Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Sáu 2018
T2T3T4T5T6T7CN
        1 2 3
4 5 6 7 8 9 10
11 12 13 14 15 16 17
18 19 20 21 22 23 24
25 26 27 28 29 30  
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 2
 Lượt truy cập: 10640494

 
Bản sắc Việt 22.06.2018 06:38
Chuẩn bị Bắc thuộc lần cuối và vĩnh viễn
07.06.2018 11:13

  1. Từ Bắc thuộc (tên Tàu gọi: Nam chinh) chỉ thời kỳ Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình Trung Quốc, nghĩa là thuộc địa của Trung Quốc. Trước khi bước vào lần Bắc thuộc thứ 5 và cũng là vĩnh viễn do sự sinh tồn, vinh thân phì da của các lãnh đạo CSVN và thân nhân họ, ta hãy đọc lại lịch sử 4 lần Bắc thuộc 1000 năm đô hộ bởi giặc Tàu ngày xưa bắt dân Nam lên non tìm ngà xuống biển tìm ngọc trai cho TQ, ngày nay thì hiến dâng nội tang

Thông thường, các sách sử hiện đại Việt Nam hay dùng từ Bắc thuộc để chỉ giai đoạn hơn một nghìn năm từ khi Hán Vũ Đế thôn tính nước Nam Việt của nhà Triệu (111 TCN) cho đến khi Khúc Thừa Dụ giành lại quyền tự chủ từ tay nhà Đường (905); nghĩa là gộp ba lần Bắc thuộc.

Theo tác giả Trần Trọng Dương, có ba giả thuyết về thời điểm kết thúc thời kỳ Bắc thuộc: 905, 938, 931.

Khái quát

Trong thời gian này Việt Nam bị đặt dưới quyền cai trị của các triều đình củaphương Bắcnhư:

  1. Bắc thuộc lần thứ nhất (179 TCN hoặc 111 TCN - 39): nhà Triệunhà Hán
    nhà Hán lập quốc vào khoảng năm 206 TCN, đến 111 TCN chiếm Lĩnh Nam (bấy giờ là nước Nam Việt dưới thời nhà Triệu)
  2. Bắc thuộc lần thứ hai (43 - 541): nhà Đông HánĐông NgôTào Ngụynhà Tấnnhà Tềnhà Lương
  3. Bắc thuộc lần thứ ba (602 - 905[1]): nhà Tùynhà Đường. Trong giai đoạn Tự chủ từ 905-938 có một thời gian Việt Nam rơi vào tay Nam Hán.
  4. Bắc thuộc lần thứ tư (1407 - 1427): còn gọi là thời thuộc Minh.

Chỉ có vài thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai Bà Trưng (40-43), thời kỳ nhà Tiền Lý với nước Vạn Xuân (541-602).

Một số tài liệu khác chia thành ba thời kì. Cách chia này gộp hai thời kỳ đầu (với gián đoạn là khởi nghĩa Hai Bà Trưng) thành thời kì Bắc thuộc lần thứ nhất. Bài này sử dụng cách chia làm bốn thời kì.

Trong suốt các thời kỳ Bắc thuộc, các triều đại Trung Quốc không ngừng thực hiện đồng hóa người Việt nhằm biến Việt Nam thành một quận huyện của Trung Quốc. Dưới thời kỳ này người Việt phải đóng sưu thuế cho triều đình phía bắc. Ngoài số thuế của nhà nước, một số quan cai trị địa phương vì ở xa nên cũng bòn vét thêm của dân.

Cũng có một số quan cai trị nghiêm minh, đứng đắn, nhưng số này ít hơn. Nền văn minh Trung Quốc cũng du nhập vào Việt Nam thời kỳ này. Sĩ Nhiếp, thái thú nhà Hán (187-226) được các nhà nho thời phong kiến coi là có công truyền bá chữ nho và đạo Khổng vào Việt Nam, được coi là người mở đầu nền nho học của giới quan lại phong kiến ở Việt Nam. Nhiều người Trung Quốc đã di cư đến Việt Nam, họ ở lại, dần dần kết hôn với người Việt và hòa nhập vào xã hội Việt Nam, và con cháu trở thành người Việt Nam.

Bắc thuộc lần thứ nhất

Dấu mốc xác định thời Bắc thuộc đầu tiên chưa thống nhất giữa các sử gia, do quan niệm khác nhau về nướcNam Việtnhà Triệu.


  • Quan điểm thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam xác định rằng khi nhà Triệu bị Hán Vũ Đế diệt năm 111 TCN là lúc bắt đầu thời Bắc thuộc.
  • Quan điểm không thừa nhận nhà Triệu là triều đại chính thống của Việt Nam xác định thời Bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà diệt Âu Lạc của An Dương Vương.
    • Sử cũ thường xác định An Dương Vương và nước Âu Lạc bị diệt năm 207 TCN
    • Sử hiện đại căn cứ theo ghi chép của Sử ký Tư Mã Thiên là Triệu Đà diệt[cần dẫn nguồn] phía Tây nước Âu Lạc "sau khi Lã hậu mất", tức là khoảng năm 179 TCN.

Triệu Đà sau khi diệt Âu Lạc chia làm 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân.

Năm 111 TCNnhà Hán diệt nhà Triệu, chiếm được Nam Việt và chia làm 6 quận là Nam Hải, Thương Ngô, Uất Lâm, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân, đồng thời lập thêm 3 quận mới là Chu Nhai, Đạm Nhĩ, Nhật Nam. Riêng đối với quận Nhật Nam, khi Lộ Bác Đức đánh bại nhà Triệu-Nam Việt, lãnh thổ Nam Việt chưa bao gồm quận Nhật Nam (từ Quảng Bình tới Bình Định). Quận Nhật Nam chỉ hình thành sau khi các quan cai trị bộ Giao Chỉ người Hán tiến xuống thu phục các bộ tộc phía Nam dãy Hoành Sơn

Năm 39, thái thú quận Giao Chỉ là Tô Định tàn ác, giết chồng của Trưng Trắc là Thi Sách. Nợ nước thù nhà, Hai Bà Trưng dấy binh khởi nghĩa và đã giành được 65 thành ở Lĩnh Nam. Hai Bà lên ngôi vua, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất.

Bắc thuộc lần thứ hai

Năm43, nhà Hán sai Phục ba tướng quânMã Việnđem quân sang tái chiếm, Hai Bà Trưng chống không nổi phải rút về giữCấm Khêrồi tự vẫn ởsông Hát. Dân địa phương lập đền thờ ởHát Giang.

Sự cai trị của Đông Hán tại bộ Giao Chỉ tương đối ổn định đến cuối thế kỷ 2Nhà Hán suy yếu, năm 192 dân huyện Tượng Lâm thuộc quận Nhật Nam ở phía nam theo Khu Liên nổi dậy ly khai, lập ra nước Chăm Pa (Lâm Ấp).

Trong lúc nhà Hán suy yếu, thái thú quận Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp dùng người nhà trấn trị các quận, trở thành người cai trị tại đây, dù sau đó trên danh nghĩa, họ Sĩ vẫn chấp nhận các thứ sử do nhà Hán rồi Đông Ngô cử sang. Một dấu mốc quan trọng thời kỳ này là việc bộ Giao Chỉ được đổi gọi là Giao Châu, trở thành 1 châu ngang hàng như các châu khác của Trung Quốc theo đề nghị của Sĩ Nhiếp và thứ sử Trương Tân.

Năm 226, Sĩ Nhiếp qua đời, nhà Đông Ngô đánh chiếm Giao Châu và chính thức cai trị. Trong chiến tranh Tam Quốc, các nước thay nhau giành quyền quản lý Giao Châu. Năm 263, Lã Hưng giết quan cai trị Đông Ngô, theo về Tào Ngụy. Tại trung nguyên năm 265 nhà Tấn diệt Ngụy, Giao Châu lại thuộc Tấn. Năm 271 Đông Ngô chiếm lại Giao Châu. Năm 280 Tấn diệt Ngô, Giao Châu trở lại thuộc Tấn.

Sau thời Tam Quốc, Giao Châu không có biến động về chủ quyền quản lý cho tới khi chấm dứt thời Bắc thuộc thứ hai.

Một số cuộc nổi dậy của người Việt thời kỳ này đều bị thất bại. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất năm 248, ở quận Cửu Chân của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh, sau bị Lục Dận là thứ sử Giao Châu đàn áp phải chịu thất bại. Một số cuộc nổi dậy khác của các thủ lĩnh người Việt như Lương ThạcLý Trường Nhân duy trì được quyền cai quản của người Việt trong vài năm.

Thời Bắc thuộc lần 2 chấm dứt năm 541 khi Lý Bí khởi binh chống nhà Lương và chính thức thành lập nhà Tiền Lý cùng nước Vạn Xuân năm 544.

Bắc thuộc lần thứ ba

Thuộc Tùy - Đường

Năm602,nhà Tùycho quân sang xâm lược nướcVạn Xuân,Lý Phật Tửchưa đánh đã hàng, bị bắt vềphương bắcrồi chết ở đó.

Năm 605, nhà Tùy đổi Giao châu thành quận Giao Chỉ và Phủ Đô hộ Giao Chỉ để cai trị Việt Nam.

Nhà Đường thay nhà Tùy bãi bỏ các quận do nhà Tùy lập ra, khôi phục lại chế độ các châu nhỏ thời Nam Bắc triều. Năm 622, nhà Đường lập Giao châu đô hộ phủ. Năm 679, nhà Đường đổi quận Giao Chỉ trở lại thành châu Giao, đặt ra Phủ Đô hộ Giao Châu.

Sau đó, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ Giao Châu thành Phủ Đô hộ An Nam. Tên gọi An Nam trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ thời điểm này. Chức quan đứng đầu Phủ Đô hộ An Nam lúc đầu gọi là kinh lược sứ, sau đổi thành Tiết độ sứ. Nhà Đường lại chia Giao Châu làm 12 châu: Giao, Lục, Phúc Lộc, Phong, Thang, Trường, Chi, Võ Nga, Võ An, Ái, Hoan, Diễn.

Sau nhiều lần điều chỉnh, năm 866, nhà Đường đổi Phủ Đô hộ An Nam thành Tĩnh Hải quân. Tên gọi này duy trì qua thời Tự chủ của Việt Nam.

Do chính sách bóc lột nặng nề của nhà Đường, người Việt nhiều lần nổi dậy chống nhà Đường. Tiêu biểu nhất là các cuộc nổi dậy của Lý Tự Tiên và Đinh Kiến (687), Mai Thúc Loan (722), Phùng Hưng (776-791) và Dương Thanh (819-820), song đều thất bại.

Đầu thế kỷ 10, nhà Đường suy yếu nghiêm trọng vì nạn phiên trấn cát cứ (kéo dài từ sau loạn An Sử giữa thế kỷ 8) và quyền thần. Nhân lúc Tiết độ sứ Độc Cô Tổn bị điều đi chưa có người thay năm 905, hào trưởng người Việt là Khúc Thừa Dụ đã vào làm chủ thủ phủ Đại La và xác lập quyền tự chủ cho người Việt.

Người Việt tự chủ chống sự xâm chiếm của Nam Hán

Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con làKhúc Hạolên thay tiếp tục làmTiết độ sứ. Năm917, Khúc Hạo chết, con làKhúc Thừa Mỹlên thay.

Năm 923/930, vua Nam Hán sai Lý Khắc Chính đem quân sang đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ đem về nước, Lý Khắc Chính ở lại giữ Giao Châu.

Năm 931, Dương Đình Nghệ là tướng của Khúc Hạo đem quân đánh phủ thành Đại La, lại đánh tan quân Nam Hán do Trần Bảo dẫn sang cứu viện, giết Trần Bảo và tự xưng là Tiết độ sứ.

Năm 937, bộ tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết ông để chiếm ngôi.

Năm 938, bộ tướng khác, đồng thời là con rể Dương Đình Nghệ là Ngô Quyền đem quân giết Kiều Công Tiễn, rồi đánh tan đạo quân xâm lược Nam Hán do Hoằng Tháo dẫn đầu sang tiếp ứng cho Công Tiễn, lập ra nhà Ngô. Từ đó bắt đầu thời kỳ độc lập ổn định của Việt Nam.

Bắc thuộc lần thứ tư

Sau thờinhà Ngôđến thờinhà Đinh, Việt Nam chính thức có quốc hiệu sau ngàn năm Bắc thuộc làĐại Cồ Việt. Sang thời Lý, quốc hiệu được đổi làĐại Việt. Trong hơn 400 năm qua các triều đạiTiền Lê,Trần, Đại Việt đều đánh thắng các cuộc xâm lăng của các triều đạiTrung Quốc.

Năm 1400, Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần. Năm 1406nhà Minh đem quân sang, lấy lý do là để khôi phục nhà Trần, nhưng thực chất đã sáp nhập Việt Nam thành quận huyện của Trung Quốc và cử quan lại người Hán sang cai trị.

Năm 1407, Giản Định vương, con thứ của vua Trần Nghệ Tông xưng làm Giản Định Đế (1407-1409) để nối nghiệp nhà Trần (thành nhà Hậu Trần) và bắt đầu một cuộc khởi nghĩa chống quân Minh, đến năm 1413 thì hoàn toàn thất bại.

Năm 1418Lê Lợi khởi nghĩa tại Lam SơnThanh Hóa.

Năm 1427, cuộc khởi nghĩa thành công, kết thúc thời kỳ Bắc thuộc lần thứ tư, và mở đầu một triều đại mới của Việt Nam: nhà Hậu Lê. Theo truyền thuyết, Lê Lợi thắng do nhờ có kiếm thần của Long Quân.

So với giai đoạn một nghìn năm Bắc thuộc, thời kỳ Bắc thuộc này tuy không dài bằng, nhưng chính sách đồng hóa và bóc lột được thực hiện mạnh mẽ hơn. Nhà Minh bắt người Việt phải theo kiểu người Trung Quốc, từ cách ăn mặc, học hành, đến việc cúng tế. Các tài sản quý như người tài, sách vở, báu vật đều bị đem về Trung Quốc. Trong số đó có các cuốn sách văn học, lịch sử, binh pháp,... có giá trị và đã được truyền lại từ nhiều đời, hầu hết đã trở thành thất truyền ở Đại Việt kể từ đó. Khoảng 7600 thương gia và nghệ nhân Đại Việt (trong đó có nghệ nhân chế tạo súng Hồ Nguyên Trừng, nghệ nhân kiến trúc Nguyễn An) đã bị bắt đưa sang Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc thời bấy giờ. Ngoài ra, nhà Minh còn áp dụng hệ thống sưu cao thuế nặng (bao gồm cả thuế muối) cùng với việc đẩy mạnh khai thác các sản vật quý phục vụ việc cống nộp.


1.000 năm chống Tầu: Thực chất và huyền thoại 

Pagode De MOT COT couleurNếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

Trước 1975, có một bài hát của Trịnh Công Sơn (TCS), Gia tài của mẹ, do Khánh Ly hát thấm đẫm tình tự dân tộc, nói lên tâm trạng tủi nhục của người dân trong một nước nhược tiểu.

Bài hát với nội dung như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặcTầu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngăy
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ một nước Việt buồn…”

Tuy nhiên, bên cạnh tiếng nói thốt lên từ bom đạn của một người nghệ sĩ, còn có tiếng nói của lịch sử, và lịch sử có tiếng nói riêng của nó, và đó là trọng tâm của bài viết này.

Bởi vậy, cũng cần nhắc lại ở đây, về phía người cộng sản, sau 1975, họ cũng nhắc lại quá khứ lịch sử Việt Nam, cũng 1000 năm chống Tầu, cũng 100 năm chống Tây.

Dĩ nhiên, tiếng hát của TCS và quan điểm trình bày của người cộng sản không cùng tần số: một bên tình tự dân tộc, một bên là tham vọng chính trị.

Vậy thì đâu là sự thật lịch sử? Sự thật lịch sử có thể không nằm ở cả hai phía! Một bên coi là nô lệ, bên kia coi là chiến đấu!

Người ta còn nhớ Tổng Bí thư đảng CSVN Đỗ Mười, một trong những nhân vật Việt Nam quan trọng hàng đầu của cộng sản, ngay cả khi ông ta đã về hưu, đã có dịp ghé Singapore vào tháng 10-1993. Ông đã than thở với ông Lý Quang Diệu như sau:

Đỗ Mười. Nguồn: o­ntheNet

Đỗ Mười. Nguồn: o­ntheNet

“He spoke with sorrow about Vietnam’s unhappy past – 1.000 years spent fighting China, another 100 years fighting French colonialism and imperialism, then fighting for independence after world war II. They have had to fight the Japanese, the French, the Americans, and later the Pol Pot clique. He did not mention China’s attack in 1979. For 140 years, the Vietnamese had successfully waged wars to liberate their country. Their war wounds were deep, their industries weak, their technology backward, their infrastructure deplorable.”(1)

“Ông ta [Đỗ Mười] buồn rầu phàn nàn với tôi về số phận không may của Việt Nam trong quá khứ. 1.000 năm phải lo chống Tầu, còn lại 100 năm nữa lo chống thực dân và đế quốc Pháp, rồi tranh đấu dành độc lập sau thế chiến thứ hai. Họ phải lo chống Nhật, chống Pháp, chống Mỹ và sau này chống tập đoàn Pol Pot. Ông ta đã không đả động gì đến cuộc tấn công của Trung Quốc năm 1979. Trong suốt 140 năm, người Việt Nam đã thành công tiến hành một cuộc chiến tranh giải phóng xứ sở của họ. Vết thương chiến tranh còn lâu mới lành được, kỹ nghệ của họ còn yếu kém, kỹ thuật còn lạc hậu, cơ cấu hạ tầng thật đáng tội.”

Đây là một luận điệu quá quen thuộc của người cộng sản.

Một mặt đổ vấy cho chiến tranh mọi hậu quả tai hại của nó, một mặt tránh né mọi trách nhiệm mà họ là kẻ chủ chốt gây ra. Mặt khác, họ lại tự hào đến lố bịch về khả năng chiến thắng mọi thế lực thù địch trên thế giới, ngay cả Trung Hoa nếu Trung Quốc xâm phạm đến chủ quyền của Việt Nam.

Ông Lý Quang Diệu, trong lần gặp gỡ lần đầu tiên với thủ tướng Phạm văn Đồng đã đưa ra một vài nhận xét vắn gọn, cho thấy sự kiêu căng đến vô lý cũng như lý luận cứng nhắc cù nhầy của người cộng sản như sau:

Phạm Văn Đồng đến Singapore gặp Lý Quang Diệu. Nguồn: kinhnghiemsingapore.wordpress.com

Phạm Văn Đồng đến Singapore gặp Lý Quang Diệu (1978). Nguồn: kinhnghiemsingapore.wordpress.com

“He came o­n 16 October 1978. I found him arrogant and objectionable. […] Now, Pham Van Dong, an old man of 72, showed that he was tough as nails. (…) Singapore had benefited from the Vietnam war, selling the Americans war material, hence it ours duty to help them. I was dumbfounded by their arrogant and belligerent attitude.”(2)

Ông ấy đến thăm Tân Gia Ba vào ngày 16-10-1978. Tôi nhận thấy ở ông một thái độ trịch thượng đến chướng mắt. […] Phạm Văn Đồng lúc ấy là một ông già đã 72 tuổi mà vẫn còn tỏ ra cứng như đinh. (…) Ông cho rằng Tân Gia Ba đã được thừa hưởng những lợi nhuận từ chiến tranh Việt Nam, như bán các vật liệu chiến tranh cho Mỹ, nay thì đến lượt Tân Gia Ba có bổn phận phải giúp đỡ họ. Tôi thật điếng người đi trước thái độ trịch thượng và hiếu thắng của họ.

Bài này viết nhằm nhìn lại, bạch hóa những ngộ nhận nhằm xóa trắng lịch sử, che đậy những ý đồ đen tối về lịch sử dân tộc Việt.

Về 1000 năm nô lệ giặc Tầu

Nước ta và nước Tầu trong 2000 lịch sử, ta ở phương Nam, Tầu ở phương Bắc. Thật sự cái biên giới nó không phân định đơn giản và cố định như thế. Không có cái kiểu phân định rõ rệt: Nam Quốc sơn hà Nam đế cư. Nói như thế, ta nói lấy được mà thôi!

Ngược lại, lịch sử cho thấy các vùng địa lý hai bên Bắc-Nam thay đổi từng thời kỳ, thay đổi liên tục.

Nếu may ra có được một cái gọi là biên giới thì đó là một thứ biên giới không phân định (amorphous boundary) giữa Nam Bắc.

Nhưng nói chung hai bên đã có những liên hệ sống còn-vital region- liên ngành không tránh được về mặt địa lý, về xã hội, về văn hóa và nhất là về chủng tộc.

Người Tầu có cách phân định dòng giống Tầu -Hán tộc – Sinitic chính gốc và vùng biên địa – thuộc dòng man di, mọi rợ (non-Sinitic).

Nước ta thuộc vùng biên địa được kể là giống dân còn man di, mọi rợ!

Hãy khoan bàn đến đúng sai về nhận định của người Tầu!

Mới đây, tôi được đọc một tài liệu nhan đề Imperial China and Its Southern Neighbours(3) Cuốn sách có sự cộng tác của nhiều nhà sử học trên thế giới. Nhờ cuốn sách này đã giúp người đọc như tôi có những điểm nhìn trung thực hơn về sử học và về mối quan hệ Việt-Trung.

Và cũng hy vọng những người viết sử Việt Nam có cái nhìn khiêm tốn và khách quan hơn về sử Việt – tránh lối viết khống, khoác lác, không tài liệu dẫn chứng – viết cái gì ta cũng nhất, ta “đứng vững ngàn năm” như kiểu tác giả Ngô Nhân Dụng.

Trong lời đề tựa của cuốn sách, người chủ biên tập sách – ông Victor H. Mair, giáo sư đại học Pennsylvania đưa ra một vài nhận xét chủ chốt giúp người đọc hiểu được mối liên hệ Bắc-Nam như sau:

Thứ nhất, có một sự lấn lướt tiệm tiến của phía Bắc dần xuóng phía Nam vì có sự tranh chấp nội bộ mà có xu hướng chuyển dịch xuông phía Nam tìm một sự ổn định hơn. Dựa trên tài liệu của Harold J. Wiens trong cuốn: China’s March toward the Tropics – xuất bản 1954 và một tài liệu khác: C.P. Fitzgerald với cuốn The Southern Expansion of the Chinese People (1972).

Tác giả Victor H. Mair giải thích lý do tại sao có sự bành trướng của người Tầu xuống phía Nam. Đó là lý do vì có sự thay đổi quyền lực từ sự sụp đổ của nhà Tây Tấn (265-316, Western Jin, 西晉) sang nhà Đông Tấn (317-420, Eastern Jin, 東晉). Sự khủng hoảng quyền lực ở trung nguyên, đưa đến việc điều chỉnh địa-chính trị khiến một một thiểu số dân phương Bắc cũng nhân dịp đó xuôi Nam trong mưu cầu bành trướng và đồng hóa..

Thứ hai, nhìn lại nhu cầu bành trướng xuống phia Nam về mọi mặt, từ địa lý chính trị đến văn chương, nghệ thuật, thương mại đến văn hóa vật thể (material culture) cho thấy nó không nhất thiết tác động một chiều – từ Bắc xuống Nam – mà có tác động nhiều mặt khác nhau – từ Nam tác động đến Nam – xuyên qua các vùng Đông Á và Đông Nam Á và xa hơn nữa.

Tác giả dưa ra hai bằng chứng là đạo Lão và thuật uống trà tưởng rằng đó là sản phẩm từ phía Bắc – nhưng thật sự là sản phẩm của người phương Nam – thường bị người Tầu coi là dân mọi rợ – nhập vào phía Bắc.

Công việc của các nhà nghiên cứu sử là đi tìm hiểu tại sao người phương Nam đã nhìn nhận văn hóa phương Bắc và đồng hóa nó, đòng thời nhìn nhận có một dòng chảy của văn hóa phương Nam đã sát nhập vào dòng chảy chính từ phía Bắc.

Nói tóm lại, sự bành trướng xuống phía Nam của nước Tầu là điều hiển nhiên được nhiều tác giả xác nhận.

Charles Patrick Fitzgerald trong cuốn The Southern Expansion of the Chinese People trong lời mở đầu viết, “Chinese influence, Chinese Culture and Chinese power have alwways moved southwward since the first age of which we have reliable historical evidence.”(4)4

“Ảnh hưởng của Trung Hoa, Văn hóa của Trung Hoa và quyền lực của Trung Hoa luôn luôn đi về phía Nam ngay từ thời kỳ đầu của niên đại khi mà chúng ta có được các bằng cớ lịch sử hiển nhiên đáng tin cậy.”

Ở một chỗ khác, ông viết:

“Vietnam is the country most open to Chinese expansion and occupation by land. The frontier, although passing along a mountains chain, afford more than o­ne accessible pass, and the sea coast is but an extension the sea coast of the southern Chinese province of Kuangtung. The red river delta, the heart of northern Vietnam, is also the best and largest fertile plain south of the Yangtze estuary. Every circumstance seem to dictate that this adjacent country would become, and remain, a part of the Chinese world, and an integral part of the Chinese state.”(5)

“Việt Nam là nước mở rộng nhất cho sự bành trướng và xâm chiếm của Trung Quốc trên đất liền. Biên giới mặc dầu phải vượt qua dọc theo những rặng núi vẫn có nhiều đường đèo có thể qua được, và đường biển chỉ là đường nối dài của bờ biển phía Nam nước Tầu của tỉnh Quảng Đông. Đồng bằng sông Hồng – trái tim của miền Bắc Việt Nam – cũng là đồng bằng phì nhiêu và lớn nhất ở phía nam Trường Giang (sông Dương Tử). Cứ mỗi trường hợp được nêu ra thì hình như lại chỉ ra rằng cái xứ sở sát nách với nước Tầu sẽ trở thành một phần và sẽ mãi của Thế giới Trung Hoa, và một một thành tố không thể cách ly ra khỏi nước Tầu..).

Tuy nhiên, khi tìm đọc lại sử Việt, chúng ta gặp một khó khăn khó có thể vượt qua là tính tổng quát hóa sự kiện mà thiếu bằng chứng sử liệu. Hầu như người ta khó có thể tìm ra bất cứ sự thật nào trong các tài liệu sử Việt.

Việc truy tìm ra sự thật không phải dễ dàng gì.

Theo sử gia K.W. Taylor viết trong cuốn A History of the Vietnamese, ông cũng nhìn nhận như vậy:

“The Vietnamese past is full of personalities and events both obscure and famous, and often the obscure have had greater effect upon the direction of culture, society, and politics than have the famous. I have tried to move beyond the propaganda of memory and memorializing to display a thicker layer of information that has accumulated about people and events. My purpose in doing so is to evoke a sense of the past as alive in its old time.”

“Quá khứ của người Việt Nam thì đầy những nhân vật và những sự kiện rất lu mờ và nổi danh, và thường thì những sự kiện còn chưa rõ ràng thì lại có ảnh hưởng lớn đến lãnh vực văn hóa, xã hội và chính trị hơn là thứ nổi danh. Tôi đã phải cố gắng vượt lên trên các loại tuyên truyền ấy và trình bày bằng những dữ kiện có bề dày khả tín đã được thu tập về người và các dữ kiện. Mục đích của tôi khi làm như vậy là để khơi dậy một ý thức về quá khứ một cách sống động như thể nó đã là như thế ở trong quá khứ.”

Sau đây là những bằng chứng về việc chống lại sự xâm lược của Tầu trong suốt nhiều thế kỷ. Nó vừa chứng tỏ sức đề kháng kiên trì, sụ vận dụng được quần chúng tin tưởng và noi theo. Nhưng nó cũng cho thấy ngay sau đó lại có sự tranh chấp, các cuộc nổi dậy tranh dành quyền lực xảy ra liên tục giữa các triều đại.

Thật vậy, ba triều đại nhà Ngô (939-965), rồi nhà Đinh (968-980) rồi nhà Tiền Lê (980-009) được coi là độc lập sau cả ngàn năm Bắc thuộc mà cộng lại chỉ được hơn 70 năm.

Trong 70 năm ấy xảy ra nhiều loạn lạc nhiễu nhương mà theo tôi vì nước ta chưa thành hình một nhà nước có kỷ cương – một état đúng nghĩa có luật pháp, có uy quyền.

Ngô Quyền chức danh chỉ là một Tiết Độ Sứ do nhà Đường bên Tầu ban cho. Ông không bằng lòng rồi tụ xưng vương. Xưng vương rồi chưa kịp chỉnh trang, triển khai luật lệ của triều đại mới thì lại bị Đinh Tiên Hoàng xưng Đế vương.

12 năm sau, quyền bính lại rơi vào tay nhà Tiền Lê!

Tiếng là đã độc lập, đã tự chủ. Nước Tầu hầu như không can thiệp gì vào những biến động chính trị của Việt Nam. Nhưng liệu trong thời gian 70 năm với sự thay đổi ba triều đại, liệu người dân có được yên ổn làm ăn không?

Một điều nhận xét nữa là không chỉ nước ta mới có loạn, mà nước Tầu cũng vậy. Hết nạn Tam Quốc thì lại đến Ngũ Đại Thập Quốc (Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu và Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Mân, Bắc Hán, Tiền Thục, Hậu Thục, Kinh Nam, Sở, Nam Hán) nên cho dù họ có muốn can thiệp vào nước ta cũng không được. Điều nay cắt nghĩa tại sao ta được yên?

Tiền đề thứ nhất: Nước ta được yên vì bên Tầu có loạn

Bả đồ Trung Hoa và láng giềng thời Hậu Đường. NguồnBy 玖巧仔 – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/./?curid=18168309

Bản đồ Trung Hoa và láng giềng thời Hậu Đường. NguồnBy 玖巧仔 – Tác phẩm do chính người tải lên tạo ra, CC BY-SA 3.0, https://commons.wikimedia.org/w/./?curid=18168309

Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ là

Tĩnh Hải Quân Tiết Độ Sứ là  Khúc Thừa Dụ của Giao Chỉ

Sự kiện vắn vỏi của ba triều đại trên đã giúp chúng ta nhìn lại Sử Việt một cách khác hơn. Căn cứ vào cuốn sách của giáo sư Nguyễn Phương – giáo sư sử của đại học Huế – cuốn Việt Nam thời khai sinh giúp triển khai chi tiết hơn.

Nói chung, hướng đi của lịch sử Việt Nam giống như nhiều nước khác: Một mặt chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi trước mọi cuộc xâm nhập. Mặt kia tìm cách bành trướng mở rộng biên cuong xuống phía Nam.

Tuy nhiên, Việt Nam xem ra bận tâm hơn với việc chống xâm lăng hơn là bành trướng xuống phía Nam.

Cuộc xâm lăng của đời nhà Tống sang Việt Nam là năm 981

Kể từ khi nhà Ngô dấy nghiệp, thời gian cũng đã trên nửa thế kỷ.

Đây là lần đầu nhà Tống sang quấy nhiễu nước ta vào năm 981. Họ mang theo hai đại quân, đường bộ vào Lạng Sơn, đường thủy vào Bạch Đằng. Và cả hai đạo quân đã bị quân ta đánh tan.

Lần thứ Hai, dưới thời nhà Nguyên. Năm 1285-1288

Khoảng cách giữa cuộc xâm lăng giữa đời nhà Tống sang đời Nhà Nguyên là gần ba thế kỷ – một khoảng thời gian khá dài so với đời người. Sở dĩ có một thời gian dài như vậy vì vua nhà Tống có biệt lệ không muốn kéo quân sang Việt Nam. Họ chỉ phủ dụ và khuyên răn vua quan Việt Nam mà thôi.

Tiếp đến nhà Lý lên ngôi – do Lý Công Uẩn cướp ngôi của vua ngọa triều. Triều Lý sau đó kéo dài được 9 đời từ 1010 đên 1224. Đây cũng đánh dấu thời đại thịnh trị của vua quan nhà Lý với sự phát triển mạnh của đạo Phật.

Tiền Đề thứ hai: Cái lý do chính yếu để cho người Tầu kéo quân sang chinh phạt Việt Nam, bởi vì phía Việt Nam có nội loạn, xâu xé lẫn nhau, tranh quyền đoạt vị. Trừ trường hợp nhà Nguyên ra, tất cả các lần họ kéo quân sang đều do hoàn cảnh chính trị Việt Nam đã mở đường cho nạn Bắc phạt.

Cái tấm gương thượng bất chính gây nên sự chia rẽ, hận thù giữa dòng tộc hay ngoài dòng tộc là cái cớ sự cho người Tầu dòm ngó vào Việt Nam. Đó là trường hộp Lê Hoàn thoán đoạt ngôi vị của nhà Đinh, thời Lê Quý Ly tiêu diệt nhà Trần, thời Tây Sơn hoành hành mỗi lần ra Bắc.

Nếu ta không cử người qua cầu viện, năn nỉ thì không có vấn đề quân Tầu sang nước ta.

Cái điều ấy xảy ra nhiều lần cho một tiểu quốc và trở thành như số phận nhược tiểu rồi sau đó lại than vãn oán trách. Cộng sản Việt Nam huênh hoang 1000 năm chống Tầu mà họ quên rằng chính Hồ Chí Minh đã một mình lặn lội sang Moscou, rồi sang Tầu để năn nỉ họ giúp chống Pháp. Chống Pháp hay chống Mỹ sau này cũng là nhờ Tầu. Bài học lịch sử rõ ràng và rành rành ra đấy thế mà họ quên được sao?

Và lịch sử đã chứng minh là trong những tinh huống hỗn độn như thế thì người Tầu bất kể là nhà Tống hay nhà Minh hay nhà Thanh hay Mao Trạch Đông đều lợi dụng tình thế cất quân sang đánh.

Gánh nặng lịch sử trước sự đe dọa của Tầu Cộng bây giờ là bọn lãnh đạo cộng sản Việt Nam chứ không phải nhân dân Việt Nam.

Hồ Quý Ly đã lừa đảo Trần Nghệ Tông, đã giết Trần Thuận Tông, đã cướp ngôi Trần Thiếu Đế. Tất cả những việc làm vô đạo – lừa đảo ấy đều ứng vào Hồ Chí Minh cả.

Lịch sử đất nước ta có hai họ Hồ thì đều là loại xây đắp quyền lực bằng sự lừa đảo chứ không phải thực tài.

Làm sao có thể có một Lê Lợi thứ hai trong hoàn cảnh đất nước sôi sục này? Dân chúng đã mất niềm tin vào lãnh đạo. Trong khi đó, Tầu cộng chỉ cần không mở vòi nước đập thượng nguồn đủ biến đồng bằng sông Cửu Long khô cạn.

Và nay, nếu ta ngồi làm một con tính cộng sẽ cho thấy thời gian dành để chống Tầu và thời gian để chống nhau, thời gian chống nhau gần như chiếm phần lớn.

Thật không mấy khó khăn để làm con tinh cộng xem Trịnh-Nguyễn phân tranh là bao nhiêu năm? Tây Sơn-Nguyễn Ánh đối đầu với nhau là bao nhiêu năm, giữa bọn cộng sản với người Quốc Gia là bao nhiêu năm?

Cho nên cái chuyện 1.000 năm hay 100 năm vẫn là chuyện nhỏ.

Chuyện chính không phải giữa Địch với Ta mà là Ta với Ta. Giữa Người Việt với người Việt.

Về lịch sử 100 năm chống thực dân Pháp

Để có một khái niệm tương đối chính xác về sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam, thử làm một bảng tổng kết 100 năm triều đình nhà Nguyễn và 100 năm người Pháp sang cai trị nước ta như thế nào?

Khi viết những dòng này, tôi có được đọc cuốn sách của cụ Nguyễn Xuân Thọ, Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp tại Việt Nam, xuất bản năm 2002, Paris và mới đây nhất của tác giả Nguyễn Quốc Trị nhằm biện hộ cho Nguyễn Văn Tường, cuốn sách nhan đề, Nguyễn Văn Tường (1824-1886) – Cuộc chiến chống đô hộ Pháp của nhà Nguyễn. Tôi chỉ mới có cơ hội đọc bản giới thiệu của Thụy Khê.

Xem ra các tác giả vẫn muốn biện hộ cho một tinh thần yêu nước của giới quan lại trong triều đình, đồng thời gián tiếp nói tới một cái gì chưa tiện nói ra.

Như một cớ sự, họ nói xa gần đến một âm mưu muốn đồng hóa các giáo sĩ với các thế lực của thực dân nhờ thế hóa giải được trách nhiệm cũng như sự bất lực và yếu kêm của vua quan triều Nguyễn. Đồng thời muốn phủ nhận những đóng góp của Bá Đa Lộc đối với Nguyễn Ánh.

Tại sao phải làm như vậy thì tôi không được rõ.

Nhưng triều đình nhà Nguyễn, thay vì trực diện với người Pháp thì lại đi tìm một giải pháp dễ dãi là giết hại giáo dân và giáo sĩ.

Tôi có thể nói thẳng là giáo dân lúc bấy giờ phần đông đều là dân vạn chài, dốt nát, nghèo mạt rệp.

Họ không đủ tư cách để bán nước.

Theo tác giả Nguyễn Duy Chính thì “Quan điểm này còn nhiều điểm cân đánh giá lại.”(6)

Một quan điểm dựa trên một hai vị giáo sĩ mượn tay người Pháp để có cơ hội truyền bá đạo mà những người đi trước như Cao Huy Thuần cũng đã từng nêu ra trong cuốn luận án của ông.

Đã có hằng trăm giáo sĩ đủ quốc tịch đã đến Việt Nam giảng đạo từ thế kỷ 15 trước khi người Pháp có mặt. Nào chỉ có thừa sai người Pháp? Và chế độ thuộc địa đã có mặt trên cả trăm nước trên thé giới! Vậy thì ở những nước ấy, thực dân chẳng lẽ cũng mượn tay các thừa sai để có cớ chính đáng đi chinh phục các nước đó chăng? Xin nghĩ xa thêm một chút!

Bài viết của tôi không có mục đích tranh luận về sử học, về chính sách của người Pháp tại Việt Nam. Mà chỉ nhằm đưa ra một sô sự kiện mà tự nó nói lên giúp người đọc tự mình chọn lựa một thái độ thích hợp.

Đối với tôi, thế là đủ.

Nguồn: Université du Quebec

Nguồn: Université du Quebec

Chúng ta đều biết rằng Gia Long lên ngôi năm 1802 đã có một số liên lạc tốt đẹp với người Pháp – nhất là với giáo sĩ Bá Đa Lộc. Sau đó mối liên hệ càng ngày càng trở nên xấu đi. Nhưng ít nhất, cho đến năm 1862 (hòa ước Nhâm Tuất) và Hòa ước Giáp Tuất (1874) người Pháp mới thật sự có mặt.

Triều đình nhà Nguyễn – trong hơn nửa thế kỷ – từ 1802-1862 đã xây dựng được gì cho xứ Bắc Kỳ, Nam Kỳ và cả Trung Kỳ?

Đó là điều chúng ta phải cố mà tìm hiểu.

Người Pháp chỉ thực sự chủ động từ 1862.

Và từ thời gian này cho đến khoảng 1905 nghĩa là 43 năm.

Họ đã đem lại một bộ mặt hoàn toàn mới cho ít nhất xứ Bắc Kỳ và Nam Kỳ.

Tôi đã có dịp đọc cuốn La colonisation agricole au Viet Nam của Steve Déry (7). Trong đó tác giả trình bày bao quát về việc phá rừng, xử dụng nhân công người thiểu số sát nhập vào dân bản địa, hoặc đưa một số di dân từ Bắc vào Nam làm đân cạo mủ cao su.

Khu đồn điền cao-su của Pháp. Nguồn: http://www.quanloi.org/

Khu đồn điền cao-su của Pháp phía bắc Saigon (màu xanh, 1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/

Đây là một chương trình kinh tế đồng thời để xóa đói, giảm nghèo.

Nếu ai đã có dịp sống ở nông thôn miền Bắc mới hiểu được sự nghèo đói nó như thế nào. Cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc. Người nông đân đôi khi chỉ có cái khố. Làm lụng vất vả, thay trâu cầy bừa. Chết không có đất chôn. Khổ sở trăm chiều!

Xin đừng có tự ái dân tộc. Xin nhìn vào hoàn cảnh thực tế lúc bấy giờ.

Dưới mắt tôi thì đây chỉ là một chinh sách kinh tế, giải quyết nạn nghèo đói. Chỉ có vậy.

Vua quan nhà Nguyễn có kế hoạch, có một chủ trương xóa đói giảm nghèo như thế không? Đầu óc vua quan nhà Nguyễn còn tối tăm, ngu đần – một chữ cũng Tầu – làm sao có những kế hoạch kinh tế như vậy?

Tôi đã có kinh nghiệm sống ở đồn điền cao su. Tôi nói có bằng chứng. Cảnh đánh đập công nhân trước đó có thể có, sau này tôi không thấy nữa. Thỉnh thoảng có các đoàn hát cải lương lưu động ở Saigon lên, ai có tiền thì đi coi hát. Nhà thờ cũng có. Thỉnh thoảng cũng có cha cố về. Cuộc sống về mọi mặt không phải lo. Cộng sản chẳng thể nào xâm nhập dụ đỗ được ai cả.

Mỗi công nhân cạo mủ được cấp một căn nhà gạch gồm hai gian, để ngủ, để ăn và tiếp khách. Đằng sau có bếp, có cầu tiêu. Bếp đun dầu hôi sạch sẽ gọn ghẽ. Gạo và các nhu yếu phẩm như nước mắm, cá khô, v.v. được sở đòn điền cung cấp với giá rẻ. Trẻ con có trường học, y tế miễn phí, lương phát mỗi kỳ dư ăn. Thịt cá, rau hoa quả có chợ, ai có tiền thì mua không thiếu. Chiều chiều, dân cạo mủ, các thày cô chú đi dạo trên những con đường quanh làng. Trẻ con, người lớn có sân đá banh và thường tổ chức thi đấu với các đội bạn. Có nghĩa địa dành cho người chết.

Nếu so với cuộc sống ngoài Bắc bữa no bữa đói, lo từng bữa thì đây phải nói là thiên đàng. Những điều gì khác với điều tôi viết thường là do cộng sản lúc bấy giờ tuyên truyền. Không có sốt rét, ngã nước cái con mẹ gì hết!

Khu chung cư của thợ mủ cao su (người từ miền Bắc) ở Đồ điền Quản Lợi. (1931). Nguồn:  http://www.quanloi.org/

Làng của thợ mủ cao su (người miền Bắc) ở đồn điền Quản Lợi. (1931). Nguồn: http://www.quanloi.org/

Nhà của công nhân đồn điền Lộ Ninh. Nguồn: http://belleindochine.free.fr/

Nhà của công nhân đồn điền Lộc Ninh (Circa 1930s). Nguồn: http://belleindochine.free.fr/

(Còn phần 4b)

© 2016 DCVOnline
Nếu đăng lại, xin đọc “Thể lệ trích đăng lại bài từ DCVOnline.net”


 Nguồn: Bài và chú thích của tác giả. DCVOnline hiệu đính và minh họa.

(1) Lee Kuan Yew, “From Third World to First”, trang 316
(2) Lee Kuan Yew, Ibid., trang 310-311
(3) Victor H. Mair và Liam C. Kelley, Ed., “Imperial China and Its Southern Neibourghs”, với sự cộng tác của nhiều sử gia khác, do Institute of Southeast Asian Studies, Singapore xuất bản 2015
(4) C.P. Fitzgerald, “The Southern Expansion of the Chinese People”, trang mở đầu.
(5) C.P. Fitzgerald, Ibid., trang 19.
(6) Nguyễn Duy Chinh, “Sự đóng góp của giám mục Pigneau de Beshaine vào công cuộc cải cách ở Gia Định”, trang 2
(7) Steve Déry, “La colonistion agricole au Việt Nam”, NXB Presses de l’Université du Québec, 2004.

“Không có một chữ nào” và “rất nhiều… chữ”!

Nguyễn Hồn Việt (Danlambao) - Sáng nay, mở báo thấy bài Bộ trưởng KH-ĐT: Có người cố tình hiểu sai Luật Đặc khu, chia rẽ quan hệ với Trung Quốc. - Người lao động” Thôi chết, thế ra người Việt mình lại “cố tình hiểu sai Luật Đặc khu” để “chia rẽ quan hệ với Trung Quốc” à? Làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tình hữu nghị “4 tốt” và “16 chữ vàng à?

Thế thì chết!

Sự thể ra làm sao?

I. Họa Trung Quốc “không có một chữ nào”! 

“…đã nói rất nhiều, tôi cũng đã nói nhiều lần”

Trong bài báo trên, khi trả lời phóng viên, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) Nguyễn Chí Dũng cho biết: “…đã nói rất nhiều, tôi cũng đã nói nhiều lần”… 

“Sáng nay 6-6, trao đổi với báo chí về Dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (gọi tắt là Luật Đặc khu), khi gần đần đây có nhiều ý kiến về đặc khu, bên hành lang Quốc hội (QH), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) Nguyễn Chí Dũng cho biết: "Cơ quan soạn thảo, thẩm tra đã nói rất nhiều, tôi cũng đã nói nhiều lần, còn quyền quyết định thuộc về Quốc hội".” 

Rằng là: không có một chữ nào về Trung Quốc ở trong đó hết”!

“Trả lời câu hỏi về việc dư luận gắn với yếu tố Trung Quốc, Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng khẳng định: "Trong dự thảo Luật không có một chữ nào về Trung Quốc ở trong đó hết".”

Vậy nhé, cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt cứ yên tâm nhé! Rằng là: "Trong dự thảo Luật không có một chữ nào về Trung Quốc ở trong đó hết"

Rằng là: “Luật quy định bình đẳng… với tất cả các nước”

“"Chỉ có những cái họ cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc. Còn Luật quy định bình đẳng trong một môi trường chung, với tất cả thành phần kinh tế và với tất cả các nước, môi trường hội nhập quốc tế ta đang mở nên bình đẳng hết, không hạn chế người này người khác"- Bộ trưởng Dũng nêu rõ.”

Vậy nhé, cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt cứ yên tâm nhé! Rằng là: "Luật quy định bình đẳng trong một môi trường chung, với tất cả thành phần kinh tế và với tất cả các nước…"

Rằng là: “không một ai có thể vào đây làm việc gì khi đất nước ta đang có chủ quyền”!

“"Mọi người đang đẩy thành vấn đề sợ Trung Quốc, nhưng ta bình đẳng không phân biệt, không một ai có thể vào đây làm việc gì khi đất nước ta đang có chủ quyền, ta phải bình tĩnh, xem xét và lắng nghe"- Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói.”

Vậy nhé, cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt cứ yên tâm nhé! Rằng là: "Mọi người đang đẩy thành vấn đề sợ Trung Quốc, nhưng ta bình đẳng…"

Rằng là: “…Còn có người cố tình đẩy câu chuyện này lên để phá hoại"- Bộ trưởng KH-ĐT nói rằng là: “sau này lịch sử phải trả lời lại trong thời khắc lịch sử ai là người…”

“Theo ông Nguyễn Chí Dũng, phải làm khách quan, không sau này lịch sử phải trả lời lại trong thời khắc lịch sử ai là người phải chịu trách nhiệm, không phải cứ nói cho sướng mồm không có suy nghĩ, tư duy. Cái gì cũng sợ thì không làm được.”

Rằng là: “câu đó được khắc trên bia đá ở…”

“"Năm 1988, ông Đặng Tiểu Bình đã nói ở Thẩm Quyến, cũng lúc ấy có nhiều ý kiến, ông Đặng Tiểu Bình nói: "Thôi, hãy làm đi, không bàn nữa". Năm 1992 lại dấy lên trào lưu có ý kiến, ông Đặng Tiểu Bình lại nói câu trên. Và bây giờ câu đó được khắc trên bia đá ở Thẩm Quyến. Cái gì hay mình phải học, bất kể là ai"- người đứng đầu Bộ KH-ĐT nói.”

Rằng là: “ta có chủ quyền có độc lập, có trí tuệ… đừng có quá sợ.”

“"Trung Quốc hay mình cũng phải học Trung Quốc. Chúng ta có chủ quyền có độc lập, có trí tuệ thì sao cái gì cũng sợ. Phải chú ý lắng nghe nhưng đừng có quá sợ. Nhiều nước không muốn mình phát triển, người ta không muốn mình đổi mới, cải cách hay phát triển"- Bộ trưởng Dũng nhìn nhận.”

Vậy nhé, cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt cứ yên tâm nhé! Rằng là: “…”

Tuy nhiên, dưới bài Bộ trưởng KH-ĐT: Không có một chữ 'Trung Quốc ... - Báo Thanh Niên có bình luận: “Có một vài từ ngữ mà kinh nghiệm về nó mang sức ám ảnh người ta dữ dội dù không trực tiếp xuất hiện trên thực tế, thưa bộ trưởng!”

Tại sao?


Có ý kiến: “Hàm ý lo lắng của người dân đã bị ông hiểu sai”

Tại sao?

Bài: “Bộ trưởng KH-ĐT: Có người cố tình hiểu sai Luật Đặc khu, chia rẽ ...” có bình luận: “còn tôi thấy mấy ông cố tình ko hiểu.” “Vấn đề là tại sao dư luận quần chúng lo lắng như vậy!?” 

Tại sao?

Và “Một thằng du côn nó nhận vơ cái góc trong sân trước cửa nhà mình bảo là của nó và cứ chiếm giữ lấy không chịu trả, giờ nó lại đặt vấn để thuê 1 phòng ngay trong nhà mình tới 99 năm, vậy các bạn có cho tên du côn kia thuê hay không”

???

Vậy nhé, cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt cứ yên tâm nhé! Rằng là: “…”

II. Nạn Tự Do “rất nhiều… chữ”!

Nếu hiểu vấn đề ở chỗ “không có một chữ nào” để cử tri Việt yên tâm, trí thức nước Việt yên tâm, chúng ta sẽ hiểu có những vấn đề “nói rất nhiều, chữ rất nhiều” thế nào đây?

“Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

Độc lập – Tự Do – Hạnh Phúc!”

Đó là tiêu đề trên bất cứ văn bản nào của bất cứ người dân nào muốn viết một cái gì đó gửi đến chính quyền! Kể từ đơn kiện trở đi.

Thế thì hẳn là ở đây có chuyện “rất nhiều… chữ” rồi nhé!

Ấy vậy, “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa …” là cái đếch gì?

Cử tri Việt, trí thức nước Việt có biết cái “Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa …” là cái đếch gì không?
Cử tri Việt, trí thức nước Việt có biết cái đó nó có hơn các nước “tư bản giãy chết” cái đếch gì không?

Nước Việt này đã có bao giờ “Độc lập” kể từ 1945?

Dân Việt này đã có bao giờ “Tự Do” kể từ 1945?

Dân Việt này đã có bao giờ “Hạnh Phúc” kể từ 1945?

“Độc lập” – chúng nói rất nhiều chữ, nhưng sự thực thì chúng lại ký một công hàm bán nước năm 1958!

“Thưa Đồng chí Tổng lý,

Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, quyết định về hải phận 12 hải lý của Trung Quốc.

Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển.”

“Tự Do – Hạnh Phúc” – chúng nói rất nhiều chữ, nhưng sự thực thì: 

“Hỡi đồng bào cả nước,

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Lời bất hủ ấy ở trong…Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.”

“Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: "người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi".

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.

Thế mà hơn…”

Câu nói đó là câu nói nổi tiếng, ở ngay phần mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” Thế thì hẳn là ở đây có chuyện “rất nhiều… chữ” rồi nhé!

Thế thì hẳn là ở đây dân Việt phải “tự do và bình đẳng” hơn hẳn dân Mỹ và dân Pháp rồi mới phải! Vì nước đi sau sẽ rút được kinh nghiệm của nước đi trước.

Ấy vậy nhưng “tự do và bình đẳng” của dân Việt hiện nay ra sao?

Mời độc giả bình luận!

Trong bất kể bản hiến pháp nào của csvn cũng quy định rất nhiều chữ về “quyền Tự Do” như trong bản hiến pháp mới nhất năm 2014: “Điều 25: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình…” Tuy nhiên, bản hiến pháp nào csvn cũng trói lại một câu “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.”! Thế rồi từ 1945 đến 2018 vẫn chẳng có một cái “pháp luật” nào quy định các quyền này cả. Các “quyền tự do” cơ bản, không điều kiện của một công dân thế giới đã bị chúng trói lại bởi một câu “do pháp luật quy định”, thế rồi cái “pháp luật” kia lại bị trói bởi một “Nhà Nước” bù nhìn, bị trói bởi Đảng Cộng sản Hồ Chí Minh tại điều 4 hiến pháp! “Đảng Cộng sản Việt Nam… là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.” Không một hiến pháp của một đất nước dân chủ nào lại đưa đảng phái vào như vậy! Đó là một hiến pháp vô cùng quái thai và man rợ!

Sự thật là: Đến tận năm 2018, tức là sau 73 năm, kể từ khi Hồ trịnh trọng tuyên bố “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng…; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và …” thì vẫn “Luật Biểu tình, cử tri sốt ruột, Chính phủ vẫn chưa chuẩn bị xong - Dân trí

Và thể theo Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm.” thì người dân Việt Nam tha hồ mà “lập hội”, tha hồ mà “ biểu tình”… 

Ấy vậy nhưng việc “lập hội, biểu tình” của dân Việt hiện nay ra sao?

Mời độc giả bình luận!

Và thể theo “Công dân được làm những gì mà pháp luật không cấm.” thì người dân Việt Nam tha hồ mà “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”…

Ấy vậy nhưng việc “tự do ngôn luận, tự do báo chí” của dân Việt hiện nay ra sao?

Mời độc giả bình luận!

Cả nước Việt Nam ngày nay có một tờ báo tư nhân nào không?

Chưa nói tới tự do như Mỹ và Pháp, mà ngay cả có được như thời dân Việt bị “một cổ 2 tròng” “đế quốc, phong kiến” hay không?

Mời độc giả bình luận!

Vậy đó, cái họ nói “rất nhiều… chữ”! thì như vậy – có tin được không?

Vây nên, cái họ “không có một chữ nào” – có đáng tin không?

Chính là: Chúng nói vậy mà không phải vậy!

Chính là: Chúng không nói vậy mà là như vậy!

Dã man lắm thay!

Mời độc giả bình luận!




GIẶC PHƯƠNG BẮC LÀ KẺ THÙ TRUYÊN KIẾP CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM, NHƯNG LÀ ÂN NHÂN CUẨ ĐẢNG CSVN

Trần Gia Phụng

Việt Nam nằm về phía nam nước Tàu, một nước lớn so với Việt Nam. Vị trí địa lý nầy là một đại nạn thường trực cho Việt Nam, vì các nhà lãnh đạo Tàu qua mọi thời đại, luôn luôn ỷ thế nước lớn, kiếm cách xâm lăng các nước nhỏ láng giềng, trong đó có Việt Nam. Bài nầy trình bày đại nạn Tàu thời cổ sử.

1. Tàu xâm chiếm cổ Việt

Ở phương bắc, lúc mới lập quốc, người Tàu quần tụ sinh sống chung quanh lưu vực Hoàng Hà (Huang He), phía bắc Dương Tử Giang (Yang Zi Jiang), khá xa cổ Việt. Các triều đại Tàu đầu tiên theo chế độ phong kiến, tức phong hầu (phong chức) và kiến địa (cắt đất) để cai trị. Hoàng đế Tàu nắm giữ chính quyền trung ương. Các vương hầu đứng đầu các tiểu quốc chung quanh gọi là chư hầu. Vào thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên (TCN), nhà Châu (Chou) suy yếu. Trong các chư hầu, lúc đó nước Tần mạnh nhất.

Năm 221 trước TCN, vua nước Tần là Tần Chính tiêu diệt các chư hầu, thống nhất Tàu, lên ngôi hoàng đế tức Tần Thủy Hoàng (Ch’in Shih Huang, trị vì 221-210 TCN), lập ra nhà Tần (Ch’in). Tần Thủy Hoàng bỏ chế độ phong kiến, xóa các nước nhỏ, chia Tàu thành 36 quận, đặt quan cai trị, thuộc quyền hoàng đế.

Ổn định xong trung nguyên Tàu, Tần Thủy Hoàng sai Đồ Thư (Tu Shu) và Sử Lộc (Shi Lu) cầm quân vượt qua sông Dương Tử năm 214 TCN (đinh hợi), mở mang bờ cõi xuống phương nam, chiếm vùng đất mà người Tàu gọi là vùng Bách Việt, lập thành ba quận là Quế Lâm (Kueilin), Nam Hải (Nanhai), và Tượng Quận (Hsiang).

Quế Lâm nay là vùng bắc và đông Quảng Tây. Nam Hải là vùng Quảng Đông. Tượng Quận là đất cổ Việt, tức vùng Bắc Việt ngày nay. Trong ba quận nầy, Tượng Quận ở xa xôi nhất đối với Tàu. Phía bắc Tượng Quận, núi non hiểm trở bao bọc, ngăn cách với Nam Hải, Quế Lâm, và trung nguyên Tàu.

Đồ Thư bị người địa phương kháng cự và giết chết. Nhà Tần cử Nhâm Ngao (hay Nhâm Hiêu) làm hiệu uý quận Nam Hải và Triệu Đà (Chao T’o) làm huyện lệnh Long Xuyên (Lung-Chuan), thủ phủ của quận Nam Hải.

Năm 210 TCN (tân mão), Triệu Đà đem quân sang đánh Tượng Quận hay cổ Việt. Theo truyền thuyết, vua cổ Việt là An Dương Vương, nhờ có nỏ thần nên đã đẩy lui quân Triệu Đà. Triệu Đà liền giảng hòa và cho con trai là Trọng Thủy sang kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu. Trọng Thủy lén bẻ gãy nỏ thần, thay bằng một nỏ giả, rồi về nước. Năm 208 TCN (quý tỵ), Triệu Đà tấn công An Dương Vương lần nữa, và chiếm được khu vực cổ Việt.(1)

Lúc đó, Nhâm Ngao bị bệnh qua đời. Trước khi từ trần, Nhâm Ngao khuyên Triệu Đà nên dựa vào địa thế xa xôi hiểm trở của quận Nam Hải, thành lập một nước độc lập. Năm 207 TCN (giáp ngọ), Triệu Đà chiếm Nam Hải và tự xưng vương, tức Triệu Võ Vương, đặt quốc hiệu là Nam Việt, đóng đô ở Phiên Ngung (có tài liệu gọi là Phan Ngu hay Phan Ngung). Năm 198 TCN (quý mão), Triệu Võ Vương cử người sang cai trị cổ Việt.(Cương mục, bd. tập 1, sđd. tr. 89.)

Bên Tàu, sau khi nhà Tần bị lật đổ, Hạng Võ (Xiang Yu) cùng Lưu Bang (Liu Bang) tranh hùng. Lưu Bang thành công, lên ngôi hoàng đế, tức Hán Cao Tổ (Han Kao Tsu, trị vì 202-195 TCN), lập ra nhà Hán (202 TCN – 220). Lúc đầu, Hán Cao Tổ vẫn để họ Triệu làm vương đất Nam Việt. Gần 100 năm sau, Hán Võ Đế (Han Wu Ti, trị vì 141-87 TCN) sai Lộ Bác Đức (Lu Bo De) đem quân đánh nhà Triệu năm canh ngọ (111 TCN), giết vua Triệu Dương Vương và thái phó Lữ Gia, chiếm nước Nam Việt.

Cần chú ý là Triệu Đà vốn là tướng của nhà Tần, vâng lệnh nhà Tần làm huyện lệnh Long Xuyên, thủ phủ của quận Nam Hải, nhân cơ hội xáo trộn ở Trung Hoa, đứng lên chiếm quận Nam Hải, lập ra nước Nam Việt. Triệu Đà không phải là người địa phương Bách Việt. Triệu Đà xâm lăng cổ Việt và sáp nhập cổ Việt vào nước mới của ông là Nam Việt.

Theo sử gia Ngô Thời Sỹ (thế kỷ 18), tác giả bộ Việt sử tiêu án, vì Triệu Đà sáp nhập cổ Việt vào nước Nam Việt, nên khi Nam Việt bị Lộ Bác Đức sáp nhập vào nước Tàu năm 111 TCN, vùng cổ Việt cũng bị sáp nhập luôn vào Tàu, chứ trước kia quân đội của triều đình Tàu không xuống tận miền biên viễn xa xôi nầy. Do đó, theo Ngô Thời Sỹ, Triệu Đà chẳng những không có công gì với cổ Việt mà là người đem họa lại cho cổ Việt nữa.(2) Từ đó, cổ Việt bị Tàu đô hộ cho đến năm 938, khi Ngô Quyền chiến thắng trận Bạch Đằng Giang, đánh đuổi quân Nam Hán ra khỏi nước.

2.- Chủ trương thuộc địa thựa dân

Khi gởi quân vượt sông Dương Tử, đánh chiếm Bách Việt, triều đình Tàu thực hiện ngay chính sách thuộc địa thực dân (thực = trồng, tức trồng người). Triều đình Tàu gởi người Tàu, thuộc chủng Mongoloiid (Mông-cổ) đến các vùng đất mới chiếm càng ngày càng đông. Những đợt di dân đầu tiên có thể gồm hai hạng người: thứ nhất là những binh sĩ đi chiếm đất và thứ hai là những người có trọng tội, bị lưu đày đến miền biên viễn. Khi làm lệnh Long Xuyên, Triệu Đà gởi sứ về triều đình nhà Tần, xin triều đình gởi ba vạn con gái hoặc đàn bà góa sang để làm vợ binh sĩ.(3) Như thế, chứng tỏ số người gốc Tàu được gởi đến vùng Nam Hải lên khá đông.

Từ khi Triệu Võ Vương (Triệu Đà) cử người sang cai trị cổ Việt (198 TCN), người Tàu thuộc chủng Mongoloiid di cư đến tận cổ Việt càng ngày càng đông, đến nỗi có sử thuyết cho rằng những người Tàu di cư nầy chính là tổ tiên người Việt. Trong thực tế những di chỉ khảo cổ cho thấy những người đầu tiên sống trên đất cổ Việt nói chung thuộc chủng người được sắp vào nhóm Indonesian hay Mã Lai Đa Đảo (Malayo-Polynesian). Những người Tàu di cư từ thời Triệu Đà đến Cổ Việt sinh sống, đã hợp chủng với người bản địa cổ Việt để trở thành tổ tiên người Việt ngày nay.

Theo sách The Living Races of Men (New York, 1966), các tiến sĩ Carleton S. Coon và Edward E. Hunt Jr. dựa trên những khảo cứu về huyết học, đã sắp người Đông Nam Á, trong đó có người Việt Nam, và người Indonesian nằm chung trong một hệ thống huyết tộc với nhau.(4) Bên cạnh đó, trong những nghiên cứu về nguồn gốc người Việt Nam, bộ bách khoa Encyclopedia Britannica (1999) đã kết luận “… rằng giữa người Việt với người Thái và các tộc hệ Indonesian có liên hệ mạnh mẽ [chặt chẽ] về xã hội và văn hóa.”(5) Các kết quả nầy cho thấy trong cuộc hợp chủng Việt Tàu thời cổ Việt, yếu tố bản địa có tính cách chủ yếu quan trọng cả về chủng tộc, lẫn văn hóa và xã hội.

Yếu tố bản địa còn thấy rõ trong hai sự kiện: 1) Thứ nhất, dầu bị đô hộ hơn một ngàn năm trong thời cổ sử, người Việt vẫn duy trì tiếng Việt, vẫn nói tiếng Việt cho đến ngày nay, trong khi chữ viết có thể thay đổi. 2) Thứ hai, đế quốc Trung Hoa xâm chiếm miền Nam sông Dương Tử, một vùng đất rộng mệnh mông với nhiều sắc dân khác nhau, duy nhất chỉ có người cổ Việt nổi lên giành độc lập, trong khi các sắc dân khác đành chịu sự đô hộ của Tàu. Điều nầy cho thấy sắc dân bản địa là một thành tố quan trọng trong sự sống còn của người Việt.

Điều đặc biệt là những người Mongoloiid di cư đến sinh sống trên đất cổ Việt, từ đời nầy qua đời khác, đã gắn liền với những quyền lợi chính trị, kinh tế người bản địa cổ Việt. Từ đó những người Mongoloiid di cư đến cổ Việt được Việt hóa dần dần, và trở thành một bộ phận của dân Việt, trái ngược với chủ trương đồng hóa người Việt của triều đình Trung Hoa. (Thay vì đồng hóa người Việt theo Tàu, thì người Tàu di cư lại biến thành người Việt.) Có khi chính những người gốc Tàu di cư cũng nổi lên chống lại chế độ đô hộ Tàu.

Tượng trưng cho khuynh hướng nầy là cuộc nổi dậy của Lương Long năm 178 (mậu ngọ), rồi của các binh sĩ triều đình Tàu tại Giao Chỉ năm 184 (giáp tý), và nổi bật hơn cả là Lý Bôn năm 541 (tân dậu). Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết về Lý Bôn như sau: “Tổ tiên là người Bắc [Tàu], cuối thời Tây Hán [202 TCN-25 SCN] khổ về việc đánh dẹp, mới tránh sang ở đất phương Nam, được 7 đời thì thành người Nam…”(6) Câu nầy không khẳng định là được bảy đời mới trở thành người Nam, nhưng ý cho thấy sống lâu năm và nhiều đời ở cổ Việt “thì thành người Nam”.

Như thế, từ thời Tần Thủy Hoàng, Tàu bắt đầu xâm chiếm miền nam sông Dương Tử, tiến xuống cổ Việt. Nhà cầm quyền Tàu di dân để đồng hóa vùng Bách Việt, nhưng khi đến Tượng Quận, tức cổ Việt, mưu đồ nầy bất thành, vì gặp sự chống đối mạnh mẽ của người cổ Việt, trong đó có cả những di dân từ phương bắc đến. Ngưòi cổ Việt luôn luôn kiếm cách nổi dậy chống lại nhà cầm quyền thực dân Trung Hoa, để giành lấy chủ quyền và nền độc lập của mình.

3.- Huyền thoại khai hóa

Đất cổ Việt bị Tàu đô hộ từ năm 208 TCN đến năm 938, là năm Ngô Quyền đánh đưổi quân Nam Hán ra khỏi bờ cõi cổ Việt.(7) Nhà cầm quyền Tàu đưa người sang cổ Việt, vừa để biến cổ Việt thành một thuộc địa thực dân của Tàu, làm phiên thuộc nhằm bảo đảm an ninh phía nam của Tàu, vừa để tổ chức khai thác và bóc lột thuộc địa.

Công cuộc khai thác của những nhà đô hộ Tàu chỉ nhằm phục vụ quyền lợi Tàu, nhưng lại luôn luôn tự đề cao là họ đã khai hóa dân Việt mà họ cho là “Nam man”.(8) Theo sách Hậu Hán thư (Hou Han shu, sách về đời Hậu Hán, viết vào thế kỷ thứ 5): “Tục Cửu Chân làm nghề săn bắn chứ không biết dùng bò để cày. Dân thường phải mua lúa Giao Chỉ mỗi lần bị thiếu thốn. [Nhâm] Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng, ruộng đất trù mật, mỗi năm một rộng thêm; trăm họ được đầy đủ. Dân Lạc Việt lại không có phép cưới hỏi, mọi người ưa dâm dật, không quen thói sống chung với nhau, nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng. Vì vậy Diên gởi thư đi các huyện thuộc quyền ông, truyền cho mọi người đàn ông từ 20 đến 50 tuổi, đàn bà từ 15 đến 40 tuổi, tất cả tùy theo tuổi tác mà cưới hỏi nhau… Trước kia trong thời Bình Đế có Tích Quang, người Hán Trung làm thái thú Giao Chỉ, lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy như ông Diên…Đất Lĩnh Nam giữ phong tục Trung Hoa bắt đầu từ hai vị thái thú đó…”(9)

Đoạn văn nầy kể công hai nhân vật tiêu biểu cho các thái thú Tàu, là Tích Quan (Xi Guang/ Hsi Kuang) và Nhâm Diên (Ren Yan / Jen Yen). Tích Quang làm thái thú Giao Chỉ (châu thổ sông Hồng), đời vua Hán Bình Đế (1-5 SCN). Nhâm Diên làm thái thú Cửu Chân (châu thổ sông Mã) từ năm 25 đến năm 29 (SCN) thì được gọi về Tàu.

Hai nhân vật nầy, theo Hậu Hán thư, đã có công:. 1) Truyền dạy việc dùng điền khí để cày ruộng. 2) Giáo hóa dân bản địa. Hai “sự nghiệp” nầy được các bộ sử Trung Hoa ca tụng và được một số bộ sử Việt Nam chép theo. Đây là hai vấn đề tiêu biểu cần được xem xét lại:

a) Thứ nhất, “Diên bèn truyền đúc các thứ điền khí dạy cho họ khẩn ruộng”. Dựa vào câu nầy, các sách xưa cho rằng chính Nhâm Diên đã dạy cho dân Việt biết cách dùng lưỡi cày bằng kim khí (điền khí) để cày ruộng. Cần chú ý là người Tàu xưa ở vùng Hoàng Hà, trồng lúa mì và lúa mạch trên ruộng khô, không biết lúa gạo (lúa nước), thì làm sao giỏi kỹ thuật trồng lúa gạo ở ruộng nước mà dạy người Việt?

Trong khi đó, một tài liệu cổ của Tàu xác định rõ ràng lúa trồng tại cổ Việt là loại lúa nước, theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Sách Giao Châu ngoại vực ký [viết khoảng giữa đời Tấn (265-420) Trung Hoa] viết: “…Hồi xưa, chưa có quận huyện, thì Lạc điền tùy theo thủy triều lên xuống mà cày cấy. Người cày ruộng ấy gọi là Lạc dân, người cai quản dân gọi là Lạc vương, người phó là Lạc tướng, đều có ấn bằng đồng và dải sắc xanh làm huy hiệu…”(10) “Theo thủy triều lên xuống mà cày cấy” chính là lúa trồng trong ruộng nước, hay lúa gạo.

Càng ngày càng có nhiều khảo cứu của các học giả Hoa Kỳ, Nga, Tàu và cả Việt Nam, cho thấy rằng Đông Nam Á là trung tâm đầu tiên trên thế giới của nền văn minh lúa nước, rồi từ đó lan truyền đi khắp nơi trên thế giới. Cũng theo các tác giả trên, tâm điểm của trung tâm văn minh lúa nước ở Đông nam Á chính là khu vực Hòa Bình ở Bắc Việt.(11) Hòa Bình nằm trong khu vực uốn khúc của sông Đà để đổ lên sông Hồng, gần huyện Mê Linh (tức Phú Thọ, Vĩnh Phúc), quận Giao Chỉ thời cổ Việt, nơi phát tích của Hai Bà Trưng.

Tiến sĩ Wilhelm G. Solheim II, giáo sư nhân chủng học thuộc Đại học Hawaii, chuyên viên về tiền sử Đông Nam Á, cho biết những di chỉ ông tìm kiếm được năm 1963 mách bảo rằng sắc dân Lạc Việt ở Đông Nam Á đã biết trồng lúa và biết cách đúc đồng sớm hơn các miền Cận đông, Ấn Độ và Tàu. (National Geographic, Vol. 139, No. 3, March 1971.)

Theo một tài liệu khác, tại Mê Linh (Vĩnh Phúc, Phú Thọ ngày nay) quận Giao Chỉ (châu thổ Hồng Hà), người ta tìm thấy những bộ xương trâu đã có mặt tại đây khoảng 2,000 năm trước Công nguyên, và hai lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn (thế kỷ thứ 5 TCN đến thế kỷ 1 SCN) dùng cho trâu cày.(12)

Như thế, rõ ràng Nhâm Diên không phải là người khai tâm dân Việt dùng điền khí để cày cấy như Hậu Hán thư đã viết và các bộ sử khác chép theo. Dân Lạc Việt đã biết làm ruộng, trồng lúa nước (lúa gạo) và đã biết sử dụng điền khí trước khi người Trung Hoa đến xâm lăng, chứ không phải người Tàu dạy dân Lạc Việt dùng điền khí để cày cấy. Lúc đó, dân Lạc Việt dùng lưỡi cày bằng đồng vì đồ đồng là nghề luyện kim chính của dân Lạc Việt (vốn nổi tiếng về trống đồng), và nhất là đồ sắt bị hạn chế, do việc bà Lữ hậu nhà Hán đã ra lệnh cấm xuất cảng sắt xuống phía nam Tàu từ năm 183 TCN.(Cương mục, tr. 92.)

Vậy phải chăng Nhâm Diên, thái thú Cửu Chân (vùng châu thổ sông Mã), nơi có trung tâm trống đồng Đông Sơn (Thanh Hóa), chứng kiến cảnh dân chúng địa phương đã cày cấy bằng lưỡi cày bằng đồng theo mô thức Đông Sơn, rồi báo cáo như trên để lập công với triều đình Tàu?

b) Điều thứ hai, Hậu Hán thư còn cho rằng người Việt “không có phép cưới hỏi… không quen thói sống chung với nhau nên không biết tình cha con, không biết đạo vợ chồng”, nên Nhâm Diên dạy dân Việt cưới hỏi theo lễ giáo. Tập tục cưới hỏi, cũng như các lễ nghi, tập quán trong đời sống mỗi sắc dân mỗi khác. Người cổ Việt có phong tục của người cổ Việt. Dân Tàu có tập quán của dân Tàu. Dưới thời Mã Viện cai trị cổ Việt, Hậu Hán thư (quyển 54) chép rằng: “Luật dân Việt và luật nhà Hán khác nhau đến hơn mười điều.”(13)

Những tập tục cưới hỏi của các bộ tộc miền núi ở Việt Nam ngày nay, có thể xem là vết tích tập tục của người cổ Việt còn được lưu truyền. Dầu theo mẫu hệ, những tập tục cưới hỏi nầy khác với tập tục của những người ở miền đồng bằng (người Kinh), nhưng không có gì là đồi phong bại tục, đáng để lên án hay đáng để thay thế. Vì vậy, khi đô hộ cổ Việt, các nhà cai trị Tàu bắt người cổ Việt bỏ những tập tục cưới hỏi của người cổ Việt, và theo những tập tục cưới hỏi Tàu, là một sự áp đặt văn hóa thô bạo, chứ không phải là giáo hóa cho người cổ Việt.

Duy có một điều chắc chắn là cưới hỏi theo lễ giáo Tàu, tức cưới hỏi theo phụ hệ, để “biết tình cha con, đạo vợ chồng”, nghĩa là lập thành từng hộ gia đình nhỏ. Điều nầy đối với những nhà đô hộ Trung Hoa có hai điều lợi cho công việc cai trị. Thứ nhất, qua các hộ gia đình, nhà cầm quyền đô hộ nắm vững tình hình dân số, tình hình an ninh địa phương. Thứ hai, nhà cầm quyền đô hộ sẽ dựa vào số hộ dân để thu thuế theo cách mà Vệ Ưởng (Wei Yang) hay Thương Ưởng (Shang Yang, 390-338 TCN), đã thiết lập tại Tàu từ thế kỷ thứ 4 trước Công nguyên.(14) An ninh và thu thuế là hai mục đích hàng đầu của chế độ đô hộ bóc lột.

Ngoài Nhâm Diên, thái thú Tích Quang “lấy lễ nghĩa dạy cho dân Man di ăn ở, tiếng giáo hóa cũng lừng lẫy…”. Lễ nghĩa mà Tích Quang phổ biến cho dân chúng cổ Việt chắc chắn không ngoài lễ nghĩa Nho giáo, với ba giềng mối chính là tam cương (vua tôi, chồng vợ, cha con) và năm đạo chính là ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín). Ai cũng biết Nho giáo là một triết thuyết chính trị hậu thuẫn cho chế độ quân chủ, trong đó đứng đầu là đạo “trung quân”. Trung quân có nghĩa là trung thành với vua. Lúc đó cổ Việt không có vua; chỉ có vua Trung Hoa. Trung thành với vua Tàu là mặc nhiên chấp nhận nền đô hộ của Tàu. Như thế, lễ giáo của Tích Quang cũng chỉ để ổn định xã hội và phục vụ cho công cuộc thống trị của thực dân Tàu.

Công việc “giáo hóa” của hai thái thú Tích Quang và Nhâm Diên, nhất là việc áp dụng tục lệ cưới hỏi theo lễ nghi Tàu, bị người Việt chống đối. Một tờ trình của Tiết Tống (Hsueh Tsung) vào năm 231, 5 năm sau khi Sĩ Nhiếp chết, gởi cho triều đình Đông Ngô thời Tam quốc (213 – 280), cho rằng cho đến khi Tiết Tống đến Giao Chỉ dưới thời Sĩ Nhiếp (Shi She) làm thái thú (từ 187 đến 226), tức là sau mấy trăm năm đô hộ, ảnh hưởng văn hóa Tàu không đúng theo như các báo cáo trước đó; người Giao Chỉ và Cửu Chân vẫn còn giữ tục lệ gia đình của họ.(15)

Điều nầy không lạ, vì đến thế kỷ 15, Quốc triều hình luật thời nhà Hậu Lê đã thừa nhận trong điều 40 rằng: “Người “man liêu” là người sắc tộc thiểu số và tuy có văn hóa khác với dân Việt, vẫn thuộc thành phần quốc dân Đại Việt…”(16) Hơn nữa, cho đến ngày nay, tức 20 thế kỷ sau, vùng rừng núi Việt Nam vẫn còn một số bộ tộc theo mẫu hệ, tập quán riêng của họ.

Như thế, chuyện Nhâm Diên dạy cho dân Việt dùng điền khí để cày cấy, hay chuyện Nhâm Diên và Tích Quang giáo hóa dân Việt, đều chỉ là những huyền thoại làm đẹp cho chế độ đô hộ. Trong khi đó người Trung Hoa học cách cày cấy lúa nước của người Việt và du nhập lúa nước vào Tàu, làm phong phú sinh hoạt kinh tế Tàu.

Trong sách Ancient China (1967), tác giả Edward H. Schafer viết rằng: “Thuật trồng lúa gạo và thuần hóa gia súc chắc chắn [Tàu] đã tiếp thu từ các sắc dân tầm thường ở miền nam xa xôi hẻo lánh [nam Man].” (Nguyên văn: “The art of cultivating rice and domesticating cattle were doubtless adopted from the despised races of the remote south.”)(17a)

Cũng nhà nghiên cứu nầy cho rằng Đức Khổng Tử (551-478 TCN), người tỉnh Sơn Đông (Shandong) vùng hạ lưu Hoàng Hà và ở phía bắc sông Dương Tử, “sống chủ yếu bằng loại bánh làm bằng kê”. (nguyên văn: “…Confucius have subsisted chiefly o­n millet cakes…”), và “Khổng Tử chưa bao giờ thưởng thức trà, và chắc chắn rằng Vương Xung, sáu thế kỷ sau, cũng thế.” (nguyên văn: “…Confucius never tasted tea, and it is doubtful that Wang Ch’ung, six centuries later, did either….”(17b) Trà là loại giải khát cũng phát xuất từ miền nam.

Chủ trương bóc lột của triều đình Tàu khi nặng khi nhẹ, tùy hoàn cảnh và tùy tư cách của các thái thú Trung Hoa, có người tốt kẻ xấu, nhưng thực chất trước sau cũng đều chỉ nhắm mục đích vơ vét cho Tàu. Chính sách bóc lột nầy lên cao điểm khi vua Hán Quang Võ (Han Guang Wu) cử Tô Định (Su Ding) sang làm thái thú Giao Chỉ năm 34 (giáp ngọ). Tô Định rất tham tàn và hà khắc, áp dụng chủ trương khai thác và bóc lột một cách triệt để, đã đưa đến cuộc khởi nghĩa giành độc lập đầu tiên năm 40 (canh tý) của dân cổ Việt do Hai Bà Trưng lãnh đạo.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bị thất bại năm 43 (quý mão). Sau đó, trong suốt mười thế kỷ, người Việt nhiều lần nổi lên chống quân xâm lược Tàu: Triệu Thị Trinh (248), Lý Nam Đế (541), Lý Phật Tử (603), Lý Tự Tiên (602), Mai Thúc Loan (727), Phùng Hưng (767), Dương Thanh (819), Vương Thắng Triều (828), Khúc Thừa Dụ (905) Dương Diên Nghệ (931). Cuối cùng, Ngô Quyền đánh đuổi quân Nam Hán năm 938 (mậu tuất), thực hiện được giấc mộng độc lập của dân tộc Việt.

Kết luận

Tóm lại, đối với người Việt, đại nạn Tàu bắt đầu từ thời cổ sử. Ngay khi mới thống nhất Tàu, triều đình nhà Tần đã chủ trương bành trướng và đưa quân vượt sông Dương Tử, chiếm Bách Việt, tiến xuống xâm lăng cổ Việt. Trong suốt hơn 1,000 năm đô hộ cổ Việt, từ năm 208 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên, các thái thú Trung Hoa không ngừng vơ vét tài nguyên cổ Việt để cung ứng cho triều đình Trung Hoa.

Tuy người Việt đã đánh đuổi được quân Tàu ra khỏi nước để giành lấy độc lập tự chủ, nhưng sau hơn một ngàn năm đô hộ nước Việt, người Tàu vẫn mang một số định kiến lạ lùng đối với người Việt.

Thứ nhất, cho đến thế kỷ 20, mà một nhà cách mạng dân chủ như bác sĩ Tôn Văn (1866-1925), đã nói với Khuyển Dưỡng Nghị (chính khách Nhật Bản): “Người Việt Nam vốn nô lệ căn tính. Ngày xưa họ bị chúng tôi đô hộ, ngày nay họ bị Pháp đô hộ. Dân tộc ấy không có tương lai.”(18) Thật là một câu nói ngạo mạn!

Thứ hai, các nhà cầm quyền Tàu tự cho rằng nước Việt là một phiên thuộc của Tàu, một phần đất của Tàu. Khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kỳ Việt Nam, buộc triều đình nhà Nguyễn ký hòa ước năm 1874, Pháp báo hòa ước nầy cho triều đình nhà Thanh ngày 24-5-1875. Triều đình nhà Thanh trả lời rằng: “Chí Giao Chỉ tức Việt Nam bổn hệ Tàu thuộc quốc.” (tạm dịch nghĩa: “Từ Giao Chỉ đến Việt Nam vốn là thuộc quốc của Tàu.”)(19) Vì vậy nhà Thanh đòi hỏi Pháp phải thương thuyết với Trung Hoa về vấn đề Việt Nam.

Năm 1939, trong một tài liệu của đảng Cộng Sản Tàu, tựa đề là “Cách mạng Trung Quốc và đảng Cộng Sản Trung Quốc”, lãnh tụ đảng CSTH là Mao Trạch Đông đã xác quyết: “Các nước đế quốc, sau khi đánh bại Trung Quốc, đã chiếm các nước phụ thuộc của Trung Quốc: Nhật chiếm Triều Tiên, Đài Loan, Lưu Cầu, quần đảo Bành Hồ, và Lữ Thuận, Anh chiếm Miến Điện, Bu-tan, Hương Cảng, Pháp chiếm An-Nam.”(20)

Do những định kiến ưu quyền trịch thượng đối với Việt Nam, các nhà cầm quyền Tàu luôn luôn có dã tâm xâm lăng Việt Nam, mà không để cho người Việt yên sống hòa bình.

Từ Đặc khu đến Khu tự trị thuộc quyền của Tàu cộng là bao xa?

Nguyên Thạch (Danlambao) - Thế là mưu đồ "xâm lược mềm" của Tàu cộng đang ngày càng lộ rõ dần qua nhiều vụ việc quan trọng trong quá khứ gần đây như: Mật Nghị Thành Đô, Tuyên bố chủ quyền về Biển Đông, đánh cướp 7 đảo của Việt Nam ở 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Bô Xít Tây Nguyên, Vũng Áng, Lee & Man, Nhiệt điện Tuy Phong, giàn khoan HD-981 xâm lấn lãnh hải, di dời cột mốc biên giới ở đất liền, đơn phương ra lệnh cấm đánh bắt, ngăn cấm Việt Nam hợp tác với các nước khác thăm dò và khai thác dầu khí... Và hiện nay là cho tiến hành buộc Quốc Hội VN công nhận cái gọi là "Đặc khu kinh tế".

"Sách lược mềm" của Tàu cộng được tiến hành thôn tính Việt Nam bằng cách "từng bước chân âm thầm", không có tiếng bom đạn, không có đoàn quân tiến công ồ ạt mà nay họ gọi là "thôn tính tiệm tiến". 

Trước khi thực hiện sách lược mềm này, Tàu cộng đã mua chuộc, dụ dỗ và kể cả hăm dọa BCT (Bộ Cá Tra) đồng thời cho cài đặt lực lượng nội tuyến giựt dây, chỉ đạo và kiểm soát... để dựng nên một đảng mang danh nghĩa là ĐCSVN nhưng thực chất đây chỉ là một đảng tay sai cho trung ương thiên triều. Nói một cách dân dã hơn là "đảng tôi tớ" mà Nguyễn Phú Trọng cùng toàn thể Bộ Cá Tra, Cuốc Hội, tướng lãnh... đều là những tên Thái thú ngoan ngoãn nguyện làm tay sai cho Trung Nam Hải. 

Những hành vi, động thái của Tàu Cộng và bọn tay sai đã lộ ra một cách trắng trợn, quá rõ ràng như vậy mà đại đa số dân chúng Việt Nam vẫn không quan tâm và thậm chí là không thể hiện bất cứ hành động lo sợ hoặc phản ứng cụ thể nào. 

Nắm được những điều kiện vô cùng thuận lợi như thế, Tàu cộng đã cho thực hiện tiến trình Hán hóa nhanh hơn dự định là bắt đầu vào năm 2020. Họ cho dân chúng quen dần với phương thức luộc ếch để dân Việt Nam thích nghi dần với những vụ việc xảy ra từ từ để rồi phải chấp nhận như "chuyện đã rồi". 

Hôm nay Vân Đồn (miền Bắc), Bắc Vân Phong (miền Trung) và Phú Quốc (miền Nam) là đặc khu. Ngày mai Hà Nội, Huế, Nha Trang, Bình Thuận, Bình Dương, Sài Gòn, Cần Thơ... là đặc khu. Khi 3 khu vực quan trọng của 3 miền đã là "đặc chiến khu" bất khả xâm phạm thì có bao nhiêu đặc chiến khu nữa thì sự việc cũng đã rồi, gạo đã nấu thành cháo rồi Diễm ơi!. 

Từ Đặc Khu tới Khu Tự Trị thuộc nhà cầm quyền trung ương Bắc Kinh như Nội Mông, Tân Cương và Tây Tạng là không còn bao xa nữa vì "ván đã đóng hòm". 

07.06.2018


Đặc khu kinh tế hay mồ chôn tập thể?


- Thủ tướng VN bất ngờ quyết định: "Rút số năm cho thuê đất, và không còn giữ mức 99 năm như dự thảo ban đầu."

- Nguyên Đại sứ Việt Nam tại Bắc Kinh: "Những người đồng ý thì đều là những kẻ bán nước."

*

Trước những phản ứng gay gắt của dư luận, Thủ tướng CSVN Nguyễn Xuân Phúc đã bất ngờ xuống giọng tuyên bố "sẽ rút thời gian cho thuê đất đặc khu kinh tế, không giữ nguyên mức cố định 99 năm".

Tiếp xúc với báo chí tại hành lang Quốc hội sáng ngày 07/06 (2018), ông Phúc nói: "Chính phủ sẽ báo cáo Quốc hội việc điều chỉnh dự thảo luật về việc rút số năm cho thuê đất, và không còn giữ mức 99 năm như dự thảo ban đầu trong dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn, Bắc Vân Phong, Phú Quốc (Luật đặc khu)."(theo Zing.VN, ngày 07/06/2018)

Tuy nhiên ông Phúc không cho biết sẽ rút số năm xuống còn bao nhiêu, và liệu đề nghị thay đổi có được Quốc hội và dư luận đồng tình ủng hộ hay không.

Tuy nhiên ông Phúc cũng lưu ý: "Tôi cũng xin nói rằng đây là đất thuê. Đất thuê đó thực hiện theo quy trình nào, hàng năm UBND trình HĐND giá thuê đất, chứ không phải giao vĩnh viễn nhượng tô, nhượng địa như Hong Kong, Ma Cao. Đó là 2 việc hoàn toàn khác nhau. Rất tiếc nhiều người hiểu sai vấn đề này."

Ông Phúc nói thế, nhưng Dự luật không có chỗ nào viết rằng "hàng năm UBND trình HĐND giá thuê đất" để thay đổi giá thuê đất. Và nếu nhà đầu tư không đồng ý trả giá mới thì lấy đất lại.

Do đó, không có chuyện "nhiều người hiểu sai vấn đề này" với suy luận nhà nước đã có ý "nhượng tô, nhượng địa như Hong Kong, Ma Cao". Chỉ có nhà nước không minh bạch khi viết ra những điều ấm ớ, nửa kín nửa hở trong Dự luật mà thôi.

Hơn nữa, trong hàng ngàn phản ứng bất bình với thời gian cho thuê đất 99 năm, không ai gán cho Chính phủ và Quốc hội đã âm mưu nhượng đất tổ tiên cho ngoại bang.

Dư luận chỉ lo ngại nếu để cho người nước ngoài giữ đất quá lâu như thế, có ai dám bảo đảm đất này vẫn còn của Việt Nam hay sẽ thành thuộc địa của nước khác qua các mưu mô thâm độc không lường trước được của kẻ thuê đất.

Hãy đọc nguyên văn Điều 32 của Dự luật viết về "Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất tại đặc khu":

"Căn cứ vào quy mô, tính chất của dự án đầu tư và đề xuất của nhà đầu tư, Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu quyết định thời hạn sử dụng đất để sản xuất, kinh doanh tại đặc khu không quá 70 năm; trường hợp đặc biệt, thời hạn sử dụng đất có thể dài hơn nhưng không quá 99 năm do Thủ tướng Chính phủ quyết định."

Viết thế nhưng Dự luật lại không nói rõ "trường hợp đặc biệt" là thế nào.

Cũng trong lời tuyên bố không còn giữ thời hạn cho thuê đất 99 năm, ông Thủ tướng Phúc còn vẽ ra ý tưởng đề phòng thông minh của nhà nước. 

Ông nói: "Tại đặc khu cũng có cơ cấu nhà đầu tư phù hợp, của từng quốc gia theo một tỷ lệ cần thiết, chứ không phải chỉ một nước. Điều đó đảm bảo an ninh kinh tế, an ninh quốc gia đi liền với nhau trong xây dựng đặc khu. Người dân không nên lo lắng một nước, một quốc gia nào đó độc quyền đầu tư vào… Chúng ta phải tạo một thể chế môi trường cạnh tranh tốt với quốc tế, thuận lợi nhưng phải đảm bảo quyền lợi quốc gia, dân tộc."

Ông Phúc nói thế thì biết vậy chứ trong toàn bộ Dự luật Đặc khu, chả thấy có chỗ nào nói rõ như thế! Ai không tin cứ tìm mà đọc.

Đáng chú ý là biến cố Chính phủ bỏ đề xướng cho thuê đất 99 năm chỉ xảy ra 8 ngày trước khi Quốc hội họp kỳ 5 của Khóa XIV bỏ phiếu Dự luật 3 Đặc khu trong phiên họp bế mạc ngày 15/06/2018.

Như vậy, sau lần hoãn từ kỳ họp 4, Quốc hội đảng cử dân bầu của đảng CSVN đã chọn ngày họp cuối để bỏ phiếu "Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt Vân Đồn (tỉnh Quảng Ninh), Bắc Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa) và Phú Quốc (tỉnh Kiên Giang)", hay còn gọi ngắn gọn là Luật Đặc khu, theo yêu cầu của Bộ Chính trị.

Mặc dù Hiến pháp quy định Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất nước nhưng thực tế là Bộ Chính trị muốn ngồi lên đầu Quốc hội lúc nào cũng được.

Bằng chứng là tại phiên thảo luận ngày 16/04/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi thảo luận Luật Đặc khu, Bà Chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân đã công khai hạ thấp danh dự của cơ quan đại diện dân để nói toạc ra rằng: "Bộ Chính trị đã kết luận rồi, dự thảo luật không trái Hiến pháp, phải bàn để ra luật chứ không không thể không ra luật."

Bà Ngân, một Ủy viên Bộ Chính trị biết nói như thế là sai, vi phạm Hiến pháp nhưng vẫn phải nói vì Quốc hội chỉ là nơi diễn tuồng dân chủ phân quyền cho đảng duy nhất cầm quyền. Tư duy làm việc quen thuộc khi Bộ Chính trị đã ừ thì Quốc hội cũng phải gật cho tròn bổn phận bù nhìn, trong trường hợp này, đã rõ như ban ngày.

3 vị trí chiến lược

Về dự Luật Đặc khu, do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo có nội dung "quy định về quy hoạch, cơ chế, chính sách đặc biệt về phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương và cơ quan khác của Nhà nước tại các đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt."

Nhưng trong “đặc biệt” này còn có những thứ “đặc biệt” nào trái tai gai mắt mà nhiều Đại biểu Quốc hội và vô số kể nhân sỹ, trí thức, nhà khoa học và người Việt Nam trong và ngoài nước đã đồng loạt lên tiếng phê phán, đả kích và thậm chí còn cảnh giác cả về hiểm họa mất nước về tay người Tầu Bắc Kinh, nếu lãnh đạo chỉ biết ham lợi trước mắt?

Sở dĩ những người quan tâm lo âu vì 3 Đặc khu đều là các vị trí chiến lược quốc phòng quan trọng hàng đầu nhìn ra Biển Đông của Việt Nam.

Vân Đồn (Tỉnh Quảng Ninh), cửa ngõ ra Vịnh Bắc Bộ, là chặng dừng chân đầu tiên của tầu bè Trung Hoa đi xuống Việt Nam, nhưng cũng là tuyến phòng ngự ở vùng biển Đông Bắc của Việt Nam từ thời các Vua chúa Việt. Hơn nữa Vân Đồn chỉ cách đảo Hải Nam, căn cứ Tầu ngầm của Trung Hoa, chừng 200 hải lý (mỗi hải lý dài 1,852 mét).

Bắc Vân Phong (Tỉnh Khánh Hòa), nhìn thẳng ra Trường Sa, trực diện với các vị trí đóng quân của Trung Hoa trên các bãi đá, nay đã biến thành đảo mà Bắc Kinh chiếm của Việt Nam từ 1988 gồm Subi, Gaven, Chữ Thập, Gạc Ma và Châu Viên. Ngoài ra Bắc Vân Phong cũng chỉ cách vịnh chiến lược nổi tiếng Cam Ranh trên 60 cây số. Khánh Hòa cũng là nơi phát xuất các tầu Hải quân Việt Nam tiếp vận lương thực và luân chuyển quân lính ra vào 21 vị trí đóng quân của Việt Nam ở Trường Sa.

Phú Quốc (Tỉnh Kiên Giang), nằm trong vịnh Thái Lan là vị trí phòng thủ chiến lược cực nam của Việt Nam. Từ Phú Quốc, tầu bè và máy bay có thể đi khắp Á Châu-Thái Bình Dương, sang Ấn Độ Dương để đi qua Trung Đông.

Khoảng cách giữa Phú Quốc và bờ biển Kampuchea chỉ chừng 26 cây số nên sự kiện Trung Hoa đã thuê dài hạn được hai cảng Sihanoukville và Bokor của “đàn em” Cao Miên để phô trương sức mạnh quân sự và kinh tế trong khu vực cũng là điều đáng quan tâm.

Vì các yếu tố quốc phòng quan trọng của 3 Đặc khu mà nhiều người Việt Nam đã cảnh báo Quốc hội và đảng CSVN phải đề phòng nguy cơ dùng kinh tế làm bàn đạp thôn tính Việt Nam của Trung Hoa, nếu vì lý do này hay lý do khác, các Công ty của người Tầu, kể cả từ Đài Loan hay Hồng Kông hoặc Ma Cao lại bỏ giá cao để trúng thầu độc quyền hay đầu tư ào ạt vào 3 Đặc khu để thực hiện ý đồ đen tối.

Từ 99 năm đến lo giữ nước

Hơn nữa, vì thời hạn cho thuê đất dài đến 99 năm của Dự luật và những ưu đãi quá đáng dành cho người đầu tư nước ngoài mà nhiều giới đã khó chịu phản đối và lo lắng cho các thế hệ người Việt tương lai phải gánh hậu quả, nếu tính sai.

Trước những bức xúc này, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng đã cố gắng giảm thiểu cường độ "phản ứng do lo ngại có yếu tố Trung Quốc" của nhiều người từ Việt Nam ra nước ngoài.

Ông Dũng nói với báo chí tại hành lang Quốc hội ngày 06/06/2018: "Trong dự thảo Luật không có một chữ nào về Trung Quốc… Chỉ có những người cố tình hiểu theo hướng đó và đẩy vấn đề lên, chia rẽ quan hệ ta với Trung Quốc. Còn Luật quy định bình đẳng trong một môi trường chung, với tất cả thành phần kinh tế và với tất cả các nước. Môi trường hội nhập quốc tế ta đang mở nên bình đẳng hết, không hạn chế người này người khác.

Mọi người đang hình dung tiêu cực. Mọi người đang đẩy thành vấn đề sợ Trung Quốc, nhưng ta bình đẳng không phân biệt, không một ai có thể vào đây làm việc gì khi đất nước ta đang có chủ quyền, ta phải bình tĩnh, xem xét và lắng nghe."

Phản ứng nhanh và mạnh về chuyện cho thuê đất đến 99 năm, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Hoa, nguyên Thiếu Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh viết: "Cá nhân tôi hoàn toàn không đồng ý với việc thành lập 3 đặc khu và cho thuê đất 99 năm với 3 nhận định như sau:

- Vị trí của 3 đặc khu vô cùng quan trọng, với 3 vị trí rải đều trên phần lãnh thổ VN cả mặt Đông Bắc, mặt Đông và mặt Tây Nam như vậy thì quốc gia nào thuê 99 năm đều có thể khống chế được toàn bộ vùng đất, vùng trời, vùng biển của VN. Đặc biệt là Vân Đồn. 

- Trước khi đưa ra kế hoạch này thì người hoạch định nó đã có tính toán kĩ càng về giá trị kinh tế, quốc phòng,... chưa? Có công khai cho toàn dân biết và đã lấy ý kiến của dân chưa? Nếu chưa thì đó là việc làm khuất tất. 

- 99 năm nữa thì những người quyết định cho thuê đất 99 năm đã chết từ lâu rồi, vậy ai là người chịu trách nhiệm nếu 3 đặc khu đó làm ăn không hiệu quả hoặc cả 3 đặc khu đó vĩnh viễn rơi vào tay nước khác.
- Không biết ai đưa ra ý tưởng như vậy, kể cả những người đồng ý thì đều là những kẻ bán nước."

Tiến sỹ, nhà Khoa học, Nhà văn bất đồng chính kiến với đảng CSVN, Hà Sĩ Phu (Nguyễn Xuân Tụ) tuyên bố: "Nếu Quốc hội thông qua chủ trương “cho người nước ngoài thuê đất làm đặc khu dài hạn” (chắc chắn sẽ được Tàu Cộng lợi dụng) thì tôi xin phép kết luận một cách khẩn thiết như sau:

Hiện nay không biết đặt mối lo Bắc thuộc lên hàng đầu thì hoàn toàn không xứng đáng là một người Việt Nam! Nếu đa số đại biểu Quốc hội mà đồng tình với chủ trương tai hại như vậy thì cũng có nghĩa tuyệt đại đa số trong Quốc hội VIỆT NAM CS bây giờ lại ‘không phải, không đáng là người VIỆT NAM’!? Vậy thực chất nó là một Quốc hội của người nước nào vậy?! Ôi, nghĩ thế mà đau lòng! (Hữu ý hay vô tình đã biến “của dân-do dân và vì dân” thành “của Tàu-do Tàu và vì Tàu"?).

Trong khi đó tại diễn đàn Quốc hội, Đại biểu Dương Trung Quốc (tỉnh Đồng Nai) băn khoăn tại sao không quan tâm đến phát triển công nghệ tại các đặc khu mà lại chú ý nhiều đến chuyện bất động sản. Ông nói: "Những nhà đầu tư vào công nghệ, nhất là công nghệ cao, người ta đâu cần đến 70-99 năm?... Điều kiện kéo dài thời gian thuê đất thì các nhà đầu tư chân chính không cần. Họ cần môi trường đầu tư tốt, chính sách thuế, hạ tầng, các quan hệ xã hội, giao dịch sòng phẳng, minh bạch hơn là việc được ở lâu". 

Theo báo chí Việt Nam thì ông Dương Trung Quốc còn "cảnh báo về những rủi ro tiềm ẩn về mặt an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội nếu thời hạn cho thuê đất quá dài... phải hết sức thận trọng bởi nếu không đặc khu có thể sẽ trở thành nơi di dân."

Đại biểu Trương Trọng Nghĩa (đoàn TP HCM) đồng ý rằng: "99 năm là một thế kỷ, mấy thế hệ sinh ra và lớn lên, do đó, có thể để cho con cháu sau này quyết định số phận của những dự án ở đặc khu, không nhất thiết quyết thay cho họ."

Vì cuộc tranh luận khá gay go nên Đại biểu Dương Trung Quốc đề nghị nên biểu quyết riêng về thời hạn 99 năm để xem ai đồng ý, ai không tán thành cho rõ trắng đen với lịch sử.

Tiếng nói chuyên gia

Cũng lên tiếng về thời gian 99 năm, chuyên gia kinh tế, bà Phạm Chi Lan nói: "Cho thuê đất tối đa 99 chỉ có lợi cho đại gia bất động sản".

Lên tiếng tại cuộc Hội thảo ngày 01/06/2018 về "Chính sách ưu đãi thuế tại các đặc khu: kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị". Bà Phạm Chi Lan cho rằng: "Với thời buổi công nghệ thay đổi nhanh chóng, trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghệ 4.0, vòng đời của một sản phẩm rất nhanh. "Không nhà đầu tư nào đảm bảo sẽ làm ngành đó, nghề đó và lĩnh vực đó trong thời hạn 90 năm, kể cả 70. Đây là 3 - 4 vòng đời sản phẩm, gần hai thế hệ người Việt" (theo Tạp chí điện tử Người Đồng Hành, NĐH).

Tạp chí NĐH viết tiếp: "Theo bà Lan, trong bối cảnh công nghệ liên tục thay đổi, vòng đời và tuổi thọ của các ngành còn chưa rõ, việc Việt Nam mở ra ưu đãi lớn và thời gian thuê đất dài là thừa thãi. Bà Lan đặt vấn đề với thời hạn thuê đất đến 99 năm, khi doanh nghiệp phá sản hoặc chuyển mục đích sử dụng, cơ quan quản lý sẽ xử lý như thế nào?"

Bà nói thẳng: "Thời hạn cho thuê đất ở các đặc khu tối đa 99 năm là một chính sách rất tệ, không nên áp dụng".

Bà cho rằng: "Cơ quan soạn thảo lấy ưu đãi thuế để làm tiền đề thu hút nhà đầu tư và lấy thời hạn cho thuê đất tối đa 99 năm làm cơ sở để các doanh nghiệp lớn có thể "yên tâm" làm ăn là một quan điểm lỗi thời trong thời đại cách mạng công nghiệp này."

Phóng viên Nam Anh của Tạp chí NĐH viết tiếp: "Đồng tình, chuyên gia kinh tế Lưu Bích Hồ dẫn báo cáo của Ngân hàng Thế giới cho biết 85% các nhà đầu tư ở Việt Nam khi được hỏi khẳng định các chính sách ưu đãi thuế là không cần thiết. Các nhà đầu tư quan tâm hơn đến cơ sở hạ tầng, chất lượng nguồn nhân lực và ổn định xã hội. Theo ông Hồ, nhà đầu tư không cần ưu đãi dễ dãi, họ quan tâm đến công bằng, thuận lợi hơn."

PGS.TS. Đinh Trọng Thịnh – Học viện Tài chính cũng cho rằng các chính sách ưu đãi được đề xuất trong dự thảo Luật đều là những ưu đãi dựa trên lợi nhuận mà nhiều quốc gia không còn sử dụng nữa.

Theo ông, dự thảo Luật Đặc khu cần được xem xét lại cẩn trọng, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã bỏ các ưu đãi như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biết. Thay vào đó, các nước chuyển sang ưu đãi bằng sự thông thoáng trong tiếp cận vốn, tiếp cận thị trường.” 

Ưu đãi nhiều quá

Ngoài chuyện cho thuê đất quá lâu, dư luận Quốc hội và trong dân còn quan tâm đến những chuyện ưu đãi qúa đáng mà Dự luật dành người nước ngoài, gồm những điểm đáng chú ý như sau:

- Tranh chấp giữa các nhà đầu tư liên quan đến hoạt động đầu tư kinh doanh tại đặc khu, trong đó có ít nhất một bên là nhà đầu tư nước ngoài còn có thể được giải quyết tại Tòa án nước ngoài, trừ tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết riêng biệt của Tòa án Việt Nam theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nhà ở:

Điều 33 viết về quyền sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại đặc khu:

1. Đối tượng, điều kiện tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại đặc khu được thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở.

2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo pháp luật về nhà ở có quyền:

a) Sở hữu nhà ở thông qua đầu tư xây dựng nhà ở theo dự án tại đặc khu theo Luật này và pháp luật có liên quan;

b) Sở hữu nhà ở thương mại, bao gồm căn hộ chung cư và nhà ở riêng lẻ trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở tại đặc khu, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy hoạch đặc khu, thông qua các hình thức mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế từ chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.

3. Quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở và quy định của Luật này.

Điều 34. Quyền sở hữu căn hộ khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, văn phòng làm việc kết hợp lưu trú.

1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc đối tượng và đủ điều kiện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo pháp luật về nhà ở thì được sở hữu căn hộ khách sạn (condotel), biệt thự nghỉ dưỡng (resort villa), văn phòng làm việc kết hợp lưu trú (officetel) và các loại hình tương tự khác thông qua các hình thức mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế từ chủ đầu tư dự án hoặc tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sở hữu bất động sản trong dự án đầu tư xây dựng bất động sản tại đặc khu, trừ khu vực bảo đảm quốc phòng, an ninh theo quy hoạch đặc khu.

2. Quyền, nghĩa vụ về đất đai của nhà đầu tư và của người sở hữu căn hộ khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, văn phòng làm việc kết hợp lưu trú và các loại hình tương tự khác được xác định tương ứng với hình thức giao đất, cho thuê đất của dự án đầu tư xây dựng bất động sản theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Chính phủ quy định quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu bất động sản quy định tại Điều này.

Miễn - giảm thuế

Về thuế thu nhập cá nhân, Dự luật cũng có lắm ưu đãi như sau:

Điều 40. Ưu đãi thuế thu nhập cá nhân

1. Miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời gian 05 năm nhưng không quá năm 2030 và giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong các năm tiếp theo đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh phát sinh từ đặc khu của cá nhân làm việc tại đặc khu.

2. Miễn thuế thu nhập cá nhân trong thời gian 10 năm nhưng không quá năm 2030 và giảm 50% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp trong các năm tiếp theo đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công và thu nhập từ kinh doanh phát sinh từ đặc khu của nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia có trình độ chuyên môn cao làm việc tại đặc khu.

Dự luật cũng dành nhiều ưu đãi cho “thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng” và “thuế tiêu thụ.”

Ngoài ra, Dự luật còn miễn nhiều thứ cho người nước ngoài như viết trong Điều 45 về “Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước”, như sau:

1. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa cho cả thời hạn thuê đối với các dự án đầu tư tại đặc khu mà theo quy định của pháp luật về đất đai hiện hành đang được miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước cho cả thời hạn thuê và các dự án sau đây:

a) Dự án đầu tư khu hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, trung tâm nghiên cứu và phát triển tại đặc khu;

b) Dự án đầu tư tại đặc khu Phú Quốc thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế đáp ứng điều kiện quy định tại Phụ lục 3 của Luật này.

2. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa không quá 30 năm đối với dự án đầu tư tại đặc khu thuộc Danh mục dự án cần thu hút đầu tư theo hình thức xã hội hóa thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường, trừ dự án đầu tư quy định tại điểm b khoản 1 Điều này.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu ban hành Danh mục dự án cần thu hút đầu tư theo hình thức xã hội hóa thuộc lĩnh vực giáo dục - đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường phù hợp với quy hoạch đặc khu.

3. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa 30 năm nhưng không quá một nửa thời hạn sử dụng đất đối với dự án đầu tư sau đây tại các đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong:

a) Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển quy định tại Phụ lục 1, Phụ lục 2 của Luật này;

b) Dự án đầu tư quy định tại điểm b và điểm d khoản 5 Điều 3 của Luật này.

4. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa 19 năm nhưng không quá một nửa thời hạn sử dụng đất đối với dự án đầu tư sau đây tại đặc khu Phú Quốc:

a) Dự án đầu tư thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển quy định tại Phụ lục 3 của Luật này, trừ dự án đầu tư khu du lịch sinh thái, khu nghỉ dưỡng cao cấp từ 4 sao trở lên, khách sạn từ 5 sao trở lên và dự án đầu tư quy định tại điểm b khoản 1 Điều này;

b) Dự án đầu tư quy định tại điểm b và điểm d khoản 5 Điều 3 của Luật này.

5. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước tối đa 15 năm nhưng không quá một nửa thời hạn sử dụng đất đối với dự án đầu tư khác ngoài dự án đầu tư quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này.

6. Miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước trong thời gian xây dựng cơ bản theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng tối đa không quá 36 tháng kể từ ngày có quyết định cho thuê đất, thuê mặt nước.

7. Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu quy định tiêu chí xác định thời hạn miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước quy định tại Điều này theo từng khu vực, lĩnh vực phù hợp với quy hoạch đặc khu; quyết định thời hạn miễn tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với từng trường hợp cụ thể.

Không cần đăng ký?

Ngoài những thứ miễn hay ưu đãi, Dự luật còn cho phép:

- Người lao động nước ngoài là chuyên gia, nhà quản lý, giám đốc điều hành có thời gian làm việc dưới 60 ngày và thời gian cộng dồn không quá 180 ngày/năm tại đặc khu không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Người lao động nước ngoài là lao động kỹ thuật có thời gian làm việc dưới 30 ngày và thời gian cộng dồn không quá 90 ngày/năm tại đặc khu không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Người sử dụng lao động có trách nhiệm thông báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu việc sử dụng lao động nước ngoài quy định tại khoản này; không phải thực hiện xác định nhu cầu sử dụng người lao động nước ngoài, không phải làm thủ tục xác nhận người lao động nước ngoài không thuộc diện cấp giấy phép lao động.

Riêng trong lĩnh vực “nhập cảnh, đi lại và cư trú”, Điều 51 viết:

"1. Người nước ngoài nhập cảnh với mục đích vào đặc khu được miễn thị thực với thời gian tạm trú tại đặc khu không quá 60 ngày nếu hộ chiếu còn thời hạn sử dụng ít nhất 90 ngày; trường hợp có nhu cầu đến các địa phương khác ngoài đặc khu thì phải được cơ quan quản lý xuất nhập cảnh đặc khu hoặc đơn vị kiểm soát xuất nhập cảnh cấp thị thực theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Người nước ngoài nhập cảnh đặc khu được tạm trú không quá 60 ngày tại đặc khu trong các trường hợp sau đây:

a) Thuộc diện miễn thị thực theo điều ước quốc tế mà thời hạn tạm trú dưới 60 ngày;

b) Sử dụng thị thực, thẻ tạm trú, giấy miễn thị thực, thẻ doanh nhân APEC còn thời hạn dưới 60 ngày.

3. Người nước ngoài nhập cảnh với mục đích vào đặc khu thuộc diện phải có thị thực nhưng không thuộc Danh sách các nước có công dân được thí điểm cấp thị thực điện tử có thể được cấp thị thực điện tử theo quy định của Chính phủ."

Vào tự do - chơi bài thả giàn

Riêng tại Đặc khu Vân Đồn, dự luật còn cho phép người Trung Hoa vào Vân Đồn tự do như quy định tại Điều 54: "Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh sử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Vân Đồn với mục đích du lịch được miễn thị thực với thời hạn xác định; trường hợp có nhu cầu đến các địa điểm khác của tỉnh Quảng Ninh để du lịch thì làm thủ tục thông qua doanh nghiệp lữ hành quốc tế của Việt Nam.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này."

Tại Đặc khu Phú Quốc, Điều 56 duy định cơ chế, chính sách đặc biệt khác như sau:

1. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có dự án đầu tư từ 110 tỷ đồng trở lên tại đặc khu Phú Quốc được cấp thẻ tạm trú đến 10 năm, nếu có chỗ ở hợp pháp thì được cấp thẻ thường trú theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

2. Người nước ngoài hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại đặc khu Phú Quốc được cấp thị thực có giá trị nhiều lần với thời hạn 12 tháng; trường hợp có giấy phép lao động thì thời hạn thị thực phù hợp thời hạn của giấy phép lao động.

Người nước ngoài đang khám bệnh, chữa bệnh tại đặc khu Phú Quốc, nếu có nhu cầu ở lại đặc khu quá 60 ngày thì được gia hạn tạm trú trên cơ sở đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam.

3. Công dân của nước láng giềng có chung đường biên giới với Việt Nam tại tỉnh Kiên Giang sử dụng giấy thông hành hợp lệ nhập cảnh vào đặc khu Phú Quốc với mục đích du lịch được miễn thị thực với thời hạn xác định.

4. Trong thời hạn 05 năm kể từ khi thành lập đặc khu, căn cứ vào khả năng cân đối ngân sách, Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu Phú Quốc quyết định việc hỗ trợ đối với:

a) Người thường trú tại đặc khu Phú Quốc học nghề trong lĩnh vực du lịch, người học nghề tại các cơ sở đào tạo trong lĩnh vực du lịch tại đặc khu Phú Quốc và cam kết làm việc tại đặc khu Phú Quốc;

b) Các chương trình quảng bá du lịch vào đặc khu Phú Quốc.

5. Nhà đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ quản lý tài sản tại đặc khu Phú Quốc được phép đề xuất các cơ chế, chính sách về bảo mật thông tin, quản lý tài sản và cơ chế, chính sách khác theo thông lệ quốc tế để Chủ tịch Ủy ban nhân dân đặc khu Phú Quốc báo cáo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định cho phép áp dụng.

Việc áp dụng các cơ chế, chính sách quy định tại khoản này phải phù hợp với nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 6 của Luật này.

6. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 và khoản 5 Điều này.

Cũng đáng chú ý là tại cả 3 Đặc khu, chỗ nào nhà nước CSVN cũng cho phép kinh doanh sòng đánh bạc (casino), xây dựng và kinh doanh khu dịch vụ, du lịch và vui chơi giải trí.

Luật cũng khuyến khích lập các khu nghỉ dưỡng cao cấp từ 04 sao trở lên và khách sạn từ 5 sao trở lên.

Càng ngạc nhiên hơn, khi có nhiều Đại biểu Quốc hội lo ngại về thời hạn cho thuê đất 99 năm hay than phiền Dự luật dành quá nhiều ưu đãi cho người nước ngoài tại 3 Đặc khu thì không thấy ai thắc mắc tại sao phải cho phép lập sòng bài (Saino), lập khu giải trí và xây nhà nghĩ dưỡng, khách sạn 4 hay 5 sao ?

Phản ứng về điểm này, chuyên gia Kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng: "Thứ mà Việt Nam cần là công nghệ cao chứ không phải là các casino, do đó trong quy hoạch các đặc khu kinh tế cần phải hướng đến điều này."

Bà nói: "Tôi cho rằng dù ưu đãi tương tự như nhau, nhưng casino không phù hợp để đi cùng với khu công nghệ cao, vì mấy lẽ.

Trước hết, đối tượng phục vụ của hai lĩnh vực hoàn toàn khác nhau.

Casino phục vụ vui chơi, giải trí, thậm chí kiếm tiền bằng đỏ đen. Khách hàng của casino đa dạng, phần lớn là nhàn rỗi, thích vui vẻ, náo nhiệt, ưa thử vận mạng bằng may rủi, ít nhất là trong thời gian họ vào chơi ở đó.

Công nghệ cao là việc của những người làm trong kinh tế trí thức, có trình độ, kỹ năng cao, đam mê nghiên cứu, thử nghiệm những cái mới trong các lĩnh vực khác nhau. Khách hàng của công nghệ cao quan tâm đến phát triển, trí tuệ, chất lượng công việc và cuộc sống, những giá trị tốt đẹp và cao hơn cho con người. Phần lớn thời gian người ta làm việc trong yên tĩnh, tập trung suy nghĩ, nghiên cứu, tranh luận chuyên môn; tất nhiên cũng có những lúc nghỉ ngơi vui chơi nhưng không như khách casino.

Hai loại khách hàng như vậy rất khó có thể sống và làm việc cùng chỗ với nhau 24/24 được."

Hai là, không gian và môi trường hoạt động của hai lĩnh vực này rất khác nhau.

Casino có nhu cầu đặt ở nơi có rất nhiều các dịch vụ vui chơi giải trí khác đi cùng với nó, tạo không gian cho các dịch vụ này cùng nhau làm ăn và moi tiền của những khách hàng muốn được thỏa mãn nhiều thứ thú vui. Cũng có những nguy cơ về tệ nạn, tội phạm, rủi ro cho người làm và người chơi, nên các nước thường đặt casino trong khu vực riêng, có hàng rào bảo vệ tách với “người thường” không tham gia vào đó."

Như vậy thì Tác giả dự luật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, có kế hoạch gì không hay cứ mơ sẽ có nhiều Đại gia hay Từ bản đỏ đem tiến đổ vào 3 sòng bài là kinh tế sẽ phất lên như diều?

Thế còn hậu quả xã hội, văn hóa và thuần phong mỹ tục gây ra từ các Casino và nơi giải trí “đèn xanh đèn đỏ” ở 3 Đặc khu thì ai chịu trách nhiệm?

Ngoài ra, nhà nước CSVN cũng cần phải tìm cách mà chui vào phía sau cánh cửa của các khu phố, làng Tầu, hay bên trong hàng rào của các Dự án kinh tế do Trung Hoa đầu tư như Bauxite Tây Nguyên và Formosa Hà Tĩnh xem họ đang ăn ở và sống ra sao mà khiến nhiều gia đình Việt Nam tan nát như vợ bỏ chồng đi lấy công nhân Tầu hay con phải bỏ trường đi lao động chui bên Lào không thì cả nhà chết đói.

Và chẳng nhẽ những bài học nhập cư bất hợp pháp, công nhân không hợp lệ, ồ ạt và công khai cướp việc của người Việt Nam vì có Chủ đầu tư cùng quê cha Trung Quốc bảo kê đã xẩy ra ở Việt Nam từ lâu mà Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội có biện pháp nào đâu?

Song song với những tệ nạn xã hội do người Tầu ở lậu, hay công nhân Tầu gây xung đột với người Việt Nam ở Hà Tĩnh và trên Tây Nguyên, nhiều Doanh nghiệp do Trung Hoa làm chủ đầu tư còn gây ra ô nhiễm cho Việt Nam trên khắp miền đất nước, nghiêm trọng nhất là thảm họa mội trường do Formosa Hà Tĩnh tác hại tại 4 Tỉnh miền Trung gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Huế-Thừa Thiên năm 2016.

Tuy Formosa là gốc Đài Loan nhưng nhiều thiết bị máy móc và công nhân lại do Trung Quốc làm chủ và cung cấp.

Chính phủ Việt Nam cũng nên nghĩ xem tại sao các Doanh nghiệp Trung Quốc lại có quyền cấm viên chức Việt Nam vào nơi họ làm việc ngay trên lãnh thổ Việt Nam?

Chuyện vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia Việt Nam của các Doanh nghiệp Trung Hoa thì ai cũng biết mà Chính phủ lại cứ cúi đầu chịu nhục mới lạ. Chẳng những thế, cứ mỗi khi có biểu tình chống âm mưu xâm lược của Trung Hoa ở Biển Đông, hay lên án các vụ Công ty Tầu gây ô nhiễm môi trường thì người dân lại bị Công an đàn áp dã man thì lực lượng an ninh là của nước nào vậy?

Bây giờ lại đến chuyện Dự luật 3 Đặc khu dành nhiều ưu đãi cho người nước ngoài khi họ đầu tư vào Việt Nam thì liệu bài học Formosa Hà Tĩnh và Bauxite Tây Nguyên có thoát khỏi tay người Tầu phương Bắc không? -/-

(06/06/018)



Biển Đông dậy sóng: Mục tiêu của CIA trong đối sách Biển Đông

Nguyễn Trọng Dân (Danlambao) - Giới chức quân sự Hoa Kỳ lần lượt ra mặt tuyên bố cứng rắn, thậm chí hăm dọa công khai Trung Cộng. Ngay vào ngày đầu tháng Sáu, Trung Tướng McKenzie, Tham Mưu Trưởng Thủy Quân Lục Chiến (TQLC) Hoa Kỳ, khi trả lời phỏng vấn đã khẳng định rằng Hoa Kỳ thừa sức làm vụn nát các đảo nhân tạo (1). Lời tuyên bố này chẳng khác nào đổ dầu thêm lửa vào tình hình biển Đông căng thẳng dậy sóng suốt hai tháng qua.

Trước đó chỉ hai ngày, bộ Tư-lệnh Hải quân Hoa Kỳ thừa nhận đã mời Cộng Sản Việt Nam (CSVN) tham gia tập trận châu Á Thái Bình Dương RIMPAC kéo dài suốt từ 27 tháng Sáu đến đầu tháng Tám (2). Trong khi đó, Trung Cộng đã không được mời dự dù là cường quốc ở biển Đông. Hành động này của Hoa Kỳ khiến hố ngăn cách giữa CSVN và Trung Cộng càng thêm sâu hơn và làm Trung Cộng thêm tức giận. 

Vài ngày trước đó, Bộ Trưởng Quốc Phòng (QP) Mattis, cũng khẳng định Mỹ sẽ tiếp tục tuần tra tại biển Đông tiếp nối sau quyết định đưa chiến hạm đi thẳng vảo Hoàng Sa như bài trước đã trình bày (3) 

Điều bất ngờ nhất là Đô đốc Hải quân Davidson, vào hai tháng trước khi còn là ứng cử viên cho chức Tư lệnh Hải Quân Thái Bình Dương, đã phát biểu oang oang trước UB quân lực của Thượng Viện Hoa Kỳ, là “chỉ có chiến tranh mới có thể khiến Trung Cộng từ bỏ tham vọng độc chiếm biển Đông.” (4) Lời tuyên bố này rõ ràng báo hiệu sự căng thẳng tại biển Đông sẽ leo thang nhanh chóng. 

Như vậy là trong một giai đọan ngắn ngủi chưa đầy hai tháng qua, giới tướng lãnh cao cấp của Hoa Kỳ lần lượt xuất đầu lộ diện, liên tục đưa ra nhiều tuyên bố thẳng thừng hăm dọa trực tiếp đến Trung Cộng về vấn đề biển Đông. 

Dĩ nhiên, những lời tuyên bố hăm dọa này không xuất phát từ bộ Ngoại Giao nên về mặt hình thức, vẫn chưa thể coi đây là sự hăm dọa chính thức của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng, nhưng ai ai cũng hiểu rằng, nếu Tòa Bạch Ốc không cho phép, thì các vị tướng lãnh này không ngu dại gì tuyên bố bậy bạ quá mức, ngoài ra, nếu có trường hợp lỡ lời quá trớn thì cũng không thể lỡ lời theo kiểu "tập thể", hết ông tướng này đến đô đốc nọ lỡ lời suốt hai tháng qua như thế! 

Trong bối cảnh hòa đàm thương-mại Mỹ Trung để né tránh chiến tranh mậu dịch còn đang tiếp diễn, cũng như nỗ lực dàn xếp cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ và Cộng Sản Bắc Hàn còn đang dang dỡ, thì bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ chưa thể tiện bề tuyên bố hăm dọa Trung Cộng tại biển Đông công khai, nên Tòa Bạch Ốc đã để Bộ Quốc phòng và các tướng lãnh Hoa Kỳ đảm nhiệm việc này. 

Sự căng thẳng tại biển Đông còn leo thang ra ngoài dự đoán của giới truyền thông, giới phân tích, khi mà Tổng Thống Phi Duterte đột nhiên tuyên bố sẵn sàng đánh Trung Cộng nếu chế độ Cộng Sản này cứ lấn lướt bành trước tiếp vào lãnh hải của Phi cũng vào vài ngày trước (5). 

Trước đây, ngay cả khi Trung Cộng ngang nhiên lấn chiếm và tiếp tục xây đảo nhân tạo tại vùng biển Hoàng Nham của Phi bất chấp phán quyết của toà án quốc tế về biển đảo ở Hague, mà Duterte còn vẫn phải nhịn nhục Trung Cộng trong vấn đề biển Đông, thì bây giờ, việc Tổng thống Phi loan báo trắng trợn như thế, rõ ràng là Phi phải có lời hứa hẹn tuyệt đối từ Hoa Kỳ, là sẽ sẵn sàng khai hỏa giúp Phi nếu Trung Cộng tiếp tục lấn hiếp lãnh hải của Phi, coi thường lời tuyên bố của Tổng Thống Duterte. Phi không có khả năng khai hỏa đối đầu trực diện với Trung Cộng. 

Sự thay đổi thái độ nhanh đến chóng mặt của Hoa Kỳ đối với Trung Cộng về vấn đề biển Đông làm Trung Cộng có hai lựa chọn, hoặc là tiếp tục kế hoạch tiệm tiến lấn chiếm lãnh hải của mình bấy lâu, hoặc là lùi bước. Trung Cộng trả lời lại sự hăm dọa của giới tướng lãnh Hoa Kỳ và tổng thống Phi bằng động tác rất nhẹ nhàng là cho chạy thử mạng lưới điện đầu tiên tại đảo Phú Lâm cũng chỉ cách đây vài ngày (6). Thông điệp này cho thấy, Trung Cộng dứt khoát không rút lui hay từ bỏ ý định biến các đảo nhân tạo này thành căn cứ của Hải Lục Không quân của Trung Cộng tại biển Đông. 

Bất ngờ hơn nữa là vào đầu tháng Sáu, cả hai vị bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Pháp và Anh đều tuyên bố công khai là sẽ cho tàu chiến của mình vào biển Đông (7) để thách thức sự hung hăng của Trung Cộng tại nơi này. Dù chưa rõ tàu chiến của Pháp Anh sẽ đi vào quần đảo nào tại biển Đông, nhưng ai ai cũng dự đoán là tàu chiến Anh Pháp sẽ vào vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa trước đây. Nếu đúng là như vậy, thì các siêu cường vẫn không thừa nhận sự cưỡng chiếm Hoàng Sa của Trung Cộng sau khi đẩy lui Hải quân Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1974. Đây cũng là tính hiệu cho thấy các siêu cường đã có thái độ phủ quyết, không đồng ý với quan điểm chủ quyền Trung Cộng tại quần đảo này. 

Sự phối hợp nhịp nhàng có thứ tự lớp lang của Hoa Kỳ, Anh và Pháp trong hai tháng vừa qua cho thấy thái độ của Hoa Kỳ tại biển Đông có sách lược, có tính toán cân nhắc kỹ lưỡng, không phải chỉ là ứng phó tức thời trước hoàn cảnh. 

Sách lược về biển Đông của Hoa Kỳ được vạch định bởi nhiều cơ quan, mà trong đó, cơ quan tình báo CIA đóng vai trò then chốt từ phân tích đến đưa ra sách lược. Đương nhiên, các chiến lược gia bên bộ QP Hoa Kỳ cũng có vai trò then chốt trong quyết định sau cùng cho chính phủ Hoa Kỳ. 

Cho nên, để hiểu bản chất bên trong của tình hình biển Đông dậy sóng đòi hỏi sự phân tích kỹ càng về mục tiêu chiến lược mà CIA nhắm đến. Không phải vô cớ mà Hoa Kỳ cứ để cho Trung Cộng lấn hiếp ở biển Đông ngày càng tăng, cũng như chọn thời điểm để gây khó khăn cho Trung Cộng trong quá trình bành trướng ở biển Đông. 

Mục tiêu chiến lược thứ nhất của CIA tại biển Đông - Đẩy Trung Quốc suy sụp an sinh xã hội để an ninh chính trị bị suy yếu: 

Mặc dù nhiều chiến lược gia cho rằng mục tiêu của CIA tại biển Đông là bảo đảm khả năng kiểm soát đường lưu thông mậu dịch hàng hải ngang qua vùng này của Hoa Kỳ. Nhưng trên thực tế, đây chỉ là mục tiêu đòn bẩy, nghĩa là mục tiêu bảo đảm đường hàng hải chuyên chở hàng hóa dầu hỏa đi ngang qua vùng này chỉ là bề ngoài, tuy rất quan trọng, nhưng được dùng để che đậy nhiều mục tiêu khác mà CIA cho là quan trọng hơn. 

Điều quan trọng trước hết, thông qua căng thẳng về biển Đông, CIA muốn nhìn thấy Trung Cộng tiếp tục chảy máu về ngân sách, tức là tiếp tục duy trì một mức ngân sách càng lúc càng lớn hơn nữa dành cho quân sự để khiến sự thiếu thốn về ngân sách để đối phó những bất ổn về an sinh xã hội bên trong lòng nội bộ Trung Cộng mỗi lúc mỗi tăng. 

Mặc dù ít được đề cặp trên mọi hãng truyền thông của thế giới, nhưng Trung Quốc vẫn là quốc gia có trên 500 triệu dân sống dưới năm đô-la rưỡi một ngày (8), tức là khoảng trên 40% dân số của Trung Quốc vẫn sống trong nghèo đói cùng cực. Hoàn cảnh nghèo đói của 500 triệu người dân Trung Quốc là mối nguy họa lớn nhất cho an ninh chính trị của đảng Cộng Sản, là lực lượng nếu dấy bạo loạn mà không cách gì, kể cả sẵn sàng thả bom nguyên tử hay bom hóa học để trấn áp, cũng không thể thắng nổi. 

Trung Cộng đã tìm đủ cách ru ngủ lực lượng nghèo khó này bằng nhiều hứa hẹn, kể cả vận dụng tinh thần dân tộc, yêu cầu thành phần nghèo đói của người dân Trung Quốc hãy tin tưởng vào thành tựu kinh tế dưới sự lãnh đạo của đảng, để tiếp tục chờ đợi sự cải thiện đời sống ở tương lai. Tuy nhiên, mọi sự chờ đợi đều có giới hạn, nhất là khi đời sống của thành phần nghèo đói trong xã hội Trung Quốc ngày càng cơ cực hơn. 

Cùng đường túng thế, vào đầu tháng Giêng năm nay, Tập Cận Bình đã phải công khai hứa hẹn thúc đẩy cải thiện đời sống của người dân, mà trong đó, sẽ giúp đỡ 70 triệu người dân ra khỏi tình trạng đói nghèo cùng cực từ đây đến năm 2020 (9). Giả sử lời hứa hẹn này của họ Tập thành hiện thực, thì vào năm 2020, Trung Cộng vẫn có hơn trên 400 triệu người dân khổ đói cùng cực. 

Để có thể giảm bớt tình trạng nghèo đói quá căng thẳng trong lòng xã hội Tàu, một khoảng ngân sách lên đến 370 tỷ Mỹ kim đã được Trung Cộng tung ra để tài trợ tài chánh cho giới nghèo khó, con số này quá nhỏ nhoi không thấm vào đâu cho cả xã hội Trung Quốc 500 triệu dân nghèo khó bất ổn, nhưng cũng giúp họ Tập giảm bớt sự căng thẳng có thể dẫn đến nội loạn trong giai đoạn trước mắt. 

Tuy nhiên, từ con số ngân sách này, người ta thấy rõ Trung Cộng rất muốn chi ra nhiều hơn nữa để giảm nghèo nhằm bảo đảm an toàn chính trị cho thêm vững chắc mà không thể được. Nợ công của chế độ đã vượt qua trên 28 ngàn tỷ Mỹ kim, lên trên 200% GDP của cả nước (10), một ngân sách trên một ngàn tỷ Mỹ kim cần thiết cho vấn đề chống nghèo khó, giảm nghèo khó cho 500 triệu người dân là điều mà Trung Cộng không thể cán đáng nổi trong lúc này. 

Do đó, chi phí quân sự của Trung Cộng cứ tăng dần lên theo tốc độ đến 7% hay 8% GDP theo mỗi tài khóa (*), để rồi tổng số ngân sách quân sự vượt quá 10% đến 15% GDP vì lý do biển Đông là chủ yếu, khiến mọi hy vọng tăng vọt ngân sách cho vấn đề giảm nghèo bảo toàn an toàn chính trị cho Trung Cộng ngày một tắt liệm đi. Với mức nợ công lên trên 200% GDP, các khoảng trợ giúp của WB từ Hoa Kỳ cũng khó có thể được chuẩn thuận. Trung Cộng thật sự một mình đơn độc đối phó với nạn nghèo khó không cường quốc nào muốn giúp đỡ cả. 

Nói cho ngắn gọn hơn, Trung Cộng càng chi nhiều cho mục tiêu quân sự bao nhiêu, nhất là ngân sách càng bị chảy máu cho vấn đề biển Đông nhiều bao nhiêu thì nội loạn ngay trong lòng xã hội Trung Quốc càng đến gần bấy nhiêu. Vào giờ phút này, mỗi xu chi thêm cho an sinh xã hội sẽ giúp Trung Cộng có thêm mỗi giây về mặt an toàn chính trị, trong khi mỗi xu chi thêm cho quân sự để tăng ưu thế tại biển Đông, lại đẩy Trung Cộng đi gần đến chiến tranh và nội loạn nhanh hơn. 

Mục tiêu chiến lược thứ hai của CIA tại biển Đông- Đẩy Trung Cộng đi vào rối loạn ngân sách để suy kiệt rối loạn nội bộ: 

Một chính phủ có nợ công lên đến 200% mà lại có ngân sách quốc phòng trên 10% GDP, lại cứ tăng vọt khoảng 7% trong gia đoạn này so với các tài khóa trước thì là một sự tự sát chính trị. Đơn giản, điều này sẽ giúp Trung Cộng đi vào rối loạn ngân sách. 

Nền kinh tế lắp ráp và chỉ phụ thuộc vào xuất khẩu mậu dịch hiện nay của Trung Cộng không thể nào cán đán nổi chính sách tăng ngân sách quân sự quá trớn của Trung Cộng ở đường dài. 

Trước hết, nền kinh tế này đang phải đối diện với chiến tranh mậu dịch với các nước mình xuất khẩu hàng hóa, khiến sự tăng trưởng tổng giá trị xuất khẩu không được như mong đợi và sẽ khó khăn hơn. 

Kế đến, nền kinh tế này phải trả tiền lời cho khoản nợ công gần 28 ngàn tỷ Mỹ kim, mà trong khi đó, tổng số giá trị của nền kinh tế Trung Cộng chỉ vào khoảng gần 12 ngàn tỷ Mỹ kim. Tức là tổng số nợ vượt quá 200% GDP. Ước tính mỗi một giây, Trung Cộng phải trả trên 5600 Mỹ kim tiền lời. Có nghĩa là mỗi năm, Trung Cộng phải trả tiền lời cho nợ công của chính phủ không thôi đã lên đến 180 tỷ Mỹ kim, bằng toàn bộ ngân sách về quân sự của Bắc Kinh (11). Cho nên cuộc chạy đua vũ trang ở biển Đông càng tăng tốc bao nhiêu, thì sự khánh kiệt về ngân sách của Trung Cộng càng gần kề bấy nhiêu. 

Một khi ngân sách đi vào chổ khánh kiệt, thì bất đồng bên trong nội bộ các đảng Cộng Sản sẽ bộc phát rất mạnh. Trong quá khứ, Liên Xô kiệt quệ tài chánh dẫn đến mất khả năng kiểm soát của trung ương đảng đối với các chi bộ Xô-viết, kể cả Xô-viết Nga, Ucraine và Georgia; nơi sản sinh ra ba lãnh tụ Cộng Sản lừng danh, một là Lê-nin (Nga) sáng lập ra Liên Xô, hai là TBT Khrushchev (Ucraine) người kế vị Stalin và ba là TBT Stalin (Georgia). Tương tự như thế, Cộng sản Rumania cạn kiệt tài chánh nên không thể điều khiển quân đội, dẫn đến mất quyền kiểm soát chính trị và bị đảo chánh, Cộng Sản Ba Lan, Hung, Tiệp, Nam Tư, Đông Đức, v..v đều tan nát cũng chỉ vì kinh tế tài chánh của cả xã hội bị suy kiệt trầm trọng quá lâu không còn gượng dậy nổi. 

Bản chất độc tài của cộng sản đòi hỏi rất nhiều họng súng để kiểm soát người dân, do đó các đảng cộng sản cần rất nhiều tiền để duy trì quân đội công an. Khi tài chánh bị suy kiệt, lực lượng cầm súng không nhất thiết phải phục tùng đảng nữa và từ đó, đảng cộng sản không thể đủ sức trấn áp chống đối từ mọi giới trong xã hội nữa. 

Ngoài ra, sự đoàn kết bên trong nội bộ cộng sản hoàn toàn dựa vào sự ban phát tài lộc một cách ưu đãi từ đảng đối với các đảng viên ở mọi cấp, cho nên mất khả năng ban phát tài lộc, các đảng cộng sản đổ vỡ nhanh như nhà bị mối ăn. 

Tập Cận Bình đã liều chết tiến hành thanh trừng loại trừ mọi vây cánh hay băng nhóm bên trong đảng thông qua chương trình chống hối lộ "đả hổ diệt ruồi", bắt bớ bỏ tù trên cả triệu đảng viên không cùng vây cánh, tập trung tối đa quyền lực của trung ương đảng lên mọi hoạt động của đảng, của quân đội, nhằm đề phòng sự trước tan rã nhanh chóng của đảng khi xảy ra suy kiệt nền tài chánh đảng, có thể xảy ra trong nay mai khi mà nợ công tiếp tục tăng vọt. 

Tuy nhiên, di họa của rối loạn nội bộ đảng do suy kiệt tài chánh vẫn còn nguyên bởi vì giả sử ngay cả khi chỉ còn mổi phe của ông Tập nắm đảng, thì giữa các thành viên cùng phe với nhau, nếu sự ban phát đặc quyền đặc lợi từ đảng không còn thực hiện được nữa do tài chánh suy kiệt, thì các thành viên này cũng không cần thiết phải đoàn kết nữa, cũng như không còn nhất thiết phải trung thành với họ Tập nữa, dẫn đến sự tan rã ngay chính trung ương đảng. 

Mặc dù quỹ dự trữ ngoại tệ Trung Cộng vượt qua mức ba ngàn tỷ Mỹ kim, nhưng con số này sẽ không đủ để lắp hố nợ nần đang ở mức 28 ngàn tỷ Mỹ kim. Đó là chưa kể bổng lộc cho trên dưới hơn 84 triệu đảng viên. Cho đến giờ phút này, ngân sách của Trung Cộng vẫn là ngân sách thắt lưng buộc bụng, túng thiếu nhiều mặt. Do đó, chi tiêu về quân sự càng tăng vọt nhanh bao nhiêu, thì càng khiến sự suy kiệt và rối loạn ngân sách càng bùng nổ nhanh bấy nhiêu. 

Mức độ giàu có kinh khiếp của các đảng viên trung và cao cấp từ địa phương đến trung ương cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khánh kiệt nền tài chánh cả Trung Cộng. Người ta ước tính trên 10% GDP của Trung Cộng bị bòn rút bởi các đảng viên. Nghĩa là mỗi năm, tham nhũng và hối lộ làm ngân sách của Trung Cộng thiệt hại khoảng 110 tỷ Mỹ kim đến 200 tỷ Mỹ kim (12) 

Do đó, Tập Cận Bình đã cố liều mạng thanh trừng hàng loạt các viên chức trung cao cấp để giảm bớt thiệt hại công quỹ. Sự thanh trừng hối lộ gắt gao là sự liều lĩnh quá lớn mà họ Tập buộc phải chấp nhận để giải quyết tình trạng rối loạn ngân sách của đảng, chỉ vào năm ngoái, giới chức thân cận của họ Tập đã thừa nhận có những "biến cố" gần giống như đảo chánh đã xảy ra và được dập tắt (**) 

Suy kiệt tài chánh còn sẽ khiến toàn bộ hệ thống công ty, tập đoàn nhà nước của đảng bị tê liệt, tạo ra thất nghiệp hàng loạt khiến nổi loạn còn dễ dàng xảy ra hơn. Đây chính là nổi ám ảnh của họ Tập. Một khoảng ngân sách dành cho tài trợ nạn thất nghiệp bùng phát quá mạnh, quá trầm trọng, là đều mà không chính phủ nào có món nợ công trên 200% GDP có thể gánh nổi. Do đó, nếu Trung Cộng không kiểm soát được tình hình rối loạn tài chánh, thì đảng bị rối loạn ngay từ bên trong nội bộ. 

Vì vậy, sự gia tăng chi phí quân sự ở biển Đông sẽ là sự chảy máu tài chánh tiềm ẩn nhiều hung hiểm đẩy Trung Cộng lâm vào cảnh rối loạn an sinh xã hội, cũng như dẫn đến sự xung khắc bất ổn bên trong nội bộ đảng mỗi lúc mỗi nhanh hơn. 

Mục tiêu chiến lược thứ ba của CIA tại biển Đông- Thúc đẩy các nước trong vùng biển Đông hiện đại hóa quân đội, chia sẽ trách nhiệm an ninh quốc phòng với Hoa Kỳ: 

Ngay sau đệ nhị thế chiến chấm dứt, toàn vùng Đông Nam Á hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của người Hoa Kỳ; và các quốc gia trong vùng Đông Nam Á hoàn toàn nương tựa sự bảo vệ của Hoa Kỳ để phát triển, chẳng có quốc gia nào chú trọng tăng cường binh bị trừ Việt Nam Cộng Hòa ra do phải đối phó với họa xâm lăng của cộng sản. Sau hơn 60 năm kể từ 1950 đến nay, mặc dù biết Trung Cộng là một cường quốc về quân sự, luôn có tham vọng bành trướng, nhưng chẳng quốc gia nào chịu hiện đại hóa quân đội. Tất cả điều ỷ lại vào Hoa Kỳ. 

Khi CIA thúc đẩy Hoa Kỳ nêu cao mục đích "Tự do hàng hải" mà đứng ngoài không can thiệp về chủ quyền lãnh hải thì các nước trong vùng bắt đầu thấy rõ quan niệm ỷ lại vào Hoa Kỳ sai lầm, và đồng ý cùng Hoa Kỳ chia sẽ trách nhiệm an ninh quốc phòng. Vũ khí chiến lược nhập khẩu vào vùng Đông Nam Á bắt đầu tăng vọt. Dù gì đi chăng nữa, các nước trong vùng cần phải bảo vệ nguồn dầu hỏa, khí đốt trong lãnh hải của mình, không thể để lọt vào tay của Trung Cộng một cách quá dễ dàng được. 

Tính đến năm 2016, ngân sách quốc phòng của Phi cuối cùng cũng chịu tăng 25%. Quốc gia này ỷ lại vào Hoa Kỳ quá lâu sau đệ nhị thế chiến, chưa thành lập nổi một hạm đội cho ra hồn. Singapore cũng đồng ý theo chân Phi, tăng ngân sách quốc phòng lên 9%, Riêng Indonexia, ngân sách quốc phòng tăng 150% 

Trừ Cộng Sản Việt Nam có chung đặc điểm rối loạn ngân sách tiềm ẩn như Trung Cộng, các nước trong vùng còn lại, dù có đối đầu với nhiều khó khăn kinh tế, an sinh xã hội, nhưng lại dư sức gia tăng ngân sách quốc phòng. Từ lâu, ngân sách quốc phòng của những quốc gia này chiếm tỷ lệ phần trăm GDP rất thấp. Ngân sách quốc phòng của Indonexia vào năm 2015 chiếm khoảng 0.9% GDP, cho nên sự tăng vọt ngân sách quốc phòng lên đến 150% trong hai năm gần đây thật ra cũng chẳng là bao nhiêu. Xin lưu ý là ngân sách quốc phòng của Trung Cộng chiếm trên 10% GDP. 

Từ đó cho thấy, chính sách thong dong của Hoa Kỳ khi đối phó với tham vọng bành trướng của Trung Cộng ở biển Đông là nhằm tạo thời gian để các quốc gia Á châu trong vùng biết cách liên minh chặt chẽ hơn, biết cách tự lo quốc phòng chi tiết hơn thay vì bỏ lỏng hoàn toàn về mặt quốc phòng, giao cho Hoa Kỳ lo lắng kể từ năm 1950 đến nay. 

Đi theo mục tiêu này, Hoa Kỳ mở rộng hàng loạt các khóa huấn luyện quân sự cho sĩ quan các nước trong vùng. Người dân vùng Đông Nam Á xuất hiện nhiều hơn tại các đại học quân sự của Hoa Kỳ (như trường huấn luyện sĩ quan West Point chẳng hạn). 

Dù có nhiều lời đồn đoán Hoa Kỳ làm như vậy là để bán vũ khí kiếm tiền, nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ thật sự cần các nước trong vùng hiện đại hóa quân đội để giúp Hoa Kỳ ổn định an ninh quốc phòng trong vùng. 

Trung Cộng có dân số trên 1,3 tỷ người. Do đó, tổng số binh sĩ khi tổng động viên có thể lên trên 500 triệu người. Hiện quân số đang tại ngũ cũng đã trên 2 triệu người. Cho nên muốn đối đầu quân sự với Trung Cộng, Hoa Kỳ cần các nước trong vùng tham chiến phụ thêm một tay khi cần thiết. Ngoài các nước trong vùng, Hoa Kỳ còn cần phải lôi kéo cả Ấn Độ, Nhật, Úc, Liên Hiệp Anh, Pháp vào cuộc thì mới hy vọng đủ quân số để đối chọi với Trung Cộng khi cần. 

Thông qua hai cuộc chiến vùng Vịnh với Irag trước đó, với Taliban ở Afghanistan, giới quân sự đã thấy rõ Hoa Kỳ có thừa vũ khí nhưng thiếu lính trầm trọng. 

Nay nếu muốn đối phó quân sự với Trung Cộng, Hoa Kỳ cần huy động tổng lực nhân sự của mình. Tuy nhiên, Hoa Kỳ chỉ có 325 triệu dân, thì không đủ người để đối phó với một quốc gia trên 1 tỷ dân tại biển Đông nếu xung đột xảy ra. 

Hơn nữa, hầu hết các chiến lược gia của CIA đều thuộc trường phái nhìn chiến tranh thông qua gốc độ kinh tế. 

Nghĩa là theo quan niệm của CIA, với một nền kinh tế có GDP trên 12 ngàn tỷ Mỹ kim như Trung Cộng, thì nếu Hoa Kỳ, Nhật Bản, Ấn Độ, Anh, Pháp, Úc, và các nước trong vùng Đông Nam Á hợp lại gây chiến với Trung Cộng, tổng số GDP của Đồng Minh (> 30 ngàn tỷ Mỹ kim) sẽ vượt trội đối phương, áp đảo Trung Cộng gấp hai lần, cho nên khi chiến tranh tiếp diễn kéo dài, Trung Cộng sẽ buộc bị kiệt quệ vì không làm sao mà chịu nổi tiềm năng kinh tế hậu thuẩn chiến tranh áp đảo của Đồng Minh, gấp mình đến hai lần hoặc hơn. 

Còn nếu Hoa Kỳ tham chiến một mình, mức chênh lệnh GDP giữa Hoa Kỳ và Trung Cộng tuy cũng lên đến trên sáu ngàn tỷ, nhưng vẫn không áp đảo gấp hai lần như trình bày ở trên, do đó, khả năng chiến thắng Trung Cộng bị sút giảm nghiêm trọng. 

Đồng minh có thể lỏng lẻo lúc đầu, Trung Cộng có thể dành được những thắng lợi lúc đầu, nhưng khi đồng minh phản công tổng lực thì sức sản xuất của Trung Cộng hậu thuẩn cho chiến tranh sẽ chịu không nổi. Hơn nữa, Hoa Kỳ có kinh nghiệm dẫn dắt đồng minh đang từ bại thành thắng qua suốt hai cuộc thế chiến, kể cả cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô. 

Do đó, đối sách của CIA về vấn đề biển Đông nhìn bề ngoài có vẻ nữa vời trì hoãn để bán vũ khí, nhưng trên thực tế, Hoa Kỳ đang cần thời gian để cũng cố liên minh, hiện đại hóa quân sự đồng minh để có được sức mạnh áp đảo từ kinh tế, vũ khí, quân số trước Trung Cộng. 

Mục tiêu chiến lược thứ tư của CIA tại biển Đông - Ràng buộc Cộng Sản Việt Nam vào đường lối chiến lược của Hoa Kỳ tại biển Đông 

Trong hội nghị về an ninh khu vực diễn ra tại Singapore vào ngay đầu tháng Sáu, Bộ Trưởng Mattis đã lên tiếng hối thúc CSVN phải hợp tác với Hoa Kỳ về quân sự sâu rộng hơn nữa. Sự hối thúc này cho thấy Hoa Thịnh Đốn không cho Hà Nội sự lựa chọn đứng trung lập mà buộc phải gia nhập vào lực lượng Đồng Minh của Hoa Kỳ tại biển Đông đối chọi với Trung Cộng. 

Hoa Kỳ chờ cho các đảo nhân tạo của Trung Cộng hoàn tất mới đồng ý tháo bỏ cấm vận vũ khí làm CSVN chậm chể rất nhiều trong việc củng cố sức mạnh quốc phòng. Do đó, CSVN không còn cách nào khác là chạy nước rút trong mối quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ, mà trong đó, chấp nhận sự hiện diện của lực lượng Không-Hải và TQLC của Hoa Kỳ tại miền Trung Việt Nam khi cần thiết. 

Lục quân của CSVN hùng mạnh với hơn 1500 xe tăng hiện đại đủ các loại nhưng trong cuộc chiến không hải tại biển Đông nếu xảy ra, lực lượng này hoàn toàn không thể tham chiến. Khoảng 140 oanh kích của Không quân CSVN thì đã quá cũ, 30 chiếc Su Khoi 35 hiện đại không thể bao phủ chiều dài của biển Đông cũng như bảo vệ bầu trời Việt Nam (12). CSVN cố gắn đẩy mạnh hệ thống hỏa tiển phòng không nhưng đây là chiến lược thụ động chủ bại, nhất là khi Hải quân CSVN quá yếu kém, ít ỏi và không có hậu thuẫn mạnh từ Không quân để bảo vệ. Trong hoàn cảnh như vậy, CSVN buộc phải nhờ Hoa Kỳ huấn luyện và viện trợ thêm oanh kích cơ để bảo vệ bầu trời và các vùng duyên hải, nhất là khi hàng không mẫu hạm (HKMH) của Trung Cộng đã có thể đi vào hoạt động trong tương lai. 

Mối quan hệ quân sự giữa CSVN và Hoa Kỳ buộc phải tăng tốc trong thời gian tới vì tình thế biển Đông đưa đẩy bắt buộc phải như vậy. Giới chức quân sự của CSVN thường xuyên bay ra HKMH của Hoa Kỳ hội vấn, cụ thể là tướng Nguyễn Chí Vịnh bay ra HKMH của Hoa Kỳ vào tháng 10 năm ngoái. 

Ngoài ra, vấn đề CSVN phải chấp nhận lực lượng Không-Hải của Hoa Kỳ hiện diện thuờng xuyên hơn, thậm chí thường trực tại miền Trung Việt Nam, nhất là ở Cam Ranh nếu CSVN không muốn tìm kiếm sự bảo đảm về quốc phòng. 

Cuộc tập trận RIMPAC sắp tới đây chính là cơ hội mà Hoa Kỳ mở ra để các sĩ quan của CSVN quen dần với khái niệm chiến tranh không-hải hiện đại. 

Hệ lụy chính trị của chính sách CIA về biển Đông gây ra: 

Nếu cuộc đối đầu căng thẳng sắp tới xảy ra ở Hoàng Sa, thì một lần nữa, chủ quyền biển đảo của Việt Nam Cộng Hòa trên quần đảo này sẽ được đem ra bàn hội nghị bàn thảo để tìm chung cuộc cho cuộc tranh chấp. Đến lúc đó, các giá trị pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa về chủ quyền biển đảo cần phải được thừa nhận như là tiền đề căn bản cho cuộc hòa đàm kết thức chiến tranh tại biển Đông. 

Trong tình hình hiện tại, CSVN cần rất nhiều thời gian để thay đổi tư tưởng chính trị trong đảng trước khi đi đến hợp tác sâu rộng hơn với Hoa Kỳ về mặt quốc phòng, nhưng CIA đã không cho Hà Nội có thời gian, vì sự uy hiếm của Trung Cộng đã quá cận kề, và lệnh bãi bỏ cấm vận buôn bán vũ khí được bãi bỏ quá muộn màng. 

CSVN muốn hiện đại hóa nền quốc phòng thì cần phải hiện đại hóa đảng của chính mình trước cái đã, mà trong đó, giới lãnh đạo trẻ trí thức cần phải thay thế giới lãnh đạo già nua trong đảng hiện nay. Nhất là giới lãnh đạo đảng mới này phải tốt nghiệp đại học ở Hoa Kỳ, có quan niệm chính trị và kiến thức của thời đại ngày nay, hiểu cách làm việc của người Mỹ khi đối phó với tình hình quân sự chính trị ở biển Đông trong tường lai. 

Đó là lý do tại sao, các đại học Mỹ mở rộng cửa để con cháu các đảng viên sang học, và nếu CSVN không vận dụng cơ hội này để trí thức hóa đảng, trẻ trung hóa đảng thì chế độ Cộng Sản này chỉ chờ ngày sụp đổ do không đủ khả năng đối phó với các chính sách đối đầu của các siêu cường. 

Tuy nhiên, khi giới lãnh đạo trẻ trí thức nắm quyền uy của đảng, liệu đường lối Cộng Sản còn tiếp nối được nữa không? Hay họ lại nhìn về chính thể Việt Nam Cộng Hòa để dò dẫm bước đi mới cho Việt Nam. Nhất là khi các giá trị pháp lý biển đảo của Việt Nam Cộng Hòa được đem ra bàn thảo. 

Từ đó, chúng ta thấy đối sách của CIA không dừng lại ở biển Đông, mà trên thực tế, đây chỉ là bước đầu trong kế hoạch dài lâu cả chục năm để khiến cho cả hai chế độ Cộng Sản, Việt Nam và Trung Quốc, bị biến dạng hay hủy diệt sao cho có lợi cho vị thế lãnh đạo của Hoa Kỳ trong vùng; cũng như sao cho có lợi cho sự phát triển văn hóa, kinh tế xã hội dài lâu mà Hoa Kỳ đã chủ trương sẵn cho vùng Đông Nam Á. 

07.06.2018

Chú thích: 














Link tham khảo thêm

















 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Lãnh đạo CSVN thờ kính TQ nhưng khinh bỉ dân VN: Ông Trọng mạ lỵ dân, bà Ngân lẻo mép dạy đời [NEW]
Khủng bô Công An TPHCM: Nổ lớn tại trụ sở công an phường, 1 công an nhập viện
Tại sao lại là Bình Thuận? Công an dã man đánh thiếu niên Nguyễn Minh Kha và nhiều đồng bào tử vong - Dân phóng hỏa đốt nhà công an ban đêm
Tâm Thư LM Lý gửi Chức Sắc thuộc 6 Giáo Hội Phật Giáo tại VN thờ giặc Hồ mãi quốc
Chỉ có tổng biểu tình toàn quốc mới giải phóng được dân tộc VN thoát khỏi nô lệ Tàu - Cách băng qua rào kẻm gai
Trong khi đảng CSVN đưa ra bán nước, tàu Trung Quốc xua đuổi 20 tàu cá Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa
Người Việt định cư ở Mỹ từ năm 1980 bị tử vong trong khi bị giam chờ trục xuất
Những kẻ ăn cơm Quốc-Gia thờ ma Cộng-sản ngày ấy, bây giờ ra sao?
Nhờ công lao đảng CSVN, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã an bài trong tay Trung Quốc
Người Việt có tiền mua ngay thị trấn ở California chỉ 900,000$US được làm thị trưởng
QH Việt Nam sẽ lo ‘dịch chuyển đám mây ảo’?
Lãnh đạo CSVN bỏ chạy, Nguyễn Phú Trọng gọi quân đội về bảo vệ tư dinh và chính trị bộ có tin sắp đảo chính
Chính phủ Hoa Kỳ kêu gọi Việt Nam trả tự do cho công nhân Mỹ bị bắt trong cuộc biểu tình
Bí mật: Luật kinh tế đặc khu 经济特区 do TQ việt áp đặt quốc hội VN dịch ra để thông qua văn phap lủng củng tiếng Tàu nghịch tai khó hiểu
Tiền chính phủ TQ mua chuộc Việt Cộng bao nhiêu?

     Đọc nhiều nhất 
Hiện tượng Thích Chân Quang: Trung Quốc là anh, Việt Nam là em… em phải lễ phép với anh, Lý Thường Kiệt vô lễ [Đã đọc: 1555 lần]
30-4: Hãy trả về cho dân tộc [Đã đọc: 1370 lần]
Cháy nhà máy Đài Loan có nhiều lao động Việt Nam, 5 lính cứu hỏa hy sinh [Đã đọc: 1154 lần]
Xót xa trước hình ảnh MC Nguyễn Ngọc Ngạn phải thở oxy trước giờ giờ ra sân khấu [Đã đọc: 1116 lần]
Lụi tàn làng Việt tại Philippines - Nữ Việt kiều Anh bị khủng bố ở VN [Đã đọc: 1110 lần]
Khủng bố Canada: Xe tông người đi bộ ở Toronto, 9 chết 15 trọng thương [Đã đọc: 1070 lần]
Cái bắt tay lịch sử của Triều Tiên là tấm gương cho CSVN học tập, làm theo [Đã đọc: 990 lần]
Đô đốc tư lệnh Mỹ nói chỉ chiến tranh mới ngăn Trung Quốc chiếm Biển Đông có VN tham gia [Đã đọc: 970 lần]
Hồi tưởng ngày giải phóng, nổi kinh hoàng của dân tộc VN [Đã đọc: 946 lần]
Mỹ cảnh báo “hậu quả” nếu Trung Quốc quân sự hóa Biển Đông, dân VN đứng lên đòi lại Hoàng Trường Sa [Đã đọc: 888 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.