Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Mười một 2018
T2T3T4T5T6T7CN
      1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 11567758

 
Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca 13.11.2018 20:31
Chiến dịch cứu giúp đồng bào thảm nạn ở Campuchia
12.09.2018 21:09

Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Hởi người gốc Việt hãy thương đồng bào
“Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất!”
Nguyễn Công Bằng (VDF)
“Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất!” là lời kết của anh Tưởng Năng Tiến trong thư tường trình chuyến thăm viếng, trợ giúp giáo dục cho mấy trăm trẻ Việt kém may mắn ở tỉnh Pursat, Cambodia – nơi mà ViDan Foundation (VDF) tập trung phần lớn sự trợ giúp từ thiện và giáo dục từ mấy năm qua.

201809 Distribute gifts to children at Kor K'ek

Hành trình chia sẻ tình thương bắt đầu từ làng nổi Kor K’ek thuộc tỉnh Pursat, cách bến đò Kampong Luong khoảng gần 2 giờ đường thuỷ. Đây là chốn tạm dung không thời hạn của hàng ngàn đồng bào có cùng chung hoàn cảnh: Sinh ra trên đất Cambodia nhưng không được cấp giấy khai sinh, không được phép đi học trường công lập, và các thế hệ con cháu cũng phải chịu cùng chung số phận như Ông Cha… 

Tại bốn làng này, bên cạnh việc thăm viếng công trình xây dựng trường Việt ngữ An Hoà ở làng Bến Ván, thăm lại ngôi trường nổi Kor K’Ek đã được VDF sửa chữa cùng số bàn ghế học sinh được cung cấp, và thẩm xét nhu cầu xây dựng trường Việt ngữ ở làng Anlung Raing, anh Tưởng Năng Tiến (TNT) đã thay mặt Hiệp hội thăm viếng và tặng tập vở, quà bánh cho học sinh, trẻ thơ hiện diện ở mỗi nơi.

·Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ, Miên ngữ ở hai làng Kok K’Ek và Anlung Raing, uỷ lạo quý Thầy Giáo, tặng tập vở, quà bánh cho 161 trẻ.

·Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ An Hoà ở làng Bến Ván, Kampong Chhnang, uỷ lạo quý Sư Thầy, tặng tập vở, quà bánh cho 115 trẻ.

·Thăm viếng đồng bào và trường Việt ngữ Ấp Sáu ở Neak Loeung, uỷ lạo quý Thầy Cô, tặng tập vở, quà bánh cho 150 trẻ.

 201809 Teacher Tam and TNT at Koh K'Ek VNE Class

Thầy Tâm và anh TNT thăm hỏi, phát quà cho 120 cháu ở làng nổi Kor K’Ek. 

201809 TNT distributes gifts to children

Anh TNT và Sư Minh Trung phát quà cho 115 học sinh làng Bến Ván

201809 Distribute gifts to children at Neak Loeung

Phát quà cho 150 trẻ ở khu vực trường Ấp 6 Neak Loeung (trường do VDF xây dựng năm 2014)

Bên cạnh việc thăm viếng, tặng quà, anh TNT đồng thời đã thay mặt Hiệp Hội đến thăm hai trường nổi ở Kor K’Ek: Trường Việt ngữ dạy cho hơn 100 trẻ, và trường dạy tiếng Khmer cho hơn 40 trẻ. Đây là địa điểm VDF đã giúp sửa chữa một trường nổi, trang bị 25 bộ bàn ghế mới cho học sinh; và tổ chức phát gạo từ thiện nhiều lần cho hàng ngàn gia đình nghèo. Tương tự như các trường ở Neak Loeung, VDF bảo trợ thù lao hàng tháng cho các Giáo viên, để gia đình các cháu không phải lo lắng tìm tiền trả học phí.

Với lớp tiếng Khmer vừa được thành lập năm 2018, Thầy Kiên và người con trai đã hết lòng dạy cho hơn 40 cháu học tiếng Khmer -- ngôn ngữ người bản xứ. Đây là chủ trương trợ giúp của VDF, muốn giúp cho các cháu có được trình độ căn bản tiếng địa phương để có thể giao dịch mưu sinh trong cuộc sống sau này, tránh bị khinh thường là “đồ dốt chữ”, bị lợi dụng công sức…

201809 KhmerClass 2018

Thầy Kiên và một số học sinh lớp Khmer (VDF đã giúp sửa chữa trường này và trang bị bàn ghế)

201809 TNT with Khmer class Teacher Kien

Anh TNT và Thầy giáo Kiên (Lớp tiếng Khmer)

Theo lời anh TNT, “Thầy Kiên rất khiêm nhường, không xin Hội gì ngoài cái bảng đen mới để thay thế cho cái bảng cũ đã bị hư hoại.” Dù vậy, VDF sẽ đáp ứng lời đề nghị của anh TNT về những nhu cầu chính đáng khác ở trường này.

|||

Tại làng Anlung Raing, anh TNT đã thay mặt Hiệp Hội viếng thăm lớp học của Thầy Trần Đông Xuân, nơi có 41 cháu học sinh đang theo học lớp Việt ngữ.

201809 AnlungRaing Class

Thầy Trần Đông Xuân dạy Việt ngữ từ năm 2008, hiện nay lớp có hơn 40 cháu.

201809 TNT with Teacher students at Anlung Raing

Anh TNT cùng Thầy giáo Xuân và một số cháu học sinh.

Đến nay, lớp học là ngôi nhà bè của Thầy Xuân. Là người biết chữ Việt và cũng là người thương trẻ, Thầy đã nhận lời mở lớp theo yêu cầu khẩn khoản của 49 gia đình từ năm 2008. Hiện nay lớp Việt ngữ có 41 cháu học sinh ở nhiều lớp tuổi khác nhau; và mỗi ngày Thầy, trò đều phải khòm lưng viết vì chưa có bàn ghế. Theo dự liệu, VDF sẽ cố gắng sắp xếp ngân khoản $5,500 USD để xây dựng một trường dạng nhà bè và trang bị 12 bộ bàn ghế cho học sinh (để Thầy và trò không bị còng lưng, như sự lo lắng của anh TNT).

Đồng thời Hiệp Hội sẽ cố gắng hỗ trợ hằng tháng cho nỗ lực rất đáng trân trọng của Thầy Xuân, đáp ứng mong đợi lớn lao của số đồng bào đang lưu lạc ở đây: Con cháu được đi học biết chữ, thoát dốt.

Kết thúc chuyến đi tỉnh Pursat, anh Tưởng Năng Tiến đã kết thúc bản tường trình với nhận định rằng: “Nhìn chung, công việc rất tốt. Anh Ngô Ly và mọi thầy giáo đều hết lòng. Các em đều ngoan cả. Ngoài chuyện hiếu học, tụi nhỏ còn ham đến trường vì có bạn để chơi. Có điều khó là tất cả đều kỳ vọng quá nhiều vào ViDan Foundation… vì ngoài chúng ta thì gần như họ không còn ai khác để mà trông mong nữa!”

|||

Sau khi hoàn thành chuyến thăm viếng ở tỉnh Pursat, anh Tưởng Năng Tiến đã lên đường đến làng Bến Ván, tỉnh Kampong Chhnang.

Tại làng Bến Ván, ngôi trường & Chùa An Hoà đã được xây dựng gần xong. Đây là một công trình được khởi xướng bởi nữ Cư Sĩ Diệu Huệ -- một người luôn nhiệt thành không mệt mỏi với những việc giúp Chùa, giúp người nghèo, và đặc biệt là trẻ thơ.

Đầu tiên là dự án xây dựng một ngôi trường nhỏ tương đối kiên cố để thay thế cho “ngôi trường” vốn là một căn nhà sàn ọp ẹp, khởi sự với một ngân khoản khiêm nhường $7,500 USD, và sau đó là sự hợp sức của ViDan Foundation (từ sự hỗ trợ $10,000 của chị Kim Bintliff). Khi bắt đầu xây dựng, một số Phật tử khác phát tâm đóng góp để xây thêm một tầng nữa làm nơi thờ phượng.

201802 BenVan OLD Classroom

Trường Việt ngữ An Hoà (cũ) ở làng Bến Ván (ngày được hội từ thiện đến phát quần áo, nón…)

201809 Ben Van Temple and School

Trường Việt ngữ & Chùa An Hoà (mới) đang được xây dựng giai đoạn cuối.

Công trình nay đã gần hoàn thành song lớp học đã được bắt đầu từ hơn tháng trước. Điều vui khác là theo anh TNT: “Sư Minh Trung rất giỏi trong chuyện giáo dục nên đám trẻ ngoan ngoài sức tưởng tượng.”

|||

Với sự chia sẻ, hỗ trợ nhiệt tình, đều đặn của nhiều đồng hương đầy lòng nhân ái, Hiệp Hội đã đem đến niềm vui cho hàng ngàn đồng bào đang từng ngày vật lộn vất vả với cuộc sống khốn khổ, đặc biệt là hơn 500 đứa trẻ gần chắc là không có tương lai, tương tự như cuộc đời thấp kém, vất vả triền miên của ông bà, cha mẹ chúng.

Chuyến đi kết thúc trong sự an lành, và nhà văn Tưởng Năng Tiến đã lên đường tiếp tục hành trình phiêu bạt, chia sẻ tình thương và hy vọng với những đồng bào đang tha phương lạc xứ, trong đó có nhiều bạn trẻ vừa rời đất nước vì không thể ở lại quê nhà.

Cảm ơn anh TNT đã luôn hết lòng chia sẻ trách nhiệm với anh chị em ViDan Foundation, từ mặt thời gian, công sức đến tài chánh.

Xin cảm ơn những “email tường trình” và xin ghi nhận những nhận xét, đề nghị của anh, kế cả kết luận cuối cùng:

“Kết luận của riêng tôi: Trong hoàn cảnh và khả năng hiện tại của Vidan, chỉ cần dồn hết nỗ lực cho làng nổi ở Pursat – với hai cái trường đang có, và một cái sẽ có (chỗ thầy Xuân) là được rồi. Chỗ này đời sống của đồng bào mình thê thảm nhất, cần giúp nhất!

|||

Đồng hương muốn xem thêm thông tin về ViDan Foundation xin thăm mạng: www.hoamai.ushaywww.vidan.us

Thư từ liên lạc hay chi phiếu ủng hộ cho Hội xin gửi đến:

ViDan Foundation: PO Box 152486, Austin, TX 78715-2486

Đồng Hương muốn đóng góp qua hệ thống chuyển ngân PayPal có thể ủng hộ Hội qua địa chỉ email:  paypal@vidan.us

Mọi thắc mắc hay hay cần trao đổi, xin vui lòng liên lạc cô Anh Trinh ở số điện thoại: 713-391-9843 hoặc địa chỉ email: lienlac@vidan.us

|||

…. Viết theo tường trình công tác của Nhà văn TNT




Cuộc sống người Việt ở Campuchia

Image result for Học sinh Việt tại lớp học của Vì Dân Foundation ở tỉnh Kompong Chnang.

Học sinh Việt tại lớp học của Vì Dân Foundation ở tỉnh Kompong Chnang.

Campuchia là đất nước có nhiều người Việt sang lập cư từ trước và sau chiến tranh, ba bốn thế hệ nối tiếp nhau sinh  ra và lớn lên nhưng không giấy tờ tùy thân và cũng không bao giờ được công nhận là người bản xứ.

Lênh đênh vô định

Ông Butmao Sourn, giám đốc MIRO, một tổ chức thiện nguyện nước ngoài ở Campuchia, chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ và không có được nơi định cư bền vững, cho biết:

Cuộc sống của người Việt tại Campuchia phần lớn chưa có dấu hiệu ổn định, dễ gặp nguy  hiểm. Vì không có giấy tờ hợp pháp nên họ khó hội nhập. Có người sống lâu năm ở đây khi về Việt Nam cũng không được chính quyền bên ấy công nhận.

Một  người Việt sống trên vùng Biển Hồ ven tỉnh Pursat kể lại hoàn cảnh bấp bênh, gạo chợ  nước sông của người Việt  nơi đây:

Tôi Huỳnh Văn Đàn, ở tỉnh Pursat lâu rồi, bà con ở đây làm nghề cá không, giăng lưới giăng câu, giăng được thì đủ ăn, có bữa không đủ ăn. Ở dưới biển chứ có đất có cát gì đâu mà trồng trọt, chỉ giăng lưới giăng câu vậy thôi, coi như nghèo hết 90% rồi. Con thì cũng có một số đi học một số không bởi vì quá nghèo không xuống không ghe không đi học được. Trường đó là trường ở dưới nước, kêu bằng trường nổi, học sinh bơi xuồng lại đó học.

Vì không có giấy tờ hợp pháp nên họ khó hội nhập. Có người sống lâu năm ở đây khi về Việt Nam cũng không được chính quyền bên ấy công nhận. 
- Ông Butmao Sourn

Phải ở trên bờ còn có tương lai, ở dưới nước thì đâu có tương lai. Ở bờ thì thường có đoàn lại giúp, các nhà hảo tâm, các nhà từ thiện có nhiều, còn ở dưới nước ít đoàn lại lắm.

Cơ cực  như vậy nên nhiều người cũng rất muốn về dưới, tức là về Việt Nam theo cách nói của họ. Ngặt nỗi không có giấy tờ tiền bạc để về, ở lại thì phải chịu cảnh o ép của chính quyền địa phương:

Cũng muốn về dưới ở mà không đất không cát, không giấy tờ hợp lệ, không tiền mua đất thì cũng khổ lắm. Đây chắc không có tương lai đâu, sống ở ngoài Biển Hồ thấy cái nhà nó càng ngày càng hư thêm, quan quyền nó gò bó . Tới nay xóm này ra làm nghề bị bắt bỏ tù hết mấy chục người. Nhà nước bây giờ nó bó buộc dân mình, đuổi thì không đuổi mà gò bó như là muốn đuổi khéo.

Ông Ngô Văn Ly, sinh ra và lớn lên ở tỉnh Pursat, từng chạy về Việt Nam những năm sau 1975 để lánh nạn, đến 1981 thì trở qua Campuchia vì không có đường làm ăn ở quê nhà, nói rằng người Việt ở Biển Hồ đôi khi gần như cô lập bởi con nước lớn hay con nước cạn:

Việt Nam tại tỉnh Pursat này là 1.700 hộ, nhưng mà tính theo vùng biển  thì cở 3.000 hộ lận. Bà con chỉ sống dưới mặt biển chứ không có bờ đâu. Mùa này thì cứ theo mực nước mà đi ra giăng lưới giăng câu để kiếm sống. Mần được ngày nào thì mua gạo ngày nấy, còn muốn đi chợ thì chạy máy hai tiếng đồng hồ mới tới bến chợ. Anh em giăng lưới giăng câu ngày hên thì mua đủ năm ba ký gạo, mần được nhiêu mua nhiêu, còn thất thì lỗ tiến xăng đi về luôn.

Nhà nước Campuchia giờ mình không hiểu cái luật của ảnh, giờ tới mùa lưới ảnh  xuống anh dẹp. Xóm của tôi bị bắt  hết 13 người mà  không có tiền để chuộc ra. . Đôi lúc đột xuất quá, sợ bị bắt bị buộc  thì cũng có người trốn về dưới bảy tám chục gia đình rời.

Đi không xong ở cũng không xong

Vì không có giấy tờ hợp lệ, trẻ con người Việt ở Biển Hồ  không được đi học. Là người trông coi một lớp dạy chữ Việt và chữ Khmer cho con em người Việt mà khởi  đầu do người Việt Nam ở nước ngoài tài trợ, ông Ly cho biết thêm:

Chỗ tôi ở rặt Việt Nam không, Campuchia chỉ có ba bốn gia đình, có phái đoàn của Anh, của Mỷ và Canada  cho được cái trường bề ngang 6 thước, bề dài 12 thước, dạy được vài chục đứa thôi, nhưng bây giờ số học sinh lên 130 đứa rồi.

Ngôi trường này ở Biển Hồ bây giờ đang được Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, tổ chức bất vụ lợi ở Mỹ thường xuyên giúp đỡ. Từ  Campuchia trở về Mỹ sau chuyến thăm và cứu trợ đồng bào Việt nghèo khó ở Biển Hồ, ông Nguyễn Công Bằng thổ lộ việc giúp đỡ đồng bào nghèo ở Campuchia thường cũng không mấy dễ dàng:

Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân bắt đầu làm việc ở Campuchia từ năm 2013, đầu tiên là một chương trình dạy học cho 45 em ở Seam Reap, sau đó qua Kampong Chnang và Prey Veng và gần đây nhất là mở rộng chương trình đến tỉnh Pursat. Hiện tại chúng tôi đang bảo trợ nói chung hơn 500 trẻ em gốc Việt Nam ở Campuchia có điều kiện đi học Việt ngữ và tiếng Khmer.

Một lớp học nổi (trên thuyền).
Một lớp học nổi (trên thuyền). Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.

Chương trình giáo dục đầu tiên ở tỉnh Seam Reap hồi năm 2013 là trường Tín Nhân Quốc Tế chuyên dạy Việt Ngữ, Khmer ngữ và Anh ngữ vỡ lòng cho trẻ Việt đủ mọi lừa tuổi ở Seam Reap. Trường được hình thành bằng sự giúp đỡ của một viên chức chính phủ, một số luật sư ở vùng Battambang cùng với sự yểm trợ tinh thần lẫn vật chất của ông Nguyễn Công Bằng và Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân ở Hoa Kỳ:

Sau này, vì những lý do khá tế nhị, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân chuyển sang 3 tỉnh khác dọc Biển Hồ là Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat với các xóm chài người Việt nổi trôi trên Biển Hồ:

Người Việt ở Campuchia là một tập thể đồng bào bất hạnh nhất. Dù rằng họ sống rất gần đất nước Việt Nam nhưng họ không được xem là người Việt Nam, cũng  không được xem là người Campuchia, họ cũng không được điều kiện đi ra nước ngoài.

Theo sự hiểu biết của chúng tôi trong thời gian sinh hoạt bên đó thì các hiệp hội quốc tế gọi đồng bào mình ở đó là những thành phần stateless những người không quốc gia. Tại vì từ thế hệ thứ hai  trở đi họ sinh ra mà không có khai sinh, không có căn cước, không có quốc tịch Campuchia. Và tất nhiên sinh ra ở Campuchia thì họ hoàn toàn không có giấy tờ Việt Nam. Lớn lên họ không được đi học và bây giờ thì con cháu của họ cũng vậy.

Được đi làm trong các hãng xưởng là ước mơ cao nhất của những đứa trẻ Việt lớn lên trong các xóm chài trôi nổi trên Biển Hồ này. Chính vì thế, ngoài cái ăn thì việc mang lại chữ nghĩa và kiến thức cho con em Việt ở Campuchia là điều vô cùng quan trọng:

Ngoại trừ một số gia đình may mắn, những đứa trẻ bên đó không có điều kiện để lên trung học, cũng không có điều kiện đi làm các hãng xưởng lớn. Không có điều kiện tiến thân, không có giấy tờ di trú hợp pháp nên nói chung họ không được hưởng phúc lợi công cộng như người bản xứ hay ngay cả người ngoại quốc mà có giấy tờ hợp lệ bên đó. Vì không được đi học nên họ bị những người thiểu số khác ở Campuchia coi thường chứ đừng nói chi đến người Campuchia.

Người Việt Nam mình ở đó quơ cào làm bất cứ điều gì có thể làm được để kiếm sống qua ngày. Những đứa trẻ sống trong các nhà nổi như chiếc bè trên Biển Hồ đa số cũng theo cha mẹ đi đánh cá, rất nhiều đưa trẻ mới năm bảy tuổi, chín mười tuổi cũng theo cha mẹ đi giăng lưới, đi giăng câu, đi bắt cá vì không có điều kiện nào khác hơn.

Ngoài Seam Reap, tại Kampong Chnang, Prey Veng và Pursat người ta cũng dễ dàng nhận ra những đứa trẻ Việt theo cha mẹ lên bờ đi làm thuê làm mướn:

Đi lượm ve chai hầu hết là trẻ em Việt Nam chúng ta. Có đứa đi bán bong bóng, đứa lớn hơn đi làm phụ hồ, khiêng gạch khiêng đá, nói chung là quơ cào làm những nghề mà người bản xứ chê không làm. Nếu không có gì thay đổi thì thế hệ kế tiếp, con của những đứa trẻ mà chúng ta gặp ngày hôm nay, cũng sẽ nối tiếp đi làm mướn làm công, cũng đi ăn xin đi lượm ve chai. Đó là lý do tại sao chúng tôi cố gắng mở những lớp học cho các em. Dù rằng một ít chữ Việt  hay một ít  chữ Khmer cũng chưa hẳn có thể kiếm việc nhưng ít nhất có thể cho em niềm tin và hy vọng có thể đi học nghề, thoát mặc cảm dốt chữ đi làm công làm mướn.

Hội đoàn giúp đỡ

Học sinh Việt tại tỉnh Pursat trên Biển Hồ.
Học sinh Việt tại tỉnh Pursat trên Biển Hồ. Hình do Vì Dân Foundation cung cấp.

Tại Kampong Chnang có khoảng 280 gia đình người Việt thì hơn 100 trẻ Việt Nam được sự trợ giúp về mặt giáo dục của Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân:

Kampong Chnang có một trường do cộng đồng người Việt ở Úc xây dựng và tặng lại cho địa phương ở đó. Khi chúng tôi đến đó thì chúng tôi được hội MIRO mà chúng tôi cộng tác cho mượn trường đó để dạy các em từ Lớp Một tới Lớp Ba.

Nhưng bắt đầu từ năm ngoái khi chính quyền Campuchia di dời nguyên cái làng nổi của người Việt Nam lên năm sáu cây số ở phía trên một vùng hẻo lánh thì một số em không còn đi học nữa vì quá xa, đi bằng xuồng bằng ghe thì không có ai đưa đón nên một số nhỏ đến trường được mà thôi còn một số lớn thì chờ ở địa điểm mới chúng tôi có thể mở một ngôi trường mới.

Ở Prey Veng chúng tôi có điều kiện lo cho gần 300 em ở 4 địa điểm khác nhau tại vùng mà Việt Nam mình gọi là Hố Lương thuộc tỉnh Prey Veng đó.

Riêng tại vùng Pursat ở phía Tây Biển Hồ thì gần 200 em được đi học ở hai địa điểm khác nhau:

Đây là vùng xa xôi hẻo lánh, đi từ Kampong Leung là một bến đò mà đến làng đầu tiên phải mất gần 2 tiếng đồng hồ chạy xuyên qua mặt Biển Hồ. Đó là vùng gần như cách biệt với thế giới bên ngoài cho nên các em ở đó sống cô lập không tiếp xúc  với văn minh bên ngoài, nhiều em chưa bao giờ bước ra xã hội bên ngoài, cho nên điều kiện phát triển gần như không có.

Sau này chúng tôi tập trung phát gạo bên đó, mở trường, sửa trường. Có những lớp mà các em ngồi dưới sàn của nhà nổi để học nên vừa rồi chúng tôi mua 45 bộ bàn ghế, sửa lại một trường nổi đã suy sụp và sắp chìm để các em có chỗ học. Ở đó tất cả mọi sinh hoạt đều trên nhà nổi \ hết.

Tại Pursat  tùy theo hoàn cảnh có nơi chúng tôi bảo trợ hoàn toàn cả tiền thầy giáo, tiền ăn học, tiền sách vở, có nơi phải sắm bàn sắm ghế, có nơi phải sửa trường học. Tùy theo nhu cầu của từng địa phương mà chúng tôi có chương trình trợ giúp khác nhau nhưng đa số tập trung vào mặt giáo dục là chính.

Người Việt ở Campuchia là một tập thể đồng bào bất hạnh nhất...họ không được xem là người Việt Nam, cũng  không được xem là người Campuchia.
- Ông Nguyễn Công Bằng 

Cuối năm 2016 vừa qua, Hiệp Hội Thiện Nguyện Vì Dân, với sự trợ giúp của một số mạnh thường quân ở Hoa Kỳ, đã mua và phát một tấn rưỡi gạo cho bà con người Việt ở tỉnh Kampong Chnang.

Bước sang tháng Giêng 2017, thêm 6 tấn gạo được phát ra cho bà con ở vùng nghèo nhất là Pursat phía Tây Biển Hồ. Ông Nguyễn Công Bằng:

Cộng đồng gốc Việt ở Campuchia trên dưới bảy tám trăm ngàn, trong đó hơn một phần tư là người nghèo khổ nhất. Với khả năng của một hội thiện nguyện nhỏ bé như chúng tôi mỗi năm chỉ  năm bảy chục ngàn thì không giúp được bao nhiêu đâu. Chúng tôi qua đó chỉ gặp một hai hội của người Việt Nam, trong đó có một hội Công giáo, một hai nhóm Tin Lành và những hội khác nếu có sang cũng chỉ phát gạo mà thôi.

Khi sang Campuchia nhìn thấy các em thiếu thốn đủ thứ mà cái thiếu lớn nhất là thiếu chữ. Tiếc rằng đến giờ phút này khả năng của hội chỉ chăm lo được trên dưới 500 em là con số rất nhỏ so với sỉ số các em đang cần được học chữ. Nhưng mà chúng tôi vẫn cố làm.

MIRO, chữ viết tắt của một tổ chức ở Châu Âu chuyên giúp đỡ những di dân không có giấy tờ hợp lệ tại một đất nước mà họ chạy đến. MIRO đã giúp được cho người Việt như thế nào? Nhà báo Danh Hồng, một người Việt gốc Khmer Krom ở Phnom Penh:

MIRO có hẳn một quĩ để giúp đỡ những người không có quốc gia nhưng MIRO chỉ làm một số công việc là đi giáo dục những người không quốc gia về cái lợi ích khi nhập quốc tịch nhưng họ không có hành động gì, họ chỉ tuyên truyền thôi.

Thí dụ tôi là người Việt muốn vào quốc tịch Campuchia nhưng thủ tục từ A đến Z và ai làm thì MIRO không có, MIRO chỉ lại tuyên truyền thôi. Công việc của MIRO chỉ vậy thôi. Nói chung làm cho người Việt hội nhập có quốc tịch có giấy tờ hợp pháp thì cần có sự hỗ trợ pháp lý mới được.

Và cũng rất thực tế là chỉ chính phủ bản địa mới có quyền hỗ trợ pháp lý nhằm hợp thức hóa người Việt  bất hợp pháp trên đất nước của họ. Thiết tưởng đây cũng là một gánh nặng đối với Phnom Penh, trong lúc Hà Nội, đặc biệt đại sứ quán Việt Nam ở Phnom Penh, không có động thái nào đáng kể.

Liên lạc góp ý với Thanh Trúc: nguyent@rfa.org


Số phận bi kịch của người Việt ở Campuchia

Không như thời VNCH người Campuchia kinh sợ người VN, thời CSVN măc đàuđã hi sinh hàng tram ngàn thanh niên VN để cứu giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi diệt vong bởi Polpot làm theo lệnh Tàu, người VN sinh sống trên đất Campuchia lại bị khinh bỉ, ngược dãi và bị dánh đập, giết chóc thân phận thua cả con chó nơi  xứ người!

Bị xã hội gọi một cách nhạo báng là “yuon”, các chính trị gia thì phỉ báng một cách đầy ác ý, và hệ thống giáo dục thì đã bỏ mặc họ, những con người này chính là các chú dê tế thần béo mập trong mọi bộ phận của xã hội Campuchia từ trước đến nay.

Lược dịch từ bài báo tựa đề Forever Foreign của hai tác giả Michelle Vachon and Chhorn Phearun đăng trên tờ Campuchia Daily ngày 1/9/2017, vài ngày trước khi nhật báo này bị đóng cửa vì lý do chính trị.

***

Căn nhà của Tri Ngan Ros là một chiếc thuyền trên dòng sông Mekong. Sinh tại Tỉnh Kompong Chhnang trong thời kỳ Hoàng thân Norodom Sihanouk trị vì, người ngư dân 60 tuổi này vốn không thể nhớ nổi cha mình đã bắt đầu sinh sống tại Campuchia từ khi nào.

Cả đời ông chỉ biết có nơi này là quê nhà. Ông Ros có bốn người con và chín người cháu, tất cả đều sinh trưởng tại Campuchia. Vậy mà ông lại chia sẻ, “Tôi thậm chí không có cả một tấm thẻ căn cước của Campuchia. Tôi đã ở đây cả đời, và gia đình tôi đã có ba thế hệ sống tại mảnh đất này. Thế nhưng, tôi vẫn chỉ là một kẻ di dân.”

Có gần 1.000 hộ gia đình gốc Việt Nam hiện đang sinh sống tại ngôi làng nổi trên sông cùng với gia đình Tri Ngan Ros. Nhưng ông cho biết, rất ít hộ có thẻ căn cước. Họ đều vướng trong cái thế kẹt của thủ tục pháp lý: sinh ra ở Campuchia, nhưng lại bị xem là những kẻ ngoại lai.

Gốc rễ của tình trạng mang đầy tính tranh cãi về những người di dân này vốn kéo dài suốt lịch sử của Campuchia. Và hậu quả của nó tiếp tục định nghĩa cho thân phận của nhiều con người, cũng như quy chụp lên hàng bao thế hệ vẫn đang chui rúc trên một vùng pháp lý chẳng biết trách nhiệm thuộc về ai.

Bị xã hội gọi một cách nhạo báng là “yuon”, các chính trị gia thì phỉ báng một cách đầy ác ý, và hệ thống giáo dục thì đã bỏ mặc họ, những con người này chính là các chú dê tế thần béo mập trong mọi bộ phận của xã hội Campuchia từ trước đến nay.

Lần giở lại vài trang lịch sử Campuchia, thì mối quan hệ với Việt Nam luôn được xem là tâm điểm, hoặc là bối cảnh của những giai đoạn nhất định.

Hãy bắt đầu từ thành phố Paris năm 1991.

Vào thời điểm đó, các hoạt động thương thảo đang diễn ra để chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Paris vào ngày 23/10/1991, chấm dứt cuộc chiến ở Campuchia. Bác sĩ Richard Rechtman, một người Pháp đi dự một buổi cơm tối tại Paris khi ấy đã kể lại câu chuyện sau.

Sự kiện đó được tổ chức cho những phe phái khác nhau, chính là những nhóm trong suốt thập niên 1980 đã chiến đấu chống lại chính phủ Campuchia đương thời – sau khi lực lượng này đã lật đổ quân Khmer Đỏ với sự trợ giúp của quân đội Việt Nam năm 1979.

Thế nhưng, suốt cả buổi tiệc, không một ai được phép nhắc nhở gì đến “Việt Nam”, bác sĩ Rechtman nhớ lại. Đến mức khi có nghệ sĩ muốn trình diễn một bài hát tiếng Việt, thì tất cả những người có mặt bắt buộc cô ta phải lập tức từ bỏ ý định ấy đi.

Với cái nhìn của một bác sĩ tâm lý điều trị, ông Rechtman không hề thấy ngạc nhiên về điều này: “Con người luôn cảm thấy thoải mái hơn nếu họ chọn kẻ thù hoàn toàn từ những người ngoại bang”.

“Trong khung cảnh mọi người đều thân thiện với nhau tại buổi tiệc ấy,” bác sĩ Rechtman kể tiếp, “thì một người phụ nữ ngồi cùng bàn lại chia sẻ với tôi rằng, trong thời kỳ Khmer Đỏ nắm quyền, đã có rất nhiều người thân của bà bị sát hại.

Và ngay tại lúc này, ở cái bàn tiệc kế bên, một trong những kẻ phải chịu trách nhiệm về những cái chết ấy đang ngồi ngay bên cạnh chúng tôi.

Điều này có nghĩa là, ngay cả khi một người Campuchia biết rất rõ kẻ thù của mình là ai, thì họ vẫn thà chọn người Việt Nam làm tâm điểm để hứng chịu tất cả các vấn đề ung nhọt tại xứ sở của mình”, bác sĩ Rechtman nhận định.

Liên tục trong những năm sau đó, lòng thù ghét người Việt Nam đã trở thành một phương pháp giải tỏa nỗi oán hận của người Campuchia đối với những gì mà Khmer Đỏ đã gây ra. Và họ đã làm điều này mà không hề nghĩ rằng mình đang sử dụng người Việt Nam như là vật tế thần, bác sĩ Rechtman chia sẻ thêm. Đến cuối cùng, Việt Nam và Campuchia vốn có quá nhiều xung đột xuyên suốt lịch sử.

Ngay cả sau khi Hiệp định Hòa bình được ký kết, chấm dứt hai thập kỷ chiến tranh và xung đột ở Campuchia, thì những người có tổ tiên, gốc gác là người Việt Nam tại đây vẫn là nạn nhân của mối oán hận chệch hướng này.

Cơn cuồng nộ của đám đông đã là mồi lửa cho những hành vi bạo lực, mà không có gì để nghi ngờ là những kẻ thủ ác xem đó là cách mà họ báo thù.

Như trong năm 1998, đã có vài người gốc Việt bị những đám đông treo cổ ngay ở thủ đô Phnom Penh, sau khi có những tin đồn thất thiệt là họ đã đầu độc thực phẩm và nguồn nước của thành phố.

Chỉ hai năm trước đây thôi, một người đàn ông gốc Việt, Nguyen Yaing Ngoc, sau khi bị thương trong một tai nạn giao thông đã bị một nhóm người giết chết bên vệ đường. Phó công an xã tại địa phương đã kể lại rằng, có người đã gào lên “Bọn ‘Yuon’ muốn gây chuyện với ngươi Khmer” ngay trước khi vụ tấn công xảy ra.

Ngay cả các chính trị gia ở đây cũng không có hành vi thu liễm gì khi bày tỏ quan điểm về những xung đột này.

Sam Rainsy, cựu Chủ tịch đảng đối lập CNRP hiện đang sống lưu vong, xưa nay vẫn nổi tiếng bởi những lời lẽ tấn công hiểm ác chống lại Việt Nam và người Việt sinh sống ở Campuchia.

Trong một lá thư gửi đến nhật báo The Campuchia Daily ngày 28/10/2013, Rainsy đã phản đối việc ông đã bị chụp cho cái mũ là người đóng gông cùm lên cổ những người Việt sống ở Campuchia.

Sau đó, ông ta lập luận rằng, dân số của người tị nạn Việt Nam có thể sẽ vượt xa người Khmer trong thời gian sắp tới nếu việc cưỡng chiếm đất đai của các công ty Việt Nam vẫn tiếp diễn. Đây là kiểu hùng biện mà Rainsy luôn lập đi lập lại ở các buổi tụ tập và gặp gỡ những người ủng hộ sự nghiệp chính trị của ông ta.

Khi được đề nghị đưa ra một lời phát biểu cho chính bài báo này, ông Rainsy đã viết thư phúc đáp cho chúng tôi, và nêu rõ ông là người có lòng tôn trọng tuyệt đối các giá trị nhân quyền. Thế nhưng, ông ta cũng viết thêm, “nói như thế, không có nghĩa là điều này có thể ngăn cản tôi tố giác vô số những yếu tố của chính sách bành trướng và bá chủ của Cộng sản Việt Nam đối với Campuchia”.

Một trong những lời đồn đãi khiến cho rất nhiều người dân Campuchia ngán ngẩm, đó là họ nghe nói từ thập niên 1980 đến nay, đã có hằng triệu người Việt Nam chuyển đến sinh sống ở đất nước này.

Theo Patrick Heuveline, một nhà Xã hội học người Pháp chuyên nghiên cứu về nhân khẩu học, thì con số người Việt định cư ở Campuchia trong thực tế là gần 400.000. Có khoảng 200.000 người Campuchia gốc Việt đã trốn chạy khỏi đây trong những năm của thập niên 1970, và có từ 150.000 đến 200.000 người đã tái định cư ở Campuchia.

Con số này được lấy từ một phân tích chuyên sâu được thực hiện năm 1996 bởi Luật gia Jennifer Berman, một người Mỹ nghiên cứu về quy trình thẩm định quốc tịch ở Campuchia.

“Quốc tịch là một đề tài gây tranh cãi ở một đất nước mà trong vòng 50 năm vừa qua, hầu như là bị cai trị bởi các quốc gia khác nhau. Từ người Pháp – sau khi Hiệp định Bảo hộ được ký kết – đến người Việt Nam trong thập niên 1980. Họ cũng từng bị người Nhật Bản chiếm đóng một vài tháng trong Thế chiến Thứ hai, và được quản lý bởi Liên Hiệp Quốc trước khi cuộc tổng tuyển cử năm 1993 được tiến hành”. Đó là những gì bà Berman đã viết trong nghiên cứu của mình.

“Sự cai trị liên tục của ngoại bang đã sản sinh ra một nhân sinh quan – đặc biệt là ở những người gốc Khmer – mang tính bài trừ người có gốc gác khác tham gia vào những sự vụ nội bộ của quốc gia – gần như là một nỗi lo lắng đầy hoang tưởng về sự có mặt và ý đồ của những nhóm sắc tộc thiểu số, phi bản địa ở Campuchia.

Chính cái tâm lý đầy nghi kị – vốn ăn sâu bén rễ vào xã hội, luật pháp, và các thiết chế nhà nước – đã hiện nguyên hình ngày hôm nay trong dáng vẻ của sự kỳ thị sắc tộc rất rõ nét ở Campuchia.”

Những thời kỳ đau thương trong lịch sử trải dài của mối quan hệ Việt Nam – Campuchia đang được giảng dạy cho học sinh tại đây.

Vào thế kỷ thứ 17, một vị vua người Campuchia đã cưới một cô công chúa Việt Nam, theo lời kể của nhà Sử học Pháp – Alain Forest.

Một trong những hòa ước mà cuộc hôn nhân chính trị này mang lại cho Việt Nam, đó là dọc vùng đồng bằng Mekong, người Việt được thiết lập các trạm hải quan. Điều này đã khiến cho một số rất đông người Việt đã di dân đến vùng Kampuchea Krom ngày nay, đến mức họ qua mặt dân số người Campuchia để chiếm lĩnh toàn bộ vùng đất ấy.

Vài thập kỷ sau đó, một vị hoàng thân người Campuchia cướp ngôi và cải sang Đạo Islam. Những kẻ chống đối ông này đã tìm kiếm sự hậu thuẫn của Việt Nam để giành lại vương quyền.

“Mô hình này được lặp đi lặp lại mỗi khi triều đại thay đổi. Những kẻ muốn đối kháng luôn tìm sự ủng hộ từ Xiêm La (Siam) – Thailand ngày nay – hoặc Việt Nam”, ông Forest nhận định.

Nội loạn quốc gia đã khiến cho hai láng giềng hùng mạnh có thể can thiệp vào nền chính trị của Campuchia.

Cũng theo ông Forest, hai nước láng giềng này có ý đồ hoàn toàn khác nhau. Việt Nam dòm ngó vào đất đai của Campuchia. Trong khi đó, người Xiêm thì muốn biến người Campuchia thành nô lệ như họ đã từng làm sau khi chiếm được phía Bắc của nước này.

Giai đoạn này là một thời kỳ kinh hoàng đối với người dân Campuchia, ông Forest cho biết thêm. Và nó chỉ chấm dứt khi Vua Ang Duong đề nghị người Pháp hãy tìm cách ngăn cản hai nước láng giềng của Campuchia. Đó cũng là lý do vì sao Vua Norodom đã ký Hòa ước Bảo hộ 1863. Tại thời điểm ấy, dân số Campuchia đã giảm xuống chỉ còn 900.000 người và biên giới của họ không qua khỏi Tỉnh Kompong Thom.

Giáo sư Sử học Keo Duong của Đại học Hoàng gia Phnom Penh đã viết trong một tài liệu nghiên cứu về sắc dân Việt Nam ở Campuchia vào năm ngoái rằng, trong khoảng thời gian Hoàng thân Norodom Sihanouk trị vì – thập niên 1950 và 1960 – những người gốc Việt hoàn toàn không được xem là người Campuchia cho dù họ đã sinh ra tại đây đi chăng nữa.

Một ngoại lệ duy nhất là những người gốc Việt ở Kampuchea Krom. Ở đó, những người gốc Việt được phép trở thành công dân nếu họ nói được tiếng Khmer và đã trải qua một thời gian sinh sống lâu năm tại tỉnh này.

Tuy nhiên, những người mà ông Duong phỏng vấn thì hầu như không biết gì về quy định trên. Họ chỉ biết là bản thân phải trả một khoảng tiền hằng năm cho phí di dân với các định mức quá khổ cho những gia đình ngư dân.

Trở lại lịch sử chính trị của Campuchia.

Khi Hoàng thân Norodom Sihanouk thất cử trong cuộc bầu cử Quốc hội tháng 3/1970, Lon Nol trở thành người đứng đầu chính phủ. Một trong những việc Lon Nol làm đầu tiên, là trục xuất tất cả người gốc Việt ra khỏi Campuchia, nếu không, họ sẽ bị giết.

Chính sách của Lon Nol đã dẫn đến những cuộc thảm sát hàng loạt người Việt Nam.

Theo lời kể của Cha xứ Francois Ponchaud, một người đã làm việc cùng các giáo dân Việt Nam ở một số làng Công giáo, thì “thanh niên và đàn ông từ 15 tuổi trở lên đã bị bắt giữ, và họ bị ép phải xuống những chiếc xà-lan đã cập sẵn bến để đi về phía Nam.

Sau khi đi được khoảng 30 cây số, các quân nhân sẽ trói quặt tay những người này ở sau lưng họ, xâu họ lại thành từng nhóm 10 người, rồi bắn chết”, Cha Ponchaud kể.

“Xác người cứ thế mà rơi thẳng vào dòng nước”.

Sau khi biết được tin tức trên, chính quyền Việt Nam Cộng hòa khi đó – dù đang là đồng minh cùng Mỹ và Campuchia trong cuộc nội chiến với miền Bắc Việt Nam – đã tổ chức cho hơn 200.000 người gốc Việt di tản khỏi Campuchia. Rất nhiều người trong số đó sinh ra ở Campuchia và chưa bao giờ đặt chân đến Việt Nam.

Sau khi nội chiến ở Campuchia leo thang dữ dội hơn, chính phủ Lon Nol đã trưng bày băng rôn với hình ảnh người miền Bắc Việt Nam là kẻ thù mà không hề đả động gì đến việc, đây vốn là một cuộc nội chiến của những phe nhóm Campuchia khác nhau.

Khi Khmer Đỏ chiếm được chính quyền vào tháng 4/1975, người Việt Nam lại trở thành kẻ thù cần bị tiêu diệt, mặc kệ là chính lực lượng vũ trang Bắc Việt Nam đã chiến đấu bên cạnh quân đội của Khmer Đỏ những năm 1972-1973.

Sử gia người Pháp Henri Locard đã giải thích trong sách của ông – Cuốn sổ tay đỏ của Pol Pot, những câu châm ngôn của Angkar – rằng một số khẩu hiệu của Khmer Đỏ khi ấy mang đầy vẻ bài xích nhắm vào người Việt Nam, như “Đập chết bọn Việt Nam! Đập cho tới khi lưng bọn nó gãy mới thôi!” Hay, “Chúng ta hãy tấn công và đập tan bọn sâu mọt Việt Nam một cách tàn nhẫn nhất!”

Những cuộc tấn công của Khmer Đỏ đến các làng mạc người Việt Nam dọc biên giới Việt – Cam cũng chính là nguyên nhân chính phủ Việt Nam quyết định phải lật đổ Pol Pol, với sự trợ giúp của những quân sĩ Campuchia bỏ trốn và tị nạn ở Việt Nam khi đó.

Sau khi đánh thắng Khmer Đỏ, phản ứng của các quốc gia Tây phương đã khiến Việt Nam sửng sốt.

Đó là nhận xét của phóng viên Hoa Kỳ Elizabeth Becker.

“Tôi không nghĩ là phần lịch sử này đã được ghi lại một cách toàn vẹn: Việt Nam đã từng mong đợi rằng, mình sẽ được hoan hô khi tiêu diệt Khmer Đỏ. Và họ đã rất sốc với thái độ khi ấy (của phương Tây – ND). Việt Nam đã trông chờ cả thế giới tuyên dương ‘Hoan hô Việt Nam đã dẹp tan chế độ kinh hoàng Khmer Đỏ’. Họ hoàn toàn không chuẩn bị tâm lý cho thái độ thù nghịch đến từ cộng đồng quốc tế sau đó.”

Trong thập niên 1980, bà Becker cho rằng, “đó thật là một sự tra tấn tinh thần khi cả thế giới chỉ trích Việt Nam vì họ đã chấm dứt tội ác diệt chủng và xóa sổ Khmer Đỏ … Nếu quý vị muốn nổi giận, hãy nổi giận với Hoa Kỳ vì họ đã ủng hộ Khmer Đỏ suốt cả những năm 1980. Nếu quý vị muốn nổi giận, hãy nổi giận với cả cộng đồng Tây phương vì họ đã từ chối giúp đỡ để Campuchia có thể hồi sinh.

Thay vì ra tay cứu trợ, Hoa Kỳ, Châu Âu, và toàn bộ Tây phương lẫn ASEAN lại đưa ra các biện pháp chế tài khắc nghiệt và từ chối cho nguồn viện trợ được nhập vào Campuchia.

Quân đội Việt Nam nên rút sớm hơn, đó là điều không cần phải hỏi .. Tuy nhiên, chỉ mang một mình Việt Nam ra để chỉ trích cho tất cả các vấn đề (ở Campuchia – ND) thì thật là quá kỳ quặc”, bà Becker nhận xét.

Câu chuyện biên giới giữa hai nước vẫn là một vấn đề.

Kể từ lúc chính phủ Việt Nam quyết định tiếp tục để quân đội của mình đóng tại Campuchia cho đến năm 1989, các đảng phái đối lập trong nhiều năm qua đã chỉ trích đảng cầm quyền – đảng Nhân dân Campuchia (Campuchian People’s Party – CPP) – là có liên đới với Việt Nam.

Và, bởi vì mối quan hệ trải dài nhiều thập niên giữa Hà Nội và các lãnh đạo đảng CPP, đảng đối lập CNRP vẫn cảm thấy Việt Nam đã được phép cướp đi hàng chục khu đất dọc biên giới trong sự im lặng, không phản đối của CPP.

“Chúng ta không thể phủ nhận có những vấn đề về biên giới đang tồn tại giữa hai nước. Và là những nước láng giềng với nhau, … nếu đảng CNRP nắm chính quyền, thì giải pháp đối ngoại sẽ là phi bạo lực, hòa bình và đối thoại. Chúng tôi sẽ kêu gọi và tìm kiếm giải pháp cùng nhau … thậm chí là sẽ sử dụng công pháp và tòa án quốc tế nếu không tìm ra giải pháp bằng đàm phán song phương”.

Đó là phát biểu của Phó chủ tịch đảng CNRP Mu Sochua vào tuần trước.

Tuy nói thế, ông Sochua còn thêm rằng, “bất kỳ hình thức phân biệt chủng tộc nào đều không thể được biện bạch, và đảng CNRP lên án các hành vi đó … Chúng tôi đã tìm ra những phương pháp giải quyết trong nội bộ của đảng, và chúng tôi cũng kêu gọi những giải pháp đối ngoại phi bạo lực”.

Tư cách pháp nhân của những người di dân gốc Việt tại Campuchia hiện nay.

Ngày nay, người thiểu số gốc Việt là những người buôn bán nhỏ hoặc là các thương buôn. Họ sống trên những ngôi làng nổi, như ông Tri Ngan Ros ở đầu bài, và kiếm ăn bằng nghề đánh bắt cá. Đó là cách kiếm sống tốt nhất mà họ biết.

Những người không được công nhận là người di dân hợp pháp (legal immigrants) sẽ không thể xin được giấy khai sinh cho con cái mình. Mà không có giấy khai sinh, trẻ em sẽ không thể đi học ở các trường công. Đó là những gì mà Phó Giám đốc điều hành tổ chức Quyền của Người thiểu số (Minority Rights Organization) – Nou Va – đã chia sẻ với chúng tôi.

“Những người đến từ một đất nước khác, và bị chính quyền cho là không đủ điều kiện để có tư cách pháp nhân đang phải sống với một tư cách không rõ ràng. Họ đang sống ở đất nước này mà không có bất kỳ giấy tờ hợp pháp gì”.

Thế nhưng, rất nhiều người đang sinh sống ở các ngôi làng nổi của Tỉnh Kompong Chhnang vốn sinh ra ở Campuchia, ông Va cho biết. “Luật quốc tịch có nhắc đến là con cái của những người nước ngoài sinh sống hợp pháp ở Campuchia sẽ được có quốc tịch. Vậy thì câu hỏi được đặt ra ở đây chính là, ‘hợp pháp’ có nghĩa là gì? Đó là một câu hỏi lớn”.

“Những người này quá nghèo để có thể cho con cái đi học”, ông nói thêm.

Rồi từ những người cha mẹ không biết tiếng Khmer, con cái họ cũng chỉ nói tiếng Việt, là ngôn ngữ được sử dụng tại những ngôi làng nổi này.

“Làm sao họ có thể giao tiếp bằng tiếng Khmer, ngôn ngữ của đất nước mà họ đang sống? Làm thế nào mà họ có thể cạnh tranh tìm việc làm trong tương lai, và làm thế nào để họ có được công việc tốt? Không có khả năng ngôn ngữ Khmer, họ không có cách nào thoát được cuộc sống phụ thuộc vào những cộng đồng người Việt, và cũng không thể đóng góp gì cho sự phát triển của Campuchia”, ông Nou Va chia sẻ.

“Campuchia không phải là một quốc gia được khai phá chỉ bởi người Khmer, mà còn có các sắc dân từ nhiều nguồn gốc khác nhau như người Cham, người Trung Hoa, người bản địa, và người Việt Nam, v.v. Rất nhiều người từ các chủng tộc và nguồn gốc khác nhau, đã cùng chung tay tạo dựng ra đất nước này”, ông nói thêm.

Tương lai của những đứa trẻ gốc Việt dựa hoàn toàn vào việc phải có một định nghĩa pháp lý rõ ràng cho từ “hợp pháp”, để xác định tư cách pháp nhân của bố mẹ chúng.

Khi được hỏi về vấn đề này, Eng Chandara, Giám đốc điều hành Cục quản lý chứng nhận khai sinh, hôn nhân, và chứng tử của Bộ Nội vụ, đã giải thích rằng, “người nước ngoài sống ở Campuchia – nếu có giấy tờ thị thực (visa) hợp lệ – có thể nhận được giấy khai sinh. Nhưng các giấy khai sinh kiểu này sẽ được đăng ký là của người ngoại quốc, chứ không phải là người Campuchia”.

Một người cư trú mà không có giấy tờ thị thực, là một di dân bất hợp pháp, ông Chandra chỉ ra. Hầu hết người gốc Việt sinh sống ở những ngôi làng nổi tại Tỉnh Kompong Chhnang là những người di dân bất hợp pháp.

“Chúng tôi đang cố gắng giải quyết vấn đề này: chúng tôi cũng đâu muốn những đứa trẻ sinh ra mà không có tư cách pháp nhân”, ông nói thêm.

Tìm cách xóa bỏ kỳ thị chủng tộc qua việc thay đổi sử dụng các từ ngữ mang tính miệt thị.

Trong những năm vừa qua, cựu lãnh đạo đảng đối lập CNRP Sam Rainsy đã liên tục tự biện hộ cho việc sử dụng từ “yuon” để miêu tả những người gốc Việt. Ông ta cho rằng, từ này chỉ đơn giản có nghĩa là Việt Nam hoặc người Việt Nam trong tiếng Khmer.

Từ điển phát hành năm 1967 của vị tăng sư và học giả đáng kính Chuon Nath đã định nghĩa từ “yuon” là dùng để chỉ những người sinh sống ở ba vùng Tam Kỳ (Tonkin, Annam, và Cochinchina) của Việt Nam.

Tuy nhiên, từ này có vẻ đã bị biến dạng và mang một ý nghĩa tiêu cực vào những năm 1980, khi Việt Nam bắt đầu giám thị tiền thân của đảng CPP khi đó trong việc quản lý đất nước Campuchia.

Theo ông Tim Frewer, một học giả về Nhân – Địa lý học (human-geography) người Úc đã nghiên cứu về Campuchia hơn một thập niên, chính nhu cầu muốn phân biệt rõ ràng người Khmer và người Việt Nam đã xới lên một vấn đề rất quan trọng.

“Điểm khác biệt giữa chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, đó là cái sau cho rằng, có một vấn đề cốt lõi đối với một chủng tộc nhất định, và vì vậy, cần phải gạt bỏ chủng tộc đó ra khỏi định nghĩa thế nào là người Campuchia”.

“Thế nên, nó không chỉ là việc không thích người Việt Nam bởi vì những phẫn nộ chính trị hay các tranh chấp trong lịch sử.

Mà vấn đề ở đây là có những người rao truyền rằng, người Việt Nam không có chỗ ở đây. Không cần biết là họ từ đâu đến, nhưng ở Campuchia, thì không có nơi nào trong quốc gia này dành cho họ, và họ cần phải bị loại trừ.

Và chỉ khi loại trừ toàn bộ người Việt thì – chúng ta – người Campuchia – mới có thể tìm lại chính mình. Đây hoàn toàn là vấn đề dồn ép những người gốc Việt, và biến họ trở thành một mối đe doạ cho chủ nghĩa dân tộc tính Campuchia”, ông Frewer chia sẻ.

Thế những thanh niên độ tuổi 20-30 ở Campuchia thì lại nghĩ gì về những thái độ nói trên, vốn có xuất xứ từ trước khi họ chào đời?

“Đối với thế hệ trẻ, họ không muốn chiến tranh, nhưng họ cũng không muốn mất thêm lãnh thổ ở biên giới một lần nữa”. Đó là chia sẻ của Tim Malay, Chủ tịch Mạng lưới Tuổi trẻ Campuchia (Campuchian Youth Network), và là một người đang theo học chương trình thạc sĩ.

“Mọi người đều muốn hòa bình và phát triển … Thế nên, là những người của thế hệ trẻ, chúng tôi muốn tìm ra một giải pháp mới”.

Người trẻ ở Campuchia đang đặt hy vọng vào chính quyền được đắc cử năm 2018 sắp tới sẽ giải quyết những vấn đề này bằng con đường pháp lý, anh Malay cho biết. Và những người nước ngoài nào muốn chọn Campuchia làm quê hương cũng sẽ có được tiếng nói của mình.

Còn theo Bill Herod, một người đã sống ở Campuchia hơn 30 năm, thì “hầu như tất cả người Campuchia đều có những cảm xúc tiêu cực đối với Việt Nam và người Việt Nam. Tuy nhiên, đó chỉ là một thứ cảm giác chung chung mà thôi. Còn trong quan hệ giữa người với người, thì nó hầu như không tồn tại”.

Ông Herod đã đến làm việc của một nhân viên cứu trợ vào những năm 80, và hiện nay đang sinh sống ở Tỉnh Mondolkiri. Ông có bạn là người Việt lẫn người Khmer.

“Tôi có rất nhiều bạn bè, cả người Campuchia lẫn người Việt Nam. Và khi tôi hỏi họ về vấn đề này, thì họ sẽ nói rất nhiều thứ tồi tệ về người Việt. Nhưng nếu tôi lại hỏi, ‘thế anh này hay cô kia thì thế nào?’ thì họ sẽ trả lời, ‘À, thì anh biết rồi đấy, những người đó thì lại rất tử tế. Tôi thích họ.”

Đối với việc sử dụng từ “yuon”, ông Herod cho rằng, “Tôi thì đương nhiên không dùng từ ấy khi trò chuyện … Nhưng tôi lại không cho là nó có ý miệt thị đến mức mà chúng ta thường nghĩ. Tôi cũng đã nghe nhiều người Việt dùng từ ấy nữa kìa.”

Nhưng ông nói thêm, “tôi vẫn hy vọng là từ ‘yuon’ sẽ biến mất, và chúng ta chỉ dùng từ người Việt để nói về người Việt”.

Theo LUẬT KHOA

Nỗi lo của cộng đồng gốc Việt ở Campuchia - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=tfiGdQrKLo0
Jan 3, 2018 - Uploaded by BBC News Tiếng Việt
Sinh sống tại Biển Hồ từ hàng chục năm qua, nhưng nay cộng đồng người gốcViệt tại Campuchia đang lo sợ phải đối diện với ...

Thăm đồng bào người Việt tại Campuchia - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=pHSXhno4-VA
Jul 6, 2016 - Uploaded by Người Việt Daily News
Hàng chục nghìn đồng bào Việt vẫn sống vất vưởng tại Campuchia, họ được mệnh danh là dân 4 không: không quốc tịch, không ...

Phượt campuchia | cuộc sống mưu sinh ở campuchia | đi để trở về ...

https://www.youtube.com/watch?v=nLs3KHKPkAE
Jan 19, 2018 - Uploaded by nhật ký miền tây
Phượt campuchia | cuộc sống mưu sinh ở campuchia | đi để trở về ... quay lại 1 số chợ ẩm thực cuộc sông người dân thủ đô ...

Người Việt ở Biển Hồ Campuchia: Những điều chưa thấy hết - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=a6aXYm3dFko
Nov 14, 2016 - Uploaded by Saigon Sunny
Tận mắt chứng kiến cảnh sống trong điều kiện thiếu thốn của người Việt tại làng nổi Chong Khneas trên vùng Biển Hồ Kampuchia: không ...

Nức Nở Hoàn Cảnh Người VIỆT ở BIỂN HỒ Campuchia - Cuộc Sống ...

https://www.youtube.com/watch?v=UQYLC3l5hEc
Jul 31, 2017 - Uploaded by Cuộc Sống Miền Tây
Nức Nở Hoàn Cảnh Người VIỆT ở BIỂN HỒ Campuchia - Cuộc Sống Miền Tây Nhân dịp chuyến du lịch Campuchia, Lâm ghé ...

Người Việt tại Campuchia hoang mang vì sắp bị tước giấy tờ - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=GGUWMAoGnW8
Oct 6, 2017 - Uploaded by VOA Tiếng Việt
Cộng đồng người gốc Việt tại Campuchia rất hoang mang trước tin Bộ ... và không đúng quy định" cho 70.000 người, đa số ...

Hơn 60 căn nhà của người Việt ở Campuchia bị chúng thiêu rụi - YouTube

https://www.youtube.com/watch?v=zfxSboKMxIc
Jul 10, 2018 - Uploaded by Người Việt Daily News
Theo tin của truyền thôngViệtNam, một vụ hỏa hoạn lớnPhnom Penh xảy ra vào khoảng 3 giờ sáng sớm nay giờ địa ...



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Được đảng và TQ cưng chiều, công an càng ngày càng tàn ácvới dân Việt: [NEW]
Úc: Một bà Việt gốc Hoa bị bắt vì nhét kim may vào các hộp dâu hại dân Úc!
Mỹ ép Trung Quốc ngừng quân sự hóa ở biển Đông, VN hãy nắm lấy thời cơ đòi lại Hoàng Sa
Thời đại Xã Hội Trộm Cướp giết người: Chân dung chủ tiệm tóc nổi tiếng nghi bị sát hại đốt xác phi ta.ng ở bờ sông Hải Phòng gây rúng động
Mỹ: Cháy rừng gây hậu quả thảm khốc tại California
Sự thật đáng sợ về loại thuốc làm từ thịt người của Trung Quốc thâm nhập VN
Sự thật đáng sợ về loại thuốc làm từ thịt người của Trung Quốc thâm nhập VN
Trung tướng công an Phan Văn Vĩnh bị ngất và ngã trong bệnh viện vì đứng tim do sợ hãi bị kết án - Xả súng tại Mỹ
NGUY CƠ MẤT NƯỚC: ĐÀ NẴNG SẼ DÙNG “BIỆN PHÁP CUỐI CÙNG” ĐỂ CHẤM DỨT TÌNH TRẠNG MẤT NƯỚC
Bầu cử giữa kỳ Mỹ: Tổng thống Trump chúc mừng chiến thắng của đảng Dân chủ tại Hạ Viện, Cộng hòa thắng Thượng Viện
Cách bảo vệ thân thể khi đi biểu tình
Nỗi đau đón nhục nhã của phụ nữ VN thời đại HCM: Bị chính đồng bào mình bán sang TQ làm đĩtrước sự ngơ ngác của chính quyền CSVN
Đại diện VN Phương Khánh xuất sắc đăng quang Hoa hậu Trái đất 2018
Hởi dân tộc khiếp nhược đứng lên!
Chúng ta chung tay cứu giúp đồng bào tại Campuchia vì CSVN vô tâm vô trách nhiệm đối với họ - Quà cho người sống hay người chết?

     Đọc nhiều nhất 
Chủ tịch nhà nước(tổng thống) Trần Đại Quang từ trần theo bác Hồ - CS sắp sụp đổ [Đã đọc: 372 lần]
Những nguyên thủ và chính khách quốc tế nào đã lây nhiễm vi rút độc lạ của Chủ tịch Trần Đại Quang cần đi khám nghiệm máu? [Đã đọc: 361 lần]
Nữ hoàng phim dâm sex Hong Kong: Chật vật mưu sinh, phải sang Việt Nam bán cafe kiếm sống [Đã đọc: 323 lần]
Đỗ Mười từ giã cõi Trần, Theo chân đoàn tụ bác Quang, bác Hồ [Đã đọc: 253 lần]
Nguyễn Thị Kim Ngân ngợi ca nền giáo dục thời VNCH chửi cha CS [Đã đọc: 250 lần]
Tham nhũng VN: Căn nhà 400 tỷ của đệ tử tướng Vĩnh ở Sài Gòn: Đại gia nhìn cũng khiếp [Đã đọc: 244 lần]
Một người hùng gốc Việt bắn chết cướp Mỹ có súng [Đã đọc: 238 lần]
Trừng phạt Trung Quốc, Mỹ chuyển từ chiến tranh thương mại qua quân sự [Đã đọc: 234 lần]
Nữ sinh viên Quảng Nam - Trần Tiểu Vy đăng quang Hoa hậu Việt Nam 2018 [Đã đọc: 229 lần]
TT Trump kêu gọi mọi người chống CNXH, người Việt ‘thấm thía’ và hào hứng ‘mong thành hiện thực’ [Đã đọc: 228 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.