Một người mở đầu cách tân thơ Mới ngang hàng với “Tình già” (Phan Khôi) bị giới phê bình “đánh đập” cho “lên bờ xuống ruộng”, nhưng vẫn “gan lỳ” theo đuổi đến tận cuối đời. Người đương thời từng lập ra nhiều tờ báo tư nhân nhất, bị đóng cửa, đình bản nhiều nhất, và cũng bị tù, bị phạt nhiều nhất vì đả phá chính sách cai trị của Pháp, Nhật, chính quyền Bảo Đại… Nhưng kể cả hai cuốn sách mang tính “hồi ký” dày cả ngàn trang của ông, là “Văn thi sĩ tiền chiến” và “Tuấn, chàng trai nước Việt” (cùng in ở Sài Gòn năm 1970, sau này đều đã tái bản) tác giả cũng chỉ chủ ý vào lý tưởng tranh đấu cho tự do bác ái và đời sống sáng tạo văn nghệ.

Nên chuyến về thăm Quảng Ngãi quê cha đất tổ lần đầu tiên sau bao nhiêu năm sống ở hải ngoại của con cháu Nguyễn Vỹ, và đặc biệt là cuộc hội thảo lần đầu tiên về ông được tổ chức tại Quảng Ngãi là dịp may hiếm có. Hội thảo “Nguyễn Vỹ - Cuộc đời và sự nghiệp” do Hội VHNT Quảng Ngãi phối hợp với Đại học KHXH&NV TP Hồ Chí Minh tổ chức tại Quảng Ngãi ngày 30/10/2017.

Hôm ấy Quảng Ngãi bên ngoài mưa như trút nước. Áp thấp đang chuyển thành bão. Bên trong hội trường, khi ban tổ chức mời thay mặt gia đình lên phát biểu, bà Nguyễn Thị Diệu Phương, con gái ông Nguyễn Vỹ mắt nhòa đi vì xúc động. Cùng anh trai sang Pháp học từ nhỏ, hơn nửa thế kỷ nay mới cùng chồng người Pháp ông Dominique Coulot lần đầu về lại quê cha, bà nghẹn lời thốt lên bằng tiếng Việt “Vậy là tại đây, hôm nay, ba tôi đã được sống lại đời sống thứ nhì…”.

Còn đời sống thực, đời sống thứ nhất của Nguyễn Vỹ? Là tình nhân say đắm của thi ca, là kẻ sĩ suốt đời dấn thân và hành động, những điều này hẳn nhiều người đã biết. Chỉ biết rằng trong đời sống sáng tạo thi ca thế kỷ 20, hiếm có nhà thơ nào bị giới văn chương, phê bình “tấn công” nhiều như trường hợp Nguyễn Vỹ. Từ Hoàng Đạo, Nhất Linh, Thế Lữ, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh, Hoài Chân, kể cả Phan Khôi, Tô Hoài… đều tỏ ra “khó chịu”, cho rằng thơ ông chỉ là “trò quỷ thuật”. Để lại một cái “án thơ” mà đến nay nhiều người vẫn còn cảm thấy áy náy. Bởi ngay từ “Tập thơ đầu” (in năm 1934, khi mới 22 tuổi), Nguyễn Vỹ đã cách tân thơ quá mạnh, mở ra “trường thơ Bạch Nga”, thơ thị giác, lối thơ “12 chân”, rồi làm thơ bằng cả chữ Tây lẫn ta…   

Kịch liệt “chê” thơ cách tân Nguyễn Vỹ, nhưng “Thi nhân Việt Nam” của Hoài Thanh-Hoài Chân đã phải đề cao bài “Sương rơi”, và thừa nhận  “Gửi Trương Tửu” là một “kiệt tác”.

“…Bây giờ thời thế vẫn thấy khó/ Nhà văn An-nam khổ như chó!/ Mỗi lần cầm bút viết văn chương/ Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương/ Rồi nhìn chúng mình hì hục viết/ Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết/ Mà thương cho tôi, thương cho anh/ Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh!…”. Nhà thơ Bàng Bá Lân đúc kết: “Nguyễn Vỹ là nhà thơ có cảm tình với chó nhiều nhất, và lần nào anh đưa con vật đó vào thơ cũng đều xúc cảm được người đọc”.

Tác giả 'Nhà văn An-nam khổ như chó' cuộc đời thực ra sao?  - ảnh 1Nhà văn Nguyễn Vỹ cùng 3 người con tại Saigon năm 1965. Ảnh tư liệu: Bạch Ngọc Anh.

Chiều 30 Tết năm 1940, vì viết sách báo chống Nhật, Nguyễn Vỹ bị quân đội Nhật bắt giam trong hầm kín tại Sở Hiến binh Kampetai (Hà Nội) cùng 3 người khác, mãi cho đến 1945 mới được thả tự do. Giao thừa năm 1942, trong tầng hầm nhà giam ẩm thấp, chật chội như chuồng chó, Nguyễn Vỹ đã cảm tác viết bài thơ “Hai con chó”. Khi bên ngoài “Hà Nội đón mừng xuân Nhâm Ngọ/ Pháo nổ tưng bừng, đèn sáng tỏ”, thì bên trong “Chuồng ngục tối om kìa bốn xó/ Bốn thằng bơ vơ như bốn chó/ Chẳng được nói năng, chẳng được cười/ Hai chân chồm hỗm ngồi co ró…”. Rồi bên ngoài song sắt, cả con chó Nhật cũng bị lính Nhật đá văng “chó Nhật ăng ẳng chạy gần đó/ Rồi tôi nhìn nó, nó nhìn tôi/ Thông cảm cùng nhau hai đứa chó!”. 

Con chó còn xuất hiện nhiều lần trong thơ Nguyễn Vỹ, và đều chất chứa sự đồng cảm về thân phận bị áp bức, cùng khổ.

Với “Gửi Trương Tửu”, Nguyễn Vỹ đã không “Nhớ nhau vảy bút làm mưa gió/Cho đống xương đời được nở hương” như Trần Huyền Trân. Mà kêu gọi “Múa bút tung gươm hả một phen?/ Cho bõ căm hờn cái xã hội/ Mà anh thường kêu mục, nát, thối?/ Cho người làm ruộng, kẻ làm công/ Ðều được an vui hớn hở lòng?”. Bài thơ này in lần đầu trên báo “Phụ nữ” khoảng đầu những năm 1930 tại Hà Nội thời đó đã bị kiểm duyệt cắt bỏ 14 câu. Là những vần thơ mạnh, khí khái “Quét sạch quân thù trên đất nước/Để cho toàn thể dân Việt Nam/Đều được tự do muôn muôn năm/ Để cho muôn muôn đời dân tộc/ Hết đói rét lầm than tang tóc...”.                                       

*

Tại hội thảo Nguyễn Vỹ, lần đầu tiên mọi người được thấy những bức ảnh khác về Nguyễn Vỹ. Là bộ ảnh trắng đen gần 40 tấm khổ lớn được người cháu rể là nghệ sĩ nhiếp ảnh Bạch Ngọc Anh khôi phục lại từ những tấm ảnh nhỏ cỡ 6x9 âm thầm lưu trữ trong album gia đình suốt hơn nửa thế kỷ qua. Nhìn Nguyễn Vỹ ăn vận lịch lãm tươi cười mãn nguyện bên vợ con, ít ai nghĩ ông nghèo!

Nhưng Nguyễn Vỹ nghèo, dẫu ông có những người vợ giỏi giang, thành đạt. Nghèo, bởi ông luôn cho đi, luôn chia sẻ với tấm tình ấm áp.     

Tác giả 'Nhà văn An-nam khổ như chó' cuộc đời thực ra sao?  - ảnh 2Vợ chồng con gái nhà văn Nguyễn Vỹ cùng người thân thắp hương đảnh lễ tại nhà thờ họ Nguyễn – nơi thờ ông Nguyễn Vỹ cùng với ông bà tổ tiên. Ảnh tư liệu: Bạch Ngọc Anh.

Nghèo, từ thời ở Hà Nội, như ông kể trong “Văn thi sĩ tiền chiến”: “Nhiều tháng chúng tôi không có tiền... Có lần tôi được nhuận bút 10 đồng, Trương Tửu lấy 4 đồng đi uống rượu đế và ăn thịt chó, Vũ Trang lấy 4 đồng đi Nam Định để biểu diễn thôi miên”. Chiều 30 Tết năm 1936, “vạn bất đắc dĩ” Nguyễn Vỹ phải viết thư tay hỏi vay Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) 5 đồng, vì biết “trong làng văn hôm nay chỉ có ông có tiền”, dù lúc đó hai người còn chưa…quen biết nhau! Nhận được 5 đồng từ Nhất Linh, Nguyễn Vỹ cảm động “Tôi không biết cách nào trả ơn ông Nhất Linh: Tôi đưa tấm bạc rách lên môi, hôn nó”. Nhưng rồi 5 đồng bạc ấy Nguyễn Vỹ cũng trao lại cho chàng thi sĩ “con Nai vàng” Lưu Trọng Lư, để rồi không có tiền tiêu Tết. Nằm bẹp, đến chiều mùng 2 Tết Trương Tửu mới đem đến cho hai chiếc bánh chưng! Hai mươi năm sau, gặp nhau ở Sài Gòn, Nguyễn Vỹ đã trả Nhất Linh 5 đồng còn thiếu nợ từ thời tiền chiến. Nhất Linh đã đem 5 đồng ấy mua rượu uống để “kỷ niệm một giai thoại”.

Nhà văn An-nam thời ấy khổ, nghèo nhưng không hèn. “Đời sống vật chất của làng văn, làng thơ Hà Nội hồi tiền chiến, thật không xán lạn tý nào… Tuy đa số đều nghèo, và khổ, nhưng tất cả đều có một thái độ hiên ngang, một khí phách ngông nghênh, bất chấp những phù trầm của số kiếp” (Văn thi sĩ tiền chiến).

“Nghèo hay giàu, mùa Xuân vẫn là một ân huệ thiêng liêng của Thượng đế. Chúng ta không có quyền từ chối nó, phải không Trương Tửu?”.

Nguyễn Vỹ

Năm 1945 vào Sài Gòn, nhà có bao nhiêu tiền Nguyễn Vỹ đều đem ra làm báo. Tờ này bị đình bản, đóng cửa lại ra tờ khác. Tuần báo “Thằng Bờm” chuyên “Hướng dẫn, giáo dục thiếu nhi Việt Nam”, trong số đặc biệt năm 1971 tưởng niệm sự ra đi của người sáng lập và điều hành Nguyễn Vỹ, tác giả An Khê viết: “Đã tuổi 63 anh còn hoạt động rất hăng, chủ trương ba tờ vừa nhật báo vừa tuần san, cắm cổ viết bài mãi để rồi không có một ngôi nhà, không một chiếc xe đi. Anh chết vì đi xe đò…”. Nguyễn Vỹ chết trong một tai nạn giao thông khi đi xe đò, chứ không phải xe hơi (tự lái) như tiểu sử lâu nay nhiều chỗ vẫn viết. Vợ con ở Đà Lạt, mình ông ở trọ Sài Gòn làm báo. Bữa ăn quen thuộc của ông Chủ nhiệm báo Nguyễn Vỹ là “một khúc bánh mì thịt mua ngoài xe hoặc một bữa dĩa cơm lao động”, vừa ăn vừa ngồi viết.

Túng thiếu, nhưng Nguyễn Vỹ kiên quyết từ chối nhận giải nhất Giải thưởng Văn chương toàn quốc của Tổng thống Ngô Đình Diệm cho bộ tiểu thuyết “Hai thiêng liêng” (1957) hiện kim lên tới 60 ngàn đồng.

Và nhuận bút vẫn trả cực kỳ đúng hẹn. Nhà thơ Tần Hoài Dạ Vũ (Nguyễn Văn Bổn) hiện đang là thành viên Hội đồng Đại học Duy Tân (Đà Nẵng) kể lại chỉ một tuần sau khi truyện ngắn “Gió khuya ngoài phố” của mình được đăng trên bán nguyệt san Phổ Thông năm 1963, đã được nhận 300 đồng nhuận bút. Số tiền đủ cho một tháng cơm trọ của cậu học sinh 17 tuổi xa nhà. Kèm theo là thư cám ơn của chính Nguyễn Vỹ ký tên. Năm 1969, nhân chuyến vào Sài Gòn đến thăm tòa soạn, chàng sinh viên xứ Quảng được đích thân Nguyễn Vỹ ân cần tiếp chuyện gần gũi, chân tình.

Người trong gia đình Nguyễn Vỹ kể, làm báo được đồng nào ông đều trợ cấp cho những học sinh, sinh viên nghèo. Mỗi mùa mưa bão miền Trung, ông lại cùng bạn trẻ ở các Thi văn đoàn Thằng Bờm đi huy động quyên góp từng lon gạo, từng chiếc áo cũ để mang về trợ giúp bà con miền Trung. Tại hội thảo, nhiều người chú ý tới bức hình chụp một tấm biển gắn lên tường nhà, ghi dòng chữ “Nhà hảo tâm Nguyễn Vỹ - báo Dân Chủ, Đà Lạt”. Ông Bạch Ngọc Anh giải thích, đó là một trong những nhà dân nghèo được ông Vỹ tặng nhà, đã gắn những dòng chữ trên trước cửa, để ghi ơn…

 *

Đời sống tình cảm của Nguyễn Vỹ là một “chương” đặc sắc và cũng rất đặc biệt trong cuộc đời ông. Người đời đồn rằng thi sĩ Nguyễn Vỹ có đến… 8 người “nâng khăn sửa túi”, nhưng chưa mấy ai tường hết câu chuyện. Tìm hiểu từ người thân, được biết người vợ đầu ông Nguyễn Vỹ là bà Trần Thị Dần, Hiệu trưởng trường Mẫu giáo Trí Hương (tại số 2 Cường Để, nay là đường Nguyễn Văn Cừ, Đà Lạt). Bà Dần sinh với ông Vỹ một người con gái là Nguyễn Thị Diệu Hạnh, được đưa sang Pháp học từ nhỏ, hiện định cư tại Úc.

Tác giả 'Nhà văn An-nam khổ như chó' cuộc đời thực ra sao?  - ảnh 3Bà Diệu Phương - con gái nhà văn Nguyễn Vỹ với tác giả bài viết. Ảnh: Lê Văn Chương.

Trước khi có Diệu Hạnh, bà Dần cũng đôi lần sinh nở nhưng không thành. Trong những lần đưa vợ đến nhà bảo sanh Trương Thị Lập (ở số 17 Phan Đình Phùng, Đà Lạt), Nguyễn Vỹ gặp người chủ nhà hộ sinh đoan trang, hiền hậu. Trái tim thi sĩ hay là duyên mệnh cột buộc sao đó, để rồi bà Trương Thị Lập sau này trở thành người vợ thứ hai của ông. Bà Lập sinh hạ cho Nguyễn Vỹ được hai người con, là ông Nguyễn Trí Thiện và bà Nguyễn Thị Diệu Phương. Cả hai cũng đều được du học tại Pháp từ nhỏ, sau này ông Thiện ở Thụy Sĩ, bà Phương ở Pháp cùng theo nghề Y khoa trở thành những bác sĩ chữa bệnh, dạy học, có cuộc sống hạnh phúc, con cái đề huề.

Sau này, ông Nguyễn Vỹ có con riêng với một phụ nữ khác là bà Phan Thị Thu Mai -  Thư ký tòa soạn “Thằng Bờm”. Cậu con trai khôi ngô của hai người không may mất sớm khi tuổi còn thiếu niên. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Bạch Ngọc Anh với những gì được chứng kiến và nghe gia đình kể lại, đã lý giải về những mối tình của cậu Nguyễn Vỹ. Rằng ông suốt ngày chỉ suy nghĩ và viết, thời gian để ăn uống bình thường còn không có, nói gì đến việc “tán tỉnh yêu đương”!. Nhưng bởi ông là người quá tài hoa, hào hiệp, lại chu đáo ân tình, nên “các bà theo nhiều”. Chuyến đi cuối cùng của ông là về Cần Thơ thăm một người bạn. Trên đường về ghé Bến Tre thăm một người bạn thân thiết nữa là ông Đạo Dừa (Nguyễn Thành Nam), chụp ảnh chung kỷ niệm. Khi về tới địa phận Long An thì bị tai nạn. Đó là ngày 4/2/1971.

Tác giả 'Nhà văn An-nam khổ như chó' cuộc đời thực ra sao?  - ảnh 4
Tác giả 'Nhà văn An-nam khổ như chó' cuộc đời thực ra sao?  - ảnh 5Ðông đảo HSSV tiếc thương tiễn đưa nhà văn Nguyễn Vỹ về nơi an nghỉ cuối cùng. Ảnh tư liệu: Bạch Ngọc Anh.

Tang lễ nhà văn Nguyễn Vỹ được tổ chức tại chùa Xá Lợi (Sài Gòn). Những tấm hình ghi lại cảnh đưa tiễn nhà văn, ngoài giới văn nhân là từng đoàn dài sinh viên, học sinh xếp xếp hàng cúi đầu thương tiếc. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Năm 1983, nghĩa trang di dời để làm công viên Lê Văn Tám, di cốt nhà văn được hỏa táng đưa về chùa Giác Ngạn.

Đám tang cha, vì hoàn cảnh những người con không về được. Nhưng trò chuyện với bà Diệu Phương, mỗi lần nhắc đến cha là bà lại nấc nghẹn một niềm yêu kính, tự hào. Bà kể về những cuốn sách của cha mà anh em bà mang theo khi rời xa đất nước từ khi còn nhỏ. Rồi những tác phẩm mới mà cha gửi sang từ Việt Nam. Như cuốn “Văn thi sĩ tiền chiến” khi vừa in xong, đã lưu lại bút tích Nguyễn Vỹ “Trao về Nguyễn Trí Thiện (Genève) con trai yêu quý của Ba” chỉ ít ngày trước khi ông mất… Bà Phương bảo, đó là những báu vật mà dù thế nào anh em bà cũng không thể rời xa…

Cảm động chuyến vượt gió mưa của các con cháu nhà văn Nguyễn Vỹ lần đầu tiên tìm về lại Tân Phong, xã Phổ Phong, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi – nơi chôn nhau cắt rốn của ông để thắp hương, thăm mồ mả tổ tiên ông bà. Gặp lại ông Nguyễn Toại, 95 tuổi, là bậc chú trong họ của nhà văn Nguyễn Vỹ, ông Nguyễn Văn Sáu (Sáu xe lửa,  gọi ông Nguyễn Vỹ bằng bác… Sát bên cạnh nhà thờ họ Nguyễn ở Phổ Phong là Nhà lưu niệm Nguyễn Nghiêm - Bí thư Tỉnh ủy đầu tiên của Quảng Ngãi, bị Pháp xử chém bên sông Trà tháng 4/1931. Ông Nguyễn Nghiêm là anh con bác ruột của nhà văn Nguyễn Vỹ…  

Thơ và Con Người Nguyễn Vỹ

 THU NHI
           Bài Nói tại Trung Tâm Văn Bút V.N. Hải Ngoại tại Quận Cam ngày 20.3.1994.

Tiếp tục loạt bài các nhà thơ miền Nam V.N. 1954-1975. Trong các số trước đã nói về Tuệ Sỹ, Tạ Ký, Thế Viên, Huy Tưởng (số 73); Đinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, Viên Linh (số 74); Vương Đức Lệ (số 78).


    Nhà thơ Nguyễn Vỹ
    (1909-1971) (1)

Nguyền Vỹ sinh năm Kỷ Dậu 1909 tại Quảng Ngãi, là con thứ năm trong một gia đình chín anh chị em. Thân phụ ông làm tri huyện. Thuở thiếu thời ông theo học trường Tiểu học Quảng Ngãi. Cuối niên khóa 1923-1924 đậu xong bằng Tiểu học ông vào học trường Trung học Qui Nhơn là một trong chín trường Trung học trong toàn quốc lúc bấy giờ.

Là một học sinh dở Toán nhưng giỏi Văn chương lại gặp ông Hồng Tiêu em ông Nguyễn Đức Nhuận đang làm báo tại Sài gòn khuyến khích nên ông ôm mộng làm thơ, viết văn làm báo kể từ lúc đang là học sinh Trung học.

Lễ Phục sinh năm 1927, Nguyễn Vỹ hưởng ứng phong trào sinh viên học sinh bãi khóa trong toàn quốc do sinh viên Trường Cao Đẳng Hà Nội đề xướng để phản đối người Pháp khinh khi miệt thị dân Việt Nam. Tại trường Trung học Qui Nhơn, ông nằm trong ban tổ chức cuộc bãi khoá, yêu cầu nhà trường: 1. Đuổi ông giáo sư Pháp đã miệt thị dân Việt Nam là dã man và mọi rợ. 2. Mở thêm các lớp Trung học. 3. Bớt giờ Sử Pháp thêm giờ Sử Việt. Vì vậy cuối niên khóa 1926-1927 ông bị đuổi khỏi trường.

Hè năm ấy ông không dám về quê nên ở lại Qui Nhơn xin làm thư ký cho một hãng rượu của người Pháp. Chỉ ít lâu sau ông bị người chủ Pháp đuổi sở vì biết được ông là người lãnh đạo cuộc biểu tình tại trường Trung học Qui Nhơn.

Nguyễn Vỹ ra Huế định xin vào học tại trường Trung học Pellerin. Đến nơi ông viết bài gởi đến báo Tiếng Dân, được cụ Huỳnh Thúc Kháng chọn đăng và gởi trả được bốn đồng tiền nhuận bút. Lần đầu tiên, tên ông được in trên báo và lần đầu tiên được tiền nhuận bút, ông vui mừng vô cùng.

Ở Huế hơn một tuần, ông lại muốn đi xa hơn nữa: ra Hà Nội. Hà Nội là nơi có trường Cao Đẳng, là nơi xuất bản nhiều sách báo, là nơi giới cầm bút đông đảo và dễ dàng vẫy vùng. Máu phiêu lưu nổi lên, ông nghĩ đã đi học xa nhà thì đi xa luôn nên ông lên xe lửa ra Hà Nội vào năm mười tám tuổi.


    Sư Bà Phan Thiết ở quê nhà, tức nữ sĩ Thu Nhi trong Tao Đàn Bạch Nga Saigon năm xưa. (Ảnh Viên Linh)

Được un đúc tinh thần chống ngoại xâm từ cha, anh nên thời gian học ở Hà Nội ông âm thầm liên kết với những người yêu nước nhất là các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng do Nguyễn Thái Học lãnh đạo. Năm 1930 là năm đau thương tang tóc đến với ông: Người cha thân yêu từ trần và Nguyễn Thái Học bị xử chém ở Yên Bái. Những tháng ngày kế tiếp ông vừa đi học vừa phải đi làm nên đến năm 1932 ông mới đậu Tú Tài. Sau đó ông dạy Pháp văn cho Trường Trung học Thăng Long. Cũng thời gian đó tiểu thuyết lãng mạn, âm nhạc mới mà bấy giờ thường gọi là âm nhạc cải cách và thơ mới càng ngày càng phát triển mạnh.

Cùng ở lớp thanh niên tân học yêu thích thơ văn, Nguyễn Vỹ viết văn, làm thơ gởi đăng các báo, thời gian này ông thường ký bút hiệu Lê Chi.

Năm 1936 sau vụ biểu tình náo động của dân chúng Paris vào tháng 2, Mặt Trận Bình Dân lên cầm quyền tại Pháp. Họ có chính sách dễ dãi với các thuộc địa nên Cộng Sản đảng và Việt Nam Quốc Dân Đảng cũng như các tổ chức khác bùng dậy hoạt động. Trong lớp thanh niên trí thức yêu nước, Nguyễn Vỹ ra tờ Le Cygne (Bạch Nga) bằng song ngữ Pháp, Việt. Ông viết những bài luận thuyết đả kích chính sách thuộc địa Pháp và phản đối cả triều đình Huế, kêu gọi một nước Việt Nam độc lập tự do. Tờ Le Cygne ra được sáu số thì ông bị ra tòa lãnh án sáu tháng tù và bị phạt hai ngàn quan tiền Pháp.


    Tạp chí Khởi Hành số 79, Tháng 5.2003
    (Chủ nhiệm Chủ bút: Nhà thơ Viên Linh)

Theo dõi báo chí ngoại ngữ về thế chiến thứ hai, Nguyễn Vỹ viết bài chống chánh s ách bành trướng xâm lăng của Nhật.

Ngày 27 tháng 7 năm 1941, chính quyền Pháp tại Đông Dương ký hiệp ước cho Nhật vào đóng quân trên lãnh thổ Việt Nam, Nguyễn Vỹ lại viết những bài chống cả Nhật lẫn Pháp nên giao thừa năm Nhâm Ngọ, vào đầu tháng 2 năm 1942, ông bị hiến binh Nhật bắt giam. Sau mười lăm hôm ở tù Nhật ông vượt thoát được một ngày thì bị Pháp bắt lại, rồi đày vào trại tù Trà Khê gần Củng Sơn thuộc tỉnh Phú Yên. Tròn 3 năm ở tù tại đây đến đầu tháng 2 năm 1945 ông mới được phóng thích. Rồi một tháng sau chứng kiến vụ Nhật đảo chánh Pháp, chính phủ Trần Trọng Kim ra đời v.v... Thời gian này Cộng Sản đưa ra chiêu bài đoàn kết chống thực dân để chiêu dụ mọi người, trong có Nguyễn Vỹ, nhưng ông giữ vững lập trường quốc gia dân tộc nên không gia nhập.

Khoảng năm 1957 Nguyễn Vỹ từ Đà Lạt ông xuống Sài gòn, chủ biên tờ Tạp chí Phổ Thông, cử nửa tháng ra một số. Trước khi trở lại sinh hoạt báo chí ở Sài gòn ông đã viết một số thơ và tiểu thuyết như Giây Bí Rợ, Chiếc áo Cưới Màu Hông, Hai Thiêng Liêngv.v.. Trong tờ Phổ Thông, ông phụ trách rất nhiều mục, ký nhiều bút hiệu khác nhau.

Truyện dài Mồ Hôi Nước Mắt, Người Tù 69, Tuấn Chàng rai Nước Việt, thì đề tên Nguyễn Vỹ. Mục Mình Ơi! ký tên Diệu Huyền. Nhật Ký, Một Giấc Mơ Hoa ký Duyên Hồng. Giải đáp thắc mắc, những câu đố ký Ba Tèo hoặc Ba Tui. Thỉnh thoảng có những bài xã thuyết tôn giáo thì ký Tâm Trí, pháp danh của ông.

Năm 1962 ông xuất bản tập thơ Hoang Vu và cũng năm này ông tái lập Tao Đàn Bạch Nga gồm 12 người: Nguyễn Vỹ, bác sĩ Anh Tuấn Nguyễn Tuấn Phát, Trần Tuấn Kiệt, Nguyễn Thu Minh, Lâm Vị Thủy, Đào Thanh Khiết, Nguyễn Văn Cần (ông Cổn ở Pháp), Tuệ Mai, Phương Đài, Thanh Nhung, Tôn nữ Hỷ Khương và Thu Nhi.

Sau cách mạng ngày 1 tháng 11 năm 1963 ông được mời vào Hội Đồng Nhân Sĩ. Đầu năm 1964 ông cho tục bản Nhật báo Dân Ta. Cũng trong thời gian này ông treo giải thưởng thi thơ Tao-Đàn Bạch Nga có tới trên một trăm người tham dự.

Tuy danh nghĩa là Tao Đàn Bạch Nga treo giải nhưng tất cả số tiền phát thưởng và buổi tiệc trà trong lễ phát giải tại nhà hàng Thanh Thế ở Trung tâm thành phố Sài gòn đều do ông đài thọ.

Đầu năm 1970, ông cho xuất bản sách Tuấn Chàng Trai Nước Việt tập I và II. Hai tập sách giá trị này kể lại trung thực những sự việc xẩy ra trên đất nước mà ông và cha, anh của ông là chứng nhân kể từ đầu thế kỷ thứ XX cho đến ngày chấm dứt thế chiến vào năm 1945. Ông đang viết và dự tính sẽ xuất bản tập III từ năm 1945 đến năm 1970 và cuốn IV từ năm 1970 đến ngày nhắm mắt cũng như sẽ xuất bản tiếp Người Tù 69, Giải thích thơ Bạch Nga, Phong Trào Thơ Mới v.v... Nhưng ngày mồng chín Tết năm Tân Hợi tức ngày 4 tháng 2 năm 1971, một hung tin đến với gia đình, thân hữu và độc giả mến yêu ông: "Nhà thơ Nguyễn Vỹ tử nạn xe hơi khi chiếc xe đò chở ông từ Mỹ Tho về Sài gòn bị lật".

Một ngôi sao sáng trên nền trời Văn học Việt Nam rụng rơi.

Bốn ngày sau linh cữu Nguyễn Vỹ được rước từ nhà quàn Chùa Xá Lợi đi ngang qua tòa soạn Tạp cví Phổ Thông, đường Phạm Ngũ Lão, ngừng lại một lát ở đây rồi mới tiếp tục đến nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi.

Lễ An táng nhà thơ diễn ra trong bùi ngùi thương tiếc với những điếu văn của các thi văn hữu.

Để kính điếu ông, Tôn nữ Hỷ Khương có làm bài Chuyến xe định mệnh(2)

Tinh thần yêu nước của Nguyễn Vỹ - được un đúc và truyền lại từ cha anh ~ được diễn tả chân thành mộc mạc trong bài thơ sau đây của ông:

Chữ Thơ qua bút tự Nguyễn Vỹ, 6.1962


THÀNH THÁI


Hồi ấy tôi còn là trẻ thơ

Tóc còn để chỏm mặt bơ bơ

Một hôm tôi thấy cha tôi khóc

Cúi lạy hình ai trên điện thờ.


Tôi hỏi: "Thầy ơi, ai đó, Thầy?"

Cha tôi khẽ bảo sát bên tai:

"Ảnh vua Thành Thái đây, con ạ

Ngà bị bị truất ngôi lại bị đày."


Hết lạy, Thầy tôi đứng ngậm ngùi

Ngắm hình Hoàng Đế lệ tuôn rơi

"Thầy ơi - Tôi hỏi, sao Thầy khóc?"

Thầy cứ làm thinh chỉ khóc thôi.


Thành Thái tên vua tôi nhớ hoài

Nhưng tôi chưa biết rõ là ai

Thầy tôi chẳng nói gì hơn nữa

Sau đó Thầy tôi cũng bị đày.


Tôi lớn Thầy tôi ở ngục ra

Một đêm kể chuyện tôi nghe qua:

"Đức vua Thành Thái ngôi Thiên Tử

Bị Pháp đem đày tận đảo xa.


Vua không ham muốn ở ngai vàng

Trong lúc muôn dân oán hận tràn

Vò võ năm canh ngưởi với bóng,

Đau lòng nước mất cửa nhà tan.


Ngài sống hẩm hiu cảnh khốn cùng

Một căn nhà mướn phố Quang Trung

Cửa nhà rách nát, người đau yếu

Giữa xóm dân nghèo một phế cung!


Ngài quyết ra tay cứu vớt dân

Chiêu binh mãi mã, luyện quan quân

Mưu mô đại sự nhưng không được

Tù tội vì tay kẻ phản thần.


Thầy tôi tôn ngưỡng bậc minh vương

Làm mấy bài thơ khóc thảm thương

Nhớ tháng ngày nào vua bị bắt

Dâng lên ngự ảnh nén trầm hương.


Rồi Thầy tôi mất ở quê nhà

Tôi dấu hình vua dưới gối hoa

Đèn sách bao năm noi chí hướng

Đọc trang Sử cũ nhớ Người xa.


Năm chục năm sau Đức Cựu Hoàng

Hồi hương giữa lúc nước nhà tan!

Bảy mươi tuổi lẻ còn ôm hận

Ngày tháng buông trôi giấc mộng tàn.


Một buổi chiều Thu tôi đến đây.

Cựu Hoàng khẽ hỏi: "Ông là ai?"

Ngài nằm trên chiếc giường không chiếu

Ngài chỉ tôi ngồi chiếc ghế mây.


Ngài đã già nua da bọc xương

Áo quần mạng vá, tóc pha sương

Nhưng còn bẩm chất người anh kiệt

Gương mặt huy hoàng nét Đế Vương.


Tôi kể hồi xưa chuyện Cha tôi

Nhớ thương Hoàng Đế khóc bùi ngùi

Nhìn tôi đôi mắt Ngài xao động,

Châu lệ hai hàng lặng lẽ rơi.


Hôm đám tang Ngài tôi có đưa

Đoạn đường gần gũi nghĩa xa xưa!

Tôi lồng bức ảnh Ngài biên tặng

Trên ảnh Thầy tôi, theo ảnh Vua!

Thông thường với học lực và kiến thức sẵn có, Nguyễn Vỹ thừa sức sống cuộc đời an nhàn ấm no, nhưng vì không muốn đất nước chìm đắm trong nô lệ nên nhiều lần ông dùng ngòi bút thay cho đao binh, vì vậy dã ba lần bị tù tội. Bài thơ làm trong sở Hiến binh Nhật thuật cảnh bị tra tấn, đánh đập, giam cầm trong phòng chật hẹp, bằng giọng thơ đầy uất hận, tủi nhục. Sau đây là bài thơ:

TRĂNG CHÓ TÙ


Ngục Trà Khê, đoàn tù nằm trong tối

Chỗ giường tôi đốí diện với Trăng Thu

Nhưng kẽm gai giăng lưới bọc âm u

Ngoài sáng tỏ trong mịt mù bưng bít.


Ai nấy ngủ, hai dãy sàn kê khít

Cửa nhà lao giây xích khóa ba vòng

Một ánh vàng lóng lánh lọt qua song

Nằm âu yếm bên lòng tôi khẽ bảo:


"Đêm nay rằm em giăng tơ huyền ảo

Ngồi dậy xem, chàng hỡi giữa khuôn xanh

Em dệt thơ dệt mộng kết muôn vần

Đễ em tặng người yêu em muôn thuở


Ngồi dậy đi, hỡi chàng, nhìn song cửa

Ngoài trời mây rực rỡ ánh trăng lành!

Em về đây bọn hết cả năm canh

Đem tất cả dâng chàng lòng trinh bạch!


Trăng mủm mỉm cười duyên rồi khẽ lách

Lưới kẽm gai ngăn cách giữa tôi nàng...

Tôi giơ tay muốn níu ánh Trăng vàng,

Lòng xao xuyến vội vàng ngồi nhỏm dậy.


Sau lưới sắt tôi nhìn trăng mê mãi,

Núi rừng hoang Trăng giải ánh sầu bi

Trước sân tù con chó L'Amie

(Con chó trắng dễ thương và ngoan ngoãn

Chó độc nhất và trung thành như bạn

Lạc ngoài rừng chúng tôi bắt về nuôi).

Giỡn với Trăng chó phe phẩy mừng vui

Chó nhảy tới, nhảy lui đùa với bóng.


Trăng tha thướt yêu kiều trong ảo mộng

Rãi trên sân lồng lộng ánh huyền mơ

Mỗi nét trăng là dệt một vần Thơ.

Mỗi sóng trắng là một đường tơ thắm.


Chó đùa bỡn, chạy quanh rồi đứng ngắm

Mắt nhìn Trăng lóng lánh ánh trăng ngà

Tôi thằng tù, như một mảnh hồn ma,

Trong ngục thẳm nhìn qua song lưới sắt.


Nhìn mê-mải thèm-thuồng không mỏi mắt

Nhìn khát-khao, ngây-ngất ánh Trăng say

Muốn phá tung cửa ngục chạy ra ngoài

Để ngắm nó để ngất ngây với nó,

Để đùa bỡn vói bóng Trăng bóng chó,

Để dệt tình, dệt mộng với Trăng tơ...

Nhưng bỗng dưng đôi mắt lệ hoen mờ

Tôi quị xuống sàn tre nằm thổn thức...


Trăng với Chó tự do ngoài sân ngục

Tôi bị giam sau bốn bức tường cao.

Ôi tự do! Mi quý biết nhường bao!

Mi là cả Trăng, Sao, Trời, Thơ, Mộng!

Mi là giòng huyết-thống

của Thiêng-Liêng!

Có Tự-Do là cả Thần Tiên.

Không có nó, trần gian là ngục thẳm!

Tù Trà Khê say mê trong giấc đắm

Trên giường tù ai lệ đẵm trong đêm!...

(1944)

Cũng trong thời gian ở tù ba năm tại trại Lai Khê, Nguyễn Vỹ phải đi chăn bò cho trại tù. Ngồi trên mỏm đá sau cơn mưa nhẹ hạt, thấy chiếc cầu vồng ngũ sắc in trên nền trời, ông thả hồn mơ mộng gặp được vợ trẻ con thơ. Tối đó trở về trại giam, ông làm bài thơ:

CHIẾC CẦU VỒNG


Một chiếc cầu vồng xanh tím đỏ

Treo trên rừng núi giữa bao la

Một nàng thiếu phụ ôm con nhỏ

Thơ thẩn bên cầu muốn bước qua.


Nàng trông mây nước vắng đìu hiu,

Nhìn khắp mênh-mông tỏa ánh chiều

Đôi mắt sầu mơ rơm rớm lệ:

Tìm đâu, đâu thấy bóng người yêu?


Nàng khẽ vịn theo mấy nhịp cầu

Đứng trên dòm xuống hố rừng sâu

Ôm con nàng bước trong bào ảnh

Mỗi bước băn-khoăn mấy nhịp sầu!


Nàng nhớ người yêu đôi mắt mơ

Nụ cười man-mác như vần thơ

Tóc buông xuống trán như mành liễu

Tiếng nói chan hòa tiếng nhạc tơ.


Từ hôm ly biệt một chiều đông

Ngấn lệ sầu-tư chửa cạn giòng,

Chàng bị lưu đày nơi viễn xứ

Ra đi không biết được về không?


Biền biệt ba năm kiếp phũ phàng,

Ba lần lá rụng ngập vườn hoang

Bóng chiều thổn-thức bên sông vắng

Nàng ẵm con đi kiếm bóng chàng.


Tóc nàng thấm ướt giọt mưa ngâu

Buồn bã nàng qua mấy đoạn cầu

Non nước bao-la, trời quạnh-quẽ,

Chàng đâu, đâu thấy bóng chàng đâu?


Bỗng tận xa xa... ai giống chàng?

Cỡi con ngựa trắng vút bay sang...

Ai người kỵ-mã phương nao đến,

Rẽ gió tung mây, lướt dậm tràng?


Vó ngựa nhịp nhàng với nhạc reo...

Tim nàng rộn-rịp nhip-nhàng theo...

Trùng-trùng điệp-điệp mây xây ải

Chàng vượt băng qua mấy ngọn đèo...


Mình ơi! Bản vẽ một đề mục của Phổ Thông

 do Nguyễn Vỹ viết ký tên Diệu Huyền.


Chàng mỉm cười trông thoáng giữa cầu

Người yêu xinh đẹp tựa chiêm bao!

Nàng trân trân ngó, mê hay tỉnh?

Mừng quá, long lanh lệ ứa trào...


Chàng đã về trong ánh tịch dương

Vội vàng nhảy xuống, ngựa buông cương

Chàng ôm âu yếm người yêu nhỏ

Ly-biệt ba năm mấy đoạn trường!


Chàng vuốt dịu-dàng mái tóc tiên

Người yêu lơi-lả nụ cười duyên

Chàng hôn mê-đắm đôi môi thắm

Nàng uống say-sưa ánh mắt huyền...


Nắng chiều càng nhuộm sắc màu tươi

Rưc-rỡ cầu treo một góc trời

Kìa cặp tình nhân hôn đắm-đuốí

Trên cầu cao vót giữa chơi vơi!


Chàng đưa tay ẵm đứa con cưng

Âu yếm nựng con đôi má hường

Chàng đỡ nàng lên lưng ngựa tuyết,

Chàng lên ngồi trước, dựt giây cương.


Lá bướm nàng bay, gió cuốn vèo

Dưới cầu mây nước cũng trôi theo

Qua cầu ngựa chạy bay như gió,

Tiếng vó nhip-nhàng tiếng nhạc reo...


Bóng người bóng ngựa bóng mây tan,

Non nước đìu-hiu giấc mộng tàn!

Chiếc mống ai tô màu ảo-sắc

Còn treo lơ lửng giữa trời hoang!

(1944)

Giữa năm 1949, Quốc trưởng Bảo Đại về nước ở Đà Lạt cử các ông Nguyễn Phan Long rồi Trần Văn Hữu đến Nguyễn Văn Tâm tiếp tục thành lập Chính phủ. Nguyễn Vỹ được ướm lời mời tham chính. Nhưng ông từ chối chỉ muốn vui duyên văn nghệ. Việc đó ông tả trong bài:

CẢM ƠN NGÀI


Không, tôi không phải con người bắt mãn

Nhục và Vinh tôi có đủ cả rồi

Thưọng-Đế đã cho tôi giàu muôn vạn

Đầy một kho ánh sáng trong hồn tôi.


Đầy những đêm lệ châu tràn ai oán

Những bình-minh trỗi-dậy nhạc vui cười

Từ muôn thuở say sưa tình lai láng,

Uống hương trời còn đọng cả trên môi!


Ngài bắc chi một nhịp cầu danh vọng

Kéo tôi chi trong phù-ảnh lâu-đài?

Tôi không muốn gánh kho vàng thơ mộng

Đem chợ đời đổi lấy món cân đai.


Đừng nhử tôi ngựa xe, tàu, võng, lọng

Ai công hầu, khanh tướng mặc ai ai

Đừng bắt tôi mang hia choàng áo rộng

Và khom lưng lạy các chúa trên ngai!


Tôi không phải đã "cạn bầu nhiệt huyết"

Tấm thân hèn chưa rạn nứt phong sương

Bao năm xưa đọa đày trong lụy-tiết,

Há bây giò hờ-hững với quê hương?


Nhưng dân tộc đã vươn mình quyết-liệt

Bao anh hùng đã điểm máu tô xương

Họa khói lửa muôn dân còn rên xiết

Bút mực nào ghi hết hận tang thương?


Để yên tôi bên khu trời diệu vợi

Chép lời Sao và nhạc Gió lâm ly

Tiếng than thở vạn u-hồn buồn rợi

Đắm chìm trong tịch-mịch vạn sầu bi!


Đừng bảo tôi hát những lời ca ngợi

Các tượng thần chói lọi ánh tà-huy

Đừng chỉ tôi đâu là đường danh lợi

Cám ơn Ngài, danh lợi để mà chi?!

(1953)

Nguyễn Vỹ là một trong những người thơ đa tình. Bài thơ Duyên Trăng của ông có những vần thơ diễm lệ đầy ắp huyền mơ.

Say đắm nhưng lòng vẫn quạnh hiu

Đó là số kiếp của tình yêu

là hai câu thơ tác giả nói thật về cuộc đời tình ái của mình. Hơn 30 năm trước có lần ông đọc cho chúng tôi nghe câu châm ngôn Pháp ý nghĩa là "Người đàn ông không vợ là người đàn ông nhiều vợ".

Tôi nghĩ ngược lại: "Ông Nguyễn Vỹ vì có nhiều vợ nên không ở với bà vợ nào."

Thu Nhi

Nguồn: Khởi Hành 79, Tháng 5.2003

___________________

(1) Nhà thơ Nguyễn Vỹ sinh năm 1909 (theo Thu Nhi trong bài này; Vũ Ngọc Phan trong Thi Nhân Việt Nam viết khác: 1910 và theo Hội Nhà Văn Hà Nội lại là 1912) tại Đức Phổ, Quảng Ngãi; in Tập Thơ Đầu năm 1934, rất nổi danh với hai bài thơ điển hình: Sương Rơi (thơ hai chữ), kiểu trường thơ Bạch Nga của ông, và bài Gửi Trương Tửu, kiểu thơ khẩu khí, trong có hai câu được nhiều người truyền tụng: Thời thế bây giờ vẫn thấy khó- Nhà văn An-nam khổ như chó! Vũ Ngọc Phan cho rằng bài này "mới thực là kiệt tác của Nguyễn Vỹ."

Ông còn là tác giả nhiều cuốn truyện như Giây Bí Rợ, 1957; Hai Thiêng Liêng, 1957; Hoang Vu, thơ, 1962; Mồ Hôi Nước Mắt, truyện dài 1965; Tuấn, Chàng Trai Nước Việt, ký sự, 1970. Văn Thi Sĩ Tiền Chiến, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 1994. Ngoài tập này, các tập trước đều in tại Sài Gòn.

Nguyễn Vỹ còn là chủ nhiệm chủ bút tạp chí Phổ Thông, nhật báo Dân Ta. Cả hai tờ đều có nhiều độc giả. Ông từ trần vì tai nạn xe hơi trên đường Mỹ Tho - Sài Gòn ngày 4.2.1971.


(2) CHUYẾN XE ĐỊNH MỆNH


       Tôn Nữ Hỷ Khương

Kính điếu nhà thơ Nguyễn Vỹ


Một phút ôi thôi hết cả rồi

Phù sinh giấc mộng hỡi người ơi!

Chuyến xe định mệnh đành yên phận

Sự nghiệp còn dang dở nửa vời.


Sáu mươi hai tuổi có là bao

Hơn bốn mươi năm mạch sống trào...

Nét bút không ngưng giòng mực chảy

Lời thơ còn đọng chí anh hào.


Phủi tay sạch nợ chốn trần ai

Trải bấy nhiêu thu giấc mộng dài

Cuộc sống nổi chìm theo vận nước

Lòng son một tấm chẳng hề phai.


"Dân Ta anh dũng" với "oai hùng" (*)

Chí khí ngang tàng vẫn nấu nung

Bút thép xứng danh người chiến sĩ

Non sông vay trả nợ tang bồng.


Đã hết rồi, thôi đã hết rồi!

Hương lòng một nén lệ sầu rơi,

Cầu xin Phật Tổ mau đưa lối

Cực lạc cho Người sớm đến nơi.

Sài gòn Tân Hợi 1971


(*) "Dân Ta hằng anh dũng, Dân Ta vẫn oai hùng" là câu thơ in trên đầu trang báo Dân Tacủa Nguyễn Vỹ.

Gửi Trương Tửu

Nay ta thèm rượu nhớ mong ai…
Một mình nhấp nhém, chẳng buồn say!
Trước kia hai thằng hết một nậm,
Trò truyện dong dài, mặt đỏ sẫm,
Nay một mình ta một be con.
Cạn rượu rồi thơ mới véo von!

Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác,
Mà vẫn coi tiền như cỏ rác.
Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang,
Rủ nhau chè chén nói huênh hoang.
Xáo lộn văn chương với chả cá,
Chửi Ðông, chửi Tây, chửi tất cả,
Rồi ngủ một đêm mộng với mê .
Sáng dậy nhìn nhau cười hê hê!

Bây giờ thời thế vẫn thấy khó,
Nhà văn An-nam khổ như chó!
Mỗi lần cầm bút viết văn chương,
Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương
Rồi nhìn chúng mình hì hục viết
Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết,
Mà thương cho tôi, thương cho anh
Ðã rụng bao nhiêu mái tóc xanh.
Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng?
Tôi làm Trạng-Nguyên anh Tể-Tướng,
Rồi anh bên Võ tôi bên Văn,
Múa bút tung gươm hả một phen?
Cho bõ căm hờn cái xã hội
Mà anh thường kêu mục, nát, thối?
Cho người làm ruộng, kẻ làm công.
Ðều được an vui hớn hở lòng?
Bây giờ chúng mình gạch một chữ
Làm cho đảo điên pho Lịch-sử!
Làm cho bốn mươi thế kỷ xưa
Hất mồ nhổm dậy cười say xưa
Ðể xem hai chàng trai quắc thước
Quét sạch quân thù trên Ðất Nước ?
Ðể cho toàn thể dân Việt Nam
Ðều được Tự-do muôn muôn năm?
Ðể cho muôn muôn đời dân tộc
Hết đói rét, lầm than tang tóc?
Chứ như bây giờ là trò chơi!
Làm báo làm bung chán mớ đời!
Anh đi che tàn một lũ ngốc
Triết lý con cừu, văn chương cóc!
Còn tôi bưng thúng theo đàn bà,
Ra chợ bán văn ngày tháng qua!
Cho nên tôi buồn không biết mấy!
Ðời còn nhố nhăng, ta chịu vậy!
Ngồi buồn lấy rượu uống say sưa,
Bực chí, thành say mấy cũng vừa.
Mẹ cha cái kiếp làm thi sĩ!
Chơi nước cờ cao gặp vận bĩ
Rồi đâm ra điên, đâm vẩn vơ,
Rốt cuộc chỉ còn… mộng với mơ!

Nguyễn Vỹ
(Viết rồi hãy còn say)