau đai hội tình hình ở Thành ủy Huế đang gặp khó khăn, không về được, chúng tôi gồm Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Hữu Vấn, Lê Công Cơ, Trần Thân Mỹ bày ra viết chuyện Mậu Thân. Chúng tôi đều về Huế tham gia chiến dịch Mậu Thân nên có chuyện để viết, còn ông Tường không về Huế nên phải khai thác tư liệu do tôi ghi chép về những thanh niên Huế giữ cột cờ Thành Nội Huế những ngày Tết Mậu Thân. Cái bút ký mà tôi phác thảo ban đầu đặt tên là “Ngọn cờ trên đỉnh Phu Văn Lâu”. Ông Tường viết lại và đặt tên là “Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu”. Tường viết câu chuyện này theo thể loại bút ký văn học, tức là có hư cấu. Viết xong gởi ngay cho Nhà xuất bản Giải phóng in luôn; không đưa cho tôi xem, nên tôi không biết anh viết cái gì trong đó. Người ta đọc bút ký đó và thấy rõ ràng là ông Tường có về Huế, đi trên những con đường đầy máu. Những chi tiết đó là do ông Tường tưởng tượng ra để viết bút ký văn học, chứ có phải là bài viết về sử đâu mà nói là người thật việc thật. Cũng phải nói thêm là vị trí của ông Tường khi đó quan trọng lắm, Tổng thư ký Liên minh, nên các phát ngôn của ông là theo quan điểm của Liên minh.

Từ khi lên rừng đến năm 1973 ra Quảng Trị làm Trưởng ty Văn hóa, ông Tường chưa bao giờ về lại Huế.

Trong những ngày lực lượng Giải phóng chiếm thành phố, người ta có nghe lời kêu gọi của Liên minh, do ông Lê Văn Hảo và Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc. Vì vậy, người ta càng tin rằng ông Tường có mặt ở Huế. Nhưng mà lời kêu gọi đó là băng ghi âm lời của mấy ổng ở trên rừng mang về phát lại.

2/ Ông Nguyễn Trung Chính - nguyên phó bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế, vào thời điểm Tết Mậu Thân, sau khi thành lập chính quyền nhân dân cách mạng, ông Chính làm Bí thư quận 1 - Tp Huế, tức khu vực Thành Nội. Hiện ông Chính đang còn sống, nhà riêng 56 Hùng Vương - Huế. Ngày 29-1-2018, ông Chính cho biết:

Vào thời điểm diễn ra chiến dịch Mậu Thân, tôi ở tuyến trước, anh Hoàng Phủ Ngọc tường ở tuyến sau, nên tôi không rõ lắm. Nhưng lúc đó tôi biết anh Tường là Tổng thư ký Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình. Khi chiếm được thành phố, thành lập chính quyền nhân dân cách mạng, tôi làm Bí thư quận 1, tức khu vực Thành Nội, anh Nguyễn Hữu Vấn làm chủ tịch Ủy ban nhân dân cách mạng quận 1. Anh Hoàng Phủ Ngọc Phan - em trai anh Tường - có tham gia trong ủy ban này. Tại đây, còn có anh Nguyễn Đắc Xuân, phụ trách đội công tác thanh niên. Còn có nhiều người về Huế nữa, nhưng tôi không thấy anh Tường.

3/ Ông Nguyễn Đính, tức nhà thơ Trần Vàng Sao, từng là sinh viên Huế, tham gia phong trào tranh đấu bị chính quyền Sài Gòn truy nã nên thoát ly lên chiến khu năm 1965, hoạt động ở đơn vị công tác thanh niên thuộc Thành ủy Huế. Hiện ông Đính đang sống tại phường Vĩ Dạ - TP Huế. Câu trả lời này ghi vào ngày 14-8-2016.

Tường chưa bao giờ về Huế cả. Tường ở với tui trên rừng. Tết Mậu Thân, Tường không về Huế, tui bảo đảm như rứa, tui làm chứng. Còn sau đó đi mô tui không rõ. Hoàng Phủ Ngọc Phan thì có về Huế. Sau khi rút khỏi Huế lên lại rừng, Phan có gặp tui, nói Nhân ơi, tau đã về Huế, đã nhìn thấy cầu Trường Tiền. Nhân là bí danh của tui, còn Tường thì có bí danh là Thuyết.

4/ Ông Nguyễn Thúc Tuân, nguyên thầy giáo Trường nữ trung học Đồng Khánh - Huế, nguyên thành viên Liên minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình năm 1968, hiện đang sống tại Thành Nội - Huế. Trong tết Mậu Thân, ông Tuân là cơ sở của cách mạng, sống tại Huế. Sau tết thì ông lên chiến khu Khe Trái cùng với các ông Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, để tham gia Liên minh.

Vào tháng 12-2015, trong lần trả lời nhà báo Phạm Xuân Dũng (Đài PT-TH Quảng Trị), ông Tuân khẳng định tết Mậu Thân ông Tường không về Huế. Ông Tuân nói ông là đầu mối hậu cần của Thành ủy Huế để đón lực lượng trên rừng về Huế, nên những người trên rừng về là ai, ông đều biết. Ông không thấy ông Tường trong số những người trên rừng về Huế. Và ngay sau tết, ông Tuân lên chiến khu Khe Trái thì đã thấy ông Tường ở đó cùng với ông Lê Văn Hảo, để đón ông cùng các vị khác từ Huế ra tham gia Liên minh.

7. Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường- Ngô Minh- Talawas 2008

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=12454&rb=0307

Bài viết cho biết khi trong những ngày tết Mậu thân Huế người ta thu âm lời hiệu triêụ của Hoàng Phủ Ngọc Tường, cho lên xe phát thnh khắp Thành phố. Vì thế nhiều người nhầm là Hoàng Phủ Ngọc Tường về Huế.

8. Sự thật về 3 nhân vật bị kẻ thù gọi là “đồ tể khát máu": Sự vu khống tráo trở... - Phan Bùi Bảo Thi- Báo An Ninh Thủ Đô ngày 12/1/2003

http://antg.cand.com.vn/Tu-lieu-ant...

Bài này viết kĩ về lai lịch ông Liên Thành và cái gọi là kì án Hoàng Kim Loan, kẻ đã “ thấy” Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chủ tịch toà án nhân dân ở Trường Gia Hội.

9. Tết Mậu Thân 1968 ở Huế, Tường và tôi - Trần Nguyên Vấn

Đây là bai viết mới nhất anh Trần Nguyên Vấn vừa viết chưa ráo mực, chưa in ở báo nào.

Nếu khoá 1953 -1954 Hoàng Phủ Ngọc Tường học lớp Đệ tứ B1, tôi là Trần Nguyên Vấn học lớp Đệ Tứ B6 trường Trung học Khải Định ( Quốc học Huế). Kỳ thi tốt nghiệp Trung học đệ nhất cấp ngày 28 tháng 5 năm 1954, Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trương Quang Minh thi đậu cao nhất. Ở trường Khải Định hồi đó, chúng tôi thường chơi với nhau.

Sau hiệp nghị Genève tháng 7 năm 1954, tôi xin gia đình đi ra Bắc tiếp tục đi học. Hoàng Phủ Ngọc Tường tốt nghiệp trường Đại học Sư phạm Sài Gòn khoá I, ban Việt Hán (1960), Cử nhân Triết Đại học Văn Khoa Huế ( 1964). Từ năm 1960 đến 1966, anh dạy ở trường Quốc học Huế. Năm 1966, anh lên chiến khu Trị- Thiên.

Tháng 6 năm 1967, từ Hà Nội vào chiến trường Trị Thiên Huế. Thật bất ngờ và vui sướng khi tôi được Hoàng Phủ Ngọc Tường và nhà báo Ngô Kha sinh viên ngành Sử ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội mà tôi từng quen biết – ra đón ở Trạm giao liên để đưa về Ban Tuyên huấn Thành uỷ Huế. Tôi đã làm báo Cờ Giải Phóng của Uỷ ban Mặt trận dân tộc giải phóng thành phố Huế cùng với các anh Thanh Hải, Ngô Kha, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Khánh Thông, Nguyễn Đính ( Trần Vàng Sao)…

Có lần Tường và tôi đi gùi gạo. Một buổi trưa, có cụ già người PaKô mời chúng tôi uống rượu đoác và trò chuyện thân tình. Hôm sau, không thấy tôi đi cùng Tường, cụ già hỏi Tường: “Thằng con mất tóc của tao đâu rồi?” - Chả là tôi hói trán nên cụ gọi như thế. Tường trả lời: “Thằng con mất tóc của cụ hôm nay phải ở nhà làm việc”. Có những lúc đi đường, chúng tôi ngồi bên bờ suối nhìn những đám rẫy vừa phát đang chờ đốt dọn để gieo hạt. Bất ngờ cả hai chúng tôi cùng nói: “Giống như những tấm thảm bay!” Chỉ có vậy thôi mà nhớ mãi.

Sau mấy tháng làm báo Cờ Giải phóng, nhà thơ Thanh Hải và tôi được đưa lên Ban Tuyên huấn Khu uỷ Trị Thiên Huế do Thiếu tướng Lê Chưởng làm Trưởng ban, nhạc sĩ Trần Hoàn và ông Lê Dự làm Phó Trưởng ban. Tháng giêng năm 1968, nhiều anh chị em ở Ban tuyên huấn Khu uỷ Trị Thiên Huế được điều về tăng cường cho Quảng Trị và thành phố Huế.

Chúng tôi lo làm báo Cờ Giải phóng và chuẩn bị các tài liệu để đưa về Huế trong dịp Tết Mậu Thân. Lúc này tin chiến dịch đã rộn rang khắp nơi. Chúng tôi nôn nao chờ được lệnh về Huế. Đi chiến dịch mừng lắm, nhưng mừng hơn là được về Huế. Ai cũng nhớ Huế đến nao lòng. Nhất là những người mới rời Huế lên rừng như Hoàng Phủ Ngọc Tường thì nhớ lắm.

Gần Tết, chiến dịch Mậu Thân 68 bắt đầu. Các anh Thanh Hải, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Ngô Kha, Hồ Như Ý, Lê Khánh Thông, Lê Minh Trường, Nghiêm Sĩ Thái…. cùng các anh chị ở Đoàn Văn Công Quân Giải phóng như Thế Linh, Thuận Yến, Phạm Ngọc Cảnh ( Vũ Ngàn Chi), Thu Luỡng, Kim Vàng… có tên trong danh sách về Huế đợt đầu, chuẩn bị theo các cánh quân tiến về Huế.

Tôi không được về đợt đầu. Khi đó Liên minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hoà bình thành phố Huế vừa thành lập. Vốn là người của Tiếng nói Việt Nam, tôi được giao một máy ghi âm Phi – líp để ghi tiếng nói của một số vị lãnh đạo chiến dịch, tiếng nói của một số nhân sĩ, tri thức, cán bộ Liên Minh, chuẩn bị các bài viết để tiếp thu đài Phát Thanh Huế khi bộ đội ta chiếm được.

Nhà thơ Trần Vàng Sao ( Nguyễn Đính) bị thương vì pháo một năm trước ở chân không đi đâu xa được đành phải ngồi chép tin đọc chậm qua máy thu thanh. Hoàng Phủ Ngọc Tường theo dõi các sự kiện xảy ra ở Huế để lên tiếng kịp thời bằng những bản tuyên bố đanh thép. Anh có nhiệm vụ quan trọng là ở lại để đón các thành viên trong Liên Minh từ Huế lên Khu uỷ.

Tôi biết mình chắc chắn được tham gia chiến dịch, tức là được về Huế. Nhưng Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trần Vàng Sao thì chắc chắn không được tham gia chiến dịch, chấm dứt giấc mộng “về Huế với em”. Tường không nói ra nhưng chắc trong lòng bức bối khó chịu lắm. Anh không tin việc đón người Liên Minh của anh không quá quan trọng tới mức không có người thay thế, buộc anh phải ở lại. Anh nghi cách mạng chưa tin tưởng anh, càng thêm buồn bực. Có lẽ vì trong lòng bức bối khó chịu nên Tường và Nguyễn Đắc Xuân cãi nhau to trong khi gấp rút in tài liệu rô- nê- ô cho chiến dịch. Tôi không biết vì chuyện gì mà họ cãi nhau nhưng lý do chính là Tường ghen tị với Xuân vì Xuân được về Huế. Ngày đó chúng tôi còn trẻ lắm.

2h33 phút ngày 31.1.1968, những loạt đạn ĐKB làm hiệu lệnh đã nổ mở đầu việc đánh vào thành phố Huế.

Cả đêm, những người ở lại rừng thức trọn theo dõi qua làn sóng điện các Đài phát thanh. Tin chiến sự dồn dập ở Huế làm cho chúng tôi đứng ngồi không yên. Chúng tôi hình dung bạn bè của mình đang về trong Đại Nội, Tây Lộc, Khu Gia Hội, Từ Đàm, Trường Quốc học, Trường Đồng Khánh, Nhà lao Thừa Phủ… Dù ai cũng nôn nao, không tập trung, bụng dạ chỉ nghĩ về Huế, chúng tôi vẫn lo tròn công việc của cơ quan.

Tôi vào khu địa đạo Khe Trái, nơi có nhiều vị nhân sĩ, trí thức để trò chuyện, phỏng vấn, ghi âm. Nhạc sĩ Trần Hoàn lo đôn đốc các công việc cấp thiết của Tuyên huấn. Đang khi công việc bộn bề, anh Trần Hoàn bỗng dẫm vào nồi chè vừa nấu chín, bị bỏng phải nằm võng mấy ngày. Những anh em không được về Huế dịp này cũng chung một tâm trạng: Bao giờ mới đến lượt mình được về Huế đây? Buồn quá! Người ta đi từng đoàn mà mình lại ngồi nhà. Có lúc tôi bức xúc qúa đọc hai câu thơ:

Kẻ ngoại lai được vào thành Huế
Dân đô thành ở lại chép tin!

Trong những ngày bồn chồn thấp thỏm như thế, hơn một tuần sau chiến sự diễn ra ở Huế, tôi được anh Trần Hoàn bảo chuẩn bị máy ghi âm và băng ghi âm, tài liệu để đi về Huế. Tôi mừng quá, chỉ thương cho Hoàng Phủ Ngọc Tường và Trần Vàng Sao không được về Huế dịp này. Tường chia tay tôi bằng cái nắm tay rất chặt, anh không nói gì. Nhìn cái mặt buồn của Tường tôi cũng không dám nói gì, sợ nói ra câu gì Tường chịu không thấu lại bật khóc, dễ bị qui là tiểu tư sản.

Đoàn chúng tôi theo tướng Lê Chưởng qua dốc Ông Ầm, qua vùng giáp ranh và các làng La Chử, Cổ Bưu, Trúc Lâm, An Ninh Thượng, An Ninh Hạ… Trụ sở Bộ chỉ huy chiến dịch đóng ngay trong vườn cũ của bà ngoại tôi ở xóm Guốc xã Hương Long. Nhạc sĩ Trần Hoàn cùng tôi về Kim Long và tôi đưa anh vào thăm nhà bác sĩ Hồ Văn Cang, nơi tôi trọ học năm 1952 – 1954 cùng một vài gia đình khác. Anh Trần Hoàn còn cho phép tôi tranh thủ lên thăm nhà ở Trúc Lâm, gặp bà nội, ba mạ và em trai tôi là Trần Ngọc Trác cùng nhiều bà con.

Một buổi chiều, máy bay trinh sát bay quẩn quanh trên xóm Guốc và bắn rốc két trúng vào chiếc micro tôi đặt trên miệng hầm để ghi âm tiếng súng tiếng bom từ Cửa Chánh Tây vọng lại. Sau đó Mỹ cho máy bay ném bom trong vườn bà ngoại tôi. Anh Lê Chưởng và anh Trần Hoàn đang ở trong một hầm vội nhảy lên vào một hầm khác khi bom nổ rất gần. Ngôi nhà vườn bên cạnh bị bom bốc cháy. Có mấy người dân trúng bom Mỹ chết.

Không chiếm được đài phát thanh. Tôi không còn việc gì phải làm. Tối hôm đó tôi theo đoàn của anh Lê Chưởng và anh Trần Hoàn về lại hậu cứ. Gặp lại anh Hoàng Phủ Ngọc Tường đang ở địa đạo Khe Trái, tôi kể cho anh nghe chuyến về Huế ngắn ngủi của tôi và chia sẻ nỗi buồn của anh. Cũng như khi chia tay, Tường không nói gì, chỉ nắm tay tôi rất chặt. Có lẽ khi nghe tôi kể chuyện Huế, Tường sợ anh bật khóc. Sau này tôi đọc Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca mới biết khi đó Tường đang có một cô người yêu ở Huế. Giá lúc đó biết chuyện này, tôi có thể khẩn khoản anh Trần Hoàn xin cho Tường về Huế. Anh Trần Hoàn tính hay mủi lòng, biết chuyện “Tường có người yêu đang đợi ở Huế” chắc sẽ tìm cớ cho Tường được về Huế.

Đã không được về Huế lại bị vu cho là “đồ tể” sát hại dân lành Huế , án oan ấy kéo dài nửa thế kỉ. Thật đáng sợ.

Hà Nội 9.2.2018
Trần Nguyên Vấn


Thụy Khuê

Nói chuyện với Hoàng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu Thân ở Huế
(RFI, 12 tháng 7, 1997)


Thụy Khuê: Thưa anh Hoàng Phủ Ngọc Tường, đây là lần đầu tiên anh đến Pháp? Lý do gì đã khiến anh được đi? Xin anh cho biết cảm tưởng của anh.


Hoàng Phủ Ngọc Tường: Đúng là lần đầu tiên tôi tới Pháp. Tôi sang Pháp qua cửa ngõ của nước Đức, ở đấy tôi đã nhận được sự bảo trợ của hiệp hội Schmitz Stiftung để đi dự tuần Việt Nam của tổ chức "Chung Một Thế Giới" ở thành phố Freiberg. Tiếp theo tôi đi dự hội thảo Euro-Việt III tại Amsterdam. Và sau đó tôi sang Pháp chơi. Ấn tượng mạnh nhất của tôi sau gần một tháng lãng du bên Tây là như thế này: Trước mắt tôi là một cuốn sách mà tưởng chừng như tôi đã biết hết mọi cái ở trong đó, nhưng chính lúc này tôi lại đang giở ra những trang đầu. Cuốn sách đó tên gọi là Châu Âu.
 


TK: Thưa anh, nhân dịp này xin hỏi anh một vài vấn đề liên quan đến biến cố Mậu Thân ở Huế mà từ bao nhiêu năm nay, anh đã bị một số dư luận xem như anh có dính líu vào, hoặc anh là một trong những "thủ phạm" vụ Mậu Thân. Trước hết, xin anh cho biết: Mọi việc thực sự đã xẩy ra như thế nào?
HPNT: Hàng chục năm nay, mỗi năm cứ tới dịp 30 tháng 4, hoặc dịp Tết thì nhiều tờ báo hải ngoại lại đưa tên tôi ra làm con vật tế thần, bằng cách nói đi nói lại, y như thật, rằng tôi là một tên đồ tể Mậu Thân ở Huế. Thực ra thì đó là một sự bịa đặt, mang ý định vu khống hoàn toàn. Sự thực là tôi đã từ giã Huế lên rừng tham gia kháng chiến vào mùa hè năm 1966, và chỉ trở lại Huế sau ngày 26 tháng 3 năm 1975. Như thế nghĩa là trong thời điểm Mậu Thân 1968, tôi không có mặt ở Huế.
Sau năm 1975, ít ra là đã có ba tài liệu sau đây xác nhận rằng tôi không có mặt ở Huế hồi Mậu Thân:
1. Nhiều người hay nhớ lõm bõm bài trả lời phỏng vấn của anh Lê Văn Hảo trên báo Quê Mẹ, xuất bản ở Paris, để buộc tội tôi. Thực ra thì trong bài này, tôi đã đọc kỹ, thấy anh Hảo nói rất đúng rằng, hồi Tết Mậu Thân, cả anh Hảo và tôi đều đang ở trên một vùng núi, cách xa Huế gần 50 cây số, và không hề có chuyện tôi về Huế để giết người.
2. Bài viết của anh Đặng Tiến đăng trên báo Thông Luận, Paris, trong đó Đặng Tiến dẫn chứng nhiều nguồn tư liệu đã công bố ở trong nước, do nhiều nhân vật khác nhau cung cấp, bác bỏ những lời lẽ xảo ngôn lệnh sắc trên báo Thông Luận buộc tội tôi về chuyện giết người ở Huế trong năm Mậu Thân.
3. Trong cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, của Nhã Ca in sau biến cố Mậu Thân, tác giả cũng nói rằng: Phủ (tức là tôi), không về Huế, và nếu có về thì chắc cũng không giết người. Tôi thành thật cảm ơn chị Nhã Ca đã dành cho tôi điều nhìn nhận khách quan rất quan trọng này, dù trong cảnh tượng máu lửa hỗn quan hỗn quân của Huế Mậu Thân.
Đã không có mặt ở Huế thì làm sao tôi -Hoàng Phủ Ngọc Tường- lại có thể làm cái việc ghê gớm gọi là "đồ tể" Mậu Thân ở Huế được?

TK: Như vậy thì anh đã làm gì trong thời gian Tết Mậu Thân? Anh ở đâu? Anh làm những chức vụ gì?
HPNT: Có một tổ chức chính trị của các lực lượng đấu tranh của phong trào Huế ra đời trong bối cảnh xuân Mậu Thân, ấy là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế, do anh Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó chủ tịch. Với tư cách Tổng thư ký, tôi luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên để làm công tác chính trị của Liên Minh, tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện nhúng tay vào máu ở Huế. Trụ sở chiến dịch của Liên Minh là một địa đạo Trường Sơn, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Trụ sở này, đã được mô tả đầy đủ trên báo Lao Động, ở trong nước cách đây hai tháng.

TK: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?
HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.
Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.

TK: Vậy, theo anh, ai trách nhiệm những thảm sát ở Huế?
HPNT: Tôi không đủ thẩm quyền để phán xét bất cứ cá nhân nào. Xin trích dẫn theo trí nhớ một ý tưởng trong hồi ký của chính ông Lê Minh, tư lệnh chiến dịch Huế Mậu Thân: Dù bởi lý do nào đi nữa, thì trách nhiệm vẫn thuộc về những người lãnh đạo mặt trận Mậu Thân, trước hết là trách nhiệm của tôi. Qua bài hồi ký tâm huyết này, đã được công bố trên tạp chí Sông Hương, Huế, và sau đó, nếu tôi không nhớ lầm, đã được dịch và in toàn bộ trên báo Mỹ Newsweek, tác giả, Lê Minh (lúc đó đã nghỉ hưu), còn nhắc nhở rằng, điều quan trọng có thể làm, và phải làm bây giờ, là những người lãnh đạo kế nhiệm ở Huế, phải thi hành chính sách minh oan cho những gia đình nạn nhân Mậu Thân, trả lại công bằng trong sáng và những quyền công dân chính đáng cho thân nhân của họ.

TK: Ngoài ra anh còn "được" hay "bị" là nhân vật của nhiều tiểu thuyết, đặc biệt là Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác. Tường trong tiểu thuyết của Nguyễn Mộng Giác và anh, có chỗ nào giống nhau? Chỗ nào khác nhau?
HPNT: Có lẽ chỉ giống nhau ở cái nốt ruồi ở góc cằm, như Nguyễn Mộng Giác đã lưu ý độc giả vào cuối bộ sách. Ngoài ra thì không nên nói đến một sự giống hoặc khác nhau nào giữa một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết và một con người thực đang sống ở ngoài đời là tôi. Nhưng có điều khác nhau rất quan trọng là: Tôi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, thì không có mặt trong Mậu Thân ở Huế như nhân vật trong tiểu thuyết của anh Nguyễn Mộng Giác. Và tôi cũng chưa bao giờ biết làm công việc của một tên chỉ điểm hèn hạ để hại bạn như là cái thằng Tường trong sách của anh Giác. 
À mà anh Nguyễn Mộng Giác này, chán chi tên mà tại sao anh lại lấy tên tôi để đặt cho cái nhân vật khốn khổ tội nghiệp của anh, khiến những kẻ độc miệng cứ nhè vào tôi mà vu khống, mà nguyền rủa mãi như vậy? Nếu nhân vật trong Mùa Biển Động của Nguyễn Mộng Giác mang một cái tên nào khác, thí dụ như Vách, Phên chẳng hạn, chắc chắn là không có gì dính líu tới Tường này cả.

TK: Anh nghĩ sao về Giải Khăn Sô Cho Huế của chị Nhã Ca?
HPNT: Dù có một số sự việc không đúng sự thực, do có hoặc không có dụng ý của tác giả, Giải Khăn Sô Cho Huế đối với tôi, vẫn là một bút ký hay, viết về Huế Mậu Thân; hàng chục năm qua đọc lại, tôi vẫn còn thấy quặn lòng. Chị Nhã Ca làm tôi liên tưởng tới Nỗi Buồn Chiến Tranh của Bảo Ninh.

TK: Về một lời tuyên bố của anh trong một phóng sự chiếu trên đài truyền hình Mỹ, Anh, Pháp ... mà nhiều người đã dựa vào đó để đả kích anh. Anh đã tuyên bố những lời ấy trong trường hợp như thế nào? Tại sao?
HPNT: Hồi đó, ông Burchett và đoàn làm phim "Việt Nam một thiên lịch sử truyền hình" tới Huế, chọn tôi để chất vấn về chuyện tang tóc của Huế Mậu Thân. Tôi nhớ một cách đại thể, là tôi đã nói về ba thành phần nạn nhân khác nhau: 1) Những người chết do hành động trừng phạt của quân giải phóng dành cho những người thực sự có tội. 2) Những người bị giết oan. 3) Những nạn nhân chết do Mỹ ném bom vào đám đông hoặc quân chính phủ bắn giết trả đũa khi phản kích. Cả ba trường hợp này đều có thực, chết nằm xen kẽ nhau trên các đường phố Huế Mậu Thân.
Lâu rồi, trả lời ứng khẩu thế thôi, tôi không nhớ thật cụ thể những điều đã nói, và cũng không có dịp xem lại nguyên bản phim như nó đã được chiếu ở nước ngoài; nên không biết cuốn phim có tái hiện trung thành những ý tưởng của tôi hay không.

TK: Xin anh một lời kết cho buổi nói chuyện hôm nay. Đối với những người đã "kết tội" anh, anh nghĩ sao? Và nói rộng ra đến tình trạng chung của các sự ước đoán và quy kết.?
HPNT: Xin cám ơn đài RFI và chị Thụy Khuê đã dành cho tôi một cơ hội để tự bạch trước thính giả mà lâu nay, chắc có không ít người đã căm hận tôi, do tin lầm vào những lời vu khống của người khác. Người đời thường tình, dễ nghe, dễ tin, không nói làm gì; ở đây lại là những người cầm bút, là nhà văn, là nhà báo, họ chưa quen biết tôi, và tôi cũng chưa quen biết họ bao giờ. Sao người ta lại cứ mải say mê trong hành động vu khống kẻ khác như vậy. Sự lên án hoặc buộc tội là quyền chọn cách nhìn cuộc chiến, nhưng sự vu khống lại thuộc về nhân cách của người cầm bút.
Tôi đã nói hết sự thật trong một lần. Xin thưa, từ nay đừng bắt tôi phải chịu trách nhiệm những tội lỗi mà tôi không hề đụng tay tới bao giờ, và mọi sự phán xét xin hãy dành cho những kẻ thích tạo dựng tên tuổi bằng cách lấy nhọ nồi bôi vào trán người khác. 
Tôi xin chân thành biết ơn sự quan tâm của quý vị thính giả dành cho câu chuyện có phần nào liên quan tới lương tâm và danh dự của tôi, và xin bạn hữu ở khắp bốn phương trời, hãy giữ trọn vẹn lòng tin vào thằng bạn ngày xưa của mình, rằng Tường vẫn là một con người tính bản thiện.

TK: Xin cám ơn anh Hoàng Phủ Ngọc Tường.
 

© Copyright Thuy Khue 1997

Tranh cãi về biến cố Huế Mậu Thân

Nhiều người cho rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường, cùng em trai là Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân tham gia vào "vụ thảm sát nhiều người dân Huế dịp Tết Mậu Thân năm 1968". Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân khẳng định là trong suốt thời gian chiến dịch, Hoàng Phủ Ngọc Tường ở chiến khu tại địa đạo Khe Trái trong vùng núi phía tây huyện Hương Trà để làm công việc của Mặt trận Giải phóng, cho nên chuyện Hoàng Phủ Ngọc Tường tham gia tàn sát là điều bịa đặt. Theo Nguyễn Đắc Xuân, nguyên nhân của những thông tin này là do nhóm "Tường - Phan - Xuân" xuất thân là những sinh viên theo đạo Phật tham gia chống chính quyền Ngô Đình Diệm và các chính quyền thân Mỹ của Việt Nam Cộng hòa, sau đó thoát ly tham gia cuộc chiến chống Mỹ trong Mặt trận Giải phóng, chính điều này đã khiến các nhóm tôn giáo thân Diệm, các nhóm chính trị chống Cộng cực đoan và những người có quyền lợi bị ảnh hưởng thù ghét họ, và dựng nên những thông tin nhằm bôi xấu bộ ba Tường - Phan - Xuân. Còn Hoàng Phủ Ngọc Tường kể rằng vào ngày diễn ra chiến dịch Mậu Thân, ông đã có mặt ở sở chỉ huy tiền phương để chờ nhiệm vụ nhưng sau đó cấp trên yêu cầu trì hoãn việc vào Huế vì tình hình phức tạp nên cuối cùng ông Tường cũng không thể có mặt ở thành phố Huế khi trận đánh diễn ra.[13].

Tuy nhiên năm 1982, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại tường thuật chi tiết trận đánh giống ông là nhân chứng có mặt trong thời gian biến cố Mậu Thân xảy ra. Trả lời ngày 29/2/1982 phỏng vấn với một nhà làm phim Mỹ, phim "VietNam Television History" của ông Burchett nói về trận Mậu Thân Huế[14], ông nói rằng ông biết một bệnh viện tại vùng Gia Hội, chứng kiến bệnh viện này đã bị Mỹ thả bom giết chết hơn 200 người và trong đêm đó ông dẵm lên một vũng bùn, tưởng đó là bùn, khi mà bật đèn thì thấy toàn là máu cả[15]

Nhà văn Nguyễn Đắc Xuân thì kể lý do tại sao ông Hoàng Phủ Ngọc Tường có thể kể tường tận diễn biến dù không về Huế[16]:

"Anh Tường kể: Tết Mậu Thân, anh đã có mặt ở Sở chỉ huy tiền phương Mặt trận Huế, đặt tại núi Kim Phụng, phía tây Huế. Chúng tôi cứ chờ mãi như thế và không bao giờ được trở lại thành phố. Lúc bấy giờ Quân Giải phóng và nhân dân Huế vẫn phải liên tục đánh trả sự phản công quyết liệt của đối phương. Lời hiệu triệu kêu gọi đồng bào Huế nổi dậy là do anh Tường viết đã được thu băng và được phát đi khắp các nẻo đường, phố phường của Huế. Có lẽ do sự kiện này mà về sau nhiều người nhầm rằng anh Tường có mặt ở Huế trong những ngày Tết Mậu Thân.
Ngoài câu chuyện trên đây, chúng tôi nghĩ rằng, có lẽ còn do chuyện Hoàng Phủ Ngọc Tường viết tập bút ký "Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu" viết về những người giữ cờ trên Phu Văn Lâu, Huế. Không tham gia đánh trận trực tiếp làm sao mà viết về cuộc chiến với những chi tiết cụ thể như thế? Sự thật thì không phải vậy. Hoàng Phủ Ngọc Tường bảo rằng, đây là một tập sách "viết chưa đạt". Vì thế trong 4 tập của "Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường", tập ký này không được chọn trang nào cả. Ông Tường kể: đây là cuốn sách tôi viết từ một tư liệu ghi chép về những người giữ cờ ở Huế của Nguyễn Đắc Xuân. Tôi đã hư cấu thêm theo sự cho phép của thể loại ký và theo suy nghĩ của tôi - chứ tôi đâu có mặt ở Huế vào thời điểm ấy"

Trong cuộc phỏng vấn với Thuy Khuê của đài RFI, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã cảm ơn Nhã Ca, tác giả cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, đã viết là ông đã không về Huế trong biến cố Mậu Thân, chứng minh ông không có trách nhiệm gì về những biến cố xảy ra ở Huế.

Tuyên bố

  • Không dính líu:


Thư của một học trò Liên Thành gởi Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường và Thư của cựu Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, Thiếu Tá Liên Thành gởi Hoàng Phủ Ngọc Tường, Cán bộ Trí vận thuộc Khu ủy Khu 5 (Miền Trung)‏ – Liên Thành

Tại khu vực Đại học Văn Khoa Huế, 1971, Thiếu Tá Liên Thành (ngồi) đang cùng lực lượng cảnh sát sẵn sàng trấn áp một cuộc bạo loạn của sinh viên nằm vùng Đại học Huế trong mục đích chống quân sự học đường, chống chiến tranh, chống Việt Nam Cộng Hòa, và yêu cầu Mỹ rút quân của Tổng hội sinh viên Đại học Huế.
Thư của một học trò Liên Thành gởi Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường
Thưa Thầy,
Con là Liên Thành, là một học trò cũ của Thầy tại lớp Đệ Nhị B2, trường Quốc Học niên khóa 1958-1959. Có lẽ bây giờ vì tuổi đời đã cao hơn nữa thân mang bệnh tật nên Thầy không còn trí nhớ tốt, vì vậy con xin nhắc lại đây những kỷ niệm của bọn con lớp Đệ Nhị B2 niên khóa 58-59 tại trường Quốc Học Huế đối với Thầy.
Đứng ngoài cùng bên trái là học trò Liên Thành (x) thời gian học với Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường tại trường Quốc Học Huế

Đứng ngoài cùng bên trái là học trò Liên Thành (x) thời gian học với Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường tại trường Quốc Học Huế

Thưa Thầy,
Lớp Đệ Nhị B2 tụi con có khoảng 50 đứa. Tụi con học ban Toán nên môn Việt Văn thường không hấp dẫn và cũng không làm chúng con quan tâm lắm. Chúng con thỉnh thoảng bỏ lớp trốn học kéo nhau sang Lạc Sơn ngồi nhâm nhi ly café, cảm thấy thú vị hơn phải ngồi nghe giảng dạy môn Vạn Vật, Anh Văn v.v… Thế nhưng đối với môn Việt Văn của Thầy dạy thì lũ chúng con không thiếu một đứa nào trong lớp. Cả lớp im lặng ngồi há miệng say mê nghe Thầy giảng bài, nghe Thầy nói văn chương chữ nghĩa, nghe Thầy giải thích điển tích. Có thể nói trí nhớ của Thầy siêu đẳng.
Thầy có tài ăn nói lôi cuốn người nghe, và đặc biệt Thầy có một vóc dáng thư sinh, khuôn mặt hiền từ, mái tóc bồng bềnh của một thi sĩ, một người lãng mạn nhẹ nhàng.Thầy vào lớp, không sách, không vở, không tài liệu cầm tay. Thầy nói thao thao bất tuyệt về văn chương, chữ nghĩa thơ phú, điển tích xa xưa, đến những bài thơ cổ, cả lớp vẫn ngồi im lặng say mê nghe Thầy nói.  Và ngoài ra Thầy còn giảng dạy cho chúng con những điều phải trái, tư cách làm người, đạo đức. Thầy quả là có một tấm lòng nhân hậu thương yêu mọi người…

Rồi thời gian qua nhanh, đất nước không còn có được những ngày tháng thanh bình. Người Cộng Sản miền Bắc phát động cuộc chiến tranh xâm lăng Miền Nam. Lũ chúng con, những thằng học trò cũ của Thầy, cùng với các thanh niên cùng trang lứa tại khắp bốn vùng chiến thuật Miền Nam, xếp bút nghiên xông vào chiến trận cùng nhau gánh vác khổ nạn của quê hương. Chúng con chiến đấu không mang mặc cảm làm tay sai cho ai, không bao giờ nghĩ mình là lính Ngụy. Chúng con chiến đấu không vì hận thù. Chúng con chiến đấu chỉ vì lý tưởng, vì quê hương, vì xứ Huế dấu yêu. Lớp Đệ Nhị B2 của Thầy có năm mươi thằng học trò. Thầy biết không, tàn cuộc chiến chúng con chỉ còn lại dăm ba thằng. Hầu như tất cả đã ngã gục ngoài chiến trường, ngã gục trước lằn tên mũi đạn của những đồng chí Cộng sản với thầy, để bảo vệ đồng bào làng xóm thân yêu, trong đó có cha, có mạ, có chị, có em, có hàng xóm gần, láng giềng xa, có xứ Huế, có sông Hương núi Ngự, có cầu Tràng Tiền sáu vài 12 nhịp.

Thầy còn nhớ Văn Đình Tùng không? Tùng có biệt danh Tây Lai  bạn cùng lớp với con, Mễ, Huấn, v.v. Năm học Đệ Nhất B5 hắn đi khóa 18 Võ Bị cùng với Lê Văn Mễ, Lê Huấn, còn con ở lại học tiếp cho xong Tú Tài II sau đó quyết định vào Thủ Đức. Ra trường Võ Bị hắn làm sĩ quan Điều Không của Sư đoàn 18, sau đó đi Mỹ học khóa đại đội trưởng. Từ Mỹ về, Trung Úy Văn Đình Tùng ra làm Đại Đội Trưởng Đại đội Trinh Sát Sư Đoàn 2. Trong một cuộc hành quân đại đội hắn nhảy xuống vùng mà tin tức tình báo sai lạc, Đại Đội hắn bị hai tiểu đoàn quân thù vây kín, hắn bỏ súng nhỏ ôm súng lớn, súng đại liên bắn chận quân thù cho lính thoát thân. Lính chạy thoát được còn hắn bị quân thù đâm trên 100 nhát dao. Hắn chết đứng sừng sững giữa trời, hiên ngang như Từ Hải chết trong truyện Kiều mà thầy đã dạy tụi con.

Cố Đại Úy Văn Đình Tùng Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân!

Còn nữa, một thằng học trò nữa mà thầy không thể quên hắn, vì hắn là thằng phá phách nhất lớp Đệ Nhị B2, năm sau lên Đệ Nhất B5 và đi Khóa 18 Võ Bị. Hắn là Lê Huấn. Hành quân Hạ Lào hắn là Trung Tá Tiểu Đoàn Trưởng, và hắn cũng trở thành Cố Đại Tá Lê Huấn Vị Quốc Vong Thân.Thưa Thầy, năm mươi đứa học trò của thầy ở lớp Đệ Nhị B2 đa số đều như Văn Đình Tùng, Lê Huấn.

Trước tháng 6/1966, con ở lính tại Chi Khu Nam Hòa. Tình cờ trong một lần hành quân để di tản đồng bào từ làng Lương Miêu, Dương Hòa, mật khu của Việt Cộng, đưa đồng bào về vùng an ninh của VNCH, cuộc hành quân phối hợp với một trung đoàn của Sư Đoàn I Bộ binh, con gặp một vài thằng bạn trong lớp Đệ Nhị B2 như Trung Úy Nguyễn Tần, Đại Đội Trưởng, Thiếu Úy Trần Vĩnh, Tiền Sát Viên Pháo Binh, và một vài thằng nữa. Trên bước đường xuôi ngược của người trai thời loạn, gặp nhau quả thật xúc động. Chúng con ngồi kể chuyện xưa, chuyện học trò, chuyện trường Quốc Học. Chúng con nhắc đến tên Thầy với niềm kính trọng và trìu mến như chạm vào một kỷ niệm đẹp của tuổi học trò.

Thế nhưng, định mệnh thật trớ trêu. Bẵng đi vài năm, vào tháng 6 năm 1966 khi cuộc phản loạn của Trí Quang, Đôn Hậu tại Huế đang ở giai đoạn cao điểm, con từ Chi Khu Nam Hòa về giữ chức vụ Phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Ty CSQG Thừa Thiên-Huế, một đơn vị nhỏ trong đại đơn vị của Đại Tá Nguyễn Ngọc Loan dẹp loạn Miền Trung. Con quá ngỡ ngàng Thầy lại ở trong hàng ngũ phản loạn tiếp tay cho Cộng sản tàn ác chống lại chính quyền Quốc Gia.

Đời sống thật quả thật có những tình cờ oái ăm làm cho con người gặp nghịch cảnh phải cứng họng, cứng lưỡi chẳng thốt lên được một lời nói nào. Đó là trường hợp của con lúc bấy giờ. Vì hai người nguy hiểm nằm trong hàng ngũ địch phá rối trị an tại Huế lúc bấy giờ, một người là Thầy của con, Thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, và người kia là bạn học từ những năm học tiểu học tại trường tiểu học Nam Giao là Nguyễn Đắc Xuân.

Con sẽ phải đối phó với họ bằng những hành động thẳng tay nhất. Những kẻ theo giặc, nếu bắt sống được họ, thì phải bỏ tù họ và đày đi Côn Đảo với đề nghị bản án nặng nhất, còn nếu phải chạm súng, con sẽ phải dùng hỏa lực mạnh nhất để triệt hạ ngay.

Trong hồ sơ cá nhân của Thầy và Nguyễn Đắc Xuân mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt do con chỉ huy đã sưu tầm cập nhật, thì Thầy là cán bộ trí vận hoạt động trong giới học sinh, sinh viên tại Đại Học Huế, và trong lực lượng phản loạn của Trí Quang và Đôn Hậu. Thầy là người của Khu Ủy Khu 5 Việt Cộng, và cán bộ Cộng Sản chỉ đạo của thầy là Hà Kỳ Ngộ bí danh Thành, có phải vậy không Thầy?

Về Nguyễn Đắc Xuân thì hắn cũng hoạt động trong tổ trí vận của cơ quan Thành Ủy Huế. Hắn phụ trách về học sinh, sinh viên Đại Học Huế. Cán bộ Cộng sản chỉ đạo hắn là Hoàng Kim Loan, Thành Ủy Viên Thành Ủy Huế.

Tóm lại Thầy và Nguyễn Đắc Xuân là hai tay nằm vùng thứ thiệt của Cộng sản từ năm 1963 và cũng là hai tay rường cột của Trí Quang và Đôn Hậu trong mọi cuộc dấy loạn từ 1963 đến 1966, và Mậu Thân 1968 tại Huế.

Thưa Thầy,
Đã có điều gì làm cho Thầy bất mãn trong đời sống hằng ngày của một sinh viên Đại Học Sư Phạm thuộc trường Đại Học Sàigòn? Chính phủ VNCH thời đó đã cấp học bổng cho Thầy ăn học với số tiền là một ngàn năm trăm đồng (1500$) mỗi tháng, như Thầy đã viết trong hồi ký:
Năm 1957, tôi vào ở Sàigòn, trọ tại cư xá sinh viên Miền Trung ở đường Bùi Quang Chiêu (nay là đường Đặng Thị Thu). Sáng nào cũng ăn phở Bắc Hà ở tiệm Trường Ca đường Yersin ngay đầu phố. Học bổng sinh viên Đại học Sư Phạm khóa I được 1500$ một tháng, mà trong khi đó tô phở chỉ có một đồng (1$), nên xem ra tôi sung sướng hơn sinh viên bây giờ. Sáng nào cũng ăn phở, mỗi tháng chỉ mất 30$.
   (Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyển tập 1. Trang 28)Đã có điều gì làm cho Thầy bất mãn trong đời sống hằng ngày sau khi tốt nghiệp trở thành một thầy giáo trung học đệ nhị cấp? Chính phủ VNCH bổ nhiệm Thầy dạy các trường lớn như trường Quốc Học, Đồng Khánh, và với đồng lương của một giáo sư có bằng Đại Học Sư Phạm bốn năm Thầy có thể ăn bao nhiêu ngàn tô phở buổi sáng?

Thầy cũng đã sống, đã hưởng những ngày tháng sung túc về vật chất, và thanh bình tốt đẹp của Miền Nam Việt Nam, bên cạnh người tình xinh đẹp dịu dàng Tôn Nữ Bảng Lãng. Vậy thì tại sao và cái gì đã biến đổi Thầy từ một vị thầy giáo được học trò kính mến, một nhà trí thức đúng nghĩa, một nhà giáo đạo đức hiền lành trở thành kẻ tàn bạo vong ơn bội nghĩa, trở thành người Cộng sản sắt máu man rợ, tại sao vậy Thầy? Tại sao? và Tại sao?…

Chúng con, những thằng học trò cũ của Thầy, nghĩ mãi không ra, không có lý lẽ nào nghe được. Chỉ có thể kết luận có lẽ Thầy bị bệnh hoang tưởng, bệnh ảo tưởng nghĩ rằng Cộng Sản Miền Bắc là thiên đàng hạ giới, là chế độ biết chiêu hiền đãi sĩ, là nơi để cho Thầy phát huy tài năng hiếm có của mình chăng? Chủ thuyết Cộng sản lôi cuốn mê hoặc Thầy đến thế hay sao? Và một điều ngạc nhiên lạ lùng là cái gì đã biến đổi Thầy từ bản chất của một người hiền lành, nhân hậu, thành một tên dối trá không ngượng miệng, một ác quỷ giết người không gớm tay. Thầy say máu người còn hơn ác quỷ Dracula.

Chẳng lẽ thầy bị bệnh điên loạn, bệnh “thần kinh thương nhớ”? Hay Thầy cũng giống như tên PolPot lãnh tụ Khmer Đỏ, một trí thức cũng như Thầy, đã ra tay giết gần 2 triệu đồng bào Khmer của hắn ta để thực hiện Chủ Nghĩa Cộng Sản sắt máu mới thỏa lòng hả dạ. Thật tình chúng con không hiểu nổi tại sao Thầy lại biến đổi nhanh như vậy.

Thưa Thầy chắc hẳn Thầy không bao giờ quên sau năm 1975 tại Huế, trong một buổi trà dư tửu hậu tại một nhà người bạn với rất đông bạn bè của Thầy tham dự. Một trong những người bạn thân nhất của Thầy, người đã từng hoạt động với Thầy trong tổ trí thức vận, kẻ đã từng chuyển tờ báo “Việt Nam Việt Nam” của Thầy vào Quy Nhơn, vào Sàigòn là Giáo sư Bửu Ý, cũng là thầy dạy Pháp Văn của tụi con ở lớp Đệ Nhất B5 tại trường Quốc Học, ông ta đã chỉ vào mặt Thầy và nói rất nặng lời. Con xin lỗi thầy phải nói lại nguyên văn lời Thầy Bửu Ý nói với Thầy như sau:

Tường, mi là một thằng trí thức sắt máu hèn hạ, giờ nầy mi chưa sáng mắt, còn chạy theo liếm đít Đảng nữa hay sao?”Có lẽ Thầy Bửu Ý vẫn chưa hiểu hết con người Thầy Tường, vì Thầy Tường hoạt động cho Cộng sản từ trước năm 1963. Đến năm 2003 mặc dầu đã cố gắng phục vụ Bác và Đảng, tạo được biết bao nhiêu thành tích, bao nhiêu công trạng hiển hách, giết được vô số Mỹ Ngụy, trong đó phải kể đến công trạng to lớn nhất của Thầy Tường đối với Bác và Đảng là tàn sát dân Huế trong Mậu Thân 1968, lập Tòa Án Nhân Dân chôn sống cả trên 200 tên phản động, vậy mà vẫn chưa được Bác Đảng cho Thầy trở thành đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Công chưa thành danh chưa toại, nên Thầy Tường phải tiếp tục sự nghiệp dang dỡ, tiếp tục hạ mình luồn cúi đến cùng để đạt được cái thẻ Đảng. Chỉ vậy thôi thưa thầy Bửu Ý! Xin cho con trả lời câu hỏi trên của Thầy về Thầy Tường.

Mấy năm gần đây khi Thầy lâm trọng bệnh phải ngồi xe lăn, nghe nói Thầy đã được bọn chúng cho Thầy vào Đảng. Thầy đã có thẻ đảng trở thành đảng viên Cộng sản, con cũng mừng cho Thầy là dù sao cuối đời cũng đạt được ý nguyện. Chúc mừng Thầy!…. Chúc mừng Thầy!…

Có lẽ mộng ước của một kẻ trí thức như Thầy muốn lưu lại một cái gì đẹp đẽ cho đời sau về mình, về dòng họ mình. Nhưng thưa Thầy, Thầy đã khôn một thời và dại một đời. Thầy và thằng em ruột của thầy là Hoàng Phủ Ngọc Phan đã lưu lại cho hậu thế và lịch sử những nguyền rủa, phỉ nhổ, kinh tởm vào cá nhân hai anh em Thầy và làm xấu hổ cho dòng họ của Thầy. Những nấm mồ tập thể của dân Huế còn đó thì tội lỗi của cả hai anh em Thầy nhúng tay vào máu dân lành vô tội Huế Mậu Thân 1968 vẫn còn đó. Cái mà Thầy đã làm cho dòng họ mình đó là dòng họ Thầy phải gánh chịu tội ác không bao giờ tẩy rữa được này.

Thưa Thầy, dân chúng làng Bích Khê, quận Triệu Phong tỉnh Quảng Trị, nơi nguyên quán của Thầy, họ đã từng hãnh diện là tại làng Bích Khê có được một dòng họ Hoàng Phủ.

Lịch sử đã ghi vào năm 1882, Henri Rivière hạ thành Hà Nội lần thứ hai, Tổng Đốc Hoàng Diệu thắt cổ tử tiết vì không giữ được thành. Vị phụ tá Tổng Đốc Hoàng Diệu là quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng đã tuyệt thực để tạ tội với Vua, tạ lỗi với đồng bào vì đã không làm tròn nhiệm vụ Vua giao, và ông chỉ ngưng tuyệt thực khi Khâm Sai Đại Thần Trần Đình Túc mang Chiếu Chỉ của Vua Tự Đức ra Hà Nội lệnh cho Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng ngưng tuyệt thực.

Thưa Thầy, Thầy có biết quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng là ai không? Quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng chính là Nội Tổ của hai anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan.

Nội Tổ của Thầy danh giá như vậy đó, trung liệt như vậy đó, thì tại sao hai anh em của Thầy nỡ lòng nào bôi xấu dòng họ mình, làm nhục tổ tiên mình, làm hoen ố tên tuổi quan Tuần Vũ Hoàng Hữu Xứng, để đến nỗi sau Mậu Thân 1968, các vị bô lão của làng Bích Khê vì quá hổ thẹn với hành động sát hại đồng bào Huế do hai anh em Thầy gây ra, họ đã phải buộc miệng nói rằng: “Thói đời, hổ phụ sinh hổ tử, tại sao lại có chuyện nghịch đời hổ phụ sinh cẩu tử”.

Thưa Thầy,
Thầy có biết không, đã bốn mươi hai năm trôi qua, hằng năm mỗi lần Tết đến, khi nhắc đến cuộc tàn sát kinh hoàng do Thầy và em ruột của Thầy là Hoàng Phủ Ngọc Phan gây ra thì mọi người dân Huế không một ai là không kinh tởm, không nguyền rủa Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan. Nói đến tang tóc đau thương của 5327 sinh mạng dân lành vô tội và hơn 1200 người mất tích ở Huế là nói đến các tên Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Thầy có biết không?

Như vậy kể từ tháng 6/66, thầy trò chúng ta ơn đoạn, nghĩa tận. Chúng ta không còn gì để giữ tình thầy trò. Biên giới đã được phân định. Thầy và Nguyễn Đắc Xuân thuộc về bờ Bắc, và tôi thuộc về bờ Nam của dòng sông Bến Hải chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17.

Trong chức vụ phó Trưởng Ty Cảnh Sát Đặc Biệt của Bộ Chỉ Huy CSQG/Thừa Thiên-Huế, trách nhiệm của tôi là phải vô hiệu hóa mọi công tác của đám cán bộ, cơ sở  nội thành Việt Cộng, phải bắt giữ tất cả. Và một trong những mục tiêu quan trọng mà lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt của tôi phải vô hiệu hóa càng sớm càng tốt đó làHoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân.

Tôi đã bố trí lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt để bắt giữ Thầy. Còn nhớ trước khi Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan thoát lên mật khu, chiều hôm đó Thầy từ nhà tên Chính, cơ sở nội thành ở đầu cầu Phủ Cam trên đường Phan Chu Trinh thuộc Quận III Thị xã Huế, di chuyển sang nhà của Trịnh Công Sơn. Ăn cơm tối với Trịnh Công Sơn xong, thì hai cán bộ nội thành thuộc tổ trí vận của Thành Ủy Huế đến đưa Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan rời khỏi nhà Trịnh Công Sơn bằng chiếc xe hơi màu trắng của bà Đào Thị Xuân Yến tức bà Tuần Chi chạy lên Chùa Linh Mụ. Rồi từ đó Thầy và Hoàng Phủ Ngọc Phan đi đường bộ qua ngã Long Hồ Ngọc Hồ, vượt nguồn tả sông Hương lên vùng mật khu núi Chuối, tức núi Kim Phụng. Hai cán bộ nội thành đón hai anh em Thầy không ai khác hơn là giáo sư Tôn Thất Dương Tiềm đóng vai cận vệ, và tài xế là Lê Cảnh Đạm, Tổng Thư Ký trường Đại học Y Khoa Huế.

Tôi là một sĩ quan tác chiến mới vào nghề an ninh tình báo nên chưa đủ bản lãnh và kinh nghiệm của nghề nghiệp, cũng như chưa đủ bản chất lạnh lùng của một sĩ quan tình báo khi thi hành công tác. Vì vậy tôi đã vấp phải một lỗi lầm rất lớn để phải ân hận suốt đời, là giao công tác hệ trọng nầy cho viên phụ tá của tôi, anh Xuân, trưởng ban Hoạt Vụ chỉ huy, còn tôi đứng khá xa, vì tôi không nỡ làm hành động trò trực tiếp bắt thầy. Nếu tôi đích thân chỉ huy lực lượng Cảnh Sát Đặc Biệt vây bắt Thầy tối hôm đó, chắc chắn thầy không tài nào có thể chạy thoát được.

Tại sao? Lý lẽ duy nhất để biện minh cho hành động tắc trách của tôi lúc đó là đạo nghĩa, là giáo dục của phụ thân tôi, là giáo dục của của học đường Miền Nam, của thầy Hoàng Phủ Ngọc Tường, của xã hội Miền Nam Việt Nam: Một chữ nên thầy một ngày nên nghĩa, nên tôi đã không thể vượt qua hàng rào đạo đức lễ giáo. Lúc đó tôi cũng chưa được huấn luyện và dày dạn phong sương để có thể có được hành động và trái tim lạnh lùng của một sĩ quan tình báo. Hành động trò đi bắt thầy là một hành động khó có thể chấp nhận được. Cũng vì lễ giáo đó mà nay tôi phải ân hận suốt đời, đã để xổng một con ác quỷ! Tôi đã không hiểu thấu một lý lẽ quan trọng: Nếu cần phải vô hiệu hóa một người để cứu một trăm người, thì đó là chuyện phải làm.

Không còn gì để nói về tình thầy trò giữa tôi và Thầy. —Liên Thành.

Tại khu vực Đại học Văn Khoa Huế, 1971, Thiếu Tá Liên Thành (ngồi) đang cùng lực lượng cảnh sát sẵn sàng trấn áp một cuộc bạo loạn của sinh viên nằm vùng Đại học Huế trong mục đích chống quân sự học đường, chống chiến tranh, chống Việt Nam Cộng Hòa, và yêu cầu Mỹ rút quân của Tổng hội sinh viên Đại học Huế.

Tại khu vực Đại học Văn Khoa Huế, 1971, Thiếu Tá Liên Thành (ngồi) đang cùng lực lượng cảnh sát sẵn sàng trấn áp một cuộc bạo loạn của sinh viên nằm vùng Đại học Huế trong mục đích chống quân sự học đường, chống chiến tranh, chống Việt Nam Cộng Hòa, và yêu cầu Mỹ rút quân của Tổng hội sinh viên Đại học Huế.

Thư của cựu Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Tỉnh Thừa Thiên và Thị xã Huế, Thiếu Tá Liên Thành gởi: 
– Hoàng Phủ Ngọc Tường, Cán bộ trí vận thuộc Khu ủy Khu 5 (Miền Trung).
– Tổng thư ký Lực Lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình   
– Chủ tịch Tòa Án Nhân Dân tại trường trung học Gia Hội,  Bãi Dâu, Quận II Thị xã Huế năm Mậu Thân 1968.

– Tội phạm chiến tranh, tội phạm diệt chủng Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Bằng vào một số chứng cớ rõ ràng minh bạch, qua trên một trăm (100) nhân chứng, tôi xác nhận Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ tọa phiên Tòa Án Nhân Dân của Chính Quyền Cách Mạng Tỉnh Thừa Thiên và Thị Xã Huế, được thiết lập tại trường trung học Gia Hội, Bãi Dâu thuộc Quận II (Tả Ngạn) Thị xã Huế vào Tết Mậu Thân 1968. Y cũng chính là người ra lệnh tử hình 204 người. Đa số là thường dân vô tội.Sau Mậu Thân, tức sau ngày 26 tháng 2 năm 1968, Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa tái chiếm Huế hoàn toàn. Cộng quân đã tháo chạy. Tình hình an ninh ổn định dần dần. Tôi cho lệnh các toán tình báo, các đơn vị CSĐB tiếp xúc với số thân nhân nạn nhân đã bị Việt Cộng sát hại. Trong đó chúng tôi có mở cuộc điều tra chi tiết vùng trường học Gia Hội. Mục đích là cập nhật thêm tin tức, bằng chứng, xác nhận danh tánh những tên Việt Cộng đã nhúng tay vào các vụ thảm sát đồng bào, để truy bắt và vô hiệu hóa bọn chúng. Những tin tức chúng tôi thu thập được gồm có:

1- Hơn một trăm lời khai từ thân nhân của nạn nhân tại trường trung học Gia Hội đều nói rõ: Khi thân nhân họ bị bắt dẫn đến trường Gia Hội, họ đã đi theo và họ hiện diện trong phiên tòa của Tòa Án Nhân Dân tại đó.

2- Một số nhân chứng xác nhận: Người ngồi xử tội thân nhân họ là ông Giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường, người mà họ đã biết mặt trong thời gian Phật Giáo Ấn Quang tranh đấu tại Huế vào mùa hè năm 1966.

3- Một số khác tả nhân dạng người ngồi ghế xử tội thân nhân họ có nốt ruồi đen khá lớn ở phía cằm bên phải, nghe đâu ông ta tên Tường là thầy dạy học ở trường Quốc Học trước đây.

4- Đặc biệt là lời khai của một quả phụ, vợ của một Chuẩn úy thuộc Sư đoàn I Bộ Binh:Khi chồng bà bị toán thanh niên của Nguyễn Đắc Xuân xông vào lục soát và bắt chồng bà ta tại nhà, bà đi theo và đem thức ăn quần áo cho chồng. Tại trường Gia Hội, người chồng nói với bà:
Em đừng lo, người ngồi xử trên đó là Thầy dạy cũ của anh, Thầy Tường, dạy anh ở trường Quốc Học.”
5- Trưởng Ban Cảnh Sát Đặc Biệt thuộc Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quốc Gia Quận II Thị xã Huế, Thiếu Úy Trọng, trong bản báo cáo về Bộ Chỉ Huy Tỉnh sau Tết Mậu Thân cũng đã phúc trình Hoàng Phủ Ngọc Tường là người chủ trì Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội trong Tết Mậu Thân 1968 và đã xử tử hình 204 đồng bào.
6- Cuối cùng là lời khai của Thành Ủy Viên Thành Ủy Huế, Trung Tá Điệp Viên Cộng Sản Hoàng Kim Loan, kẻ chỉ huy cuộc tổng nổi dậy vào Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. Hoàng Kim Loan bị chúng tôi bắt vào tháng 5/1972. Y đã khai như sau:
“Chính tôi (Hoàng Kim Loan), và hai thành ủy viên khác là Phan Nam, Hoàng Lanh đề cử Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế Chủ Tịch Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội, và chúng tôi đều có mặt trong phiên xử đó.”Tôi thấy cũng đã quá đủ những lý lẽ, dữ kiện để có thể kết luận:
1- Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt tại Huế trong suốt thời gian Mậu Thân 1968.
2- Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là Viên Chánh Án Tòa Án Nhân Dân tại trường Gia Hội, vùng Bãi Dâu thuộc Quận II Thị xã Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
3- Hoàng Phủ Ngọc Tường chính là kẻ đã buộc tội và ra lệnh tử hình 204 người, đa số là thường dân vô tội, bằng cách chôn sống họ ngay tại trường Gia Hội vùng Bãi Dâu thuộc Quận II Thị xã Huế trong Tết Mậu Thân 1968.Vụ tàn sát kinh rợn đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968 của đảng Cộng sản Việt Nam và nhóm tay sai trong lực lượng Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Hòa Bình(gồm có: Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, Đào Thị Xuân Yến, Thích Thiện Siêu, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm, Nguyễn Thiết, Nguyễn Hữu Vấnvà quá nhiều đám tay chân của Thích Trí Quang trong vụ phản loạn năm 1966 tham dự vụ tàn sát này) đã được thế giới biết đến. Sau năm 1975 thì các hãng truyền hình quốc tế đã cố gắng liên lạc để phỏng vấn những tên sát thủ đã bỏ chạy sang bờ Bắc vĩ tuyến 17, trong đó có Hoàng Phủ Ngọc Tường. Năm 1982 hãng truyền hình London đã phỏng vấn y về Mậu Thân. Y trả lời nguyên văn như sau:
Câu hỏi mà các phóng viên quốc tế hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường về cuộc tàn sát Mậu Thân, tại sao có những cuộc tàn sát đó thì Hoàng Phủ Ngọc Tường thản nhiên trả lời:
Phải giết bọn chúng như là giết những con rắn độc”.Chính miệng hắn năm 1982 trong cuộc phỏng vấn, còn ghi lại đầy đủ hình ảnh âm thanh trên Internet, đã xác nhận rằng hắn có mặt tại trận đánh Mậu Thân, lội trong máu gần ở phố Đông Ba. Thế mà mấy năm gần đây, Hoàng Phủ Ngọc Tường lại đổi trắng thay đen chối phắc rằng: Y không nhúng tay vào các vụ tàn sát tại Huế, vì suốt thời gian trận đánh xảy ra y đang nấp dưới hầm tại vùng Khe Trái. Trong khi ở Khe Trái, theo ghi nhận của các cơ quan điều tra VNCH, là hoàn toàn không có một bóng cộng quân nào ở vùng Khe Trái này khi trận đánh Mậu Thân diễn ra. Đây chỉ là điểm chúng tập kết quân trước trận đánh mà thôi.


Tôi đã trích một đoạn trong cuốn hồi ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường ở phần trên để chứng minh rõ ràng rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có mặt tại Huế trong suốt 26 ngày cộng quân tấn công và chiếm Huế, và Hoàng Phủ Ngọc Tường cùng đồng bọn là những tên đao phủ giết quá nhiều đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
Dù hắn có chối bay chối biến chăng nữa, thì sự thực vẫn là sự thực. Sự che dấu tội lỗi gần đây của chúng đã quá muộn vì chính chúng chứ không ai khác khi “cách mạng” mới thành công đã vênh vang tự đắc nhận công trạng giết người như giết rắn độc của mình. Bây giờ khi thực tế chứng minh Chủ Nghĩa Cộng Sản là một thảm họa cho Việt Nam, bị ngay cả chính nhiều đảng viên Cộng sản phỉ nhổ, thì chúng lo sợ bị lịch sử phanh phui, bị đưa ra tòa án quốc tế nên chối bay chối biến. Viết cuốn sách Huế Thảm Sát Mậu Thân 68 này chúng tôi chỉ trưng ra những bằng cớ để quý độc giả nhận định mà thôi. Việc xét đoán đã có đấng thiêng liêng quyết định và những oan hồn của dân lành vô tội chắc chắn sẽ không để hắn yên.
Hoàng Phủ Ngọc Tường

Hoàng Phủ Ngọc Tường

Giờ đây với bệnh tật phải ngồi xe lăn, và cõi chết đã gần kề, Hoàng Phủ Ngọc Tường không thể chối tội với lương tâm của mình, cũng không thể quên được những ngày bi thảm của cuộc tàn sát ghê rợn, đẫm máu do chính y gây ra cho đồng bào Huế trong Tết Mậu Thân 1968.
            Tên  sát nhân Hoàng Phủ Ngọc Tường:
                           “Nợ người một khối u sầu
                  Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi…”
Trong phần đời ngắn ngủi còn lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường đã sống những chuỗi ngày sợ hãi, sợ hồn ma bóng quế, sợ oan hồn ẩn hiện của những kẻ đã bị Hoàng Phủ Ngọc Tường thảm sát 42 năm về trước, bởi thế cho nên hắn đã viết như sau:
    “Những chiều Bến Ngự dâng mưa
      Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
      Tôi ra mở cửa đón người
     Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang”.
            Hoặc là:
    “Nợ người một khối u sầu
      Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi…”
               (Thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường)
Hoàng Phủ Ngọc Tường!
Không có người sống để ông “ra mở cửa đón người” mà chỉ là những người chết, là oan hồn của những dân lành vô tội đã bị ông sát hại gõ cửa linh hồn ông. Kiếp luân hồi tôi nghĩ cũng không thể có đối với ông được vì nghiệp chướng mà ông gây ra đã quá nặng. Ông phải bị đày cả ngàn năm hơn dưới 18 tầng âm ti địa ngục, đừng hy vọng gì để: “Tìm người tôi trả ngày sau luân hồi.” 

Liên Thành

(Trích trong sách Huế – Thảm Sát Mậu Thân)

Hoàng Phủ Ngọc Tường, kẻ hái phù du sau thảm sát Tết Mậu Thân 1968 tại Huế




Triết Gia Đức M. Heidegger từng ví con người như một Être Pour La Mort, coi đó như một sinh thể cho tử vong tử diệt, giống như quan niệm trong triết học Phật Giáo, cho rằng đời là bể khổ trong cõi thế vốn vô thường, để rồi rốt cục ai cũng phải chết. Tóm lại sinh tử là lẽ tất yếu của con người không ai tránh khỏi, nhưng để yên tâm bước vào cõi vĩnh hằng, hầu như ai cũng cố gắng giữ trọn đạo làm người, tốt cho mình, ích cho đời và lưu danh cùng sông núi.
Sau ngày 30-4-1975, cộng sản Hà Nội huênh hoang tuyên bố tất cả những trò lừa bịp chính trị đã làm từ năm 1930 là thời gian mà đảng cộng sản quốc tế chính thức xâm nhập vào VN, cho tới khi dùng bạo lực cưỡng chiếm được toàn thể quê hương. Để chia chung tội danh thiên cổ đã làm hủy hoại đất nước Lạc Hồng suốt bao năm qua, VC đểu cáng, đã lôi bọn Việt gian VNCH, từng giúp giặc đâm sau lưng người lính miền nam, vào chung xuồng, tung hê ca tung bọn ăn chén đá bát này khi viết lại lịch sử cận đại bằng chủ thuyết Mác-Lê cộng với những huyền thoại hoang tưởng, về cái gọi là chiến thắng ba đại đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ..
Trong khi đó, ngàn thảm kịch vĩ đại, vạn oan khiên tột cùng, núi xương, sông máu và những cơn giông bão nước mắt của triệu triệu nạn nhân cộng sản trong bao năm qua, bị chế độ độc tài đảng trị cùng những trí thức không tim óc tiếp tay, chôn giấu vùi dập một cách tận tuyệt trong đáy mộ thời gian. Nhưng lịch sử vốn vô tình và rất công bằng, nên nhiều trí thức buổi trước đã ồn ào ca tung VC, nay vì lương tâm và trên hết là sự thật, phải thay ngòi bút để viết lại lịch sử, lôi ra ánh sáng những uẩn khúc bi kịch, lột trần những huyền thoại của đảng cộng sản VN.
1968-2002, bao chục năm qua nay cũng đã đủ để khai quật nấm mồ lịch sử về cuộc thảm sát của VC, mà nạn nhân đa số là dân chúng vô tội, trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968 tại Huế. 
Theo nhận xét của học giả Nguyễn Hiến Lê thì muốn viết lịch sử, phải sống cùng lịch sử ít nhất một thời gian. Do trên hiện có một số lớn nạn nhân sống sót sau thảm kịch Mậu Thân Huế 1968, đã quả quyết thủ phạm chính cuộc tàn sát dã man lúc đó là những thành phần trong cái mặt trận Liên Minh Dân Tộc Hòa Giải do Hà Nội dựng lên tại Huế vào ngày mồng ba tết Mậu Thân (1-2-1968) gồm Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Đóa, Đào Thị Xuân Yến, Hoàng Phương Thảo..Bia đá trăm năm có thể bị hủy diệt bởi con người và thời gian, lịch sử cũng vậy có thể cũng bị thay đen đổi trắng bởi bọn cầm quyền và đám bồi bút vô loại nhưng bia miệng thì không bao giờ bất biến bởi chúng là những tác phẩm vô hình không chữ nghĩa.
Sau năm 1975, hầu như bọn phản tặc VNCH đều bị Hà Nội cho ra rìa, trong số này có anh em nhà Hoàng Phủ. Con người dù có trái tim cao su hay nhân tạo, đôi lúc trong một thoáng bâng quơ nào đó, cũng tịnh tâm xúc động về tội ác của mình, phương chi Hoàng Phủ Ngọc Tường lại là một trí thức, giáo sư, vương tôn công tư, được sinh ra và sống trên đầu hàng triệu triệu người lầm than đen đói VN, nên ông chắc cũng hàng đêm sám hối về tội phản quốc và sát nhân của mình đối với đồng bào vô tội, rồi tủi phận, rồi bứt rứt, cuối cùng tâm tư đã tuôn hết trong thi phẩm “Người Hái Phù Dung”, ăn năn thương tiếc tuổi hoa niên thơ mộng khi chưa lầm đường theo giặc giết hại dân tộc mình:
“Ta tìm lại trong hình hài hóa bướm
Chút tự do quả thực trên đời.
Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng
Núi thông nhiều ta hãy rong chơi.
1. Huế, cố đô trong dòng lịch sử:
Tỉnh Thừa Thiên nằm giữa miền Trung VN, có diện tích 5054km2 và dân số tính đến năm 2000 là 1.045.134 người với các quận Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới và Nam Đồng. Tỉnh lỵ là thành phố Huế hiện nay có diện tích 380km2 với 209.043 người.
Theo từ nguyên, Huế là do Hóa tên nôm của Thuận Hóa đọc trại ra nhưng đến nay vẫn chưa tìm được xuất xứ, ngoài tên Huế được đề cập lần đầu, trong bài văn viết bằng chữ nôm “Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn” của đại đế Lê Thánh Tôn (1460-1497). Là cố đô của nhà Nguyễn (1802-1945), Huế muôn đời vẫn đẹp và thơ mộng, mang nhiều sắc thái tiêu biểu cho dân tộc, nhân chứng của một chặng đường lịch sử, văn hóa, kiến trúc VN, nên trong hội nghị lần thứ 17 tại Catagenna nước Columbia, vào tháng 12-1993, tổ chức UNESCO của LHQ, đã công nhận Huế là di sản văn hóa của nhân loại cần bảo tồn.
Nghĩ về Huế, dù là địa phương hay kẻ viễn khách, ai cũng đều ưa thích những công trình kiến trúc lịch sử cung điện và lăng tẩm của các tiên vương nhà Nguyễn. Kinh thành Huế do vua Gia Long cho khởi công xây cất từ năm 1805 mãi tới năm 1838 đời vua Minh Mạng mới xong. Đây là một tòa thành hình vuông, mỗi cạnh 2.223m, bề cao 6,60m, chân thành có hào sâu 4m, phía đông nam sát bờ sông Hương nhìn về phía trước là núi Ngự Bình. Ngoại thành hướng bắc có pháo đài Mang Cá, ngoài ra còn có 10 cửa chính với những vọng lầu cao ngất, dùng để ra vàọ Tòa thành được kiến trúc độc đáo, từ kiểu Vauban của Pháp cho tới nghệ thuật xây cất Á Đông, biểu hiện nét hoành tráng, lộng lẫy nhưng không kém phần thơ mộng trang đài từ vách thành, vọng lầu, cửa ngọ môn.. cho tới đền đài cung các được chạm trổ, điêu khắc hài hòa trong cảnh trí thiên nhiên tuyệt diệu.
Ngược dòng lịch sử, từ năm 1366 Huế đã là thủ phủ của Đàng Trong, tức là hai Châu Ô, Rí do vua Chế Mân của Chiêm Thành, dâng cho nhà Trần làm sính lễ cưới công chúa Huyền Trân của Đại Việt, từ đó trở thành đất Thuận Hóa. Những gì còn lại của Huế hôm nay chỉ là một phần công trình của cố đô trong đống gạch vụn do VC và bọn Việt Gian VNCH tàn phá vào Tết Mậu Thân 1968.
Ngoài ra Huế còn nhiều nét tiêu biểu khác như Chùa Thiên Mụ, cầu Trường Tiền, chợ Đông Ba, với trường Quốc Học cổ kính nằm cạnh bờ sông với hàng phượng vỹ nở rộ mỗi độ hè về, núi Ngự Bình trước tròn sau méo, sông An Cựu nắng đục mưa trong, hồ Tĩnh Tâm sen nở ngút ngàn và Phú Văn Lâu trơ gan cùng tuế nguyệt. Nói tới Huế để nhớ về những hình ảnh nổi bật dịu dàng của người dân đất thần kinh như mái tóc thề, tà áo dài trắng, chiếc nón bài thơ, những giọng hò, câu hát..tất cả là những nét đẹp làm Huế miên viễn sống với sông núi thời gian.
Đến Huế để ăn những món vương giả cũng như bình dân tính hơn 600 món vừa chay, vừa mặn, vừa cháo, vừa chè kể cả bánh, mứt và đủ thứ dưa. Đến Huế đâu quên món bún bò giò heo cọng to rất cay, rồi thì bánh khoái nơi cửa Thượng Tứ, chiều tối đi ăn cơm Âm Phủ, là thứ cơm thập cẩm đặc biệt với món dưa gan làm món chua rất ngon. Cũng đâu quên được cơm hến bến Cồn, một hương vị đặc thù của Huế, giống như nem chua An Cựu, mè xửng và ốc gạo bến Cồn, mực Thuận An và sò huyết Lăng Cô. Cuối cùng nhớ Huế là nhớ đến công trình mở nước vĩ đại của các Chúa Nguyễn Hoàng, Sải Vương, Hiền Vương, Phúc Chu, Phúc Trú..cho ta một giải giang sơn gấm vốc tới tận mũi Cà Mau no giàu để con cháu về sau một đời sung mãn.
Những đấng tiên vương công đức và sự nghiệp ngất cao như núi trên, từ khi VC lên nắm quyền, đã bị chúng hủy diệt, để dành công, dành tiếng và dành địa vị độc tôn yêu nước trong dòng sử Việt. Từ năm 1967, Hà Nội đã quyết định tổng tấn công VNCH vào những ngày hưu chiến Tết Mậu Thân 1968.
Trong số 44 tỉnh, thị tại miền nam bị đột kích, thì Sài Gòn và Huế là quan trọng hơn cả. Vì trại Lực Lượng Đặc Biệt A-Shau rút đi, nên thung lũng A Shau bị bỏ ngõ và VC đã lợi dụng dịp này để chuyển một số lớn bộ đội vào tấn công cố đô với sự dẫn đường chỉ lối của đám Việt gian VNCH tại Huế. Trận chiến mở màn vào sáng mồng hai Tết, nhằm ngày 31-1-1968, bằng hai cánh quân: Đoàn 6 gồm các tiểu đoàn đặc công K1, K2, K6 và K12 từ phía bắc bên tả ngạn sông Hương, tấn công BTL.SD1BB tại đồn Mang Cá, phi trường Tây Lộc, Đại Nội. Đoàn 5 gồm các tiểu đoàn K4A, K4B, K10 và K21 từ phía nam, hữu ngạn sông Hương, hợp với Thành đội tấn công các cơ sở hành chánh phía nam. Ngoài ra còn có Đoàn 9 gồm hai tiểu đoàn 416, 418 hợp với một đơn vị mang tên Đường 12, tấn công mặt tây. Cũng nói thêm là VC đã lợi dụng những xáo trộn tại Huế trong các năm 1965, 1966, xâm nhập hoạt động cũng như móc nối dụ dỗ một số học sinh, sinh viên, quá mê thầy mà phản bội lại VNCH. Thật ra mặt trận quan trọng nhất của VC ở Huế là mặt trận chính trị, vì vậy Hà Nội bất chấp máu xương của cán binh và thường dân vô tội, ra lịnh cho đám tàn binh phải cố thủ trong Đại Nội trong thực trạng bi thảm tuyệt vọng bởi các vòng vây của quân lực Hoa Kỳ và VNCH.
Phụ trách công tác tổng khởi nghĩa, để lập chính quyền cách mạng ở Huế là Hoàng Kim Loan và Hoàng Lanh, đã vào nằm vùng từ lâu trong nhà một giám thị trường Quốc Học là Nguyễn Đóạ Ngoài ra còn có Nguyễn Trung Chính, Nguyễn Hữu Vân (giáo sư trường Âm Nhạc Kịch Nghệ), Phan Nam, Nguyễn Thiết. Ngày 14-2-1968 đài VC phát thanh tại Hà Nội cho biết đã lập xong chính quyền cách mạng tại Huế do Lê Văn Hảo làm chủ tịch, còn Đào Thị Xuân Yến và Hoàng Phương Thảo làm phó. Ngoài ra còn có cái Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc, Dân Chủ và Hòa Bình được Hà Nội nặn ra ngày mồng ba Tết (1-2-1968) cũng do Lê Văn Hảo, tiến sĩ giảng sư về nhân chủng học tại Đại Học Huế và Sài Gòn làm chủ tịch liên minh. Theo Hảo vì trốn lính, nên 1953 qua Pháp du học và tiêm nhiễm chủ nghĩa cộng sản của Trần Văn Khê, Nguyễn Khắc Viện, nên vào các năm 1965, 1966 dù đang sống trong cảnh giàu sang, chức trọng lại được trốn lính nhưng vẫn táng tận lương tâm, theo VC nằm vùng là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Tôn Thất Dương Tiềm vào MTGPMN và ra bưng cuối tháng 12/1967.
Trong Liên Minh Ma này còn có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đóa, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn đắc Xuân..Tóm lại, mặt trận được chỉ huy tổng quát bởi Lê Minh, Trưởng ban an ninh khu ủy Trị Thiên, còn Tống Hoàng Nguyên và Nguyễn Đình Bảy Khiêm thì lo về phần thủ tiêu, giết người vô tội tại Huế.
Theo Bảy Khiêm, chính y đã giết rất nhiều sĩ quan và cán bộ, công chức VNCH bị kẹt tại Huế, cùng các giáo sư người Đức dạy tại đại học Y Khoa, qua chỉ điểm của VC nằm vùng và sau này Lê Minh lẫn Bùi Tín đều xác nhận VC đã tận tuyệt tàn sát vô nhân đạo đồng bào vô tội tại Huế vào Tết Mậu Thân 1968.
Ngay từ đầu, nhờ lợi dụng dịp hưu chiến, nhiều đơn vị cho các quân nhân về nhà ăn Tết, nên VC đã chiếm được hầu hết các cơ sở hành chính, khu Đại Nội, chợ Đông Ba, cửa Thượng Tứ, An Hòa, Chánh Tây..ngoa.i trừ BTL SD1BB tại đồn Mang Cá, cơ sở MACV, Tiểu khu Thừa Thiên, đài phát thanh, Trường Kiểu Mẫu và cầu tàu Hải Quân vẫn do QLVNCH kiểm soát.
Ngày mồng ba Tết 1-2-1968, một ngày sau đó, Chiến đoàn Dù với 2 tiểu đoàn 2, 7 và chi đoàn 2/7 từ phía bắc vào giải vây Huế. Hai đại đội TQLC cùng 4 chiến xa M48 trong Chiến đoàn X-Ray đóng tại Phú Bài cũng về Huế tăng cường phòng thủ MACV. Chiều ngày mồng 4 Tết, TĐ 9 Dù được trực thăng vận vào chiến trường, từ đây cho tới ngày 12-2-1968, cuộc chiến trở nên khốc liệt bạo tàn với sự tổn thất nhân mạng rất cao của cả hai phía. Cùng ngày đó, Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến VN gồm các tiểu đoàn 3, 4, 5 thay thế Chiến đoàn Dù, tiếp tục giải tỏa áp lực VC tại sân bay Tây Lộc và Đại Nội.
Ngày 19/2 TQLC mở chiến dịch Sóng Thần 739/68. Ngày 22/2 hai tiểu đoàn 21 và 39 BĐQ được tăng cường tại Huế và VC cũng bắt đầu tháo chạy.
Ngày 25/2/1968 Biệt Động Quân chiếm lại Khu Gia Hội, chấm dứt chiến cuộc tại Huế với đổ nát, điêu tàn, nhà cửa, cầu cống, cây cối, đường sá gần như tử địa với xác người nằm la liệt đã sình thối. Tất cả chỉ còn là sự tàn nhẫn, thê lương, từ bàn tay đẫm máu của VC và bọn Việt gian mang đủ loại mặt nạ gây nên. Tóm lại không còn lời nào để đủ viết về Huế đang quằn quại trong lửa máu, giống như những nhịp cầu Tràng Tiền trên Hương Giang đớn đau gãy sập.
Hỡi ôi sắt thép, gỗ đá còn biết rơi nước mắt với Huế thê lương, trong khi đó lại có không ít người thản nhiên đứng vỗ tay cười.
2. Thảm sát Mậu Thân tại Huế:
Những hành động dã man nhắm vào dân lành tại Huế, làm nhớ tới Nga Sô tàn sát hơn 5000 hàng binh Ba Lan phần lớn là sĩ quan vào tháng 9-1939 tại rừng Katyn ở phía tây thành phố Smolensk, chứng tỏ bản chất hiếu sát vốn tiềm tàng trong máu óc của cộng sản, dù chúng là ai chăng nữa, tất cả đều giống nhau vì cùng chung một tổ, một lò.
Trong trận chiến Tết Mậu Thân 1968, Huế là thành phố bị thiệt hại nặng nhất về nhân mạng cũng như vật chất vì bị VC chiếm đóng lâu dài nhất. Riêng người Huế sở dĩ bị tàn sát dã man, theo một số nhân chứng, do VC được chỉ điểm bởi một số nằm vùng địa phương vì thù oán nhau mà trả thù, rồi lại được tự do đi lại trong thành phố nên tự do hành động, nhất là trong khoảng từ mồng hai tới mồng bốn, tha hồ đi từng nhà, lôi từng người ra bắn giết theo ý muốn, đúng với kỹ thuật bắt và thủ tiêu theo KGB và Maoit.
Đọc lại những trang sử của VNCH từ 1963 tới tháng 4-1975, ngày nay cả thế giới đều công nhận là VC thua VNCH trên mặt trận quân sự nhưng ngược lại chiếm được miền nam bằng thủ đoạn chính trị, qua phương cách sách động quần chúng, đồng thời vịn vào đó mà nặn ra những mặt trận ma như Giải Phóng Miền Nam năm 1960, rồi sau đó là Hội Đồng Nhân Dân Cứu Quốc do phần lớn cộng sản nằm vùng lãnh đạo như Lê Khắc Quyến, Lê Tuyên, Tôn Thất Hanh, Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Tôn Thất Dương Tiềm.
Trong số các hung thần can dự tới bữa tiệc máu tại Huế, dư luận trước sau vẫn nhắm vào Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân. 
Năm 1966 khi còn là một sinh viên, Nguyễn Đắc Xuân từng tổ chức đoàn “Phật Tử Quyết Tử” quậy nát Huế, sau đó trốn theo VC và trở lại cố đô vào Tết Mậu Thân, phụ trách đội “Công tác thanh niên” và khuyến dụ các quân nhân VNCH bị kẹt, để lập cái gọi là đoàn nghĩa binh.. Trái với dự đoán của cộng sản, dân chúng Huế không hưởng ứng tổng khởi nghĩa, trái lại bỏ trốn sang các khu vực có QLVNCH như Mang Cá, Trường Kiểu Mẫu, Tiểu Khu Thừa Thiên, Bến Tàu, Phú Bài..
Bắt đầu ngày mồng ba Tết, QLVNCH và Hoa Kỳ phản công, ngày 7-2-1968 VC giựt sập cầu Trường Tiền. Ngày 15-2 Quân Ủy cộng sản tại Hà Nội ban lệnh cho VC tử thủ tại Huế, nhưng tình hình càng lúc càng bi đát cho VC nên Lê Minh muốn rút quân.
Ngày 23-2 VC bị đẩy ra khỏi Huế, lá cờ VNCH lại tung bay trên kỳ đài ở Phú Văn Lâu. Nói chung cộng sản tàn sát đồng bào Huế nhiều nhất là tại khu dân cư Gia Hội vì vùng này bị VC chiếm lâu nhất từ ngày mùng 2 Tết đến 22-2-1968 mới được Biệt Động Quân giải tỏa, bởi vậy giặc và Việt gian mới có cơ hội giết nhiều đồng bào vô tội.
Cho đến nay không ai biết chính xác số người bị VC tàn sát tại Huế là bao nhiêu nhưng căn cứ vào thống kê số hài cốt tìm được trong một số hầm chôn tập thể sau khi giặc bị đánh đuổi khỏi thành phố, tại các địa điểm Trường Gia Hội, Chùa Theravada, Bãi Dâu, Cồn Hến, Tiểu Chủng viện, Quận tả ngạn, phía đông Huế, Lăng Tự Đức, Đồng Khánh, Cầu An Ninh, Cửa Đông Ba, Trường An Ninh Hạ, Trường Vân Chí, Chợ Thông, Chùa Từ Quang, Lăng Gia Long, Đồng Di, Vịnh Thái, Phù Lương, Phú Xuân, Thượng Hòa, Thủy Thanh, Vĩnh Hưng và Khe Đá Mài.. tổng cộng đếm được 2326 xác. 
Về câu hỏi tại sao VC tàn sát thường dân vô tội, đến nay Hà Nội vẫn tránh né, còn Võ Nguyên Giáp thì đểu giả hơn khi bị các ký giả ngoại quốc phỏng vấn sau Tết Mậu Thân, đã trả lời là Bắc Việt không hề biết vì đó chuyện của MTGPMN và VNCH. Theo các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước, thì động cơ cộng sản tàn sát dân chúng tại Huế, ngoài một lý do nhỏ là sự trả thù do hờn oán trước đây giữa cá nhân và cá nhân, thì tàn sát theo kế hoạch phá hủy và làm rối loạn bộ máy cầm quyền của VNCH, điều này đã được ghi lại trong một tài liệu của cán bộ VC, bị SĐ1 Không Kỵ Hoa Kỳ bắt được tại tỉnh Thừa Thiên ngày 12-6-1968.
Tàn sát để khủng bố và cảnh cáo đe dọa dân chúng đừng tòng quân chống cộng. Tàn sát tín đồ Thiên Chúa Giáo để chia rẽ sự đoàn kết tại miền nam, tạo sự nghi kỵ giữa các tôn giáo cho tới ngày VC cưỡng chiếm được miền Nam mới chấm dứt vì VC độc tài đảng trị, cấm biểu tình xuống đường, nên bốn bên bốn phía bình đẳng chịu sống chung hòa bình, nên gần như không thấy tự thiêu, tuyệt thức và ra báo chống đối, bêu xấu, hạ nhục chính quyền như cơm bữa thời VNCH. Tàn sát dân chúng để gây tiếng vang với thế giới.
Trong dòng Việt Sử, từ thời Vua Hùng dựng nước cho tới ngày nay, chỉ thấy có ghi lại một cuộc tàn sát tập thể tôn thất nhà Hậu Lý do Trần Thủ Độ gây ra vào năm 1232 bằng thủ đoạn cho giựt sập nhà trai đàn, giết chết chừng vài chục người trong tôn thất nhà Lý nhưng hành vi trên dù đã thuộc vào quá khứ, đến nay vẫn bị đời nguyền rủa, dù mặt thật của lịch sử, nếu không có Trần Thủ Độ sẽ không có Trần Thái Tông quyết chiến chống quân Mông Cổ xâm lăng Đại Việt lần thứ 1 với câu nói vang danh thiên cổ: “đầu Độ chưa rơi, không thể đầu hàng giặc Mông”.
Cũng qua dòng Việt sử, ta thấy kinh thành Thăng Long từ lúc được vua Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô vào năm 1010 cho tới thời Pháp thuộc vào năm 1884 đã 10 lần bị giặc Tàu, giặc Chiêm cả Pháp tàn phá chiếm đóng và kinh thành Huế thất thủ năm Ất Dậu 1885 nhưng tuyệt nhiên không thấy nói tới quân ngoại quốc tàn sát người Đại Việt khi làm chủ thành.
Tóm lại dù bị kết tội như thế nào chăng nữa, người Tàu, Chiêm, Pháp cũng còn nhân đạo hơn VC trăm ngàn lần, về cung cách đối xử với thường dân trong chiến tranh. Đem các biến cố năm 1885 tại Huế và 1946 ở Hà Nội để so sánh với Mậu Thân 1968 tại Huế, bỗng thấy lạnh mình về những lời chạy tội của tên Đại Tá VC Bùi Tín, khi trả lời về cuộc tàn sát của VC đối với thường dân tại Huế năm 1968, theo nhận xét của Nguyễn Đức Phương trong Chiến Tranh Toàn Tập, thì Bùi Tín không biết gì về qui ước Geneve dành cho tù binh chiến tranh, hoặc biết nhưng giả bộ ngây thơ không biết để có lý do bào chữa sự tàn ác dã man của cán binh VC và biết thêm về quan niệm của Hà Nội, luôn qui chụp tất cả những ai chống đối họ, đều bị gán là tù binh với kết quả như Bùi Tín nói là phải được chết để giữ gìn bí mật quốc phòng. 
Theo Chính Đạo trong “Mậu Thân 1968 Thắng Hay Bại” thì sau khi các mật khu bất khả xâm phạm của VC tại Tam Giác Sắt, các chiến khu CĐ bị quân đội Đồng Minh và QLVNCH phá tan nát, khiến Nguyễn Chí Thanh trùm cộng sản Hà Nội, chỉ huy Cục R đã phải thay đổi chiến lược tại Miền Nam vào tháng 5/1967, là đưa chiến tranh vào thành phố để cứu nguy cho cán binh và cơ sở VC tại nông thôn đang sắp bị tiêu diệt.
Nhưng rồi Nguyễn Chí Thanh đột ngột chết vào mùa thu năm đó và cái chết của y tới nay vẫn chưa được đưa ra ánh sáng vì có quá nhiều nguồn tin và các cách chết khác nhau từ VNCH, Bùi Tín, Hoa Kỳ và Xuân Vũ, một cán binh VC hồi chánh từng sống hơn 2000 ngày tại Củ Chi và rất thân cận cũng như am tường chuyện thâm cung bí sử của vua chúa VC tại Cục R. Do trên Lê Duẩn ra lệnh cho Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng..cải tiến kế hoạch đột kích của Nguyễn Chí Thanh, thành tổng công kích và thêm vào đó là lập một mặt trận ngoại giao chính trị.
Cũng theo Chánh Đạo, thì việc Trần Độ năm 1968 là Phó chính ủy B2, phụ trách tình báo, có địa vị tại cục R rất khiêm tốn so với Phạm Hùng, Trần Nam Trung, Trần Văn Trà, Lê Trọng Tấn.. nên dù là một trong những cấp chỉ huy trong mặt trận tại Sài Gòn vào Tết Mậu Thân 1968, cũng chưa chắc được Quân Ủy Hà Nội thông báo các kế hoạch bí mật trong Đảng và lời tuyên bố không có cơ sở, với ký giả Stanley Karnov năm 1981 rằng phản ứng của Mỹ trong cuộc chiến này, chỉ là sự may mắn không có dự liệu trước. Chỉ vì dã tâm xâm lăng cho được VNCH, mà Hà Nội trong cuộc chiến Mậu Thân đã giết hại hàng chục ngàn người trên toàn quốc và chỉ riêng tại Huế lại chôn sống đồng bào, vậy mà tới nay từ Hà Nội cho tới bọn cộng sản tại Huế vẫn coi như không hề xảy ra một chuyện gì và cũng chẳng có ai nhận trách nhiệm, ngoài việc công khai đổ hết nợ máu cho Lê Văn Hảo, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Nguyễn Đắc Xuân.
Năm 1998, ngày giỗ chung của gần 100.000 người VN chết trong cuộc chiến cũng là ngày VC ăn mừng chiến thắng Mậu Thân, ca tụng bài thơ của Hồ viết chúc Tết đồng thời cũng là mật hiệu cho cán binh tại miền nam mở cuộc tiệc máu. Chính Bộ Trưởng quốc phòng Bắc Việt lúc đó là Võ Nguyên Giáp soạn thảo kế hoạch, Phạm Hùng Ủy viên Bộ Chính trị, chỉ đạo Trung Ương Cục Miền Nam chỉ huy trận tổng tấn công, vậy mà cũng chính Võ Nguyên Giáp đã trâng tráo dám nói láo với nhà báo Tây Phương vào năm 1969 là hoàn toàn vô can, vô trách nhiệm. Đây là một tội danh thiên cổ của VC đã gây ra trong dòng sử Việt, được các sử gia xếp chung với bốn cuộc tàn sát lớn trên thế giới cận đại như vụ quân Nhật tàn sát 300.000 người Hoa tại thành Nam Kinh ngày 13-12-1937, việc Đức quốc xã giết hàng triệu dân Do Thái trong đệ nhị thế chiến 1939-1945, kế đến là cộng sản Liên Xô tàn sát 15.000 tù binh Ba Lan năm 1940 và Khmer đỏ tàn sát hơn 2 triệu dân lành sau năm 1975 khi chiếm được Cao Mên.
Theo Nguyễn Lý Tưởng, thì những hành động dã man của VC, tại Thành Nội và Gia Hội, do cái gọi là Tòa Án Nhân Dân được quyết định bởi các chóp bu trong Liên Minh Dân Chủ Hòa Bình, là Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, bà Nguyễn Đình Chi..nhưng chủ chốt và dã man tàn bạo vẫn là bọn theo phong trào tranh đấu chống VNCH năm 1966, sau đó theo VC và quay về Huế như Hoàng Phủ Ngọc Tường (giáo sư), Hoàng Phủ Ngọc Phan (sinh viên y khoa), Nguyễn Đắc Xuân (sinh viên sư phạm), Trần Quan Long (sinh viên sư phạm), Phan Chính Dinh hay Phan Duy Nhân (sinh viên).. dẫn an ninh VC như Tống Hoàng Nhân, Bảy Khiêm..đi lùng bắt bạn bè, thân nhân, các thành phần quân, công, cán, chính VNCH cũng như các đảng phái bị kẹt lại tại Huế.
Hiện nay tất cả những bí mật của lịch sử gần như được khai quật trong đó có cuộc thảm sát thường dân tại Huế năm Mậu Thân. Những tội nhân thiên cổ ngoài bản án của lương tâm, đạo đức và sự nguyền rủa của đời, nên không ngớt tìm đủ mọi cách để biện minh về tội lỗi của mình.
Năm 1988, trên báo Sông Hương và được dịch đăng lại trên tờ Newsweek ở Hoa Kỳ, Đại Tá Bắc Việt Lê Minh, nguyên chỉ huy mặt trận Thừa Thiên-Huế, xác nhận và chịu trách nhiệm về việc tàn sát dân chúng Huế nhưng vẫn đưa ra lý do là lúc đó VC đang ở vào giờ thứ 25, nên không kiểm soát được. 
Còn thủ phạm chính Hoàng Phủ Ngọc Tường thì đổ thừa cho cục bộ, địa phương chứ không phải tại đảng, vẫn giữ nguyên ý là miền nam mất vì cách mạng chứ không bị cộng sản quốc tế xâm lăng, và trên hết vào ngày 12-7-1997, Tường công khai chối tội là không tham dự mặt trận Huế, vì lúc đó y đang trốn tại địa đạo trong quận Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Còn nhân vật bị bia miệng nhắc tới là Hoàng Phủ Ngọc Phan..mà người Huế tưởng lầm Lê Văn Hảo hiện đang sống tại Pháp cũng chối tội. Sau rốt chỉ có Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Đắc Xuân vì lúc đó gần như là công an, cai tù, chánh án và đao phủ thủ..nên người Huế ai cũng nhận được, vì vậy phải chịu tai tiếng nhơ nhớp muôn đời.
Ngày nay ai cũng biết Tết Mậu Thân, VC thua lớn và Tổng thống Hoa Kỳ là Johnson phải trực tiếp chịu trách nhiệm trước lịch sử vì đã cố tình tạo nên một lỗi lầm nghiêm trọng về đạo đức, gây tử vong cho nhiều người có thể tránh khỏi nếu được báo trước sự thật.
3. Hoàng Phủ Ngọc Tường, kẻ hái phù du:
Phù Dung là một thứ hoa chỉ sống được có một ngày, nở vào buổi sáng và tàn lụn theo bóng đêm tàn, thứ hoa phù du mây nổi mà thi nhân thường mượn để ví những đệ tử của nàng tiên nâu. Hoa phù dung rất đẹp, cây cao chừng hai thước, lá to, hoa phù dung thường có ba màu đỏ, trắng và vàng. Hoa phù dung còn được ví với sắc đẹp của người đàn bà, như trong thơ của Bạch Cư Dị: “Phù dung như diện, liễu như mi”, nghĩa là mặt tươi như hoa phù dung, mày lá liễu. Trong Kiều có câu “Bạc tình nổi tiếng lầu xanh, một tay chôn biết mấy cành phù dung..” nhưng thắm thía nhất vẫn là hai câu thơ trong Quan Âm Thị Kính: “Phù Dung nỡ để lìa cành, giếng sâu nỡ để rơi bình từ đây”. Theo triết học, thì kiếp phù du chỉ là một cuộc phong trần không không có có, không nở không tàn, lúc có lúc không, tất cả chỉ là phù du trong cõi vô thường.
Thơ văn là biểu tượng của con người, Tố Hữu bản chất chạy theo thời để mưu cầu quan chức, địa vị nên thơ Tố Hữu luôn mang bản chất của một con người đội trên đạp dưới. Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ, Văn Thiên Tường, Nguyễn Bá Trác kẻ sĩ gươm đàn nửa gánh giang sơn một bầu..cho nên thơ văn luôn thoát tục, ẩn hiện cái hào khí cao ngất của đấng trượng phu. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, chỉ riêng cái tựa của thi tập và ý thơ trong bài “Đùa chơi” nhiều lúc người đọc, nếu không biết trước y là tên phản tặc, gian ác, đem một phần đời và cả danh giá của dòng họ tôn quý vùi dưới bùn nhơ, khi nhẫn tâm theo lệnh VC tàn sát dân chúng vô tội, rất dễ bị lầm lạc, vì qua ý thơ, cứ ngỡ đây là một cao tăng, một thánh nhân hay ít ra cũng thuộc kẻ sĩ ngẩn mặt nhìn trời:
“Ta tìm lại trong hình hài hóa bướm,
Chút tự do quả thực trên đời
Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng
Núi thông nhiều, ta hãy rong chơi”
Đọc đoạn thơ ngắn trên mới thấy lạ, và càng ngớ ngẩn với câu “chút tự do quả thực trên đời” như vậy cả một quãng đời từ năm 1963 cho tới 1975, vì ai mà phải bỏ đời, dấn thân vào con đường man rợ, nón tai bèo, đôi dép râu, AK, mã tấu và cái lưỡi không xương lắt léo làm chuyện đổi trắng thay đen? Đã làm thì phải nhận, phương chi hành động của mình nay đã thành một tội danh thiên cổ, ngàn đời muôn kiếp, bia miệng bia đời không tha, thì không thể “Rũ sạch hết đam mê hoang tưởng” để thành tiên rong chơi trên núi thông. Hỡi ơi chỉ vì chút phù du cuộc đời, mà phải mang mặt nạ phá đời, chẳng riêng đã hại đời mình, mà còn làm cho thế tộc ô danh, nước non tan tác, dân chúng cả nước lầm than khổ lụy “đừng hỏi nữa em ơi, thầy lên đường đánh Mỹ” trong lúc đó bên cạnh thầy thì đầy rẫy Nga, Tàu, Bắc Hàn, Cu Ba, Đông Đức.
Có cái ngang trái vô thường, là nếu như Lê Khắc Quyến, Lê Văn Hảo, Lê Tuyên, Nguyễn Đắc Xuân và anh em nhà Hoàng Phủ..vì thuộc loại dân chúng bị chế độ VNCH đè ép phải sống cùng khổ mất tự do, nên mới theo VC để may ra xoay bạch ốc thành lâu đài, ném thanh y tìm gấm vóc, đàng này thì ai nấy đều ở trên mức thượng thừa, vậy thì làm giặc để làm gì đến giờ này một chút tự do cho mình, cho đời vẫn chưa có. Năm 1971, khi mà chiến trường miền nam bước vào giai đoạn tàn khốc, Hà Nội cần máu xương thanh niên nam nữ để đốt rụi Trường Sơn, mở lối vào Nam, nên cũng cần tung hê một số phản tặc của VNCH đã chạy theo, vì vậy mới phong cho Hoàng Phủ Ngọc Tường lên chức nhà thơ VC và cho đài phát thanh phổ biến bài thơ “Tôi đi trên những con đường rừng cũ” cũng nhờ vậy mà Tường đã lọt vào mắt xanh của Lâm Thị Mỹ Dạ, cùng khóa với Dương Thu Hương tại trường viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội năm 1972:
“Hai mươi năm dài trên trán mẹ
Những con đường rừng vẽ nét ưu tư”
Thơ hay, đáng tiêu biểu cho một con người, đúng ra là một cái xác biết đi, sống như đã chết vì:
“hai mươi năm biết ai còn nhớ?
nhưng từ đó cây hoang rừng già “
Đó mới là nỗi khổ của một đời người, người ta quên thì mình tiếc, người ta nhớ mình sợ, đăm chiêu, nghèn nghẹn sống làm sao nổi đây hỡi trời?
Quả thật suốt phần đời còn lại, Hoàng Phủ Ngọc Tường, không bao giờ thoát nỗi ám ảnh của tội lỗi một thời gây ra, đâu đâu cũng là một địa chỉ buồn, nơi nào cũng gặp cố nhân, những người mà Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một phút phù du, đưa họ về bên kia thế giới:
“Những chiều bến Ngự dâng mưa
Chừng như ai đó mơ hồ gọi tôi
Tôi ra mở cửa đón người
Chỉ nghe tiếng gió thổi ngoài hành lang.”
Tất cả giờ chỉ còn lại bóng tối, thời gian để hoa phù dung tàn lụn, tất cả cũng đã cạn tàu khi cái sân si biến vụt vào cõi không không. Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn nuôi ảo tưởng hão huyền là lưu lại với đời tuổi tên, nhưng tiếc thay lầm đường lạc nẻo, theo kẻ ác làm ác, rốt cục một mình thui thủi đi về trong cõi phu du, sám hối cho tới chết vẫn chưa yên hồn ./- Hồ Đinh

Cái Tết khốn nạn nhất trên Thiên đường Xã nghĩa

Cánh Dù lộng gió (Danlambao) - Năm hết Tết đến CDlg xin kính chúc BBT/DLB quý tác giả, quý độc giả, quý còm sỹ trong thôn một cái tết Mậu Tuất thật nhiều sức khỏe, hy vọng và thắng lợi về mặt trận thông tin. Đặc biệt xin chúc cho các DLV thường trực trong trang DLB sớm nhận ra CSVN đang cháy túi không có tiền trả lương cho cán bộ công nhân viên, phải gấp rút in tiền ra để trả tiền tết cho cb cnv mà in tiền thì lạm phát phi mã tăng lên chóng mặt.

Tôi sinh ra tại miền Bắc VN, năm 1954 cha mẹ tôi bồng bế di cư vào miền Nam, được hưởng hơn 20 năm tự do dưới chính thể 2 nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hòa. Cho tới giờ tôi vẫn mãi nhớ và mang ơn người miền Nam đã cưu mang những người chạy trốn CS như gia đình tôi. Ơn nghĩa này tôi đã tự nguyện đền đáp bằng cách tình nguyện nhập ngũ, những năm tháng còn trong đơn vị, chiến đấu hết mình để bảo vệ cho nền tự do của miền Nam VN, ngăn bước tiến của giặc cộng trước khi chúng nhuộm đỏ toàn miền Nam ngày 30 tháng 04 năm 1975. 

Trước đây ông nội và cha tôi đã được hưởng những cái Tết trước năm 1954 với Việt Minh, những cái Tết vừa ăn vừa nơm nớp lo sợ Việt Minh về làng. Hồi đó nghe cha tôi kể lại thỉnh thoảng có một người mất tích trong đêm, vài hôm sau thấy trôi xình trên sông, có khi bụng mất hết bộ đồ lòng, có khi đầu một chỗ thân một chỗ, vì thế cả làng ai nghe Việt Minh ghé thăm là mặt xanh như cắt, không còn hột máu, chưa biết bao giờ sẽ tới phiên mình, thậm chí nhà bán hàng tạp hóa, lính Pháp vào mua mà sợ run cầm cập mắt láo liên ngó trước ngó sau coi có ai theo dõi chung quanh không, nếu có thì người lớn lủi vào nhà để cho trẻ nhỏ ra bán, vì sợ nửa đêm Việt Minh về ghép tội tiếp tế, lấy tin tức hay làm tay sai cho bọn Tây thì không ai xử, tự mình đeo cái bản án tay sai phản động cho Tây một ngày nào đó nổi lềnh bềnh ven sông.

Thời gian quân đội Mỹ qua miền Nam cũng vậy, chỗ nào lính Mỹ qua lại nhiều mà chỗ đó mất an ninh thì coi chừng với "bác" và đảng, thế nào cũng có người mang bản án phản động đeo trên ngực với tội danh làm tay sai cho Mỹ ngày hôm sau bị trói gô dưới gốc cây với 2 viên đạn bắn thủng tim, kẻ thi hành bản án là ai, là những người hàng xóm chung quanh người đó nhưng bí mật theo CS ta vẫn gọi là ACQGTMCS. Cha tôi cũng có danh sách được chuẩn bị rửa chân lên bàn thờ rồi, nhưng cái may mắn là ông không bao giờ mang dép thường, mỗi lần có chuyện vào trong khu vực cấm thì ông hay mang giày đen bóng loáng nên khi có người ra hồi chánh phòng nhì quận bắt được một số tình nghi thì cho anh này ra nhận dạng nhưng lấy bao cát đục 2 cái lỗ để nhìn, khi cho ra nhận diện ai là CS ai không cộng sản trong đám tình nghi, chỉ cần anh này tới trước mặt người đó gật đầu thì người đó chính là cs nằm vùng, còn tới ai không gật đầu thì hôm sau thả ra. Cái đặc biệt là anh này hay đi dép râu già Hồ nên khi họp tổ thi hành án trước khi quyết định tử hình thì trong số này có người đã nhận diện anh chàng chiêu hồi đó mang dép râu còn Cha tôi thì chuyên môn đi giày da, thế là ông cụ thoát chết, sau ngày 30/04/1975 có người trong tổ thi hành án kể lại làm ông cụ chưng hửng, té ra suýt bị chết oan.

Năm nay là Tết Mậu Tuất, một cái Tết có thể nói là ảm đạm nhất với người dân miền Nam, cả nước nói chung, đất đai bị cs cướp phải kéo nhau ra ăn tết tại văn phòng tiếp dân số 1 Ngô Thì Nhậm Hà Đông cũ, tiền gởi nhà bank nhiều nhưng khi rút ra thì cho rút nhỏ giọt đi mấy cây ATM mới đủ số lượng muốn rút. (1)

Các mặt hàng đồng loạt tăng cao như xăng dầu, điện nước, gạo trong nước tăng giá vùn vụt vì Tàu Cộng thu mua hết vựa lúa miền Tây chở về nước, Tàu Cộng trả giá gấp đôi giá bình thường nên người dân thấy số tiền lớn đồng ý bán cho Tàu Cộng. (2)

Kiểu này nếu kéo dài hết gạo mai mốt Tàu Cộng cho xuất gạo nhựa qua cho VN cứu đói mà chớ. Hiện nay cả nghìn xe chở rau quả, thịt thà qua cửa khẩu Tàu Cộng xếp hàng nằm chờ vì Tàu Cộng đòi hỏi xuất xứ, cố tình kéo dài thời gian nằm chờ để thực phẩm phải đem đổ bỏ, các tài xế méo mặt. (3)




Âm mưu của Tàu Cộng là cố tình làm cho nguồn thực phẩm của VN khan hiếm, xả các đập để lũ cuốn trôi hoa màu, nước biển có cơ hội tràn vào đồng lúa làm chết lúa, miền Trung thì bị công ty Formosa xả thải làm cá biển và cá nuôi bè chết sạch, ngư dân ra biển xa chút đánh cá thì Tàu Cộng bắn cháy tàu bè. Thịt thà cá mú, rau quả xuất khẩu qua Tàu Cộng bị làm khó dễ bắt phải chứng minh nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, thủ tục nhiêu khê mới được chở qua cửa khẩu vào đất Tàu Cộng còn lại các xe khác chờ chực làm thủ tục lâu quá hư thì đem đổ bỏ. Ý đồ của chúng làm cho VN thiếu hụt lương thực có tiền cũng không mua được lương thực trong nước sản xuất thì chết đói, mà nếu ngược lại lương thực chúng chở qua độc hại toàn hóa chất, người dân đói quá cũng phải nhắm mắt mua về ăn thì từ từ cũng sẽ chết sau. Kế hoạch sau cùng là chúng sẽ di dân Tàu Cộng qua để đồng hóa và tìm mọi cách giết sạch dân VN vì chúng biết dân VN ngày xưa cứng đầu nhất không bao giờ chịu khuất phục.

Thị trường chứng khoán trong nước đỏ sàn hầu như cháy túi. (4)

Phải nói là rất nể phục sức chịu đựng của người dân trong nước, từ đầu năm 2017 đến này giá xăng đã tăng 5 lần, giá điện cũng tăng theo, bảo hiểm y tế cũng tăng, nói chung mọi cái đều tăng giá nhưng người dân thì lại không thấy tăng xông mà cứ im lặng nhẫn nhịn chịu đựng.

Cửa khẩu Quảng Ninh ngày hôm qua 10/02/2018 đã mở thoải mái không cần giấy tờ gì khi qua cửa khẩu, không có trạm BOT như các tỉnh khác để đón Tàu Cộng vào. Đà Nẵng giờ Tàu đông hơn Việt. Khu nào yếu điểm, cao điểm và đẹp nhất Tàu Cộng đã bỏ tiền ra nhờ người Việt mua lại hết. Kế đó là đến Nha Trang, các tỉnh khác chỗ nào cũng thấy có bóng dáng Tàu Cộng. VN còn hay mất? Xin dành lại câu hỏi cho tất cả mọi người chúng ta.

Thôi thì chỉ biết than thở một mình chứ còn biết làm gì hơn nữa, VN còn thở được ngày nào không nô lệ thì cứ thở, đến khi là công dân hạng 3 của mẫu quốc lúc đó có khó thở thì cũng ráng mà chịu đựng có than thở cũng vô ích tấm gương Tân Cương, Nội Mông, Uyghur vẫn còn ngay trước mắt, khi gạo đã nấu thành cơm rồi có muốn trở mình cũng không còn kịp nữa.

Xuân Mậu Tuất đang về trên đất nước VN tan hoang tuy rất buồn nhưng cũng xin chúc tất cả mọi người nhiều sức khỏe, cố gắng đấu tranh cho một VN hoàn toàn không còn bóng CS và hãy noi gương tấm gương của tiền nhân chẳng thà làm quỷ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc.

11.02.2018


Chúng vẫn múa, hát trên những xác người


Thời gian: 50 năm. Sân khấu: những hố chôn người. Diễn viên: đảng cộng sản Việt-Hoa. 

50 năm. Những tang thương không thể chìm vào quên lãng, những ung mũ không thể nào liền da, những nghẹn ngào không cách gì chôn vùi theo năm tháng. Những linh hồn bị treo cổ không thể thoát ra được vòng dây. Không thể! Vì tập đoàn sát nhân vẫn hát, vẫn múa, vẫn lên đồng và hò reo trên những xác người đã bị chôn sống, cắt cổ, treo cổ, thảm sát vào mùa Xuân tang thương 1968.


"Cách đây 50 năm, vào đêm 30, rạng sáng ngày 31 tháng 01 năm 1968, lời thơ Chúc Tết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu vang vọng trên Đài Tiếng nói Việt Nam “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua/ Thắng trận tin vui khắp nước nhà / Nam, Bắc thi đua đánh giặc Mỹ / Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta” như lời hiệu triệu, thúc giục quân và dân ta đồng loạt nổ súng trên toàn miền Nam, mở màn Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy vang dội Xuân Mậu Thân 1968."

Đó là phát biểu mở đầu của Nguyễn Thiện Nhân, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TPHCM, trong diễn văn tại cái gọi là "50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân (1968 - 2018)".

50 năm sau, con cháu của tên đồ tể Hồ Chí Minh lại một lẫn nữa xác nhận thủ phạm của cuộc tàn sát dân lành khắp miền Nam và đặc biệt là tại Huế, nơi mà tội ác chưa từng có trong lịch sử của dân tộc đã xảy ra: người Việt chôn sống người Việt. Những kẻ có cùng huyết thống, mang nhãn hiệu giải phóng, cuồng điên theo lời hiệu triệu tiến lên của Hồ Chí Minh, đã lạnh lùng chôn sống hàng ngàn đồng bào của mình.

"Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua". Chính xác. Đó là một mùa xuân "hơn hẳn" khi tên đồ tể Hồ Chí Minh cùng với đồng bọn sát nhân của hắn đã vượt mọi thành tích trước đó trong sứ mạng tàn sát tập thể đồng bào miền Nam.

50 mươi năm trôi qua. Những con đường trắng của xứ Huế đã bị nhuộm đỏ như mọi con đường khác của đất nước. Những thân xác đầu bị đập vở, cổ bị cắt đứt bởi búa liềm đã trở về với cát bụi. Nhưng những linh hồn bị treo cổ vào những ngày tết tang thương ấy vẫn bị tập đoàn sát nhân tiếp tục treo cổ cho đến ngày hôm nay. Những linh hồn đó phải bất tử để cho bài hát cuồng điên của đảng có thể bất tử. Tập đoàn cộng sản Ba Đình từ đời trước đến đời sau không chỉ là tội đồ đối với người sống mà còn đối với người chết. Hồ Chí Minh và đám con cháu của hắn không những chỉ sát hại những người dân xứ Huế và đồng bào miền Nam mà còn liên tục bắn vào linh hồn của họ bằng những viên đạn vô luân, bất lương, khốn nạn khi mỗi độ xuân về.

Và ngày hôm nay, từ lò sát nhân 2018 nhìn về lò sát nhân 1968: "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, của ý chí quyết tâm sắt đá, tinh thần quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta để giành độc lập, tự do, được dẫn dắt, soi đường bởi sự lãnh đạo tài tình, đường lối đúng đắn của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại." (Nguyễn Thiện Nhân).

Chúng hát như thế. Chúng hả hê như thế. "Biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước" của chúng là những hố chôn người tập thể, là "ý chí quyết tâm sắt đá" dành cho những cụ già, em nhỏ, sinh viên, thanh niên, thiếu nữ bị chúng lạnh lùng đạp xuống mộ địa mới đào, là "tinh thần quyết chiến" khi hả hê xúc từng xẻng đất hất lên những đầu người vẫn còn đang khóc lóc van xin.

"Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ" chính là ngọn đuốc soi đường dẫn lối tài tình của Hồ Chí Minh - chủ lò sát nhân Bắc Bộ phủ. Và mùa xuân năm ấy, Mậu Thân 1968 là cuộc tổng ra quân, khai trương cửa lò "Người Việt Chôn Sống Người Việt" của chúng. Nó đánh dấu một "thành tích có một không hai" mà Hồ Chí Minh khi còn sống và con cháu của hắn ngày nay không thể không tổ chức kỷ niệm ăn mừng mỗi năm. Đó là thành tích biến những con người Việt Nam như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Lê Văn Hảo... cũng như hàng triệu tên mang thẻ đỏ có đóng dấu búa liềm thành những con thú máu lạnh, vô hồn, khát máu mang tên loài sản.

Mậu Thân 1968-2018. 50 năm của tội ác không thể nào tha thứ. Hãy nhớ những xác người nằm trôi sông, trôi trên ruộng đồng, trôi trên những hố thảm, trôi trên những rừng sâu, trôi trên những biển đen, trôi dật dờ theo dòng năm tháng gần một thế kỷ và hãy nhớ mãi những bài hát, những điệu múa may trên hàng vạn xác người và linh hồn dân Việt của những tên sát nhân ngày hôm nay. Hãy nhớ. Đừng quên. Để một ngày nào đó khi dân tộc vùng lên giành lại quyền làm chủ đất nước và vận mạng của chính mình, chúng ta sẽ tính chuyện "tha thứ", "bỏ qua", "hòa giải" đối với chúng ra sao.

02.02.2018



__________________________________

Những bài liên quan về tội ác của cộng sản trong Mậu Thân Huế đã đăng trên Danlambao:


Những sự thật không thể chối bỏ (phần 14)
Ai làm cho Huế đau thương?

Đặng Chí Hùng
 

Trong một dịp đến Huế, tôi đã được gặp và nói chuyện với một anh bạn hơn tôi gần 10 tuổi. Anh ấy là con của một nữ chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam và anh ấy vừa xin ra khỏi đảng. Tôi vô tình gặp anh và anh đề nghị tôi giữ kín danh tính cho anh đến ngày đất nước có tự do, dân chủ thực sự anh ấy sẽ công khai tất cả những sự thật đau thương của Huế năm 1968 mà mẹ của anh chính là một nhân vật trong cái gọi là "phe chiến thắng" ấy.

Mẹ của anh là trung đội phó một trung đội chuyên đi chặt đầu, treo cổ và chôn sống đồng bào tại Huế. Khi bà thức tỉnh thì bà đã bị chết một cách kỳ quái không rõ nguyên nhân và đến nay mặc dù bà mẹ của anh chết trong chiến tranh nhưng vẫn không được công nhận là liệt sỹ. Cũng bởi vì cuốn nhật ký ghi lại tội ác của bà và những nhận xét có phần ăn năn của bà đã khiến nó bị bộ chỉ huy quân sự tỉnh thừa thiên Huế tịch thu mất.

Trong khuôn khổ bài này tôi xin không bình luận về anh ấy và cũng bình luận về câu chuyện của bà mẹ anh ấy. Nhưng đó là mở đầu thay cho lời tựa của bài viết về một sự thật đau thương cho gần 5000 người dân vô tội tại Huế đã bị bác Hồ và đảng của bác giết hại oan khuất.

Tôi viết bài này để cầu mong cho gần 5000 nghìn linh hồn oan khuất ấy được siêu thoát như một tấm lòng chân thành của một người đáng tuổi con cháu đối với những người bị cộng sản tàn ác giết chết. Sự thật là trước tôi có rất nhiều người viết về sự kiện này nhưng đa phần chỉ nói đến vai trò của ông Hồ một cách mơ hồ hoặc không có bằng chứng rõ nét. Bài viết này của tôi sẽ chứng minh cho bạn đọc thấy sự thật về vai trò cầm đầu trong cuộc thảm sát tại Huế năm 1968 của ông Hồ.

A. Huế tang tóc:

Sự thật lịch sử luôn công bằng và chính xác dù có bị che khuất bởi mưu toan chính trị nào cũng sẽ dần bị phanh phui. Đảng cộng sản là một đảng có truyền thống làm việc này. Trong khuôn khổ phần này tôi xin chứng minh ai là người giết hại đồng bào Huế vô tội một cách dã man nhất. Tôi xin không nhắc lại diễn tiến của những trận đánh gây tan hoang miền Nam của cộng sản. Tôi xin đi sâu vào hậu quả và những kẻ chủ mưu của tội ác đó.

1. Những con số khủng khiếp: 

Trên thực tế con số của nhân dân Huế bị cộng sản giết hại được thống kê từ nhiều nguồn khác nhau. Tôi xin minh chứng ra sau đây một số nguồn để thấy rõ sự thật về những con số khủng khiếp mà nó là kết quả của chính sách bạo tàn của đảng cộng sản.

Đầu tiên, Theo báo cáo tổng kết của Douglas Pike, lúc bấy giờ là nhân viên hành chính ngoại giao của cơ quan thông tin Hoa Kỳ, năm 1970 trong cuốn sách "Vietcong Strategy of Terror":

"Câu chuyện (về Huế) chưa chấm dứt. Nếu ước đoán của giới chức Huế được coi như gần đúng, khoảng 2.000 người vẫn còn mất tích. Tổng kết về người chết và mất tích như sau:

Tổng số dân sự tử vong: 7.600 - chết lẫn mất tích

Chiến trường: 1.900 bị thương vì chiến cuộc; 944 thường dân chết vì chiến cuộc

Nạn nhân của những vụ giết tập thể:

1.173 - số tử thi tìm trong đợt đầu sau cuộc chiến, 1968
809 - số tử thi tìm trong đợt nhì, kể cả tìm thấy ở đụn cát, tháng 3-7 năm 1969
 
428 - số tử thi tìm trong đợt thứ ba, trong khe Đá Mài (khu Nam Hoa) - tháng 9 năm 1969 
300 - số tử thi tìm trong đợt thứ tư, khu Phu Thu, tháng 11 năm 1969 
100 - số tử thi tìm thấy các nơi trong năm 1969 
      - mất tích (tính đến năm 1970)".

Qua đó có thể thấy được tính chất dã man của cộng sản với nhân dân. Tuy nhiên bên cạnh con số của D.Pikes cũng cần phải phân tích sự xuất hiện của hai ý kiến khác thuộc về phía những người Mỹ. Theo wiki 
(links: http://vi.wikipedia.org/wiki/Thảm_sát_Huế_Tết_Mậu_Thân) có viết:

Theo Gareth Porter("The 1968 'Hue Massacre”. Tạp chí Indochina Chronicle số 33, 24/6/1974.), một học giả Mỹ, các ước lượng ban đầu của Bộ Di dân và An sinh Xã hội Việt Nam Cộng hòa, số dân thường thiệt mạng do giao tranh và bom pháo là 3.776, trên tổng số dân thường bị thương, chết hoặc mất tích là 6.700 người[5], chứ không phải các con số 944 và 7.600 do Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 của Quân lực Việt Nam Cộng hòa đưa ra[6]. (Các con số 944 và 7.600 này đã được Pike Douglas dùng trong thống kê của mình.)

Về các con số cụ thể tại các địa điểm khai quật, Gareth Porter[4] viết:

"...tại địa điểm trường trung học Gia Hội, báo cáo chính thức của Mỹ, dựa trên thông tin cung cấp bởi Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10, đưa ra tổng số 22 mộ tập thể và 200 tử thi, với bình quân 9 tử thi mỗi mộ. Nhưng khi Steward Harris [phóng viên Thời báo Luân Đôn] được đưa đến địa điểm đó, người sĩ quan Việt Nam hộ tống nói với anh ta rằng mỗi ngôi mộ trong số 22 ngôi có từ 3 đến 7 xác, cho ra tổng trong khoảng từ 66 đến 150. Cũng khoảng trong thời gian đó, Tiểu đoàn Chiến tranh Chính trị số 10 xuất bản một cuốn sách nhỏ dành cho người đọc Việt Nam, trong đó nói rằng tại trường học có 14 mộ (chứ không phải 22), con số này còn làm giảm tổng số hơn nữa.".

Cũng theo Gareth Porter, Alje Vennema[7], một bác sỹ làm việc cho một đội y tế Canada tại bệnh viện Quảng Ngãi và đã tình cờ có mặt tại Bệnh viện Huế trong thời gian xảy ra sự kiện Tết Mậu Thân, nói tổng số tử thi tại bốn địa điểm chính được phát hiện ngay sau Tết là 68, chứ không phải con số 477 như đã được tuyên bố chính thức.

Nếu để lấy các con số của G.Porter và Vennema đề bào chữa cho tội ác của cộng sản thì cũng phải nhận thấy rằng: Thực tế Porter và Vennema chỉ nói đến con số của 1 địa điểm là trường Trung học Gia Hội và bệnh Viện Huế. Cứ tạm coi con số đó là đúng đi chăng nữa thì với hàng chục điểm nhân dân bị chôn sống, chặt đầu đi thì con số lên tới hàng nghìn có đúng không? Có là tội ác không. Hơn thế nữa nhưng quan điểm của Porter và Vennema dựa trên những gì họ nhìn thấy ngay sau tết nên thống kê con số của họ không thể chính xác bằng Pikes khi anh này nắm những con số của chính phủ Mỹ và được thống kê tận cho đến năm 1970.

Thứ hai, Phóng viên Thiện Giao của đài RFA qua bài “Huế, 25 ngày kinh hoàng của 40 năm trước” thì theo ông Nguyễn Lý Tưởng, cựu Dân biểu khu vực Thừa Thiên Huế kể lại:

“Tại thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, 22 địa điểm tìm được là các mồ chôn tập thể. Trong 22 địa điểm này, người ta đếm được 2.326 sọ người. Sau tết, chúng tôi lập Hội Gia đình Nạn nhân Cộng Sản trong Tết Mậu Thân. Các gia đình kê khai có người chết, có người mất tích, lên đến 4.000 gia đình. Người ta ước tính vào khoảng 6.000 người. Có nhà báo ước tính 5.000 người. Chúng tôi cho con số 5.000 đến 6.000 là không sai lệch lắm đâu.....”

“Đỉnh điểm là Khe Đá Mài, thuộc núi Đình Môn Kim Ngọc, tại đây khoảng 400 bộ hài cốt đã được tìm thấy. Những hài cốt tìm thấy tại Khe Đá Mài chính là của những người trú ẩn tại xứ đạo Phủ Cam, xã Thủy Phước, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên .”

“Cộng Sản bắt đi trên 500 người, thanh niên từ 15-16 tuổi đến ông già 60-70 bị đưa đi giam ở chùa Từ Đàm. Đến đêm, họ bị dẫn đi lên đường núi và qua sông. Sau đó tàn sát hết mọi người trong tư thế bị trói”.

Như vậy con số gần 5000 nghìn người chết oan đã được nói tới cũng như thêm khẳng định một tội ác của đảng cộng sản.

Thứ ba, Theo ông Nguyễn Phúc Liên Thành khi trả lời phỏng vấn của RFA tháng 1-2008, thời điểm mậu thân 1968 tại Huế ông đang giữ cương vị Phó trưởng ty Cảnh sát Đặc biệt lực lượng Cảnh sát Quốc gia tại Thừa Thiên thì: “Những báo cáo của các cuộc Cảnh sát các xã thuộc 13 quận của thành phố Huế và tỉnh Thừa Thiên, do các xã báo cáo, khoảng 5.300 nạn nhân bị chôn sống tại tỉnh Thừa Thiên”...

Và qua đây con số xoay quanh 5000 nạn nhân lại được đề cập đến như một sự khảng định về tội ác của cộng sản.

Thứ tư, Theo phúc trình của chính phủ Hoa Kỳ tại cuốn sách có nội dung mật “The Pentagons papers” trang 128 có viết: "Sự thật ước tính có khoảng từ 4600 đến 5200 người bị chặt đầu hoặc chôn sống trong thảm sát ở Huế năm 1968. Đa phần họ là nhân viên hành chính và dân thường…”. Lại thêm một tài liệu khẳng định số người lên đến hàng 4000-5000 người chết oan bởi bàn tay sắt máu của cộng sản độc tài.

Tuy nhiên nếu với chỉ 4 dẫn chứng trên thì chưa đủ sức nặng để khẳng định tội ác tày đình của đảng cộng sản. Họ sẽ cho rằng bài viết của tôi chỉ đưa ra những con số của phe “Chống cộng". Vậy xin nêu ra đây những con số khủng khiếp mà “phe của họ” đã nói để thấy sự thật kinh khủng thế nào.

Thứ năm, Trong cuốn sách có tên “Đối nghịch" của tác giả J. Leroy – một nhà hoạt động xã hội người Pháp. Ông ta cũng là đảng viên đảng cộng sản Pháp. Cuốn sách của ông đi sâu phân tích về tính chất đối lập của đảng cộng sản và các đảng phái khác. Cuốn sách có dẫn chững về cuộc chiến Việt Nam như là một sự đối nghịch đỉnh điểm về ý thức hệ. Trong trang 237 của cuốn sách in năm 2000 tại Pháp có nội dung:

"Việc coi đối thủ về ý thức chính trị là kẻ thù đôi khi bị đẩy đi quá xa. Cuộc chiến ở Việt Nam là một minh chứng. Nói riêng về cuộc sự kiện thảm sát ở Huế - thành phố miền Trung Việt Nam năm 1968 là một nỗi đau lớn. Có khoảng 5000 nghìn người bị chết oan uổng dù họ chỉ là dân thường đi làm công ăn lương cho chính quyền cộng hòa. Người Miền Bắc coi những người cùng dòng máu này là những kẻ thù địch. Thật oan cho họ khi họ không phải là những người cầm súng hoặc tham gia gián tiếp vào các hành động quân sự...”

Vậy ngươi Pháp cộng sản này nói gì? Ông ta đã nói đến con số khoảng 5000 người chết oan do cộng sản gây ra. Sự thật thật khủng khiếp.

Thứ sáu, Các bạn quay ngược lại phần 9 khi tôi đã giới thiệu về tác giả Trung cộng Hà Cẩn (Viện văn học Trung quốc) có một cuốn sách được in năm 1997 và tái bản năm 2000 với tiêu đề tạm dịch sang tiếng Việt: “Mao chủ tịch của tôi” bởi nhà Xuất bản Trung ương Trung quốc. Cuốn sách dày 438 trang có đoạn trang 202 nói về chiến Tranh Việt Nam. Đoạn đó có đoạn tạm dịch như sau: "Với khoảng 4.900 người bị chết oan trong cuộc tổng tiến công vào Huế mùa xuân năm 1968, uy tín của đảng cộng sản và mặt trận giải phóng Miền Nam bị ảnh hưởng rất nặng nề. Việc đổ tội cho cấp dưới không đem lại hiệu quả cao…”.

Lại một cuốn sách của người cộng sản Trung Quốc thân tín với đảng cộng sản Việt Nam vạch mặt chính những đồng chí của mình. Thật là khủng khiếp.

Thứ bảy, Trên tờ tạp chí Quân Đội – báo của quân đội cộng sản số 21- năm 1968 trang 03 có bài viết của tác giả Văn Bình ca ngợi chiến thắng của cộng sản trong tết Mậu Thân: "Chúng ta đã đánh nhanh, thắng nhanh tiêu diệt được hàng nghìn tên địch để giải phóng Huế, Sài Gòn. Tại mặt trận Huế, nhân dân và các lực lượng vũ trang nhân dân đưa ra xét xử công khai hàng nghìn tên có tội ác với nhân dân...”

Chúng ta thấy gì ở bài viết? Tác giả của đảng không dám viết thẳng về số người bị giết oan là bao nhiêu nhưng với con số hàng nghìn thì những nghi vấn và những con số khách quan trên kia là hoàn toàn có cơ sở vì cộng sản luôn giấu nhẹm tội ác của mình.

Kết Luận: Qua 7 dẫn chứng của các bên liên quan cho thấy con số từ 4000 – 5000 là con số người chết oan trong tết mậu thân 1968 ở Huế mà tôi cho là có thể chấp nhận được.

Vấn đề con số chính xác đến từng người không phải là vấn đề quá quan trọng. Ở đây là dù với con số hàng nghìn, 4000 hay 5000 nghìn cũng cho thấy tội ác mà cộng sản đã gây ra cho nhân dân Huế vô tội. Đó là tội ác giết người cần phải được lên án.

2. Đảng cộng sản đã giết hại đồng bào vô tội:

Cần phải làm rõ hai việc ở đây đó là: Ai đã giết hại đồng bào Huế và giết bằng cách nào. Điều này phản bác lại luận điệu của cộng sản là đa phần nhân dân chết do đạn pháo, máy bay trực thăng bắn và lính của mặt trận GPMNVN được chôn cất chung với nhân dân. Tôi xin khẳng định tội ác trong tết Mậu Thân tại Huế hoàn toàn là do những người cộng sản gây nên. Những người chết do tên bay đạn lạc không phải là không có. Nhưng xin đi sâu vào sự việc hàng nghìn người bị chôn sống và chặt đầu oan tại Huế.

Cho đến nay nhiều nhân chứng và người thân của những nạn nhân tại Huế còn sống để khẳng định điều này. Nhưng trong khuôn khổ bài này tôi xin dùng nhiều tài liệu để chứng minh sự dã man của đảng cộng sản Việt Nam gây ra cho nhân dân Huế.

Thứ nhất, đọc hồi ký của Lê Minh, trong vai trò tư lệnh chiến trường Huế Tết Mậu Thân – Nguyên Bí thư Thừa Thiên Huế đã tâm sự trong Hồi Ký của mình trang 137:

“ Tôi thấy cần phải nói đến một điều đáng buồn. Về sự tang tóc trong biến cố Mậu Thân (…) còn lại một mặt của vấn đề, việc trừng trị những người có tội ác với nhân dân đã nổi dậy. (…) Rốt cuộc là đã có những người bị xử oan trong chiến tranh. Dù lý do thế nào thì trách nhiệm vẫn thuộc về lãnh đạo, trong đó có trách nhiệm của tôi. (…)”

Chúng ta thấy vị tư lệnh chiến trường của cộng sản này nói gì? Đó là những người bị xử oan mà ông ta đã thừa nhận. Cùng đó ông ta cũng nói đến những người bị cho là tội ác với nhân dân. Xin nhớ rằng những người đó chỉ là những người làm hành chính và cộng sản lại đổ thừa cho sự “nổi dậy” của nhân dân giống như họ từng đổ tội cho bần nông trong CCRĐ. Vậy xin hỏi những ủy ban mà người cộng sản lập ra để lam gì? Họ luôn tuyên truyền là lực lượng cách mạng đại diện cho nhân dân vậy sao lại để nhân dân làm bừa? Đó chỉ là một hành động đổ thừa tội ác cho nhân dân của đảng cộng sản.

Thứ hai, xin quay lại nội dung cuộc phỏng vấn của Thụy Khuê với Hoàng Phủ Ngọc Tường khi ông này đến Pháp (Xem toàn bộ bài phỏng vấn ở đây: http://nghianhan.multiply.com/notes/item/53). Bài phỏng vấn có đoạn:

TK: Nhìn từ phía những dữ kiện lịch sử mà anh nắm bắt được, diễn biến Mậu Thân đã xẩy ra trong một trình tự như thế nào?

HPNT: Huế Mậu Thân đã xẩy ra cách đây gần 30 năm. Sách vở, tài liệu đã được công bố từ nhiều phía của cuộc chiến, khá đầy đủ, có thể làm cơ sở cho những phân tích khoa học để giải phẫu một cuộc chiến mà thật ra, không thể đơn giản tách riêng ra trong biến cố Mậu Thân. Điều quan trọng còn lại tôi xin ngỏ bầy ở đây, với tư cách là một đứa con của Huế, đã ra đi và trở về, ấy là nỗi thống thiết tận đáy lòng mỗi khi tôi nghĩ về những tang tóc thê thảm mà nhiều gia đình người Huế đã phải gánh chịu, do hành động giết oan của quân nổi dậy trên mặt trận Huế năm Mậu Thân. Đó là một sai lầm không thể nào biện bác được, nhìn từ lương tâm dân tộc, và nhìn trên quan điểm chiến tranh cách mạng.

Nhưng tôi tin rằng đây là một sai lầm có tính cục bộ, từ phía những người lãnh đạo cuộc tấn công Mậu Thân ở Huế, chứ không phải một chính sách toàn cục của cách mạng. Bởi vì tình trạng giết chóc bừa bãi như vậy, đã không xẩy ra ở những địa phương khác trong Mậu Thân, ngay cả trên một địa bàn rộng lớn với tình trạng xen kẽ giữa những lực lượng đối địch rất phức tạp như ở Sài Gòn thời ấy.”

Như vậy ta có thể thấy gì ở đoạn trích này. Đó là Hoàng Phủ Ngọc Tường đã thừa nhận chính những người cộng sản gây ra với nhân dân là oan sai cho nhiều người dân. Bỏ qua sự biện hộ đây chỉ là một sai lầm cục bộ vì kẻ giết người luôn tìm cách biện hộ cho mình bằng một lý do mơ hồ mà nhất là đảng cộng sản. Chúng ta thấy một sự thật là thêm một người phe đảng công nhận họ có giết người oan sai.

Thứ ba, theo hồi ký của Trương Như Tảng (cựu Bộ trưởng Tư pháp [Chính phủ Cách mạng lâm thời] Cộng hòa miền Nam Việt Nam, về sau ly khai chính phủ và vượt biên sang sống lưu vong ở Pháp), thì: "trong cuộc chiếm đóng Huế, một số lớn người đã bị xử tử vì thuộc thành phần phục vụ cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa (viên chức, cảnh sát, sĩ quan, chính trị gia, địa phương quân...) nhưng cũng có người bị giết mặc dù không tham gia chiến trận".

Chúng ta thấy ở đây người cộng sản đã thừa nhận chính họ đã giết những người vô tội không tham gia chiến đấu hoặc viên chức chính trị. Đây là một bằng chứng cho thấy tội ác của đảng cộng sản với những người vô tội.

Thứ tư, tác giả Young (Marilyn B. Young) trong sách tựa đề The Vietnam Wars, 1945-1990 (New York: Harper Perennial, 1991) ghi lại:

"Trong những ngày đầu của cuộc chiếm đóng quả thực có những vụ xử tử công khai tại chỗ... khi trận chiến gần kết thúc bởi cuộc công pháo, lính miền Bắc trên đường rút lui xử tử những người họ đang giam giữ thay vì thả họ ra hay bắt theo làm tù binh - với con số người chết không nhiều như chính phủ Sài Gòn và Washington công bố, nhưng nhiều đủ để tạo những câu hỏi tang thương cho những người sống sót ở Huế...".

Lại thêm một bằng chứng cho thấy sự tà ác của đảng cộng sản dù cho họ có cho rằng con số ít thế nào. Nhưng tội ác giết tù binh là không thể chấp nhận được. Ngoài ra là những vụ xử công khai những người chỉ làm hành chính.

Thứ năm, theo Theo Pike (Douglas Pike, "Vietcong Strategy of Terror") thì có 3 giai đoạn đưa đến những vụ xử tử.

“Giai đoạn đầu là một loạt các cuộc xử án công cộng kéo dài khoảng 5 - 10 phút do giới chức trong quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng dựng lên. Bị cáo luôn bị kết án "có tội với nhân dân".

Giai đoạn nhì, khi họ cho rằng họ sẽ giữ được Huế lâu dài, quân Mặt trận Giải phóng bắt đầu tiến hành công tác giáo dục tư tưởng yêu nước cho quần chúng. Những ai bị tình nghi có thái độ chống cách mạng từ từ bị truy lùng trong giai đoạn này. Người theo đạo Công giáo, các nhà trí thức, thương gia, và đám người bị tội làm 'tay sai Đế quốc' bị chiếu cố để "tạo dựng xã hội mới". Giai đoạn sau cùng, khi thấy rõ họ đang bị đánh bật ra khỏi Huế, quân Mặt trận Dân tộc Giải phóng thi hành những vụ thủ tiêu nhân chứng - bất cứ ai biết mặt họ, nhìn thấy những tội ác trong lúc Huế bị chiếm đều bị giết và chôn mất xác."

Rõ ràng đây là một hành động tàn bạo của đảng cộng sản với cánh tay nối dài của mình là lực lượng MTDTGPMN đã gây ra với nhân dân vô tội tại Huế.

Thứ sáu, như trên tôi đã giới thiệu cuốn sách của “Đối nghịch" của tác giả J. Leroy thì ngoài việc ông ta khẳng định về số người chết oan trong sự kiện thảm sát tết Mậu Thân thì trong trang 240 ông cũng viêt tiếp:

"Mấu chốt ở vấn đề của mặt trận giải phóng miền nam Việt Nam thi hành lệnh của ai trong vụ thảm sát. Họ nghe ai khi bản thân họ có chỉ huy là người của đảng cộng sản cử vào, số quân tham chiến từ miền bắc gửi vào cho đến năm 1970 chiếm hơn 80% mặt trận giải phóng miền nam Việt Nam…"

Vậy thì rõ ràng đảng cộng sản Việt Nam chính là kẻ gây nên tội ác với nhân dân Huế năm 1968. Các bạn cũng cần nhớ lại trong phần 13 tôi đã chứng minh ở luận điểm: Sau khi phân chia đất nước theo hiệp định Geneve thì đảng cộng sản liền ém quân và cán bộ đầu não lại chỉ đạo chống phá miền Nam từ những năm 1960 (Khi Mỹ chưa đổ quân tham chiến vào Việt Nam ). Vậy thì cuộc thảm sát mậu thân chính là do chính sách của đảng cộng sản gây nên.

Thứ bảy, Tạp chí Time của Mỹ số ra ngày 31-10-1969, trong bài “The massacre of Hue” (Cuộc thảm sát ở Huế) đã đặt câu hỏi: “Điều gì đã khiến Cộng Sản tàn sát?” Rồi tạp chí này trả lời:

“Nhiều người dân Huế tin rằng lệnh hành quyết được đưa thẳng từ Hồ Chí Minh xuống. Tuy nhiên, có lẽ chắc chắn hơn, đơn giản là Cộng Sản đã mất tinh thần. Họ đã bị nhồi sọ để tin tưởng rằng nhiều người dân miền Nam sẽ xuống đường tranh đấu cùng với họ trong cuộc tổng tấn công vào dịp Tết. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và khi trận chiến ở Huế bắt đầu nghiêng về phía quân đồng minh, Cộng Sản đã hoảng sợ và giết sạch các tù nhân.”

Như chúng ta đã biết tờ tạp chí Time được người cộng sản hết sức coi trọng và họ cho rằng đây là một tạp chí có thể “chấp nhận" được theo ý họ. Nhưng bài viết cho thấy sự thật là cộng sản rất tàn ác với nhân dân.

Thứ tám, ngày 24-1-2008, ông Bùi Tín cũng đã đưa ra luận điệu tương tự khi trả lời phỏng vấn:

“Khi quân Mỹ đổ bộ lại từ Phủ Bài trở ra để lấy lại Huế thì anh em họ trói, di chuyển đi hàng mấy trăm tới hàng nghìn người. Do vướng chân, mệt, rồi bị pháo bắn ở ngoài biển vào dữ dội cho nên do phần lớn do tự động các chỉ huy trung đội tới trung đoàn đồng lõa với nhau để thủ tiêu không cho cấp trên biết”.

Bỏ qua luận điệu về sự tự phát theo cách nói của cộng sản thì hành động giết người với nhân dân là có thật và tội ác này chính là của các cán bộ đảng viên cộng sản gây nên (Cán bộ chỉ huy trung đội tới trung đoàn đều là đảng viên cộng sản cao cấp). Tại sao khi họ tự phát gây ra sau này không bị kỷ luật nếu đảng cộng sản thực tâm không muốn giết dân? Đó chính là điểm mâu thuẫn của những lời bao biện cho tội ác của cộng sản. Với những hành vi giết người vô tội không theo chủ trương của đảng thì nếu ở Mỹ hay các nước dân chủ khác, các vị chỉ huy đó chắc hẳn ra toàn án binh thậm chí tử hình. Nhưng ở đây họ vô sự, thăng quan tiến chức. Chỉ có thể là: Đó là sự chủ trương của đảng cộng sản.

Kết Luận: Bằng 8 dẫn chứng, chúng ta đã thấy chính những người cộng sản và những người trung lập đã thừa nhận cuộc thảm sát là do đảng cộng sản với cánh tay nối dài của họ là MTGPMN gây ra. Những bao biện do bị tên bay đạn lạc không thể chấp nhận khi họ công khai thừa nhận những vụ việc xử tù nhân cả công khai lẫn thủ tiêu.

Như vậy tội ác của đảng cộng sản là hết sức rõ ràng. Nhưng ai là kẻ đứng đầu chỉ huy cuộc thảm sát ấy. Xin được trình bầy sau đây.

B. Ai làm cho Huế đau thương:

Từ lâu vài trò của đảng cộng sản là rõ rệt trong cuộc thảm sát mậu thân ở Huế. Nhưng ông Hồ thì sao? Tôi xin trình bày sau đây một sự thật đó là chính ông ta là kẻ chủ mưu trong cuộc thảm sát này. Hẳn chúng ta còn nhớ những sự kiện NVGP hay CCRĐ mà tôi đã chứng minh ông ta là kẻ chủ mưu. Sự việc thảm sát mậu thân Huế cũng nằm trong tầm tay của kẻ sát nhân này cũng không có gì là lạ. Xin được đưa ra bằng chứng cụ thể dưới đây.

Thứ nhất, các bạn quay lại phần 2 tôi đã chứng minh đảng cộng sản Việt Nam là một tổ chức mà ông Hồ nắm quyền toàn bộ. Như vậy về cơ bản ông Hồ và đảng cộng sản phải chịu trách nhiệm chính về vụ việc này.

Cũng cần nói thêm, dưới sự lãnh đạo chặt chẽ và sắt máu của cộng sản, không có một người nào dưới quyền đảng Cộng Sản mà không bị kiểm soát, không có một người nào dưới quyền cộng sản mà có thể tự ý làm bất cứ điều gì họ nghĩ. Nhất nhất họ đều phải theo chỉ thị của đảng bộ và của cấp trên. Do đó, việc tàn sát trong cuộc chiến Tết Mậu Thân hoàn toàn là chủ trương chính sách của đảng CSVN.

Đảng Cộng Sản là một đảng chính trị tổ chức chặt chẽ, rất có kỷ luật. Bất cứ đơn vị quân đội cộng sản nào cũng có một chính uỷ (uỷ viên chính trị) để điều khiển công việc, đứng trên và quyền hành hơn cả đơn vị trưởng. Do đó, không thể đổ lỗi cho các cán binh cộng sản rút lui nên mới tàn sát bừa bãi, và cũng không thể đổ lỗi cho các đơn vị địa phương hay tỉnh uỷ Thừa Thiên Huế đã phạm sai lầm hoặc giết người để tự vệ.

Chắc chắn phải có kế hoạch chính sách do trung ương hoặc do các đảng uỷ cộng sản quyết định, khi tiến thì làm gì, khi rút lui thì làm gì, các đơn vị thừa hành hoặc các cán binh mới dám tàn sát dân chúng một cách vô nhân đạo, tàn bạo nhất trong lịch sử Việt Nam và cả lịch sử thế giới. Hiếu sát, giết người bừa bãi là một đặc tính căn bản của cán bộ cộng sản học được từ các lãnh tụ Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh. Như thế, đảng CSVN phải chịu trách nhiệm trước dân tộc và lịch sử về việc tàn sát trong cuộc chiến tết Mậu Thân năm 1968. Và người đứng đầu không ai khác chính là ông Hồ.

Thứ hai, tại “Nghị quyết của hội nghị lần thứ chín, Ban Chấp hành Trung ương Đảng”, in trong Văn kiện đảng toàn tập, Tập 24, 1963, (Hà Nội: Chính Trị Quốc Gia, 2003) có viết:

"Tháng Mười hai năm 1963, chỉ một tháng sau khi tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm bị lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã họp tại Hà Nội để bàn luận và thông qua Nghị quyết hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành. Nghị quyết này nhận định rằng “tổng công kích, tổng khởi nghĩa sẽ là hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam để đạt tới toàn thắng”. Trung ương Đảng dự tính khả năng chiến thắng cuộc chiến một cách nhanh chóng, trước khi Mỹ quyết định có nên điều các đội quân Mỹ tới cứu chế độ Việt Nam Cộng hòa hay không. Vẫn duy trì đường hướng chung về việc tiến hành một cuộc “chiến đấu lâu dài” ở miền Nam, Nghị quyết 9 kêu gọi một nỗ lực đến mức tối đa nhằm “tranh thủ thời cơ thuận lợi, tập trung lực lượng, quyết tâm giành cho được những thắng lợi có tính chất quyết định trong mấy năm tới".

Như vậy chúng ta có thể thấy được điều gì? Đó là cuộc tấn công vào Huế mà đỉnh điểm vụ thảm sát nêu trên đã được vạch kế hoạch ra từ thời điểm năm 1963. Thời điểm đó ông Hồ còn chưa bị ông Lê Duẩn lấn át và cô lập. Vậy thì ông Hồ chính là kẻ vạch ra chủ trương tổng công kích và nổi dậy đẫm máu đó trong vai trò kẻ đứng đầu đảng cộng sản.

Thứ ba, như trong phần trước tôi đã chứng minh ông Hồ chính là kẻ làm tay sai bán nước cho Trung cộng, làm chư hầu và âm mưu làm suy yếu nội lực dân tộc. Và trước cuộc tổng công kích đẫm máu ông ta đã có liên hệ với Trung cộng.

Ngày 04/07/1967, Võ Nguyên Giáp và Phạm văn Đồng đã sang Trung Cộng để tường trình Bắc Kinh tình hình và chiến lược quân sự, bao gồm cuộc tổng tấn công này.

Phạm Văn Đồng đã báo cáo Chu Ân Lai như sau: "Một số chiến lược đang được áp dụng trên chiến trường miền Nam theo lời đề nghị khi trước của các đồng chí". Chiến tranh nhân dân là chiến lược đã được áp dụng trên chiến trường miền Nam. Chiến lược này do Mao Trạch Đông đề xướng, chủ yếu là "lấy nông thôn bao vây thành thị" và "vũ trang tổng tấn công và nổi dậy". Chiến lược này được xử dụng như kim chỉ nam cho cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968.

Trong buổi họp, Chu Ân Lai than thở, ông và các đồng chí của ông đều đã trên dưới bẩy mươi, và nhấn mạnh: "Mặc dù tôi đã già, tham vọng vẫn còn đó. Nếu chiến tranh ở miền Nam không chấm dứt vào năm tới, tôi sẽ thăm các đồng chí và tham quan". Năm tới mà Chu Ân Lai muốn nhấn mạnh là Mậu Thân 1968.

Những câu nói trên được trích trong cuốn “Biên niên sử đảng cộng sản Việt Nam” – MXB Quân đội năm 1983. Điều mà chúng ta cần đặt câu hỏi là khi ông Đồng nói đã áp dụng chiến lược của các đồng chí. Đó là chiến lược gì? Đó chính là việc thực hiện tổng công kích đẫm máu mà tôi đã chứng minh Trung cộng muốn Việt Nam đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng.

Thứ tư, bản chất hiếu chiến giết người của ông Hồ còn được chính bản thân ông ta thể hiện qua bài thơ chúc tết trước cuộc tàn sát kinh hoàng mậu thân năm 1968. Bài thơ của ông ta như sau:

“…..Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta."

(trích links:http://nguoicaotuoi.org.vn/Story.aspx?lang=vn&zoneparent=0&zone=3&ID=153
của báo Người cao tuổi đảng cộng sản Việt Nam).

Bài thơ như một lời cổ động đánh nhau trong thời điểm mà người dân Việt Nam phải ăn tết cổ truyền. Đây là bằng chứng cho thấy tính hiếu chiến của ông Hồ. Các cụ có câu “Trời đánh tránh miếng ăn”. Nói rộng ra là tết cổ truyền là ngày ăn chơi của nhân dân dù Nam, dù Bắc. Nhưng ông Hồ lại thúc giục đánh nhau cho thấy âm mưu chủ đạo của ông ta bằng bài thơ cổ vũ giết chóc.

Thứ năm, như đã giới thiệu về tác giả Hà Cẩn ở trên. Trong trang 208 cuốn “Mao chủ tịch của tôi” có viết được tạm dịch như sau:

"Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo cần phải thanh trừ bọn chống đối nhân dân khi các thành phố được giải phóng trong cuộc tổng nổi dậy tết 1968, chúng không có lợi cho lực lượng cách mạng vào tiếp quản thành phố. Hồ Chù tịch đã học theo cách làm của Mao Chủ Tịch khi Trung quốc tiến hành Vạn lý Trường Chinh….”

Qua đây chúng ta thấy chính ông Hồ học theo sách lược của Mao để “thanh trừ “ cái gọi là bọn chống đối nhân dân. Họ là những người làm hành chính, nhân dân vô tội như tôi đã chứng minh ở phần trên. Vậy mà ông Hồ đã học theo thầy ông ta là Mao để đem lại kết quả bi thương cho xấp sỉ 5000 người dân vô tội ở Huế.

Thứ sáu, trong cuốn “Bác Hồ với Tết Mậu Thân năm ấy”, đăng trên Văn Nghệ số Tết Mậu Dần 1998, tr. 4 do Vũ Kỳ là thư ký riêng thân tín và lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh công bố có đoạn:

“Sáng 25 tháng 12 năm 1967, thứ hai, 7 giờ 15 phút, Bác sang hội trường Ba đình, chủ toạ cuộc gặp mặt chúc mừng năm mới của Đoàn Ngoại giao ở Hà Nội. Bác rất vui, chúc năm mới Đoàn Ngoại giao. Tiếng Bác sang sảng và như trẻ ra.”

Ngày 28 tháng 12 năm 1967, Bộ Chính trị họp phiên đặc biệt ngay bên nhà Bác Hồ, có bản đồ to kê trên bục trong phòng họp và nhiều tướng lĩnh đến báo cáo.

Từ sự phân tích và nhận định tình hình, Bộ Chính trị đề ra:

“Nhiệm vụ trọng đại và cấp bách của ta là động viên những nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên một bước phát triển cao nhất, bằng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa đề giành thắng lợi quyết định”.

Như vậy đã rõ ràng ông Hồ là người tham gia cuộc họp vào giờ chót để chỉ đạo cuộc tổng công kích đẫm máu gây ra cho nhân dân Huế. Thậm chí ông Vũ Kỳ còn miêu tả ông Hồ như “trẻ ra”. Vậy thì ông ta hoàn toàn khỏe mạnh và tỉnh táo ra những quyết định chết người với nhân dân. Khác hẳn với những luận điệu cho rằng lúc đó ông Hồ ốm yếu, không tham gia chỉ đạo từ đầu để bao che cho ông Hồ về tội ác mậu thân năm 1968.

Ngoài ra, trong bài viết của mình ông Vũ Kỳ cũng nói thêm:

"Chiều 29 tháng 12, Bác Hồ mời Bác Tôn đến cùng ăn cơm. Ngắm hai cụ già thân mật đi bên nhau, thanh thản, ung dung, nói cười vui vẻ, ta cảm thấy cuộc đời đẹp biết bao, tưởng như đất nước thanh bình.

Ngày 30 tháng 12 thứ bảy, buổi sáng từ 7 giờ 15 đến 9 giờ 30 Bác lại dự họp Bộ Chính trị, nghe đồng chí Cao Văn Khánh, Phó tổng tham mưu trưởng, báo cáo thêm những diễn biến mới nhất của tình hình chiến sự miền Nam. Bác ngồi nghe, một tay giữ lấy kính, chăm chú nhìn vào bản đổ khổ lớn treo trên tường.

Buổi chiều từ 17 giờ đến 18 giờ, Bác tham dự phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ. Bác tặng mỗi người, từ Bộ trưởng đến nhân viên phục vụ một quả cam hái từ vườn Bác và một thiếp hồng chúc mừng năm mới. Nói chuyện trong phiên họp, Bác biểu dương những thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam Bắc, khen ngợi sự cố gắng của các Ngành, các Bộ...”

Như vậy càng có bằng chứng sự cầm đầu chỉ đạo của ông Hồ trong thảm sát mậu thân. Cuối cùng ông Kỳ mô tả:

"Ngày chủ nhật 31-12-1967, ngày cuối cùng của một năm chiến đấu quyết liệt và chiến thắng vẻ vang trên khắp hai miền đất nước. Bảy giờ 30 sáng, Bác Hồ ung dung ra Phủ Chủ tịch để thu thanh chúc mừng năm mới Mậu Thân mà có lẽ Bác đã ngẫm nghĩ và trao đổi có lẽ đến 3 tháng ròng. Bài thơ “Toàn thắng ắt về ta” như bài hịch đã đi vào lịch sử… 2 giờ 30 phút chiều, Bộ Chính trị đến làm việc, Bác căn dặn công việc trước khi Bác lên đường tiếp tục đi nghỉ ở Trung quốc. Đó là quyết định của Bộ Chính trị và Hội đồng bác sĩ. 

Thế trận đã dàn xong. Ba quân đã sẵn sàng. Lời hịch đã phát. Bác Hồ ra đi chuyến này an tâm hơn.

Ngoài liên lạc hàng ngày, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước vẫn thay nhau đến Bắc Kinh, trực tiếp báo cáo và xin ý kiến Bác".

Như vậy có thể thấy ở đây hai điều. Điều đầu tiên là việc ông Hồ hàng ngày được báo cáo về tình hình từ liên lạc và từ chính các đệ tử của ông sang Bắc Kinh. Vậy thì không có lý do gì ông ta không biết và không chỉ đạo cuộc tổng công kích đẫm máu. Nhất là sau này hành động không xử những kẻ bị vu cáo là tự ý giết nhân dân cho thấy ông Hồ đã đồng tình hay nói cách khác là kẻ chỉ đạo giết người. Điểu thứ hai đó là như ông Vũ Kỳ miêu tả ông Hồ đâu có yếu đến mức phải lánh sang Bắc Kinh chữa bệnh giữa lúc đang xảy ra cuộc tổng công kích. Vậy tại sao ông Hồ phải đi Bắc Kinh? Chữa bệnh chỉ là cai cớ. Cái chính yếu là ông ta muốn tránh tiếng cuộc thảm sát mà ông ta biết trước như cách ông ta làm ở cải cách ruộng đất. Một kịch bản vũ như cẫn được lặp lại để tránh né tội ác.

Thứ bảy, cuốn sách của J.Leroy được tôi giới thiệu ở trên cũng có đoạn viết như sau tại trang 240 về cuộc tấn công vào Huế năm 1968:

"Quân đội của MTGPMN Việt Nam dưới sự chỉ đạo của chính quyền VNDCCH đã gây được cú sốc với chính quyền VNCH. Người có vai trò quyết định là ông Hồ Chí Minh với tư tưởng của Stalin và Mao Trạch Đông. Họ đã thành công trong cả chiến thuật, chiến lược và đấu tranh giai cấp…”

Ở đây ta thấy ông Hồ đã thực hiện chỉ đạo của Mao và Stalin trong việc đánh Huế và đấu tranh giai cấp. Vậy đấu tranh giai cấp là gì? Đó chính là thủ tiêu người dân vô tội mà ta đã thấy trong CCRĐ hay NVGP. Vậy thì ai là kẻ chỉ đạo thảm sát dân lành? Không ông Hồ thì còn là ai được.

Thứ tám, Trên website của tỉnh Thanh Hóa có bài viết của Tác Giả Đinh Phong nói về cuốn sách “Mãi mãi theo con đường của Bác" của ông Hoàng Tùng – cán bộ lão thành cộng sản nhiều năm đi theo ông Hồ
(Links: http://www.baothanhhoa.vn/vn/bht/n93301/Mai-mai-theo-con-duong-cua-Bac).

Bài viết có đoạn:

"Tháng 2-1968, từ mặt trận Sài Gòn, chúng tôi trở về cơ quan, lòng nặng trĩu! Ta đã không thắng ngay trận đầu. Khi nói về quyết tâm của ta, một đồng chí lãnh đạo phổ biến: “Bác Hồ nóng lòng muốn về Nam để trực tiếp chỉ đạo trận đánh cuối cùng này. Bác đã tập đeo đá, đi bộ để chuẩn bị sức khỏe. Bộ Chính trị xin Bác yên lòng, sẽ quyết tâm chỉ đạo cách mạng miền Nam giành thắng lợi”.

Thêm một minh chứng ông Hồ hoàn toàn khỏe mạnh và ông ta muốn về Nam trực tiếp chỉ đạo cuộc chiến năm 1968. Như vậy dù có đi Bắc Kinh nhưng ông Hồ rất quan tâm đến trận đánh nhằm giành thắng lợi trong công cuộc “đấu tranh giai cấp” như dẫn chứng thứ bảy ngay trên. Và với quyết tâm chỉ đạo như vậy không có lý do gì ông Hồ không phải là kẻ chỉ đạo sự kiện thảm sát mà đàn em của ông vô can.

Thứ chín, trên website: http://hosotulieu.wordpress.com/tag/tau-khong-số/. Website này của đội ngũ hồng vệ binh đảng cộng sản có ca ngợi tướng Nguyễn Chí Thanh mang tên “Nguyễn Chí Thanh anh bộ đội cụ Hồ tiêu biểu" có viết:

"Bài viết “Năm bài học phản công chiến lược mùa khô” mang bút danh Trường Sơn của anh đã ngay lập tức trở thành tác phẩm có giá trị. Nó là vũ khí tư tưởng cho toàn đảng, toàn quân và toàn dân quyết đánh và quyết thắng quân Mỹ xâm lược. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ và niềm tin cho bè bạn năm châu. Nó làm cho quân thù sửng sốt và lúng túng hoang mang. Và nó đã góp phần cùng Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương hạ quyết tâm chiến lược chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công Mậu Thân – 1968 để thực hiện tư tưởng chỉ đạo chiến lược của Hồ Chủ tịch “Đánh cho Mỹ cút” một cách tin cậy.”

Phần được tôi cho tô đậm chính là minh chứng cho sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh trong một chuỗi tội ác mà ông ta gây ra cho nhân dân Huế năm 1968.

C. Kết Luận Chung:

Qua các phần trên chúng ta thấy được đảng cộng sản là kẻ chủ mưu gây ra khoảng 5000 người dân vô tội năm 1968 ở Huế. Họ coi tính mạng người dân cùng chung dòng máu với họ thật là rẻ mạt. Dù biện hộ với lý do nào thì những tội ác của đảng cộng sản gây cho nhân dân Huế là không thể chối bỏ.

Và cũng đồng thời là chúng ta thấy vai trò của ông Hồ trong sự kiện thảm sát này là rất rõ nét và là chủ mưu. Không thể nào đổ thừa cho những người dưới quyền dù họ không phải vô tội. Ông Hồ sẽ phải chịu trách nhiệm về những tội ác này trước nhân dân Việt Nam nói chung và thân nhân các nạn nhân bị giết oan vô tội trong năm 1968.

Chỉnh sửa và hoàn thiện: 18/08/2012
Đặng Chí Hùng

Dân Làm Báo Blog © 19.8.12
http://danlambaovn.blogspot.com/2012/08/nhung-su-that-khong-choi-bo-phan-14-ai.html

Hoàng Phủ Ngọc Tường có ở Huế Tết Mậu Thân?

Hôm tháng 31-8-2015 vừa qua, tạp chí văn chương damau.org có đăng bài của Nguyễn Đức Tùng phỏng vấn Hoàng Phủ Ngọc Tường. Bài phỏng vấn này được Nguyễn Đức Tùng thực hiện cách đây bảy năm, nay mới cho phổ biến, sau khi đã xác minh với nhà văn xứ Huế về nội dung một lần chót trước khi Hoàng Phủ Ngọc Tường đồng ý đưa ra công luận vào lúc này, khi ông Tường đang lâm trọng bệnh.

Một lần nữa, Hoàng Phủ Ngọc Tường phủ nhận việc ông có mặt ở Huế trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân như nhiều thông tin và nguồn dư luận đã đưa ra. Khi nói là mình không có mặt ở đó, ông Tường muốn chứng minh là ông không can dự vào các vụ thảm sát ở Huế khi đó.

Việc chứng minh Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế và đã có xử án nhiều người thì nhiều nguồn đã nhắc đến. Những tài liệu chính:

1/ Năm 1981 khi trả lời phỏng vấn của đài truyền hình WGBH cho loạt phóng sự về cuộc chiến Việt Nam đã qua, ông Tường thừa nhận đã có mặt tại Huế vào thời điểm Tết Mậu Thân.

2/ Trong tác phẩm Giải khăn sô cho Huế của Nhã Ca (Nxb Việt Báo. 2008), Nguyễn Đắc Xuân cũng xác nhận Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt tại Huế ở khu Gia Hội trong Tết Mậu Thân, với các nhân vật Đắc là Nguyễn Đắc Xuân, Phủ là Hoàng Phủ Ngọc Tường và Ngọc là Hoàng Phủ Ngọc Phan. (tr. 226)

3/ Sách Huế Thảm sát Mậu Thân của Liên Thành (Nxb Ủy ban Truy tố Tội ác Đảng Cộng sản Việt Nam. 2011) ghi lại sự kiện tác giả, lúc còn là cấp chỉ huy cảnh sát đặc biệt ở Huế, bắt được Hoàng Kim Loan, một cán bộ cộng sản nội thành hoạt động tại Huế vào tháng 5/1972 và Loan đã khai rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường ngồi ghế chủ tịch toà án nhân dân ở trường Gia Hội cùng với 2 thành ủy viên là Phan Nam, Hoàng Lanh cũng như Hoàng Kim Loan đã có mặt ở đó. (tr. 215)

4/ Sách The Viet Cong massacre at Hue của Alje Vennema (Nxb Vantage. 1976) ghi nhận những nơi có tòa án nhân dân là ở chủng viện do Hoàng Phủ Ngọc Tường chủ tọa. Bên trường Gia Hội do Nguyễn Đắc Xuân (tr. 94).

Sự kiện Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đoá và Nguyễn Thị Đoan Trinh có mặt tại Huế dịp Tết Mậu Thân thì không có gì tranh cãi vì đã có rất nhiều tài liệu nói lên điều đó và họ không phủ nhận.

Riêng Hoàng Phủ Ngọc Tường, sau khi trả lời truyền hình Mỹ là ông có mặt ở Huế vào Tết Mậu Thân, đến năm 1997 ông lại phủ nhận chuyện đó khi trả lời phóng viên Thụy Khuê của đài RFI. Bài phỏng vấn được in lại trong sách Giải khăn sô cho Huế có câu hỏi liên quan đến sự kiện đó như sau:

TK: Như vậy thì anh đã làm gì trong thời gian Tết Mậu Thân? Anh ở đâu? Anh làm những chức vụ gì?

HPNT: Có một tổ chức chính trị của các lực lượng đấu tranh của phong trào Huế ra đời trong bối cảnh xuân Mậu Thân, ấy là Liên Minh Các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ Và Hòa Bình Thành Phố Huế, do anh Lê Văn Hảo làm Chủ tịch, Hòa Thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi làm Phó chủ tịch. Với tư cách Tổng thư ký, tôi luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên để làm công tác chính trị của Liên Minh, tuyệt nhiên không dính líu gì đến chuyện nhúng tay vào máu ở Huế. Trụ sở chiến dịch của Liên Minh là một địa đạo Trường Sơn, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, Huế. Trụ sở này, đã được mô tả đầy đủ trên báo Lao Động, ở trong nước cách đây hai tháng. (tr. 604)

Tập sách Huế Xuân 68 (Nxb Thành ủy Huế. 1988) là nguồn tài liệu qua nhiều bài bút ký chiến tranh ở Huế Tết Mậu Thân của những người đã trực tiếp tổ chức và tham gia vào cuộc tổng tấn công như Thượng tướng Trần Văn Quang, Thiếu tướng Lê Chưởng, Lê Minh, Ngô Kha, Nguyễn Đắc Xuân, Lê Văn Hảo, Nguyễn Đình Chi, Lê Thị Mai v.v…

Sách do Nguyễn Huy Ngọc chịu trách nhiệm xuất bản và ban biên tập gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tô Nhuận Vỹ, và Nguyễn Đắc Xuân.

Bài “Bước ngoặt vào xuân” của Lê Cảnh Trân là sĩ quan bí thư của tỉnh trưởng Thừa Thiên Huế Phan Văn Khoa và là một cán bộ nằm vùng, có đoạn viết:

“Theo các nguồn tin từ xa qua đài Tiếng nói Việt Nam, đài Phát thanh Giải phóng…. Bao nhiêu gương mặt quen thuộc, thân yêu cũng đã đến với tôi: Thượng tọa Thích Đôn Hậu trụ trì chùa Thiên Mụ, giáo sư Hoàng Phủ Ngọc Tường từng giảng văn học cho tôi, giáo sư Lê Văn Hảo, bà Tùng Chi, rồi Nguyễn Đắc Xuân người bạn trong phong trào trước đây, rồi Đoan Trinh, con gái cụ Nguyễn Đoá, từng là đoàn sinh gia đình Phạt tử của tôi. Nhiều, nhiều người lắm… cùng xuất hiện trên một trận tuyến giải phóng thành phố Huế.” (tr. 332)

Giáo sư Lê Văn Hảo qua bài “Bước ngoặt của đời tôi” ghi lại sự kiện ông rời thành lên núi, tức vào chiến khu, từ hôm 25 tháng Chạp, đi theo một cô giao liên tên Gái dẫn đường. Tối 29 tháng Chạp ông gặp Hoàng Phủ Ngọc Tường, cùng với Hoàng Phương Thảo và Nguyễn Đức Hân. Sáng 30 Tết ông tham khảo với Tường để sửa chữa lời kêu gọi của ủy ban liên minh các tổ chức để trưa hôm đó ghi âm. Ông và Thảo, Hân cùng Hoàng Phủ Ngọc Tường theo dự kiến sẽ xuống núi sau vài ngày. (tr. 240)

Sau khi tổng tấn công nổ ra ông Hảo ghi lại như sau:

“Đến ngày 15 tháng 2 thì Ủy ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên Huế ra mắt đồng bào cố đô. Tôi được cử làm chủ tịch, anh Hoàng Phương Thảo, chị Nguyễn Đình Chi làm phó chủ tịch. Cũng trong những ngày Huế giải phóng, trên đường phố tại nhiều địa điểm có loa phóng thanh đã vang lên Lời Kêu gọi của Ủy ban Liên Minh các lực lượng Dân tộc Dân chủ và Hoà bình Việt Nam…” (tr. 242)

Sự kiện Lê Văn Hảo đã có mặt ở Huế ngày 15-2-1968 và theo lời Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời Thụy Khuê là ông “luôn luôn có mặt bên cạnh các vị kể trên” thì điều đó chứng minh ông Tường đã xuống núi cùng với giáo sư Lê Văn Hảo và Hoàng Phương Thảo và lúc đó cũng đang có mặt ở Huế cùng với Hoà thượng Thích Đôn Hậu và bà Nguyễn Đình Chi là những người đứng đầu Liên minh.

Cũng theo bài viết của Lê Văn Hảo, khoảng nửa tháng sau khi Huế được giải phóng, nhiều người rời thành phố ra vùng giải phóng tham gia cách mạng có Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đình Chi (tên thật là Đào Thị Xuân Yến), Nguyễn Đoá, Tôn Thất Dương Tiềm. (tr. 244)

Bà Nguyễn Đình Chi trong bút ký “Thoát Ly” kể rằng ngày 9-2-1968, lúc bà còn ở Huế, thì Hoàng Phương Thảo đã gặp bà để bàn về việc gia nhập Liên minh và ủy ban nhân dân cách mạng và bà đã đồng ý.

Sau đó bà thoát ly lên núi, vào một nơi dành cho các vị trong ủy ban nhân dân và liên minh thì “gặp ngay những nhân sĩ trí thức Huế đã lên trước tôi chẳng hạn như bác Nguyễn Đoá, anh Tôn Thất Dương Tiềm, anh Lê Văn Hảo, anh Thành, anh Hoàng Lê (tức Hoàng Phương Thảo)…” (tr. 252). Hôm đó là ngày 18-2-1968.

Khoảng cuối tháng 2, đầu tháng 3 ở chiến khu bà Chi bị sốt rét và có Lê Văn Hảo cùng Thuyết, bí danh của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ghé thăm. Đó là lời bà Chi kể lại trong bút ký.

Qua những tài liệu trên, có thể suy ra rằng Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế trong khoảng thời gian từ tuần đầu đến giữa tháng 2/68. Vì sau đợt tấn công đầu tiên chiếm được Huế, bộ đội cộng sản không giữ được và quần chúng không nổi dậy, cũng như tại nhiều tỉnh thành khác lúc bấy giờ, nên bộ chỉ huy bắt đầu tính đến kế hoạch rút lui sau các đợt phản kích bắt đầu một tuần sau đó của lính Việt Nam Cộng hòa và Mỹ. Sau 26 ngày chiếm Huế thì bộ đội cộng sản hoàn toàn rút khỏi.

Trong giao tranh nhiều người bị tử thương vì bom đạn hai bên. Chết vì bị tấn công nhầm, vì bom lửa như đã được ghi lại trong nhiều sách, tài liệu.

Nhưng còn hàng nghìn cái chết của những người đã ra đầu hàng, những người bị đập vỡ sọ, bị trói tay thành từng nhóm, bị nhét giẻ vào miệng trước khi bị đẩy xuống hố, xuống mương chôn sống. Đó là thảm sát.

Theo tài liệu lưu hành nội bộ có tên “Chiến trường Trị-Thiên-Huế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng” [dự thảo] (Nxb Thuận Hóa, Huế. 1985), khuyết điểm trong các giai đoạn đấu tranh trước tổng tiến công Mậu Thân, từ 1959 đến cuối năm 1967, là cán bộ “chưa quán triệt sâu sắc quan điểm bạo lực cách mạng và tư tưởng chiến lược tấn công” (tr. 97)

Và bạo lực đã xảy ra cho Huế: “Khí thế cách mạng sôi nổi rầm rộ nhất là khu Gia Hội. Tại đây nhân dân đã bắt và trừng trị nhiều tên phản động, ác ôn, mật vụ từ các nơi trong thành phố chạy trốn tụ tập về; hằng trăm tên lính ngụy ra đầu hàng, đầu thú với cách mạng” (tr.147)

Với chủ trương dùng bạo lực cách mạng mà những bộ đội và cán bộ cộng sản đã quán triệt thì dù có hay không những Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đóa, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Huế cũng không tránh khỏi thảm sát như đã xảy ra.

Một lần tôi đến Huế, đi ăn cơm Âm Phủ và nghe một bạn trẻ nói rằng Huế mỗi khi Tết về rất là buồn. Tôi hiểu được nỗi buồn đó của Huế. Người dân Huế từ bao năm qua vẫn mong có một ngày giỗ chung để cho hương hồn những người chết oan nghiệt của năm Mậu Thân được giải thoát.

*Các bài viết được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ. 

Bùi Văn Phú Tác giả dạy đại học cộng đồng và hiện sống tại vùng Vịnh San Francisco, California.


Hỏi Hoàng Phủ Ngọc Tường: “Ai là ‘Quân nổi dậy’?”

Nguyễn Văn Lục

Cái này để dân Huế hỏi tội ông. Ai và những ai là quân nổi dậy ở Huế? Thưa ông Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Cách đây gần 3 năm, ngày 16/9/2015, cũng trên DCVOnline.net này, tôi đã viết một bài với nhan đề “Trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường” để cho thấy rằng: một mặt ông khẳng định ông không có mặt ở Huế trong dịp tết Mậu Thân qua bài phỏng vấn của Thụy Khuê nhân dịp ông đến Paris (“Nói chuyện với Hoảng Phủ Ngọc Tường về biến cố Mậu thân Huế”, RFI, 12 tháng 7, 1997). Nhưng năm 1982, trên đài truyền hình WGBH– TV ở Boston của Mỹ trong chương trình “Vietnam: A Television History” đoạn “Tet, 1968; Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong” ông đã xác nhận ông có mặt ở Huế và nói như với tư cách một người đại diện chính quyền cộng sản.

Để chứng tỏ rằng, người ta không vu khống cho Hoảng Phủ Ngọc Tường, mời bạn đọc theo dõi nguyên đoạn phim 15 phút của WGBH-TV Boston phỏng vấn HPNT ngày 29 tháng 2, 1982, “Interview with Hoang Phu Ngoc Tuong, 1982” sau đây để thấy rõ ai là nạn nhân của ai? 

Hoàng Phủ Ngọc Tường trả lời WGBH-TV Boston

Trích đoạn:

“Tôi đã đi trên những, những đường, đường hẻm mà ban đêm. Tôi tưởng là bùn, thì tôi mở ra, bấm đèn lên thì toàn là máu, lầy lội như vậy…Nhất là những ngày cuối cùng khi chúng tôi rút ra…” 5’57”- 6’14”

Cái lỗi lầm của ông là đã mạo danh hay ông nghĩ rằng muốn làm vừa lòng đảng, ông phải nói như thế ở ngôi thứ nhất, xưng tôi, như người trong cuộc để lên án Mỹ và Việt Nam Cộng hòa.

Bài viết của tôi khi ấy chỉ nhằm chứng tỏ ông nói mâu thuẫn “tiền hậu bất nhất” nếu không nói thẳng ra là ông đã nói dối. Tôi không đặt vấn đề ông giữ vai trò gì ở Huế hoặc ông đã làm gì ở Huế và không có một lời kết án ông một cách vô bằng cớ.

Thái độ của tôi đối với ông cũng như của đa số dân miền Nam, trong đó có dân Huế coi ông là người thuộc phía bên kia. Chúng tôi chống cộng sản cũng như ông chống phá miền Nam – những người Quốc gia – mà trước đó ông là một thành phần. Và đó là sự chọn lựa của ông.

Những thành phần đi theo cộng sản như ông đã dẫn đường, chứa chấp, cung cấp và nhất là làm chi điểm cho quân “giải phóng” để giết hại quân dân cán chính miền Nam. Phải gọi ông là gì cho xứng đáng đây khi các ông miệt thị gọi chúng tôi là bọn Mỹ– Ngụy? Cùng lắm có những người có sự xung động tình cảm gọi ông là thành phần “phản bội” hay “ăn cơm Quốc Gia thờ ma cộng sản”. Điều đó cũng không sai lắm đâu.

Điều đó làm tôi thắc mắc mãi. Trong đợt tổng công kích đợt hai, tháng 5, tại khu Ngã Tư Bảy Hiền. Một anh Việt cộng bị tiểu đoàn 7 nhảy dù bắt làm tù binh. Tay anh bị trói ra đằng sau. Không ai ra lệnh, môt anh lính nhảy dù đã đút cho người linh Việt cộng ăn hết một cái bánh chưng! Chuyện giết chóc tạm gác lại và trước mắt chỉ là một người lính bị thương và đang đói.

Ông Hoàng Phủ Ngọc Tường nghĩ gì, các bạn đọc nghĩ gì về hai cách ứng xử của đôi bên. Cảnh ấy còn gặp nhiều lần ở những nơi khác

Cứ theo lẽ thường, như một người bạn tôi tâm sự cho biết, nếu anh ấy biết được các ông làm chỉ điểm để giết hại bố của anh ấy thì chắc hẳn, anh sẽ tìm đủ cách để giết lại kẻ đã giết hại cha mình. Chuyện ấy xem ra cũng là chuyện bình thường, có vay có trả.

Những người dân Huế chạy qua cầu Tràng Tiên trên Sông Hương để trốn quân cộng sản trong cuộc Tổng tấn công  Tết Mậu Thân 1968  tại Huế. Nguồn: © CORBIS / Corbis qua Getty Images.

Nhưng xem ra dân Huế, nhất là những người có bố mẹ anh em bị cộng sản giết hại trong dịp tết Mậu Thân mà nay để cho bọn nằm vùng ấy sống phởn phơ ở Huế thì tỏ ra người dân Huế “hiền” quá.

Đáng lẽ phải có chuyện trả thù và nếu phải có đổ máu thì giờ này ông Hoàng Phủ Ngọc Tường đang ở đâu?

Tuy nhiên, những người bênh vực ông, cũng như ông, dù biết có gian trá, không một người nào có can đảm nói thẳng, nhìn nhận ông đã nói dối. Vì thế, lập luận của họ cứ quanh co, úp mở, không thuyết phục được ai. Đã mấy chục năm có lẻ, ông vẫn cố tình che dấu sự thật để cho người đời nguyền rủa, chửi bới, lăng mạ, bôi nhọ đủ kiểu.

Cho nên, ông đã khổ sở bị bạn bè nghi ngờ, bị người đời nguyền rủa, sống trong sự nhục nhã, hiểu lầm. Và nếu có một cái được gọi là bi kịch thì bi kịch ấy do chính ông dựng lên.

Nay thì ông đã nhìn nhận mình đã nói dối. Sao ông hèn và thiếu can đảm như vậy? Nếu ngay từ đầu ông dám nói thật thì đâu đến nỗi bị người đời nguyền rủa. Ông cũng sẽ giống như Lê Văn Hảo, Thích Đôn Hậu, bà Tuần Chi, Trần Vàng Sao, chẳng ai thèm đá động tới.

Vì thế, tất cả những ai bênh vực ông đặt vấn đề như “Bi kịch đao phủ Mậu Thân”, “Bi kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường” như của Ngô Minh. Hay như “Hội chứng chính nghĩa” hay “Bi kịch của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là bi kịch của chúng ta” trong Tiếng chim báo bão của Tiêu Dao Bảo Cự, hay Nguyễn Quang Lập, viết sau “Lời cuối cho câu chuyện quá buồn” đều rơi vào tình trạng đồng lõa gián tiếp, toa rập với Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Cộng đồng người Việt hải ngoại đã lên tiếng về trường hợp Hoàng Phủ Ngọc Tường và tùy theo mức độ hiểu biết, mức độ hận oán đôi khi quá cực đoan, kết án nhiều khi vô bằng. Điển hình là ông Liên Thành, một cựu thiếu tá cảnh sát ở Huế. Phần lớn những lời kết án của ông Liên Thành đều thiếu bằng cớ, đặt những người như Hoàng Phủ Ngọc Tường ở một vai trò quá quan trọng mà thực sự nếu họ có vai trò gì thì chỉ là vai trò “bù nhìn”, vai trò tay sai, vai trò chỉ điểm, vai trò dẫn đường.

Trong lá thư của ông, ông tỏ vẻ khinh miệt ông Liên Thành. Điều đó, tốt hơn hết, ông nên nhìn lại tự bản thân mình đã làm được điều gì? Cái mà ông đã làm, dưới mắt tôi, ông chỉ là một tên phá hoại.

Vì Hoàng Phủ Ngọc Tường nay đã nhận lỗi, nghĩa là có tội nên những chữ dùng như Bi Kịch Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng là bi kịch của chúng ta, Hội chứng chính nghĩa, Một câu chuyện quá buồn đều trở thành vô nghĩa.

Nếu có bi kịch là bi kịch của mấy người, của những kẻ đã trót theo cộng sản rồi bị lừa. Nào phải bi kịch của chúng tôi? Và làm thế nào bi kịch của Hoàng Phủ Ngọc Tường lại chuyển sang bi kịch của chúng ta được? Buồn cười thật!

Những tâm trạng của Đặng Tiến, Ngô Minh, Tiêu Dao Bảo Cự thì không thể bắt người khác chia xẻ một cách ngây ngô và lố bịch như vậy.

Các ông cứ việc buồn, nhưng chúng tôi không thể chia xẻ cái buồn ấy được. Đó là việc của các ông và đừng chủ quan tưởng rằng chúng tôi cũng chia xẻ cùng tâm trạng ấy.

Nay thì ván bài đã lật ngửa! Vào lúc cuối đời – tuổi đã 81, biết mình không qua khỏi – ông Hoàng Phủ Ngọc Tường, bí danh là Thuyết, đã nhận lỗi trong một lá thư đề ngày 1– 2– 2018. Nhận lỗi vì ông đã hăng hái “bảo vệ cách mạng”! Nhận lỗi vì “hành động giết oan” của quân nổi dậy.

Đối với tôi thì ông “không đủ tư cách” gì để đứng ra xin lỗi thay cho quân “nổi dậy” “giết oan”. Cái bi kịch của đời ông là do chính ông với cá tính hoang tưởng và cao ngạo, tưởng mình “ngon” khi được Hà Nội phong tước Tổng thư ký trong Liên Minh các Lực Lượng Dân Tộc Dân Chủ và Hòa Bình bên cạnh Lê Văn Hảo và bà Tuần Chi cũng như những người khác như Thích Đôn Hậu, Nguyễn Đóa và Tôn Thất Dương Tiềm.

Có người bênh vực ông với bài viết “Cái họa của người nổi tiếng”. Thiếu gì người nổi tiếng. Cái nổi tiếng của Hoàng Phủ Ngọc Tường tuyền là tiếng xấu chứ nào có tiếng tốt.

Vì thế, tôi không nghĩ như vậy. Cái họa nổi tiếng của ông nếu có của ông là cái họa vạ miệng.

Nói cho cùng, cái tổ chức của Hoàng Phủ Ngọc Tường do cộng sản dựng lên tồn tại được bao lâu? Hai tháng? Nó cũng chỉ là một sản phẩm được Hà Nội ngụy tạo như trước đây với MTGPMN.

Cho nên, sự có mặt hay không có mặt của ông ở Huế không làm thay đổi số phận của những người dân Huế vô tội.

Trong một dịp sang Montréal, tôi không nhớ năm nào, nhưng chỉ biết là nhân dịp lần đầu tiên ông Thích Nhất Hạnh về Việt Nam – một cán bộ cộng sản đã từng tập kết ra Bắc rồi trở lại Huế nằm vùng từ năm 1965, cũng là bạn đồng chí của Hoàng Phủ Ngọc Tường – nhà văn Tô Nhuận Vỹ với tư cách một người cầm bút phía bên kia đã nói với tôi tại nhà:

“Các anh ở ngoài này đã đánh giá sai vai trò của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Khi họ nhảy núi, chính tôi là người tiếp đón họ.”

Tôi nghĩ, ông Tô Nhuận Vỹ có cái lý của ông vì ông hiểu rõ tổ chức, cơ cấu của Đảng cộng sản.

Những tước vị được phong chỉ là truyện “phong thần”, chuyện bánh vẽ. Chỉ những kẻ ngu muội mới tin là thật. Hoàng Phủ Ngọc Tường lại ngây thơ tin là thật. Nguyễn Đắc Xuân cũng tin là thật vênh váo với hai chữ Ủy viên của Mặt trận.

Đám đông tụ tập tại nghĩa trang trong lễ tưởng niệm các nạn nhân bị thảm sát trong cuộc tấn công của cộng sản dịp Tết Mậu Thân 1968, Huế, Việt Nam, ảnh thập niên 1970. Nguồn: PhotoQuest/Getty Images.

Ngày hôm nay, cần khẳng định việc xin lỗi của ông chỉ là lời tự bào chữa, xin lỗi cho cá nhân ông. Ngay cả ý kiến của ông Lê Minh, người trực tiếp có mặt trong trận đánh Mậu Thân ở Huế cho rằng cần giải oan cho những nạn nhân ở Huế cuối cùng cũng chẳng có tác dụng gì.

Mọi quyết định giết ai, tha ai đều đến từ Hà Nội. Nên muốn giải oan hay không cũng đến từ Hà Nội và chỉ Hà Nội mới có quyết định. Nguyễn Đắc Xuân đòi giải oan thì đó là việc của cá nhân ông. Hà |Nội vẫn quyết định ăn mừng chiến thắng Mậu Thân kể chi đến cuộc thảm sát ngoài Huế. Đó là trách nhiệm tinh thần mà người Huế phải làm cho bằng được.

Cho nên, tất cả những bi kịch của Mậu Thân ở Huế không nên đổ lên đầu Hoàng Phủ Ngọc Tường vì một lẽ giản dị ông không có một chút quyền hành gì ở mặt trận Huế và không thể nào một mình Hoàng Phủ Ngọc Tường gánh cho nổi.

Nó là cả một chiến dịch chuẩn bị từ 3 năm trước. Mà người quyết định chính là Lê Duẩn, nằm ở Hà Nội. Trên chiến trường, quyết định đánh hay không đánh, giết hay không giết là từ những người như tướng Trần văn Quang, Lê Chương và Lê Minh.

Và cái người đáng nguyền rủa, đáng kết tội là những người chỉ huy ở trên. Cho nên, Hoàng Phủ Ngọc Tường có mặt ở Huế hay không ở Huế thì điều đó chẳng thay đổi được gì.

Nếu kết án Hoàng Phủ Ngọc Tường thì phải kết án luôn cả một tập đoàn đông đảo trí thức Huế cộng với các thầy tại Từ Đàm. Họ là những Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đính, Trần Thị Ngọc Dư, Nguyễn Thị Đoan Trinh, Lê Văn Tài, Lê Văn Hảo, Đào Thị Yến, tức bà Tuần Chi, Nguyễn Thiết, Thich Đôn Hậu, Phạm Thị Xuân Quế, Nguyễn Đóa, Tôn Thất Dương Tiềm.

Rồi chẳng bao lâu nữa sau khi ông nằm xuống người ta có thể tha thứ cho ông, nhưng quên thì không thể nào quên được

Vài lời cuối

Đối với đa số dân chúng miền Nam cũng như dân chúng Huế, họ coi những thành phần đi theo cộng sản như ông, những người đã dẫn đường, đã chứa chấp, đã cung cấp và nhất là làm chi điểm cho quân “giải phóng” để giết hại quân dân cán chính miền Nam tại Huế năm 1968, như kẻ thù mới phải. May là họ đã không coi các ông là kẻ thù. Điều đó mới là lạ.

Đáng lẽ, phải có một cuộc “tắm máu” những bọn nằm vùng.

Phải lấy làm lạ, hay là may mắn người dân Huế vô tội đã không hành xử như vậy. Phải nghĩ, đó là cái may mắn cho các ông. Như trường hợp của người bạn tôi, nếu biết được các ông đã chỉ điểm để giết hại bố của anh ấy thì chắc hẳn anh sẽ tìm đủ cách để giết lại kẻ đã giết cha mình.

Xem ra dân Huế, nhất là những người có bố mẹ anh em bị cộng sản giết hại trong dịp tết Mậu Thân mà nay để cho bọn “nằm vùng” ấy sống phởn phơ ở Huế cho thấy dân Huế “hiền” quá.

Ông còn được thong thả ngồi xe lăn là một điều may mắn cho ông rồi.

Nhưng chứng nào vẫn tật ấy. Gần đất xa trời rồi mà ông vẫn chưa biết thực sự hối cải. Ông vẫn cúi đầu, bợ đỡ đảng, thờ lạy một thần tượng đã mục rữa ở hang Pắc Pó khi ông cho rằng những người dân Huế bị giết oan do quân nổi dậy, chứ không phải do quân “giải phóng”.

Ngoài bọn nằm vùng như ông, làm gì có quân nổi đậy. Thêm một lần nữa, đây là một thái độ hèn nhát, bỉ ổi chạy tội cho đảng.

Cái này để dân Huế hỏi tội ông. Ai và những ai là quân nổi dậy ở Huế? Thưa ông Hoàng Phủ Ngọc Tường?

Tết Mậu Thân, một toán quân Việt Cộng trong đợt Tổng tấn công-không có nổi dậy của cộng sản ở miền Nam Việt Nam, năm 1968. Nguồn:  Ảnh: Sovfoto / UIG qua Getty Images)

© 2018 DCVOnline

Thảm sát Tết Mậu Thân 1968: tội ác chống loài ngườica CSVN - Mai V. Phạm

Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đề nghị giải pháp cho bài toán chính trị Việt Nam : phải có một lực lượng chính trị làm đối trọng với Đảng cộng sản. Lực lượng này chia sẽ đường lối và giải pháp chung cho cuộc cách mạng dân chủ, sẽ đóng vai trò vận động quần chúng tham gia vào phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc, tạo áp lực buộc Đảng cộng sản phải thực hiện hòa giải dân tộc và bầu cử tự do. Và cuộc bầu cử tự do, dưới sự giám sát chặt chẽ và công bằng của cộng đồng quốc tế, sẽ là tiền đề để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên.  

 Kết quả một vụ thảm sát dưới tay cộng sản Việt Nam tại khe Đá Mài phía nam Huế, tháng 2, 1968 Tết Mậu Thân. 428 nạn nhân đa số người Thiên chúa giáo, gồm tu sĩ công chức, bác sĩ, giáo sư và những chuyên viên ngành nghề khác. Nạn nhân bị bắt giữ ở nhà thờ Phú Cam Huế trước khi bị dẫn ra khỏi thành phố vào đầu tháng 2 năm 1968 và bị bắn chết dọc theo bờ lạch. Theo thông tin của cán binh địch đào ngũ Sư đoàn Bộ binh 101 (di động không kỵ) tìm thấy xác nạn nhân ngày 19 tháng 9, năm 1969. Nguồn : Nguyen, Huu Hien, 23 February 1969.


Là một người trẻ "được" nhận nền giáo dục tuyên truyền của chế độ cộng sản suốt 12 năm, tôi đã không được biết sự thật đẫm máu và quá đỗi đau thương đằng sau cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968 của cộng sản Bắc Việt, cho đến khi Internet phổ biến. Đọc những tài liệu nghiên cứu của các học giả Việt Nam và nước ngoài về cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, khiến tôi không thể kiềm nén được cảm xúc đau nhói và tức giận trước bản chất máu lạnh và khát máu của Việt Cộng, là những người Việt Nam, có cùng máu đỏ da vàng giống như tôi.
Đúng 50 năm về trước, Việt Nam Cộng Hòa và Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đồng ý ngừng bắn 36 giờ để toàn dân được đón Tết theo truyền thống dân tộc. Khốn nạn thay, cộng sản Bắc Việt đã phản bội bản ký kết với Việt Nam Cộng Hòa, dưới danh nghĩa Mặt trận Giải phóng miền Nam, đồng loạt tấn công vào 41 tỉnh, thành phố và hàng trăm thị xã miền Nam.
Theo nhiều nguồn tin thì sau khi cuộc tổng tiến công Huế kết thúc vào ngày 24 tháng 2 năm 1968, thì có khoảng 3.500 thường dân bị mất tích. Một số đã chết trong cuộc chiến và bị chôn vùi trong những đống đổ nát. Khi người dân Huế và quân đội Việt Nam Cộng Hòa bắt đầu dọn dẹp, thì họ đã bắt gặp một loạt các khu mộ chôn tập thể. Khoảng 150 xác chết đã được khai quật từ ngôi mộ đầu tiên, nhiều xác người cột chặt với nhau bằng dây thép và dây tre. Một số đã bị bắn chết, còn những người khác bị chôn sống.
Tác giả Buckley trong cuốn Fodor’s Exploring Vietnam đã nhận định rằng cuộc thảm sát 1968 ở Huế nhắm mục tiêu đến bất cứ ai có tình cảm dành cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bao gồm các nhân viên cứu trợ nước ngoài, thương nhân, nhà sư Phật giáo, linh mục Công giáo, trí thức, và một số người nước ngoài có quan hệ với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, đều bị Việt Cộng bắn chết, chặt đầu và vùi thây họ trong những hố chôn tập thể.
Robert Shaplen đã viết trong tờ New Yorker vào tháng 3 năm 1968 rằng :
"Không có gì mà tôi thấy trong chiến tranh Triều Tiên hoặc chiến tranh Việt Nam cho đến nay, là khủng khiếp về tàn phávà chết chóc tuyệt vọng, như những gì tôi đã thấy ở Huế. Khoảng 3/4 các ngôi nhà ở Huế bị tàn phá hoàn toàn hoặc bị hư hỏng nghiêm trọng bởi bom và pháo đạn, trong khi đó những xác người chết chồng lên nhau trong những hố chôn tập thể, đầu của người này chồng lên đầu của người khác".

Tạp chí TIME tường thuật cuộc thảm sát Mậu Thân vào tháng 10, năm 1969 như sau :
"Ban đầu, những người đàn ông không dám bước vào con suối", một trong những người tìm kiếm nhớ lại. "Nhưng vì mặt trời đã bắt đầu lặn nên cuối cùng chúng tôi buộc phải bước vào dòng nước lạnh, trong lúc thầm cầu nguyện mong người chết tha thứ cho chúng tôi". Ở lạch nước, nhóm tìm kiếm đã phát hiện khoảng 250 hộp sọ và hàng đống xương. Một người Mỹ có mặt tại hiện trường cho biết : "Những ổ mắt thủng sâu thẳm và đen, trong khi dòng nước chảy siết qua những bộ xương khô".
Vào ngày thứ năm của cuộc tiến công Mậu Thân, binh lính Cộng sản đã xuất hiện tại nhà thờ Phủ Cam, nơi mà những người dân Huế đang ẩn náu cùng gia đình và bắt họ đi. Những người Việt Cộng nói rằng họ bắt những người đàn ông đi để giáo dục tuyên truyền và sau đó sẽ cho họ về. Nhưng gia đình của những người đó đã không bao giờ nghe hoặc nhìn thấy họ thêm một lần nào nữa. Dưới chân núi Nam Hòa, mười dặm từ nhà thờ Phú Cam, những người bị bắt đi đã bị bắn chết hoặc bị đánh cho đến chết".
Reed Irvine, Chủ tịch của Accuracy in Media (Sự chính xác trong Truyền thông) cho biết :
"Hàng ngàn nạn nhân được chôn cất bí mật trong các ngôi mộ tập thể. Nhưng sự thiếu hiểu biết của nhiều người dân về cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 cho thấy Đảng cộng sản đã thành công trong việc giữ kín cuộc thảm sát Huế như một bí mật. Việc phát hiện ra các khu mộ tập thể đã thu hút được sự chú ý tối thiểu của các phương tiện truyền thông Hoa Kỳ, và cho đến năm 1985 cảnh quay các thi thể được khai quật đã được trình chiếu trên nhiều kênh truyền hình của chúng tôi".
Tổng kết từ nhiều nguồn khác nhau, ước tính rằng chỉ riêng ở Huế, Việt Cộng đã tàn sát ít nhất 5.700 người.Riêng đối với thiệt hại của quân đội cộng sản Bắc Việt, thì ít nhất 45 ngàn người thiệt mạng trong tổng số 84 ngàn quân.
"Hát trên những xác người" Việt Nam
Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam đớn hèn, câm miệng không tưởng niệm chính những liệt sĩ của chế độ đã thiệt mạng trong những trận chiến với Trung Quốc tại Hoàng Sa (1974), Trường Sa (1988) và chiến tranh biên giới Việt Trung (1979), thì nó lại khốn nạn và đê tiện tổ chức "Bản hùng ca Xuân Mậu Thân 1968". Nhà nước cộng sản đang phục vụ dân tộc Việt Nam hay chính quyền Trung Quốc ?
Đảng cộng sản tự bịt mồm, nhắm mắt, đùa cợt trước những oan hồn vẫn chưa được trả công bằng, để hớn hở tổ chức "Lễ kỉ niệm 50 năm cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968". Hành động này còn thua xa loài súc vật bởi vì những loại động vật này còn biết buồn khi đồng loại chết. Câu nói nổi tiếng của người khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản là Karl Max, mô tả đầy đủ sự khốn nạn và độc ác của chóp bu cộng sản Việt Nam : "Chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi đau đồng loại mà chăm chút bộ lông của mình".
Máu đổ xuống, không phải chỉ của những người miền Nam hiền lành, nhưngcòn của rất nhiều bộ đội miền Bắc, đã nhuộm đỏ đất và nước Việt Nam.Thay vì xét mình để tưởng niệm những tang thương mà cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 đã gây ra, thì Đảng cộng sản lại điên cuồng, xấc xược khuấy sâu nhát dao vào vết thương chưa khô máu. Sự kiện tắm máu dân tộc Việt Nam quá đau thương như thế này, là một "Bản hùng ca" đáng vui mừng đối với những chóp bu cộng sản hay sao ?
Ít nhất 45 ngàn binh lính của cộng sản Bắc Việt thiệt mạng trong cuộc tiến công Tết Mậu Thân 1968, chứng minh được sự thất bại hoàn toàn của Đảng cộng sản trong chiến dịch bất nhân này. Thay vì hàn gắn vết thương, tổ chức tưởng niệm những nạn nhân đã thiệt mạng của cả hai miền Nam Bắc, chóp bu cộng sản lại thách thức lương tri của những người yêu Lẽ Phải và Sự Thật, bằng những buổi văn nghệ, hát mừng trên những xác người.
Đúng lý và hợp tình hơn, Đảng cộng sản phải chủ động hòa giải với dân tộc Việt Nam, nghĩa là nhận lỗi về những tang thương đã gây ra, phục hồi danh dự và bồi thường thiệt hại cho tất cả các nạn nhân. Cũng dễ hiểu, bởi Đảng cộng sản luôn rất sợ và chống lại lập trường hòa giải dân tộc vì không có gì thỏa mãn nó bằng một đất nước chia rẽ và hận thù.
Thay lời kết
Cuộc thảm sát Tết Mậu Thân 1968 là một tội ác diệt chủng và cũng là một trong nhiều tội ác mà chế độ cộng sản đã gây ra cho dân tộc Việt Nam.
"Đảng Cộng Sản Việt Nam đã là một đại họa cho dân tộc ta. Nó đã là thủ phạm của cuộc nội chiến kéo dài ba mươi năm làm đất nước tan nát và nhiều triệu người thiệt mạng. Trong cơn mê cuồng áp đặt chủ nghĩa cộng sản nó cũng đã phạm những tội ác kinh khủng, tàn sát có chủ mưu hàng trăm ngàn người yêu nước hoặc vô tội".
Quá nhiều máu và nước mắt đã đổ ra nhân danh thứ chủ nghĩa cộng sản quái thai và Đảng cộng sản không xứng đáng cũng không đủ tư cách để tiếp tục độc quyền lãnh đạo dân tộc Việt Nam.Sự tồn tại của chế độ cộng sản cho đến nay là một thách đố vô cùng xấc xược đối vơi lương tri và danh dự của những người yêu mến đất Mẹ Việt Nam.Phải nhanh chóng thay thế chế độ độc tài toàn trị bằng dân chủ đa nguyên để hòa giải người Việt Nam với nhau,xóa bỏ hận thù, ngăn cách và chia rẽ.
"Để có dân chủ đa nguyên thực sự, điều chúng ta phải làm trước hết là xóa bỏ những hận thù do một quá khứ đẫm máu để lại và được một chính sách phân biệt đối xử nuôi dưỡng suốt thời gian qua.Hòa giải dân tộc là một bắt buộc của hoàn cảnh lịch sử. Có như thế chúng ta mới có thể chấp nhận nhau, nhận lỗi với nhau và tha lỗi cho nhau, để chung sống với nhau và bắt tay nhau xây dựng một tương lai chung. Còn nếu không đa nguyên cùng lắm chỉ có nghĩa là tạm thời chịu đựng lẫn nhau do một so sánh lực lượng chưa ngã ngũ. Đa nguyên mà không có hòa giải dân tộc như vậy chỉ là đa nguyên bệnh hoạn, chỉ chuẩn bị cho một sự thanh toán lẫn nhau".
Quan trọng hơn, phải hòa giải người Việt Nam với đất nước Việt Nam để phục hồi lòng yêu nước. Tổ quốc cần một kết hợp chính trị lương thiện, bao dung, và nhân ái để nối mọi bàn tay và mọi khối óc, cùng nhau xây dựng tương lai tươi sáng cho Việt Nam dựa trên lòng yêu nước.
Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên đã đề nghị giải pháp cho bài toán chính trị Việt Nam : phải có một lực lượng chính trị làm đối trọng với Đảng cộng sản. Lực lượng này chia sẽ đường lối và giải pháp chung cho cuộc cách mạng dân chủ, sẽ đóng vai trò vận động quần chúng tham gia vào phong trào bất tuân dân sự trên toàn quốc, tạo áp lực buộc Đảng cộng sản phải thực hiện hòa giải dân tộc và bầu cử tự do. Và cuộc bầu cử tự do, dưới sự giám sát chặt chẽ và công bằng của cộng đồng quốc tế, sẽ là tiền đề để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên.
Để có thể xây dựng được đối trọng mạnh với Đảng cộng sản cần phải có sự tham gia và ủng hộ của những trí thức yêu nước, không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp, giới tính và địa lý.
Hãy dũng cảm tham gia cuộc cách mạng dân chủ vì mục tiêu của nó là tự do và hạnh phúc cho cả những người xa lạ và cho chính con cháu của chúng ta. Dân tộc Việt Nam xứng đáng được hưởng nhân quyền và hạnh phúc như các dân tộc khác trên thế giới. Con cháu của bạn và tôi xứng đáng được hưởng một nền giáo dục nhân bản và khai phóng cũng như sống trong một môi trường sạch sẽ và lành mạnh.
Muốn được như thế, hãy đừng vô cảm, đừng buông tay, và hãy nhanh chóng quyết định : tham gia Tập Hợp !
Mai V. Phạm
Thành viên Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên
"Đa nguyên – Bất bạo động – Hòa giải & Hòa hợp Dân tộc"
Tham khảo :
https://www.vietnam.ttu.edu/exhibits/Tet68/aftermath.php

Ông Nguyễn Đắc Xuân: Nên tưởng niệm tất cả nạn nhân Huế

Nguyễn Đắc Xuân
Image captionÔng Nguyễn Đắc Xuân là Ủy viên Liên Minh Các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình, hoạt động trên địa bàn từ Cửa Đông Ba tới Cửa Thượng Tứ thuộc Thành Nội trong thời gian xảy ra cuộc chiến Tết Mậu Thân tại Huế

Trong trận Tết Mậu Thân, Huế là nơi duy nhất đã vừa "tấn công" vừa "nổi dậy", và chiến trường này chính là lý do chủ chốt dẫn tới việc kết thúc Chiến tranh Việt Nam sau đó bảy năm, sử gia Nguyễn Đắc Xuân nói với BBC.

Tuy nhiên, đây cũng sự kiện đẩy lực lượng Việt Cộng vào tình thế khốn cùng nhất, khó khăn nhất trong suốt hai cuộc chiến ở Việt Nam, cựu ủy viên Mặt trận Liên minh của phe Cộng sản trong cuộc tấn công vào Huế, thừa nhận.

Yếu tố bất ngờ

Đêm 30 rạng sáng 31/1/1968, pháo binh Bắc Việt đồng loạt công phá thành phố, mở màn cho cuộc tấn công vào Huế.

Phe cộng sản nhanh chóng kiểm soát được hầu hết thành phố.

Tết Mậu Thân: 'Những bộ hài cốt Khe Đá Mài'

Ý kiến về lễ kỷ niệm 50 năm Mậu Thân 'rầm rộ'

Phía sau những tấm ảnh Mậu Thân

Mậu Thân: 'Cái chết ám ảnh' trước Dinh Độc Lập

Tình hình ở khu vực phía bắc thành phố Huế sớm trở nên êm ả trong những ngày đầu, ông Nguyễn Đắc Xuân nhớ lại.

Keystone/Hulton Archive/Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionMột lính thủy quân lục chiến Mỹ trong giao tranh giành lại Huế

"Ngày 31/1/1968, tôi về Huế. Ba bốn ngày đầu không thấy bom đạn gì cả. Tôi ngỡ Mỹ và Mặt trận Giải phóng đã thương thuyết với nhau nên không có chiến đấu gì trong mấy ngày đó."

"Đó là dịp Tết, hưu chiến. Chỉ có một số điểm quân sự, như ở mấy cửa thành, thì có đội giữ cửa thành."

"Nhưng Mặt trận Giải phóng đã có nội tuyến ở trong thành. Tới giờ G, toàn bộ các chốt ở những cửa thành đó, đặc biệt là cửa hữu và cửa phía tây, bị thanh toán ngay. Đội quân đi vào rất dễ dàng."

"Mỹ và quân đội Việt Nam Cộng hòa bị bất ngờ. Dân chúng Huế cũng vậy. Dân chúng Huế tới sáng mai ngủ dậy thấy chúng tôi đi đầy trong thành phố, chỗ nào cũng có mặt."

Tuy nhiên, vẫn có một số địa điểm quan trọng mà phía Cộng sản không kiểm soát được, như Đồn Mang Cá, sân bay Tây Lộc ở phía bắc thành phố, hay khu phái bộ cố vấn Mỹ.

Cuộc chiến thực sự ở khu vực phía bắc thành phố, nơi có khu di tích Cố đô, chỉ "nổ ra sau đó chừng 5, 6 ngày", ông Nguyễn Đắc Xuân kể lại.

Ở phía nam thành phố, bên bờ nam Sông Hương, cuộc giao tranh nổ ra sớm hơn, bởi có "sân bay Phú Bài và những cơ quan quân sự đóng ở đó."

Phản kích khốc liệt

Terry Fincher/Express/Getty ImagesBản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionLính thủy quân lục chiến Mỹ tại Huế, 23/2/1968

Trong thời gian giao tranh kéo dài tới cuối tháng 2/1968, đã có lúc phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa như phải đối diện với một đối thủ vô hình.

Lúc ban đầu, phía Việt Cộng áp dụng chiến thuật lẫn vào trong dân, khiến "Mỹ không biết lực lượng là bao nhiêu".

"Mặt trận Giải phóng không dàn quân. Đánh là đánh bí mật, giấu quân chứ không đứng hàng ngang tiến lên," ông Xuân nói.

1968: Mồ tập thể đầu tiên bên Sông Hương

Huế 1968: 'Trận đẫm máu trong cuộc chiến Việt Nam'

Trận Mậu Thân 1968 qua nguồn từ điển

Phong trào phản chiến Mỹ sau Tết Mậu Thân

Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

Tuy nhiên, sau khi bị lộ diện, quân Cộng sản đã bị hỏa lực đối phương tấn công dữ dội.

"Tàu chiến từ dưới Sông Hương bắn lên, pháo từ Hạm đội 7 bắn vào. 80% Thành phố Huế tan nát do bom đạn từ xa dội xuống," ông Xuân nói.

"Mặt trận Giải phóng không thể đỡ nổi. Thiệt hại vô cùng lớn."

"Họ xả súng, thả bom nhiều lần. Lúc chúng tôi từ dưới hầm đi lên, cảm giác như mình đứng giữa cung trăng, tan nát hết."

"Có những tiểu đoàn phải tăng quân ba, bốn lần, mỗi lần 400 người. Vậy mà cuối cùng, khi rút ra chỉ còn có 7, 8 người hoặc vài chục người thôi."

"Sự phản kích của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đẩy lực lượng giải phóng, đẩy chúng tôi vào chỗ khó khăn nhất trong hai cuộc chiến tranh Việt Nam."

Thời điểm khốc liệt nhất cho lực lượng Cộng sản trong cuộc chiến tại Huế là "khi rút ra khỏi thành phố", theo ông Nguyễn Đắc Xuân. Tuy nhiên, sự khó khăn tiếp tục kéo dài sau đó, "suốt năm 1968".

"Lên trên rừng hết sức khó khăn. Gạo, cơm không có. Không có thức ăn, phải ăn rau rừng. Nhà cửa lúc xưa tưởng là về rồi, nên có những chỗ đốt trại, bây giờ phải lên xây dựng lại."

"Đôi khi phải chạy qua biên giới Lào, đường 559, để xin gạo từ ngoài Bắc chở vào trên đường 559. Cuộc chiến tranh chưa bao giờ khó khăn đến thế."

"Đau ốm, chết người. Nếu không được dân chúng bao bọc, không được dân chúng dẫn đường, che chở, thì lực lượng Giải phóng đã chết hết."

"Tấn công" và "Nổi dậy" ở HuếBắc Việt quyết định mở chiến dịch trên toàn bộ Nam Việt Nam vào thời điểm Tết Mậu Thân 1968, với mục tiêu đánh một đòn chí tử cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

"'Tấn công' là lực lượng quân đội từ bên ngoài vào. 'Nổi dậy' là quần chúng nổi dậy để giúp đỡ cho Mặt trận," ông Nguyễn Đắc Xuân giải thích.

"Nếu chỉ có quân đội tấn công vô một thành phố thì không thể thành công được. Muốn làm việc đó là phải có sự ủng hộ của dân chúng."

'The Vietnam War’ và khi Đồng Minh tháo chạy

USS Hue City: Chiến hạm Mỹ mang tên TP Huế

Vietnam War: 'Cuộc chiến day dứt tất cả chúng tôi'

Nhìn lại cuộc chiến tại Huế, ông Xuân nói rằng Huế là nơi duy nhất đã đạt được cả hai mục tiêu "tấn công" và "nổi dậy".

"Sở dĩ Huế giữ được hai mấy ngày đó là nhờ sự đóng góp của dân chúng. Ở những chỗ khác, nếu không được dân chúng ủng hộ thì thiệt hại 100%."

"Tinh thần tấn công và nổi dậy là ở toàn quốc, nhưng tổ chức nổi dậy có được hay là không, thì chỉ có Huế thôi. Các nơi khác không nơi nào kéo dài được quá vài ngày, kể cả ở Sài Gòn."

"Ở Huế, dù cho thiệt hại rất nặng, nhưng cuộc chiến tạo một bước để cho Mỹ phải thay đổi chiến lược, từ bỏ ý định giải quyết chiến tranh bằng quân đội, bằng chiến tranh, và trở lại với con đường hòa bình, thương lượng, và để Mỹ ra đi."

"Nhờ đó mà có chuyện ngưng thả bom miền Bắc, rồi đàm phán Hiệp định Paris, từ đó rồi Mỹ rút quân, sau đó mới có kết quả năm 1975."

Thảm sát ở Huế?

Phía cộng sản trong thời gian kiểm soát Huế cũng đã lập chính quyền cách mạng tại thành phố, "với tinh thần là chiếm thành phố Huế luôn," ông Nguyễn Đắc Xuân nói.

Sau khi họ rút đi, phía Mỹ và Việt Nam Cộng hòa nói đã phát hiện được nhiều mồ chôn tập thể tại Huế.

"Chính quyền cách mạng" bị cáo buộc đã tổ chức, thực hiện những vụ thảm sát.

Đây là vấn đề đã được các nhân chứng từ phía VNCH nêu ra ngay sau trận Mậu Thân, và sử gia nước ngoài đã viết sau cuộc chiến Việt Nam.

Tết Mậu Thân: sỹ quan Ba Lan gặp ai ở Sài Gòn?

Nhân chứng Tết Mậu Thân 1968

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Bà Hạnh Nhơn 'trọn đời giúp thương phế binh VNCH'

Ông Nguyễn Đắc Xuân nay phản bác lại cáo buộc này:

"Sau khi chúng tôi rút chạy sang bên Lào, lực lượng của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã đào bới lên tất cả những xác chết, những hầm chôn người. Họ nói là mấy ngàn người, một con số lớn. Họ nói rằng đó là những đồng bào Huế bị Mặt trận Giải phóng giết."

"Nhưng mà khi tôi đi thực tế và theo tôi hiểu, thì chôn tập thể là bởi khi đó việc chôn một người đã là khó rồi. Cho nên có những hố bom đào lên, hay có cái gì đó có thể chôn được thì tất cả những người chết được cho xuống đó hết."

"Ít nhất 5, 6 ngàn người lính Giải phóng chết tại Huế, có người nào được đem xác ra ngoài đâu?"

"Có người nào được đem xác ra ngoài đâu?' ông Xuân lặp lại. "Chôn tại chỗ hết."

"Việc cho rằng đó là những người do Mặt trận Giải phóng giết là không công bằng."

"Phạm nhiều sai lầm"

Tuy nhiên, ông Nguyễn Đắc Xuân thừa nhận đã có "nhiều sai lầm" xảy ra trong cuộc chiến, và trên thực tế việc giết lầm là có thật.

"Bởi thông tin, bởi trình độ, nên có nhiều người bị oan."

"Trong cuộc chiến tranh đó, lực lượng hai bên có phạm nhiều sai lầm."

"Trình độ những người lính Giải phóng phần lớn là những người nông dân mới ngoài 20 tuổi, đi vô trong một thành phố như thế này, họ đâu hiểu hết thành phố đó như thế nào."

Những người bị giết oan tại Huế không chỉ gồm người Việt, mà còn cả người nước ngoài, ông Xuân xác nhận.

Huế ngày 13/3/1968Bản quyền hình ảnhGETTY IMAGES
Image captionHuế ngày 13/3/1968

"Những người lính đâu có phân biệt được giữa người Mỹ với người Pháp hay người Đức?"

"Họ thấy người phương Tây là cho rằng là người Mỹ hết. Và bởi trong chiến tranh, nên khi cho là Mỹ là họ bắn thôi."

"Đã xảy ra việc các giáo sư người Đức, người đã làm nên Đại học Y khoa hiện nay... bị những người lính Giải phóng tưởng là người Mỹ, nên bắn chết hết."

Quan điểm trên cũng được một cựu chỉ huy Cộng sản nêu ra.

Cách đây 30 năm, tư lệnh chiến dịch Mậu Thân tại Huế, Lê Minh từng nói "trong chiến tranh, không thể nào không sai lầm", ông Nguyễn Đắc Xuân nhớ lại.

"Năm 1988, tôi giúp Thành Ủy Huế làm một quyển sách về Huế Mậu Thân 1968. Khi đó, ông Lê Minh, người chỉ huy hồi 1968 đó đã yêu cầu những người cách mạng bây giờ là phải tổ chức minh oan cho những người đã chết. Rất tiếc, đến giờ này, chưa ai làm việc minh oan này cả."

"Việc đã 50 năm rồi, phải làm phần trách nhiệm đó. Có được chiến thắng rồi, thì trách nhiệm của những người đang lãnh đạo chính quyền là phải tổ chức minh oan cho những người đó."

"Nhiều người bị oan, không phải của một phía, những người của hai ba phía chứ không phải một phía."

"Cũng phải giải tỏa. Hàng năm cần lấy ngày Tết Mậu Thân để tưởng nhớ đến những người đã chết, giống như ngày 23/5, là ngày thất thủ kinh đô hồi 90 năm trước, năm 1885, khi Vua Hàm Nghi xuất bôn."

"Huế cần kỷ niệm ngày 23/5, là ngày thất thủ kinh đô, và ngày Tết Mậu Thân, vốn đã đưa đến chiến thắng chấm dứt chiến tranh Việt Nam."

"Tôi thấy rằng phải làm tượng đài. Người dân Huế dù cho họ thuộc Việt Nam Cộng hòa hay theo cách mạng, hay không theo bên nào, nếu họ đã chết cho cuộc chiến thắng này thì phải tưởng niệm họ."

"Phải có trai đàn chẩn tế để thanh minh, giải oan cho những người bị uất ức, những người đã làm nên chiến thắng này."

Ông Nguyễn Đắc Xuân là Ủy viên Liên Minh Các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình, hoạt động trên địa bàn từ Cửa Đông Ba tới Cửa Thượng Tứ thuộc Thành Nội trong thời gian xảy ra cuộc chiến Tết Mậu Thân tại Huế. Cuộc phỏng vấn do BBC thực hiện 1/2018.


50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của cựu Đại Uý Võ Đại Lợi ...

https://www.youtube.com/watch?v=-TOt0b6tFyI
3 days ago - Uploaded by Hannah Van Tran
50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của cựu Đại Uý Võ Đại Lợi thuộc tiểu khu Thừa Thiên Published o­n Feb 7, 2018 Nhân dịp 50 ...

50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của người vợ sĩ quan pháo ...

https://www.youtube.com/watch?v=3FCHMP3HcB0
1 day ago - Uploaded by Hannah Van Tran
50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của người vợ sĩ quan pháo binh VNCH - bà Lý Hoa Published o­n Feb 9, 2018 ại ...

50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của ông Nguyễn Văn Kha ...

https://www.youtube.com/watch?v=ls2rXKaw7VY
12 hours ago - Uploaded by Hannah Van Tran
50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của ông Nguyễn Văn Kha Published o­n Feb 10, 2018. Đánh dấu 50 năm biến ...

50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của người vợ sĩ quan pháo ...

https://www.youtube.com/watch?v=6QjXOndP0s4
13 hours ago - Uploaded by Môt Đời Để Nhớ
50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của người vợ sĩ quan pháo binh VNCH - bà Lý Hoa Published o­n Feb 9, 2018 ại ...

Huế, Tôi và Mậu Thân (*) - Nguoi Viet o­nline

https://www.nguoi-viet.com/dien-dan/hue-toi-va-mau/
4 days ago
Máu của tôi, của anh em tôi, của đồng bào tôi đã tạo thành một cơn sóng thầncuốn đi tất cả kẻ thù để dựng lại ngọn cờ trên Kỳ Ðài ...

50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của ông Lê Văn Khương ...

https://www.youtube.com/watch?v=XT0yLqDVWnc
3 days ago - Uploaded by Môt Đời Để Nhớ
50 năm biến cố Mậu Thân 1968 qua lời kể của ông Lê Văn Khương - Nguyên Trung Tá vùng 1 chiến thuật. Published o­n ...