Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tư 2020
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 16
 Lượt truy cập: 15471679

 
Văn hóa - Giải trí 08.04.2020 00:27
Thoát Trung để thoát dịch Corona, dịch CS và những dịch diệt chủng trong tương lai
02.02.2020 18:58

Thoát Trung là con đường mà Nhà nước và Nhân dân phải cùng làm để thoát Corona 

Hà Sĩ Phu

Thoát Trung là chống lại con đường Bắc thuộc mới đang hiện ra ngày càng khốc liệt. Sự nghiệp chống xâm lược của một quốc gia đương nhiên phải do Nhà nước của quốc gia ấy đảm đương và tổ chức. Nhưng việc chống xâm lăng Trung Cộng đối với Nhà nước Cộng sản Việt Nam là việc rất khó thực hiện vì hai lý do:

– Do nhu cầu bảo vệ quyền lãnh đạo độc tôn của một đảng Cộng sản nên ĐCSVN không muốn Thoát Trung. Việc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam lại mâu thuẫn với việc bảo vệ quyền lực độc tôn của đảng, mà lời TBT Nguyễn Văn Linh chính là một minh chứng khi ông đặt ĐCS của ông lên trên Tổ quốc: “Tôi cũng biết rằng, dựa vào Trung Quốc sẽ mất nước, nhưng mất nước còn hơn mất Đảng”. Lời đúc kết ấy, tuyên ngôn ấy “mãi mãi là một vết cắt lịch sử rất sâu vào da thịt Việt Nam”.

– Nhưng đã có những văn bản ràng buộc khiến ĐCSVN không thể Thoát Trung. Điển hình nhất là Công hàm năm 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng dưới sự chỉ đạo tối cao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công hàm ấy tán thành công hàm của Thủ tướng Trung quốc Chu Ân Lai xác định hải phận của Trung quốc, có bản đồ kèm theo, xác định Tây Sa và Nam sa (tức Hoàng Sa và Trường sa) là của Trung quốc, tức không phải của Việt Nam. Đó là căn cứ pháp lý mà Trung Quốc đã đưa vào hồ sơ pháp lý trình Liên hiệp quốc. Muốn bác bỏ giá trị pháp lý của công hàm Phạm Văn Đồng chỉ có cách duy nhất là lên án công hàm ấy chống lại chủ quyền của nhân dân Việt Nam, cũng tức là lên án chế độ Cộng sản mà Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng đại diện. Đó không chỉ là một văn bản pháp lý bán nước mà còn nặng nề hơn. Bán tức là xác định quyền sở hữu trước đây của mình nhưng nay bán cho nước khác, nhưng công hàm Phạm Văn Đồng công nhận Hoàng Sa Trường Sa là của Trung quốc, không phải của Việt Nam, đó là sự chối bỏ chủ quyền, nay biết nói sao trước pháp luật quốc tế? Không chối bỏ cái công hàm tự diệt ấy thì làm sao mà kiện?

Ấy mới là việc ở hải phận và biển đảo, còn sự xâm lăng nội địa và toàn diện tất nhiên còn có những ràng buộc khác cũng không kém phần rắc rối.

Vì hai lý do như trên, muốn Thoát Trung tận gốc, để muôn đời thanh thản, chẳng có cách gì khác hơn là phải thoát ly khỏi thể chế cũ, cái thể chế đã bất đắc dĩ phải cho kẻ thù truyền kiếp mượn đường “môi răng” để tiến hành xâm lược ngọt như tằm ăn dâu.

ĐCS đương nhiên không muốn Thoát Cộng, không thể tự Thoát Cộng. (Chính HCM trước đây đã nói tự Đảng khó sửa lỗi của mình nên cần có sự hỗ trợ của Nhân dân). Nhân dân sẽ hỗ trợ đảng bằng những áp lực. Hai áp lực thông thường nhất là những kiến nghị, yêu sách và các cuộc biểu tình đông đảo, ôn hòa, giúp Đảng biết lắng nghe mà sửa lỗi. Đảng giúp dân thực hiện các hoạt động ấy cũng là cách tự giúp mình thoát hiểm, trở về thành một đảng trong xã hội dân chủ đa nguyên, và mãi mãi sung sướng vì độc lập khỏi kẻ thù truyền kiếp phương Bắc.

Dù dân không nêu khẩu hiệu Thoát Cộng nhưng cuối cùng vẫn phải động vào cái gốc ấy, cái chốt ấy, cái khóa ấy, mới giải quyết được mọi vấn đề.

Trong điều kiện Nhà nước còn có khó khăn, nhiều con đường tại các làng xã, xóm thôn đã theo sáng kiến “Nhà nước và Nhân dân cùng làm” nên thôn xóm khang trang, thanh thoát. Sáng kiến ấy rất hay, tôi nghĩ con đường Thoát Trung rất lớn lao này Nhà nước và Nhân dân cũng nên hip đồng, cùng làm như làm những con đường nơi thôn dã vy.

 ***

 Những trở ngại trên con đường Thoát Trung:

– Trở ngại từ trong ĐCS. Những yêu cầu của Trí thức và dân chúng có lẽ chỉ tập trung vào nhu cầu đối ngoại, như yêu cầu Nhà nước kiện Trung quốc ra Liên hiệp quốc chẳng hạn, nhưng muốn đáp ứng những yêu cầu ấy đương nhiên phải có những thay đổi sâu sắc từ bên trong đảng, từ bên trong thể chế, dần dà cũng là thay đổi từ gốc. Như trên đã nói, sự tự thay đổi này là rất quan trọng nhưng cũng thật là khó khăn. Đòi hỏi một hệ thống quyền lực tự mình giảm thiểu vì lợi ích sống còn của Dân tộc vẫn là chuyện không bao giờ dễ dàng.

– Trở ngại về phía Nhân dân: Hơn nửa thế kỷ sống trong chiến tranh, trong bất an mà kết quả lại không như ý nên số đông người dân chán nản trước việc chung, từ cái gốc nồng nàn yêu nước nay dẫn đến vô cảm thờ ơ, mặc kệ việc đời, khi chưa thấy có ngọn cờ nào đủ sức gây lại cảm hứng ngày xưa, mà cứ ló ra ngọn cờ là đương nhiên bị diệt.

– Trở ngại từ phía giặc Bành trướng. Trung quốc muốn Việt Nam cứ là Cộng sản nhược tiểu thân Tàu để tiếp tục “tàm thực” cho đến tận cùng. Nếu Trung quốc thấy phía VN có thay đổi, không nghe lời nữa tất nhiên họ phải có đối sách. Nếu họ dùng bạo lực chiến tranh thì cuộc xâm lược sẽ mau chóng hoàn toàn thất bại. Nếu VN thực sự muốn đi với thế giới văn minh để chống Bắc thuộc thì mọi sức mạnh bên trong và bên ngoài lập tức sẽ hình thành và hiệp lực thành sức mạnh vô địch không gì cản nổi.

Điều lo ngại nhất là Tàu sẽ chơi nước cờ thâm hiểm: Trước đây Tàu dùng chư hầu nhưng không tạo được cho chư hầu một bộ mặt đẹp đẽ, thế là hạ sách. Nay nếu bên trong họ đẩy nhanh sự lấn át cho thành sự đã rồi, nhưng đồng thời bên ngoài cho phép chư hầu ca bài ái quốc oai hùng bằng miệng để dân bị lừa mà mừng rỡ, mà hy vọng thì đó là điều nguy hiểm không thể coi thường.

Với nỗi niềm của một con dân nước Việt, biết mình chỉ là một công dân “tiểu tốt vô danh”, nhưng lòng chẳng thể yên, nên tôi cứ nghĩ xa thôi lại nghĩ gần mà trút hết nỗi lòng như vậy, mong được lượng thứ nếu còn những điều gì tác giả nghĩ chưa được thỏa đáng.

____

Phụ chú: Xin xem hai Video clip kèm theo đây về sự Thoát Trung
và Thoát Cộng, như ý kiến chung của HSP cùng GS Lê Xuân
Khoa, và cũng là chung của nhiều người.

Thoát Trung trong một cuộc chiến toàn diện và tổng hợp!

Hà Sĩ Phu

Tôi thật vui mừng được thấy GS LÊ XUÂN KHOA đã hoàn toàn đồng cảm khi khơi dậy một cách ngắn gọn và khúc chiết cái chủ đề quan trọng bậc nhất mà tôi đã đề cập ròng rã hơn 10 năm nay: Muốn thoát Trung buộc phải thoát Cộng, nhưng hai việc ấy phải làm đồng thời!

Trước khi nói thêm một số điều liên quan xin nhắc tên một số bài đã lưu trong Thư viện Hà Sĩ Phu về chủ đề này:

– Vừa nội xâm, vừa ngoại xâm- phải làm gì trước? (2007)

– Giải CỘNG nhi thoát! (2012)

– Muốn thoát Hán phải thoát Cộng (2014)

– Không thể “Thoát Trung” mà không “Thoát Cộng” (2014)

– Không dựng tượng đài ấy, không phải chỉ vì con số 1.400 tỷ ! (muốn thoát Cộng phải thoát Hồ!) (2015)

*
1/ Thoát Cộng là Thoát giặc Nội xâm
Dân bị mất quyền làm chủ đất nước vào tay người cầm quyền trong nước thì đó là nạn Nội xâm (xin tham khảo bài Xin đừng gọi Tham nhũng là Nội xâm).

Có người bảo: Dân ta vẫn có đầy đủ mọi thứ quyền công dân đấy chứ? Toàn là quyền trên giấy thôi. Nói gì nhiều, chỉ nghe Tổng bí thư đảng nói “Quốc hội là nơi cụ thể hóa các nghị quyết của Đảng” và lời Chủ tịch của Quốc hội, nơi tập trung quyền lực cao nhất của nhân dân, nói về việc thành lập ba đặc khu (3 nhượng địa của Tàu) rằng “Bộ Chính trị đã quyết thì Quốc hội phải bàn cách thực hiện, không bàn cãi gì nữa” là đủ rõ “quyền làm chủ” của dân vĩ đại đến đâu rồi!

Nhân dân chưa bao giờ được bốc lên cao như trong chế độ CS, nào là người sáng tạo ra Lịch sử, nào là chủ nhân thật sự của đất nước, cán bộ chỉ là đày tớ của nhân dân. Nhưng Nhân dân chỉ làm nên Lịch sử để ĐCS cướp được chính quyền, chứ xong việc rồi, bây giờ “thằng dân” muốn làm nên Lịch sử thì hãy phải đi “học tập cải tạo” để thành công dân tốt của Đảng đã nhé!

Đảng lại chủ trương “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” (Nhà nước toàn người của ĐCS lãnh đạo)! Vậy là cả giải đất chữ S của tổ tiên nước nhà để lại nay do ĐCS độc quyền giữ “sổ đỏ” (dân chỉ được cho quyền sử dụng chứ không có quyền sở hữu). Ông chủ mà không được sở hữu “một mảnh đất cắm dùi” thì xách dép cho thằng đày tớ, rồi để họ hàng nhà dép lên tiếng như trường hợp cô Thùy Dương ở Thủ Thiêm. Đày tớ cầm “sổ đỏ” trong tay thì nó “sang nhượng” cho ai là rất đúng luật, đúng quy trình, còn cãi gì nữa? Thế thì nhân dân đã mất nước, từ trong nước, trước khi bị ngoại bang xâm lược vậy!

2/ Về quan hệ giữa Thoát Trung và Thoát Cộng
Như vậy, nhiệm vụ Thoát Trung và Thoát Cộng cũng có nghĩa là Thoát nạn Nội xâm và nạn Ngoại xâm, cũng tức là chống nạn Cộng sản và nạn Bắc thuộc-Hán hóa.

Vì VN sa vào chủ nghĩa CS nên mới đưa đất nước chui vào vòng tay Trung Cộng, ngược lại nếu VN ra khỏi quỹ đạo CS thì Trung Cộng chẳng còn cớ ràng buộc gì, lợi thế gì để trói buộc VN.

Quan hệ giữa hai quốc nạn này, giữa hai nhiệm vụ này là quan hệ NGUYÊN NHÂN và KẾT QUẢ. Theo phép chữa bệnh thì diệt được nguyên nhân là chữa được bệnh: hết chế độ CS là hết bệnh Bắc thuộc. Nhưng ở đây cả nguyên nhân (chế độ CS) lẫn kết quả (nạn Trung Cộng xâm lược) đều là hai vật thể sống khổng lồ, quái ác và liên kết tương hỗ củng cố lẫn nhau, bảo vệ lẫn nhau để cùng hưởng lợi trên số phận của dân tộc VN. Nguyên nhân (chế độ CSVN) bám chặt lấy kết quả (bành trướng Trung Cộng) và kết quả (bành trướng Trung Cộng) quay lại giữ chặt nguyên nhân (CSVN).

Điều quái ác là, người giữ chế độ chính trị CS ở VN không phải chỉ ĐCSVN mà chủ yếu là ĐCS Trung quốc. ĐCSVN hiện nay không muốn từ bỏ chế độ CS đã đành, nhưng cho dù có muốn vì nước vì dân mà thoát ly chế độ thì Trung Cộng cũng không cho phép. Tôi đã có lần trả lời phỏng vấn rằng với những gì hai nước đã thiết kế, Trung Cộng có thể dùng tiền mua chuộc bất cứ một kẻ cầm quyền VN nào muốn Thoát Trung, và nếu không mua được thì nó giết quách một cách thật dễ dàng (thân chư hầu khốn nạn như thế). Tóm lại, tuy Thoát Trung là mục tiêu cấp bách và trọng yếu số 1 nhưng không thể Thoát Trung mà chưa Thoát Cộng, lại cũng không thể Thoát Cộng trước rồi mới Thoát Trung. Hai việc ấy phải làm song song, vấn đề là phối hợp hai việc ấy với nhịp điệu như thế nào?

Nhưng Trời sinh ra tai họa nào cũng đồng thời cho luôn thuốc chữa nằm ở đâu đó. Trước đây, khi Trung Cộng chưa lộ rõ mặt xâm lược thì việc đấu tranh Thoát Cộng trong nội bộ quốc gia là cực kỳ khó. Lúc ấy lên án một vấn đề dân chủ-nhân quyền là rất khó và ít hiệu quả, vì ĐCS thừa sức che đậy và trấn áp. Nhưng khi Trung Cộng lộ diện xâm lược, thì chính giặc Ngoại xâm chứ không ai khác đã giúp dân ta vạch rõ mặt thật của giặc Nội xâm mà ĐCS khó cãi được. Hai việc lớn Thoát Trung và Thoát Cộng phải làm đồng thời là điều rất khó, nhưng mặt khác hai việc ấy lại tương hỗ nhau, tạo điều kiện cho nhau, làm dễ cho nhau. Gắn chặt hai việc ấy với nhau sẽ thành sức mạnh.

3/ Thoát Cộng – Thoát Trung đều là việc khó, phải toàn diện và tổng hợp
a/ Cộng sản là loại virus cực kỳ khó diệt

Nọc độc CS giống virus HIV ở chỗ chỉ cần chạm vào da thịt một chút đầu kim tiêm còn dính HIV là sẽ mắc đúng bệnh AID/HIV ấy. Chỉ cần chấp nhận một chút gì đó do CS truyền vào là trước sau cũng tái sinh đúng nọc độc đó một cách hầu như nguyên mẫu.

Tại sao như vậy? Vì chủ nghĩa CS tuy bản chất là phi lý và phi tiến hóa nhưng cái ảo tưởng quá “hoành tráng” đến mê ly của nó lại rất dễ thấm sâu vào tâm can khốn cùng hoặc những trái tim cao cả duy cảm.

CS khi đã cầm quyền là một thực thể tổng hợp tất cả mọi thứ trên đời và biến hóa như xiếc, khoa học và ảo tưởng, lý thuyết và thực dụng, dân túy và chuyên quyền, quốc gia và quốc tế, triết lý và ngụy biện, lời nói khác việc làm, Ác khoác áo Thiện… cho nên dẫu bế tắc đến đâu nó cũng vẫn tìm được cách để lừa người ta, mà nghe cũng có vẻ có lý. Vừa lý thuyết vừa thực dụng, vừa đặc hiệu vừa pha tạp, CS là một tổng thể lừa hoàn chỉnh, đối thủ có khả năng “bao sân” chỗ nào cũng len vào được để hòng chế ngự con người. Virus ấy chỉ bị liệt nếu tách khỏi các cơ thể sống. Một tế bào sống để nó nhập vào là nó sinh sôi.

Muốn Thoát Cộng chỉ có cách thoát ly nó hoàn toàn, đừng luyến tiếc chút ưu điểm mà dính vào là chết.

b/ Bài học rút ra từ thực tiễn chính trị

Phép làm xiếc ấy, phép lừa ấy lừa được cả dân thường và giới trí thức. Những người có học chúng ta cả đời được đào luyện để xem xét và xử lý mọi điều sao cho công bằng, cho có lý có tình, không thiên vị bên nào, và tự cho thế là vừa có óc vừa có tâm của con người chân chính. Chủ nghĩa CS lý thuyết cũng như thực tế đương nhiên bên cạnh mặt xấu căn bản cũng có những điểm tốt nhất thời có thể ghi nhận (mọi sự trên đời đều có hai mặt như vậy!). Nhưng như trên đã nói: Dính vào đầu mũi kim tiêm có nọc CS là trước sau cũng bị lôi vào quỹ đạo ấy, lúc đầu rất thuận tình nhưng vào bẫy rồi là bị áp đặt không ra được nữa, cứ quanh quẩn, giãy giụa mãi trong sự “chân chính” của mình mà thôi.

Sự “chân chính” ấy của số đông Trí thức chúng ta chỉ khiến cho kẻ chính trị lão luyện “cười vào mũi”, nó cứ giả vờ khen để sử dụng, chứ ít kẻ dám như Mao nói toẹt ra rằng “Trí thức suông không bằng cục phân!”.

Đạo đức vẫn dạy người ta: Trị cái Ác thì phải dùng cách cực Thiện, nó độc tài thì mình phải thật dân chủ, nó giấu giếm thì mình phải công khai, nó bất công thì mình phải thật công bằng…! Đạo đức dạy như thế bởi Đạo đức không dạy người ta làm Chính trị chân chính để diệt trừ cái Chính trị gian tà. Mà Thoát Trung và Thoát Cộng là sự nghiệp Chính trị chứ không phải học thuật.

Trong Chính trị, người yêu Hòa bình muốn diệt Chiến tranh nhiều khi lại phải dùng Chiến tranh mãnh liệt hơn mới mong kéo thế giới trở lại Hòa Bình. Mục đích và phương tiện nhiều khi phải ngược nhau, kẻ gian tà cũng nói như vậy (mục đích biện minh cho phương tiện) nhưng ngụy biện để biện minh cho mục đích thực ra rất xấu của nó.

Trong khi trao đổi với bạn bè thân thiết, tôi thường nói thẳng đại ý như sau:

“Ông cứ bảo đổi mới là phải giữ cái tốt cũ, bỏ cái xấu, chứ không phải đổ bỏ tất cả, có thế mới là đổi mới trong ổn định. Xin thưa: Nếu chế độ CS cũng mọc ra từ sự kế thừa thì ta có thể tu sửa chế độ CS cũng trên tinh thần kế thừa mà cải tiến như thế, nhưng đặc biệt chủ nghĩa Cộng Sản ra đời với phương châm “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với các giá trị truyền thống”, khiến cho mọi giá trị đều bị lộn ngược, thì một chủ nghĩa như thế không thể được đổi mới bằng phương pháp kế thừa, mà lại phải đoạn tuyệt nó một cách triệt để nhất mới có thể đưa xã hội trở về trạng thái thăng bằng rồi tiếp tục cải tiến mà đi lên. Thế mới là khoa học thật sự. Vì thế Yeltsin mới tổng kết kinh nghiệm rằng chế độ CS chỉ có thể phá bỏ chứ không thể sửa chữa.

…Ông cứ muốn xử lý sao cho thật công bằng, xem xét cả ưu cả khuyết, không thiên vị bên nào ư? Xin thưa: Không ai khiến ông làm trọng tài thế giới hay quan tòa thế giới! Chỉ nhân dân VN đang đòi hỏi làm sao Thoát được Cộng sản để Thoát được nạn Bắc thuộc mới đang xiết vào cổ dân ta đây này!”. Vâng, đại loại tôi thường bộc bạch với bạn bè Trí thức thân cận như thế.

c/ Vì thế, muốn Thoát Cộng lại phải Thoát Hồ và Thoát Mác nữa

Từ nhận thức như trên đã trình bày, đương nhiên dẫn đến kết luận: Còn lưu luyến một chút gì đó ưu điểm của các tổ sư CS như Mác-Lê-Xít và Hồ chí Minh thì không có cách gì ra khỏi mê lộ CS.

Chẳng có gì phải tiếc, một vài ưu điểm của các vị ấy nếu có thì cũng nằm trong tính chất của các hệ văn hóa khác, hệ văn minh khác phổ quát của nhân loại rồi. Bỏ các vị ấy đi ta không mất chút gì quý giá hết. Trái lại, những sai lầm của các vị ấy tất yếu dẫn đến thảm kịch khiến cho toàn dân tộc ta giờ đây phải đem hết sức bình sinh, huy động toàn tâm toàn lực chưa chắc đã ra khỏi cái ngõ cụt kinh hoàng mà các vị ấy đã tạo ra.

* Về Marxism-Leninism:
Các ông tổ CS này có 5 sai lầm căn bản:

– Hiểu nhầm thời đại mình đang sống: thời kỳ văn minh Công nghiệp bột phát, mở đầu bước phát triển mới của nhân loại, thì các tổ sư CS tưởng đây là thời kỳ cáo chung, giãy chết của cái gọi là chủ nghĩa Tư bản nên rủ nhau định đào mồ chôn. Coi giai cấp thợ thuyền là giai cấp tiền phong của xã hội, không biết Trí tuệ mới là động lực tiên phong.

– Hiểu nhầm Lịch sử nhân loại: coi Lịch sử chi là một chuỗi những cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh giai cấp là động lực của tiến hóa của nhân loại, không biết tiến hóa của loài người là do có sự tích lũy và gia tăng Trí tuệ.

– Hiểu nhầm về nguyên nhân bất công: coi tư hữu là nguyên nhân bất công, nhà nước là bộ máy áp bức cần phải tiêu vong.

– Hiểu nhầm về cách giải quyết bất công: công hữu hóa hết thảy, tập thể hóa hết thảy, để người lao động tự quản, muốn cả xã hội đi vào một cõi định sẵn, thánh thiện như thần tiên, chỉ có hòa thuận không còn cạnh tranh, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu.

– Toàn bộ chương trình ước mơ ảo tưởng ấy lại phải do một đảng toàn quyền dẫn dắt, cuối cùng tạo ra một xã hội lộn ngược, phá nát mọi giá trị, lộn ngược so với ước mơ, làm khổ cả “búa” lẫn “liềm”, nhưng kẻ cầm quyền với lợi quyền vô cực thì quyết giữ cơ chế lộn ngược ấy. Thế là ngõ cụt.

Chính hai nước lớn là quê hương của Mác và rất yêu mến Mác là Đức và Pháp đã cùng Hiệp hội 46 nước châu Âu ra Nghị quyết 1481 lên án chủ nghĩa CS mắc tội ác chống nhân loại, để vứt nó vào sọt rác.

Chỉ cần vài điều ấy thôi tưởng đã đủ thuyết phục để “kính mời” các vị ấy vào ngồi yên trong bảo tàng Lịch sử cho xong. Cố tìm ưu điểm gì nữa cũng bằng thừa. Sách vở về Mác còn xuất bản chẳng qua là điểm lại một hiện tượng trong quá trình nhận thức của nhân loại. (Riêng với VN thì chủ nghĩa ấy còn phạm tội ác nữa là đưa VN trở lại vòng tay của kẻ thù truyền kiếp Đại Hán Bắc phương).

* Về nhân vật lịch sử Hồ Chí Minh của Việt Nam
Một khi cả quỹ đạo CS là quỹ đạo chống Nhân loại thì những ai đưa cái “chống Nhân loại” ấy vào VN đương nhiên mắc tội chống nhân dân VN, logique tự nhiên là như vậy.

Hai đại nạn mà ta cần thoát là Thoát Cộng (nội xâm) và Thoát Trung (ngoại xâm) chẳng phải do chính tác giả HCM đem vào thì còn ai?

Hãy bỏ qua mọi câu chuyện về con người cá nhân HCM, vì với nhân vật chính trị thì “con người chức năng” mới quan trọng. Chức năng là dẫn đường dân tộc mà dẫn đường vào ngõ cụt, nay cả nước phải cố thoát ra, thì dù với thái độ khoan dung ta cũng chỉ có thể thông cảm cho anh Ba chưa đủ tầm để nhìn ra nguy cơ tiềm ẩn thế kỷ ấy, chứ yêu cầu phải tôn thờ cho “sống mãi” một sai lầm tai hại thì chẳng hóa điên khùng lắm sao?

Có một vài luận điểm bào chữa cho HCM có thể kể ra:

– HCM không phải người CS (?), chỉ mượn con đường CS để giành độc lập. Luận điểm này thật nhảm.

– Tình hình thế giới và dân trí VN lúc bấy giờ đương nhiên bị hút vào đường CS, không có HCM này thì sẽ có người khác theo đường như HCM thôi, trách HCM làm gì? Mới nghe cũng xuôi tai, nhưng nói cù nhầy như vậy thì cũng vô lý như bảo “thời Trần Hưng Đạo nếu không có Hưng Đạo này thì cũng xuất hiện một Hưng Đạo khác, tôn thờ cá nhân làm gì?!!!

– Không ít người lo rằng đụng đến thần tượng là mắc tội chính trị rất lớn, là nói xấu lãnh tụ?

Xin thưa: ĐCS coi việc bảo vệ đảng và bảo vệ chế độ mới là nhiệm vụ chính trị quan trọng nhất. Nay ta đã dám công khai nói Thoát Cộng, tức công khai tẩy chay chế độ chính trị, thì những điều khác chỉ là chuyện nhỏ. Họ vẫn ra vẻ cung kính bắt toàn dân đưa thần tượng lên bàn thờ (cả trong chùa chiền nữa) chẳng qua vì thấy đa số dân vẫn còn tin hoặc còn sợ nên dùng luôn hình tượng ấy như một đức Bồ tát hoặc như ngáo ộp để răn đe bách tính, chứ trong lòng những người CS cầm quyền bây giờ phỏng có tôn sùng nhân vật ấy nữa không?

Trên tường vẫn treo 5 điều Bác dạy mà cứ tham ô tiền tỷ chứ đâu có “Cần kiệm liêm chính”. Đánh dân như đánh súc vật chứ đâu có “kính trọng lễ phép” như lời Bác răn? Họ dùng “Bác Hồ” như dùng một công cụ để giữ ghế cao cho họ, như người dân vẫn bện “ông bù nhìn rơm” để giữ ruộng dưa. Hết ngày mùa, hoặc thấy chim chóc không sợ bù nhìn nữa thì họ cũng vứt ông bù nhìn vào bếp đun.

Với những ai vẫn còn lòng tin nơi thần tượng bù nhìn, ta có thể ví tượng bù nhìn cũng linh thiêng như tượng Phật, tượng Chúa. Các vị ấy đều phúc đức không có tội gì. Nhưng nay có tên kẻ cướp cứ ẩn hiện tài tình núp sau bức tượng để bắn đồng bào ta, thì buộc lòng ta phải bắn tan bức tượng để tên cướp lộ nguyên hình. Diệt cướp xong người sùng đạo có thể dựng lại bức tượng hoành tráng hơn. Tình thế đã như vậy thì người Dân chủ đâu còn có thể cũng núp bóng những tượng Hồ tượng Mác ấy mà đấu tranh nữa?

KẾT LUẬN
Mục tiêu chiến lược bức thiết là Thoát Trung, nhưng muốn Thoát Trung buộc phải Thoát Cộng.

Hai việc chống Nội xâm và chống Ngoại xâm ấy phải làm song song và tăng cường hiệu lực cho nhau. Đồng thời phải giải ảo các thần tượng CS còn được dùng như những tấm khiên bảo vệ ngai vàng cho các vua tập thể và che đậy cho âm mưu Hán hóa thôn tính Việt Nam.

Vô hiệu hóa thần tượng không phải mục đích, cũng không phải xúc phạm điều thiêng liêng gì mà chỉ là vô hiệu hóa một công cụ mà những kẻ Nội xâm và Ngoại xâm cùng sử dụng để ngăn chặn làn sóng Thoát Trung và Thoát Cộng đó thôi.

Hà Sĩ Phu

Nguồn: Bauxite Việt Nam

Việt Nam có thể hoàn toàn ‘thoát Trung’ được không?

Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành (The Observer15/02/2019)

Sau sáu năm, tôi lại đến Việt Nam lần nữa; chuyến đi này nhằm mục đích chính là tìm hiểu tình hình tiến trình “Thoát Trung” của Việt Nam thời cận đại và hiện đại cũng như các ảnh hưởng của tiến trình đó.

Cho dù chỉ là một du khách bình thường đi tham quan kiểu cưỡi ngựa xem hoa thì bạn cũng sẽ dễ dàng cảm nhận được văn hóa Trung Hoa có ảnh hưởng sâu sắc như thế nào đối với Việt Nam: những biển chữ Hán ngoài cổng các kiến trúc cổ trên đường phố, những đôi câu đối nghiêm chỉnh trên cột các đền chùa, môn cờ tướng Trung Quốc là trò giải trí được nhiều người ưa thích nhất ở các công viên, chữ Song Hỷ màu hồng trong các lễ cưới….

Thế nhưng sau khi đi sâu quan sát thì bạn sẽ phát hiện thấy chỗ nào cũng có dấu tích của tiến trình “Thoát Trung”: một số bảng biển chữ Hán ở các đền chùa bị thay bằng các bảng biển viết chữ Quốc ngữ La tinh hóa, thậm chí cả đến câu đối cũng đều đã “La tinh hóa” như vậy, những chữ La tinh của đôi câu đối viết dọc từ trên xuống dưới đem lại cho người ta một cảm giác cười ra nước mắt; trong các viện bảo tàng, những phần trưng bày về kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hầu như không thấy nói gì về viện trợ của Trung Quốc; các cửa hiệu trên đường phố đều treo biển “Hàng Việt Nam”, “Hàng Nhật”, “Hàng Hàn Quốc” “Hàng Mỹ” thậm chỉ “Hàng Canada” mà hầu như chẳng thấy biển hiệu “Hàng Trung Quốc”, cho dù Trung Quốc là nước nhập khẩu hàng hóa lớn nhất vào Việt Nam.

Chưa thấy nhiều tác phẩm nghiên cứu có hệ thống về vấn đề Việt Nam “Thoát Trung”. Trong mấy tài liệu tôi sưu tầm được, các tác giả chưa nhất trí về nguồn gốc và tình hình phát triển của tiến trình Việt Nam “Thoát Trung”, việc phân tích động cơ “Thoát Trung” cũng khá đơn giản, và đó lại chính là nguyên nhân thúc đẩy tôi đến Việt Nam tìm hiểu.

“La tinh hóa” chữ viết của Việt Nam

Trong tác phẩm “Khối cộng đồng tưởng tượng – nguồn gốc và sự truyền bá chủ nghĩa dân tộc” [Imagined Communities: Reflections o­n the Origin and Spread of Nationalism] của Benedict Anderson có viết: “Các tưởng tượng về nhà bảo tàng và quá trình tổ chức nhà bảo tàng đều có tính chính trị sâu sắc”. Tôi luôn cho rằng nếu muốn tìm hiểu lịch sử một nước, hoặc nói chính xác hơn, nếu muốn tìm hiểu một quốc gia đã hướng dẫn người dân của họ nhìn nhận lịch sử của nước mình như thế nào thì cách tốt nhất là hãy đến thăm viện bảo tàng lịch sử của quốc gia đó.

“Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam” là một tòa kiến trúc kiểu Pháp mang đặc sắc thuộc địa rõ ràng. Nơi đây từng là viện nghiên cứu khảo cổ có tên “Viện Viễn đông bác cổ của Pháp Quốc (École française d’Extrême-Orient, EFEO)”. Viện này có đóng góp to lớn cho công cuộc nghiên cứu các lĩnh vực lịch sử học, khảo cổ học, nhân học vùng Đông Nam Á, Đông Á và Nam Á; trong đó cống hiến được truyền tụng nhất là thành tựu nghiên cứu về đền Angkor Wat ở Campuchia và về Hán học Viễn Đông cũng như Đôn Hoàng học. Viện Viễn đông bác cổ của Pháp Quốc còn phát minh ra một bộ chữ ghi âm Hán ngữ La Tinh hóa, từng một thời được dùng rộng rãi ở các nước nói tiếng Pháp hoặc dùng La Tinh ngữ.

Bộ chữ cái ghi âm ban đầu do Viện Viễn đông bác cổ của Pháp Quốc thiết kế chắc là không khác mấy so với chữ Quốc ngữ Việt Nam La tinh hóa do các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha phát minh hồi thế kỷ 16, nhằm tạo thuận tiện cho người phương Tây học Hán ngữ và tiếng Việt, cũng như cho việc truyền giáo và giao tiếp hàng ngày. Thế nhưng, cùng với tiến trình toàn cõi Việt Nam biến thành thuộc địa của Pháp còn Trung Quốc thì chưa hoàn toàn trở thành thuộc địa, hai loại chữ viết La tinh hóa ấy có số phận khác nhau. Sau khi Hệ thống Pinyin Hán ngữ do nhà nước Trung Quốc triển khai được Liên Hợp Quốc thừa nhận là Hệ thống Pinyin tiêu chuẩn quốc tế thì bộ chữ ghi âm Hán ngữ do Viện Viễn đông bác cổ của Pháp Quốc phát minh và bộ chữ ghi âm Hán ngữ kiểu Wade–Giles [Wade–Gilles system] do người Anh phát minh cũng như một vài kiểu chữ phiên âm Hán ngữ khác đều dần dần mất đi địa vị quốc tế, không còn được sử dụng nữa.

Nhưng từ thế kỷ 19 thực dân Pháp lại ra sức đẩy mạnh sử dụng chữ Việt Nam La tinh hóa (chữ Quốc ngữ), dần dần trở thành chữ viết chính thức của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Người Pháp làm thế nhằm mục đích chính là để tầng lớp tinh hoa người Việt thoát ra khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc, cắt đứt mối liên hệ văn hóa giữa Việt Nam với Trung Quốc. Cho nên một số học giả coi việc La tinh hóa văn tự Việt Nam tiến hành trong thời kỳ Pháp đô hộ nước này là sự khởi đầu quá trình “Thoát Trung” của Việt Nam.

Thế nhưng ngay cả trong thời kỳ Pháp thuộc thì chữ Hán và chữ Nôm (một loại chữ Việt Nam hóa dựa trên nền tảng chữ Hán) cũng không hoàn toàn biến mất trong đời sống người Việt. Trên rất nhiều lĩnh vực, chữ Hán vẫn dùng song song với chữ Quốc ngữ. Sau khi thành lập chính quyền Bắc Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo thì chữ Hán hoàn toàn bị thay thế, trở thành vật hy sinh của “Phong trào xóa nạn mù chữ” do nhà nước triển khai. Đối ngoại, chính phủ Việt Nam tuyên bố sở dĩ phải đẩy mạnh dạy chữ Quốc ngữ chứ không dạy chữ Hán, đó là do chữ Quốc ngữ La tinh hóa đơn giản dễ học. Nhưng trên thực tế cho dù là tầng lớp lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam hay tầng lớp tinh hoa trong xã hội Việt Nam thời ấy, ai cũng đều hiểu rõ bỏ chữ Hán là bước đi cốt lõi của tiến trình “Thoát Trung” nhằm để Việt Nam hoàn toàn thoát khỏi ảnh hưởng mấy nghìn năm của Trung Quốc.

Tự thuật của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam

Trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam [Vietnam National Museum of History] ở Hà Nội, phần lớn các văn bản thuyết minh và lời thuyết minh vật trưng bày đều dùng tiếng Việt và tiếng Anh; một số ít “nội dung nhạy cảm” thì chỉ giới thiệu bằng tiếng Việt. Mặc dầu Trung văn không được dùng ở đây nhưng rất nhiều văn bản lịch sử và hiện vật lịch sử lại đều thể hiện bằng chữ Hán, nhất là phần lịch sử cổ đại.

Theo cách nói của giới sử học Trung Quốc thì lịch sử Việt Nam có thể sơ lược chia làm 5 thời kỳ: 1) Thời tiền sử và các truyền thuyết;  2) Thời kỳ Bắc thuộc, tức thời kỳ Việt Nam là một bộ phận của Trung Quốc, bắt đầu từ khi tướng nhà Tần là Triệu Đà bình định Bách Việt và lập nước Nam Việt tại Phiên Ngung [Panyu] thuộc tỉnh Quảng Đông thời nay cho tới năm 938 sau CN thời Ngũ đại thập quốc [907-979], khi Ngô Quyền của Việt Nam đánh bại quân Nam Hán, lập triều đại nhà Ngô độc lập;  3) Thời kỳ quốc gia độc lập, từ năm 938 đến năm 1884 khi nước Pháp biến Việt Nam thành thuộc địa; suốt thời kỳ đó, Việt Nam là nước phiên thuộc của nhiều vương triều Trung Quốc, trong đó có 20 năm Việt Nam bị nhà Minh thu hồi thành thuộc quốc;  4) Thời kỳ là thuộc địa của Pháp;  6) Thời kỳ độc lập sau Thế chiến II.

Các ghi chép lịch sử thường có nội dung khác nhau bởi lẽ chủ thể viết sử khác nhau, điều đó không khó hiểu. Trong Viện Bảo tàng Lịch sử quốc gia, ở phần thời kỳ tiền sử, văn hóa Đông Sơn được giới thiệu nhiều nhất, coi là tiêu biểu của thời này, nhưng ở thời kỳ thứ hai thì nền văn hóa đó lại bị lược bỏ. Trên thực tế, phần giới thiệu duy nhất về thời kỳ thứ hai là một bảng biểu “Chống xâm lược” xuyên suốt thời kỳ này, toàn bộ đều viết bằng chữ Quốc ngữ. Thế nhưng khi đọc kỹ bảng biểu đó người ta có thể thấy một số “nội dung nhạy cảm”: chống Đông Hán, chống Lưỡng Tấn, chống Nam Triều, chống quân nhà Đường v.v… Theo ghi chép của lịch sử Trung Quốc thì các nội dung này đều được định nghĩa là những sự kiện lịch sử “dân địa phương nổi dậy [dân biến]” hoặc “làm loạn [tác loạn]”, còn tại bảo tàng này thì tất thẩy đều được coi là nghĩa cử “chống ngoại xâm”.

Bảo tàng Lịch sử quốc gia dành cho thời kỳ thứ ba phần giới thiệu rất chi tiết nhưng sợi chỉ chính xuyên suốt phần này thì không thay đổi, vẫn là chủ đề “Chống xâm lược phương Bắc” như chống quân Tống, chống quân Nguyên, chống quân Minh, chống quân Thanh… song le lại không một chữ nào nói đến mối quan hệ giữa chính quốc [tông chủ, tức Trung Quốc] với nước phiên thuộc [tức Việt Nam]. Trong đó có một đoạn khá thú vị nói về thời kỳ 20 năm Minh thuộc: Theo ghi chép trong “Đại Việt Sử ký toàn thư”, sách sử chính thức của triều Hậu Lê Việt Nam thì những năm đầu nhà Minh, trong triều đình nhà Trần ở Việt Nam có xảy ra sự kiện một người họ Hồ [Hồ Quý Ly?] thuộc bên ngoại của nhà vua định cướp ngôi, nhà Minh phái quân đội Nam tiến sang Việt Nam để lập lại sự công bằng về đạo lý; sau khi diệt xong Hồ, các quan lại và người cao tuổi bản địa cho biết hoàng tộc nhà Trần đã bị tuyệt diệt không còn người nối dõi, yêu cầu nhà Minh thu hồi quốc hiệu An Nam Quốc (Việt Nam), khôi phục chế độ đãi ngộ “quận huyện” của vương triều Trung nguyên trước kia. Trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, đoạn lịch sử này cũng được giới thiệu là “Nhà Minh xâm lăng Việt Nam, phạm tội ác tầy trời”.

Tự khoe là “chính thống Trung Hoa”

Cho dù phần tự thuật trong Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tràn đầy tinh thần “Chống phương Bắc” nhưng từ quá trình lịch sử Việt Nam được thể hiện trong mọi trưng bày ở đây rất khó có thể nói các đời vương triều Việt Nam có một quá trình chủ động “Thoát Trung”. Trên thực tế, vào các thời Nguyên Mông, Mãn Thanh làm chủ vùng Trung nguyên Trung Quốc, các văn bản thư tịch của vương triều Việt Nam từng [có ý khinh bỉ] gọi hai kẻ thống trị phương Bắc ấy là “Mông Thát”, “Mãn Di”, mà tự khoe mình là “Chính thống Trung Hoa”. Trong bảo tàng có một bản chiếu thư bằng gấm do hoàng đế triều nhà Nguyễn sắc phong một vị tướng chống quân Thanh, trên tờ chiếu đó thậm chí có mấy chữ Hán: “Kiến công Vạn lý tráng Trường thành”.

Vào cuối thời đại phong kiến, Việt Nam ra sức mở rộng lãnh thổ, dần dần chiếm lĩnh một vùng đất rộng ở châu thổ sông Mekong vốn thuộc Campuchia. Trong quá trình cưỡng chế đồng hóa người Cao Miên, Việt Nam càng cưỡng bức người “Cao man” (người Cao Miên) mặc Hán phục, học chữ Hán. Sách sử chính thức của triều Nguyễn “Đại Nam thực lục” chép: “… Tai nghe nhiều thi quen, mắt thấy nhiều thì thuộc, cứ thế [người Miên] dần dà hòa nhập với phong tục người Hán; nếu lại có thêm sự giáo hóa của chính quyền, dùng văn hóa Hoa Hạ để biến đổi các dân tộc man di, xem ra sau vài chục năm thì có thể làm cho họ chẳng khác gì người Hán [Hán dân].” Ở đây triều Nguyễn tự xưng là “Hán”, “Hạ” [tên cũ của Trung Quốc], “Hán dân”, khoe mình là dòng chính thống [đích hệ] của văn hóa Trung Hoa.

Nhà văn chuyên mục lịch sử Quách Hoa Mân từng viết trên mục “Tư gia lịch sử” mạng Bloomberg về sự cai trị đất nước của vương triều phong kiến nhà Nguyễn như sau: “Nước Đại Việt dù ở xa trung tâm thống trị của vương triều Trung nguyên nhưng lại toàn lực bắt chước và cấy ghép các chế độ văn hóa, kinh tế, chính trị của Trung Quốc. Triều Lý (1010-1225) chia chế độ quan lại làm hai ban văn võ, mỗi ban có cửu phẩm; các địa phương có Tri phủ, Phán phủ, Tri châu; trung ương còn có các trọng chức như Thái sư, Thái phó, Thái úy, Thái bảo. Thời kỳ đầu triều Lý đã xây dựng Văn miếu để thờ Khổng Tử và Chu Công, bắt chước chế độ khoa cử nhà Tống Đường…

Phương thức sao chép các chế độ của Trung Quốc kéo dài suốt cho tới đêm trước ngày Việt Nam rơi vào vòng thuộc địa của Pháp. Chịu sự cai trị trực thuộc của Trung Quốc trong hơn 1.000 năm cộng thêm hơn 900 năm bê nguyên xi mọi thứ của Trung Quốc về dùng, Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa quá ư sâu xa (sâu và rộng hơn nhiều so với Triều Tiên, Nhật). Trong “Khối cộng đồng tưởng tượng”, Anderson luận bàn thế này: “Tuy rằng vương triều thống trị Hà Nội và Huế (kinh đô triều Nguyễn) mấy thế kỷ qua đều bảo vệ được nền độc lập, không bị Bắc Kinh xâm phạm, nhưng rốt cuộc họ vẫn cứ dựa vào bè lũ quan liêu dốc lòng bắt chước người Trung Quốc để cai trị đất nước. Cơ quan nhà nước dựa vào chế độ “khoa cử” – kiểu thi viết về chủ đề là các kinh điển Nho giáo để lựa chọn và đề bạt người tài; các văn bản của triều đình đều viết bằng chữ Hán; về mặt văn hóa, mức độ Trung Quốc hóa của giai cấp thống trị cũng rất sâu.

Rồi Anderson phân tích: Sau năm 1895, các trước tác của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu và sau này là của Tôn Trung Sơn… truyền vào Việt Nam khiến cho “mối quan hệ lâu dài giữa Việt Nam với Trung Quốc có tính chất không được [chính phủ thực dân Pháp] hoan nghênh”. Bởi thế nên vào khoảng năm 1915, chế độ khoa cử bị bãi bỏ, thay bằng hệ thống giáo dục thuộc địa với tiếng Pháp là môn học chính. Ngoài ra, chữ Quốc ngữ Việt Nam La tinh hóa được hết sức đề xướng, qua đó làm cho các thế hệ mới của người Việt Nam thuộc địa do không thể tiếp xúc với thư tịch của thời đại các vương triều cũng như văn học cổ xưa mà bị cắt đứt mối liên hệ với Trung Quốc – cũng có thể gồm cả quá khứ của bản địa Việt Nam.

Theo phân tích của Anderson, đối với tầng lớp tinh hoa bản xứ Việt Nam, sự “Thoát Trung” do người Pháp cưỡng chế tiến hành không phải là chủ ý của người Việt, mà là một quá trình bị động. Như vậy sau khi đã đánh đuổi thực dân Pháp (nhất là dưới sự giúp đỡ của quân đội Trung Quốc), Việt Nam hoàn toàn có thể trở lại con đường truyền thống “Trung Quốc hóa”, điều đó chẳng những có thể tăng cường mối quan hệ “láng giềng hữu hảo” giữa Việt Nam với Trung Quốc mà cũng có thể giúp cho người Việt Nam lập lại mối liên hệ với tổ tiên mình.

Song le sự thực lại không như vậy.

Phần tự thuật của Bảo tàng Lịch sử quốc gia Việt Nam đến năm 1945 thì chấm dứt. Chỉ có thể tìm hiểu thời kỳ tiếp theo của lịch sử Việt Nam từ một bảo tàng khác – “Bảo tàng Cách mạng Việt Nam” ở bên kia đường phố. Viện Bảo tàng này trưng bày thời kỳ từ khi chủ nghĩa dân tộc Việt Nam thức tỉnh cho tới ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam rồi đến chiến dịch Điện Biên Phủ, người Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp; về cơ bản có thể coi là lịch sử giai đoạn đầu quá trình phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó tràn ngập sự tuyên truyền mang màu sắc thần thoại, điều này không có gì khó hiểu.

Tiền đề cấu tạo quốc gia dân tộc

Điều khác biệt rõ ràng với các vật trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là các vật trưng bày trong Bảo tàng Cách mạng hầu như không có chữ Hán, thậm chí hầu như không có hai chữ “Trung Quốc”. Tại đây, phong trào Việt Nam độc lập chống Pháp hoàn toàn do người Việt Nam tự thực hiện, không một chữ nào nhắc tới sự viện trợ của Trung Quốc. Có điều đáng chú ý là ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, Hồ Chí Minh tuyên bố sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nhà lãnh đạo xuất thân từ một gia tộc Nho học nhiều đời, có vốn hiểu biết chữ Hán vững vàng này đã đọc trước công chúng bản “Tuyên ngôn Độc lập” viết bằng chữ Quốc ngữ Việt Nam La tinh hóa. Sau đó không lâu, Hiến pháp năm 1946 ghi rõ chữ Quốc ngữ là chữ viết chính thức của Việt Nam.

Cuốn sách “Khối Cộng đồng tưởng tượng” của Anderson không quan tâm nhiều tới lịch sử “Thoát Trung” của Việt Nam, nhưng trong sách có riêng một chương bàn về sự thức tỉnh của chủ nghĩa dân tộc ở các quốc gia thuộc địa sau Thế chiến II và con đường xây dựng nhà nước dân tộc. Trong đó, tìm kiếm sự thừa nhận thân phận dân tộc mình là bước đi tất yếu để xây dựng quốc gia dân tộc, là cơ sở logic để thực hiện “Khối cộng đồng tưởng tượng”, mà quá trình tìm kiếm đó ắt phải là quá trình chủ động, tỉnh táo.

Đối với tầng lớp lãnh đạo Việt Nam sau ngày độc lập, trở lại “Trung Quốc hóa” tuyệt đối không phải là con đường đúng đắn để xây đắp sự đồng thuận của dân tộc. Ngược lại, “Thoát Trung” mới là điều kiện tất yếu để xây dựng một quốc gia dân tộc. Nói cách khác, nếu Việt Nam muốn trở thành một quốc gia hiện đại độc lập thì “Thoát Trung” là nền tảng, là cốt lõi, là một sứ mệnh lâu dài. Điều đó về cơ bản nhất trí với nhận thức “Thoát Trung” của Nhật Bản, Triều Tiên vốn là các nước trong vành đai văn hóa Trung Hoa, cho dù quá trình “Thoát Trung” của Việt Nam cần thời gian dài hơn, và quá trình đó càng đau khổ hơn đối với hai nước Trung Quốc và Việt Nam.

Nguyện vọng của tầng lớp lãnh đạo Việt Nam

Sau Thế chiến II, 200 nghìn quân Quốc Dân Đảng Trung Quốc tiến vào Việt Nam với danh nghĩa tiếp thu sự đầu hàng của quân đội Nhật chiếm đóng Việt Nam. Không lâu sau, quân đội Pháp cũng đổ bộ vào Việt Nam, yêu cầu phục hồi chủ quyền của quốc gia cai trị thuộc địa trước chiến tranh. Tưởng Giới Thạch lấy việc Pháp trả lại cho Trung Quốc một số lợi ích kinh tế như các tô giới trong lãnh thổ Trung Quốc làm điều kiện trao đổi để rút quân Quốc Dân ra khỏi Việt Nam.

Phần lớn các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam thời ấy đều phản đối việc trao trả Việt Nam cho thực dân Pháp, nhưng Hồ Chí Minh lại ký vào Hiệp định.[1] Vì thế mới có chuyện trong ghi chép của nhà báo Mỹ Stanley Karnow có viết một danh ngôn của Hồ Chí Minh:

Lũ ngốc này! Chẳng lẽ các anh không biết rằng để người Trung Quốc ở lại có nghĩa là gì ư? Các anh không nhớ lịch sử à? Lần trước người Trung Quốc đến đây, họ ở lại một nghìn năm. Người Pháp là kẻ từ bên ngoài tới, họ đã rất suy yếu rồi, chủ nghĩa thực dân đang chết, người da trắng tại châu Á đang hết đời. Nhưng nếu người Trung Quốc ở lại thì họ sẽ mãi mãi không bỏ đi đâu! Tôi thà lại ngửi cứt bọn Pháp thêm 5 năm mà không muốn ăn cứt bọn Tàu suốt phần đời còn lại.[2]

Trong thế giới Trung văn, câu nói này của Hồ Chí Minh có những bản dịch khác nhau, có thể từ ngữ có chút dị biệt, nhưng ý nghĩa đại để như vậy. Mặc dầu về sau giáo sư Liam Kelley ở Đại học Hawaii có nghi ngờ về xuất xứ câu nói ấy của Hồ Chí Minh mà Karnow trích dẫn, thế nhưng qua liên hệ với hồi ký của một số nhà lãnh đạo Trung Quốc thì những phát biểu của Hồ Chí Minh đại loại như “Biểu hiện ngạo mạn của quân đội Trung Quốc thì giống như biểu hiện của quân đội Trung Quốc thời xưa từng thường xuyên xâm phạm Việt Nam”, và liên hệ tới chuyện Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Việt Nam xóa sạch sự viện trợ của Trung Quốc giúp Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp, thì chẳng nói cũng biết tầng lớp lãnh đạo Việt Nam đúng là có xu hướng mạnh mẽ “Thoát Trung”.

Điều thú vị là Anderson sinh ra ở Côn Minh, từ nhỏ gia đình ông có thuê một bà bảo mẫu người Việt Nam; tuy sách của ông không bàn luận sâu về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc song ông lại nói chính cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam năm 1979 đã “trực tiếp gợi ý tôi viết cuốn Khối cộng đồng tưởng tượng”.

Hồi đó toàn thế giới đều cho rằng cuộc chiến ấy có nguyên nhân là sự đấu tranh phe phái trong thế giới cộng sản (Liên Xô và Việt Nam một phe, Trung Quốc và Campuchia một phe), hoặc là cuộc xung đột địa chính trị của ba nước lớn Trung Quốc, Mỹ, Nga. Nhưng Anderson thì nhìn thấy rõ nguyên nhân lịch sử ở tầng sâu hơn phía sau cuộc chiến ấy – đó là chủ nghĩa dân tộc vượt qua ý thức hệ, vượt qua địa chính trị.

Việt Nam có thể triệt để “thoát Trung” được chăng?

Những năm gần đây, do xung đột trên vấn đề Biển Đông [nguyên văn Nam Trung Quốc hải] và do nỗi đau vết thương còn lại sau cuộc chiến 1979 ấy, một số nhà phân tích cho rằng Việt Nam có lẽ sẽ tăng cường độ “Thoát Trung”. Năm 2010 một bộ phim truyền hình cổ trang của Việt Nam quay tại trường quay ở Trung Quốc vì “quá ư Trung Quốc hóa” mà bị chính quyền Việt Nam cấm chiếu.[3] Năm 2014, Bộ Văn hóa Việt Nam gửi công văn kiến nghị các địa phương không bày biện, không sử dụng, không thờ cúng các loại tượng điêu khắc, sản phẩm, linh vật và vật phẩm quái dị không hợp thuần phong mỹ tục Việt Nam”. Nghe nói những vật phẩm ấy chủ yếu là các loại sư tử đá “Trung Quốc hóa” nhập từ Trung Quốc.

Thế nhưng các cố gắng “Thoát Trung” về văn hóa của Việt Nam xem ra không có hiệu quả lớn. Suy cho đến cùng, quá trình hơn 2000 năm ngấm văn hóa Trung Quốc đã đặt nền móng văn hóa cho bản thân Việt Nam, triệt để “Thoát Trung” sẽ tương đương với sự cắt đứt lịch sử của chính mình. Ở Việt Nam ngày nay, tam giáo Nho, Thích, Đạo đều có mảnh đất của mình, mà cả ba đều từ Trung Quốc truyền sang, các tín đồ của họ vẫn chiếm tuyệt đại đa số trong số dân tin theo tôn giáo ở nước này.

Về kinh tế, hầu như chẳng ai tin rằng trong một thời gian ngắn Việt Nam có thể thoát khỏi sự dựa dẫm vào Trung Quốc. Cho dù nội bộ chính phủ Việt Nam thỉnh thoảng có thảo luận vấn đề “Cố gắng Thoát Trung về kinh tế” nhưng ngành chế tạo của Việt Nam chỉ là một khâu trong chuỗi sản xuất công nghiệp do Trung Quốc làm chủ, sản phẩm làm ra lại cần lấy Trung Quốc làm nước nhập khẩu lý tưởng. Thoát khỏi Trung Quốc về kinh tế hầu như là một “nhiệm vụ không thể thực hiện”.

Lĩnh vực Việt Nam có khả năng nhất để thực hiện “Thoát Trung” là chế độ chính trị. Mặc dù rất khó có thể nói thể chế chính trị hiện nay của Việt Nam là bản sao của Trung Quốc, nhưng mỗi lần Việt Nam và Trung Quốc xảy ra xung đột thì hầu như lần nào mâu thuẫn cũng đều được hóa giải với lý do “giữ cho toàn vẹn mối tình giữa hai đảng, hai chính phủ”. Tuy nhiều báo đài từng đưa tin với tiêu đề đại để như “Công cuộc cải cách thể chế chính trị của Việt Nam tiến nhanh hơn Trung Quốc” song tình hình thực tế lại không như vậy, hoặc có thể nói việc cải cách thể chế ở Việt Nam chưa có những đột phá thực chất.

Tháng 8/2014, hãng tin Bloomberg đưa tin: 61 thành viên Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó có một cựu đại sứ tại Trung Quốc, cùng ký tên vào một bức thư ngỏ gửi Chính phủ Việt Nam. Bức thư viết: Các nhà lãnh đạo nên “xây dựng một nhà nước thực sự dân chủ, pháp trị”, cho phép tự do ngôn luận chính trị ở mức độ rộng hơn, “thoát khỏi” sự dựa dẫm vào Trung Quốc. Bản tin cho biết, một số người, kể cả các cựu quan chức chính phủ đã dự thảo một bản Hiến pháp yêu cầu triển khai sự “cạnh tranh về chính trị”. Mặc dù kết quả bầu cử lãnh đạo mới đây không thể hiện Chính phủ Việt Nam có dấu hiệu “thoát khỏi Trung Quốc”, nhưng việc vấn đề này có thể được bàn luận trong thư ngỏ là đủ tỏ rõ nguyện vọng của một bộ phận khá đông đảo trên chính trường Việt Nam.

Bất kể là trên vấn đề tranh chấp lãnh thổ hay vấn đề kinh tế, Việt Nam đều tính toán khả năng dựa vào phương Tây, thậm chí từng có thời đã xem xét vấn đề lập liên minh quân sự với quốc gia cựu thù là Mỹ, song le lại khó có thể vượt qua trở ngại về ý thức hệ. Nếu Việt Nam muốn tăng cường mối quan hệ với phương Tây để chống Trung Quốc thì tiền đề ắt phải là về chính trị nên mở cửa hơn, bỏ chế độ chuyên chế một đảng, về thể chế chính trị cần triệt để cắt đứt quan hệ với Trung Quốc. Bước đi này tuy không gian nan như sự “Thoát Trung” về văn hóa nhưng lại chẳng dễ dàng thực hiện.

Bài không ghi tên tác giả, có lẽ là một nhà báo Trung Quốc giấu tên. Nguyễn Hải Hoành biên dịch và ghi chú trong ngoặc [ ].

Nguồn tiếng Trung:  越南能否彻底“去中国化”? 2017-05-10

———————

[1] Có thể tác giả muốn nói Hiệp định Sơ bộ Pháp-Việt, ký tại Hà Nội ngày 6/3/1946. Tham khảo: https://vov.vn/the-gioi/ho-so/hiep-dinh-so-bo-631946-nuoc-co-sac-sao-cua-ho-chu-tich-va-dang-ta-486107.vov

[2] Câu cuối này trong tiếng Anh là  “I prefer to sniff French shit for five years than eat Chinese shit for the rest of my life.” – Theo: Stanley Karnow’s Vietnam: A History (New York: Viking Press, 1983).

[3] Có lẽ là phim “Lý Công Uẩn – Đường dẫn tới thành Thăng Long” Tham khảo: https://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/khong-chieu-ly-cong-uan-duong-toi-thanh-thag-long-la-hop-le-20110609102020887.htm

Thoát Trung hay thoát chính mình?

Tác giả: Trần Văn Thành

Không phải sau khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng thềm lục địa của Việt Nam và làn sóng phản đối Trung Quốc bùng nổ mạnh mẽ ở trong nước và ngoài nước thì chúng ta mới đặt ra vấn đề “tránh lệ thuộc vào Trung Quốc” hay “Thoát Trung” như cách thường gọi của người Việt. Tuy nhiên, nói thì dễ nhưng hành động thực tế thì khó khăn hơn nhiều. Việt Nam nằm ngay cạnh Trung Quốc, chúng ta không thể mang nước mình đi đặt ở vị trí khác mà chỉ có cách cùng chung sống hòa bình với họ. Và không phải muốn “Thoát Trung” là “thoát” được ngay. Tuy nhiên, nếu không hành động một cách khẩn trương và quyết liệt thì việc có nguy cơ lệ thuộc vào Trung Quốc ngày một trầm trọng hơn, từ đó kéo theo những hệ lụy khác là khó tránh khỏi.

Bài viết này tập trung phân tích một số nguyên nhân Việt Nam lệ thuộc Trung Quốc và đề xuất một số giải pháp khắc phục.

  1. Tại sao lệ thuộc và tại sao phải “Thoát Trung”?

Trong xu hướng hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, có quan niệm cho rằng khái niệm “Thoát Trung” dường như không phù hợp và không nên đặt ra. Mỗi nước, dù lớn hay nhỏ đều phải “nương tựa” vào nhau để cùng chung sống và phát triển. Tuy nhiên, thực tế mối quan hệ Việt – Trung lại mang những sắc thái tế nhị, khó nói. Tại sao như vậy?

Trở lại cuộc đấu tranh giành độc lập (kháng chiến chống Pháp, Mĩ) của dân tộc ta, Trung Quốc là một trong những nước hỗ trợ Việt Nam nhiều nhất. Chẳng hạn, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được Trung Quốc giúp xây dựng một trung đoàn lựu pháo 105 li (tháng 7/1951), tiếp nhận một số pháo cao xạ 37 li (năm 1951), súng cối 120 li (năm 1952).[1]

Người Việt Nam có truyền thống coi trọng tình nghĩa: “Một miếng khi đói bằng cả gói khi no”. Trong thời điểm cách mạng Việt Nam còn khó khăn, sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa nói chung, Trung Quốc nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn. Mối quan hệ Việt – Trung thời kì này: “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Trong tâm trí của thế hệ người Việt Nam trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp, Mỹ vẫn còn sâu đậm những tình cảm đó.

Tuy nhiên, trong lò than hồng thì không phải mọi viên than đều có màu đỏ, xen giữa những gì tốt đẹp vẫn có những toan tính rất sâu xa mà không phải ai cũng có thể cảm nhận hết được. Ngày 4 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lí kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi Công thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai. Chính vì lí do đó, Trung Quốc thường viện dẫn Công thư Phạm Văn Đồng để tuyên bố Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngoài ra, họ còn trích dẫn sách giáo khoa xuất bản trước năm 1975 ở miền Bắc nước ta cũng không có các quần đảo này. Đây là chiến thuật “khua chiêng gõ mõ” và “lập lờ đánh lận con đen” chỉ riêng Trung Quốc mới nghĩ ra nhưng tạo ra hiệu ứng “Tăng Sâm giết người”[2] rất nguy hiểm. Và mỗi khi Trung Quốc yếu thế, họ lại sử dụng. Điều này cũng gây cho Việt Nam những khó khăn nhất định.

Ngày 19/01/1974, lợi dụng bối cảnh Mỹ dần rút ra khỏi cuộc chiến tại Việt Nam, nước ta đang diễn ra cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, Trung Quốc đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.

Ngày 17/02/1979, lấy cớ bảo vệ Hoa kiều và tuyên truyền “Việt Nam phản bội”, Trung Quốc tiến hành chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc của Việt Nam. Trong 18 ngày, Trung Quốc đã xua 60 vạn quân xâm lược các tỉnh biên giới phía Bắc nước ta, gây ra biết bao đau thương cho dân tộc vốn đã phải chịu nhiều tổn thất của chiến tranh giành độc lập kéo dài. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Bắc Kinh lại mị dân bằng những lời tuyên truyền kiểu như  “phải dạy cho Việt Nam một bài học”.[3]

Ngày 14/3/1988, lợi dụng Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội, Liên Xô suy thoái, Trung Quốc đã xâm chiếm đảo Gạc Ma và một số bãi đá ngầm trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trung Quốc còn ngang nhiên tuyên bố: “Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công”.[4] Sự thực, chẳng có đoàn nhà khoa học nào mà chỉ có tàu quân sự Trung Quốc nổ súng bắn tàu Việt Nam.

Như vậy, mối quan hệ láng giềng “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, “môi hở, răng lạnh” với Trung Quốc không phải luôn tốt đẹp. Mặt khác, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường “nói một đằng, làm một nẻo”, không nhất quán trong phát ngôn và hành động. Đứng trước bối cảnh đó, nếu Việt Nam nhất nhất nghe và tin lời Trung Quốc thì chẳng khác nào “trao nỏ thần vào tay giặc”.[5]

Đã đến lúc phải nói thẳng với Trung Quốc về sự thật lịch sử. Sòng phẳng với lịch sử không phải kích động hận thù[6] giữa hai dân tộc. Sòng phẳng với lịch sử để người dân hiểu rõ âm mưu và thủ đoạn của giới cầm quyền Trung Quốc. Sòng phẳng để người dân đồng lòng, đồng hướng để đất nước hòa bình, phát triển. Sòng phẳng để đất nước có một tư thế hiên ngang, để có một địa vị công bằng trong thế giới vốn tồn tại nhiều phức tạp và khó lường. Sòng phẳng để tạo dựng một tâm thế sẵn sàng ứng phó với những tình huống phức tạp xảy ra. Có như thế, Việt Nam mới không đơn độc trong cuộc đấu tranh giành độc lập trước kia và kiến tạo hòa bình, phát triển hiện nay.

Phân tích mối quan hệ Việt – Trung trong lịch sử hiện đại, có thể thấy còn tồn tại một số điểm chưa được nhận thức rõ ràng hoặc một số khó khăn, yếu kém của ta đang bị phía Trung Quốc tranh thủ lợi dụng, khai thác đó là:

– Hội nghị Thành Đô (năm 1990) diễn ra trong bối cảnh hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan rã, Việt Nam tiến hành sự nghiệp đổi mới bước đầu thu được những kết quả tích cực nhưng chưa rõ ràng. Với phương châm “vắng anh em xa, mua láng giềng gần”, chúng ta tìm cách đa dạng hóa các mối quan hệ, “thêm bạn bớt thù” nhằm tranh thủ các nguồn lực để phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, ngay trong thời điểm diễn ra hội nghị, Trung Quốc bố trí cho các đồng chí Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng ở các tòa nhà riêng biệt với mục đích là để các đồng chí không thảo luận được với nhau. Như vậy, về mặt chính trị, Trung Quốc luôn chủ động “áp đặt luật chơi” đối với Việt Nam. Nếu chúng ta không cảnh giác thì rất dễ vướng vào cạm bẫy do họ giăng ra.

– Văn hóa Trung Hoa

Là một quốc gia ở bên cạnh người khổng lồ Trung Quốc, Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa. Chẳng hạn như về thơ văn, tôn giáo, hội họa, kiến trúc, nghề thủ công,…Về phương diện nào đó, sự ảnh hưởng đó cũng là tự nhiên và góp phần làm phong phú bản sắc văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Trung Quốc cũng thường lợi dụng văn hóa để tuyên truyền chủ quyền của mình như: tuồn quả địa cầu in hình lưỡi bò vào Việt Nam;[7] đưa chậu cây cảnh in bản đồ Việt Nam không có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa;[8] đưa đèn lồng in chữ “Tam Sa” vào Việt Nam,[9]…Những hành động trên, tuy không trực tiếp xâm lược chủ quyền Việt Nam nhưng lâu dần sẽ hình thành trong tâm trí người Việt những biểu tượng mơ hồ về chủ quyền biển, đảo. “Quá mù hóa mưa”, Trung Quốc sử dụng sách lược “vô vi – không đánh mà thắng” rất thâm hiểm.

– Cơ cấu kinh tế Việt Nam lệ thuộc vào Trung Quốc

Từ khi bình thường hóa quan hệ (năm 1991), hoạt động trao đổi thương mại Việt – Trung không ngừng được tăng cường. Tuy nhiên, cán cân thương mại luôn có xu hướng bất lợi cho Việt Nam. Thống kê cho thấy: năm 2007 nhập siêu của Việt Nam từ Trung Quốc là 9,145 tỉ USD, đến năm 2013 con số này là 23,7 tỉ USD.[10] Về các chủng loại hàng hóa thì Việt Nam chủ yếu xuất nguyên liệu thô, nhập máy móc, linh kiện từ Trung Quốc. Một số lĩnh vực kinh tế trọng điểm của Việt Nam như dệt may, da dày chủ yếu là gia công với nguyên vật liệu nhập từ Trung Quốc. Đây chính là bất lợi lớn nhất của Việt Nam khiến chúng ta mong muốn “Thoát Trung” nhưng chưa thoát được.

Trong những năm gần đây, có nhiều công trình trọng điểm của Việt Nam do Trung Quốc trúng thầu: bô-xít Tây Nguyên, đường sắt trên cao Cát Linh – Hà Đông,…Phần lớn các công trình này được đánh giá là có chất lượng kém, chậm tiến độ, đội vốn, không an toàn. Ngay trong tháng 11 và tháng 12 năm 2014, đã liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn tại tuyến đường sắt trên cao tuyến Cát Linh – Hà Đông do nhà thầu Trung Quốc thi công[11][12] và với “giọng điệu” quen thuộc, Trung Quốc lại đổ lỗi cho Việt Nam.[13]

Hiện nay, đầu ra cho nông sản nước ta phần lớn phụ thuộc vào phía Trung Quốc. Thương lái Trung Quốc thường sử dụng nhiều chiêu trò để triệt hạ kinh tế của ta như: lúc thì mua ồ ạt, khi thì ngừng mua. Nhiều nông sản của ta bị điêu đứng vì không bán được. Ngoài ra, họ tìm cách làm giảm uy tín nông sản Việt, điển hình như họ khuyến khích chúng ta cho thêm tạp chất vào chè xuất khẩu,[14] phun chất kích thích vào rau quả,[15]

Cần phải nói thêm rằng, Trung Quốc phối hợp kinh tế với chính trị, chủ quyền một cách đồng điệu. Khi có căng thẳng trên biển, lập tức họ hạn chế nhập khẩu nông sản (lấy lí do kiểm tra an toàn) khiến hàng hóa của chúng ta bị ứ đọng, không tiêu thụ được; họ hạn chế du lịch sang Việt Nam, thậm chí một nhà hàng Trung Quốc còn treo biển miệt thị và xúc phạm người Việt Nam.[16] Như vậy, Trung Quốc đã và đang áp dụng chiến thuật “cờ vây” đối với Việt Nam. Họ vận dụng binh pháp Tôn Tử một cách toàn diện để lôi kéo, ru ngủ, cô lập chúng ta. Nếu chúng ta không tỉnh táo, tính toán sai lầm là có thể sập bẫy của họ.

Tháng 12/2014, Trung Quốc đưa ra đề nghị sử dụng nhân dân tệ trong giao dịch với Việt Nam. Họ tuyên truyền rằng Việt Nam không thiệt thòi gì thậm chí thu được nhiều lợi ích như: dễ vay, dễ nhập hàng từ Trung Quốc; nếu Việt Nam không sử dụng nhân dân tệ thì sử dụng đô-la Mỹ – tức là tương đương nhau. Tuy nhiên, Trung Quốc đã đánh đồng vai trò của nhân dân tệ với đô-la Mỹ (nhưng đô-la Mỹ là phương tiện thanh toán quốc tế còn nhân dân tệ thì chưa), đồng thời việc dễ vay, dễ nhập hàng từ Trung Quốc thì rất dễ dẫn đến việc Việt Nam nhập siêu, lệ thuộc vào Trung Quốc;

Như vậy, từ cấp cao đến cấp thấp, Trung Quốc đều phối hợp áp dụng chiến thuật “chính quy”[17] và “phi chính quy”[18] (chính sách hai mặt): (1) phương diện phát ngôn thì Trung Quốc khẳng định mối quan hệ Việt – Trung là tốt đẹp, hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển với phương châm 16 chữ “vàng” và 4 “tốt”; (2) phương diện thực thi (hành động) thì dùng mọi thủ đoạn miễn sao đạt được mục đích làm suy yếu nền kinh tế Việt Nam, suy giảm sự đoàn kết dân tộc, khiến chúng ta lơ là mất cảnh giác để dễ bề hành sự. Như vậy, mối quan hệ Việt – Trung tự thân đã tồn tại những bất bình đẳng và phần thua thiệt luôn về phía Việt Nam. Thoát Trung là một yêu cầu cấp bách để xây dựng một đất nước hòa bình, độc lập, tự chủ và giàu mạnh.

  1. “Thoát Trung” là thoát những gì?

Thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải giảm sự lệ thuộc vào Trung Quốc tức là “Thoát Trung”. “Thoát” ở đây không phải là không quan hệ với Trung Quốc mà là nhận thức lại mối quan hệ, tìm cách tiếp cận mới để xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị thực sự, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. “Thoát Trung” không có nghĩa là bài Trung, chống Trung Quốc. Vậy, “Thoát Trung” là thoát những gì?

Như đã phân tích ở trên, thoát Trung có nghĩa là thoát khỏi những gì trói buộc chúng ta với họ, chuyển từ mối quan hệ bất bình đẳng với phần thua thiệt về phía chúng ta sang mối quan hệ bình đẳng hơn, thực chất hơn. Thoát Trung cần thực hiện trên các phương diện: nhận thức; chính trị; kinh tế; văn hóa.

  1. “Thoát Trung” như thế nào?

Để thoát Trung, trước hết cần nhận thức rõ mục đích, chiến thuật của họ đối với Việt Nam; loại bỏ những thứ “trói buộc” Việt Nam với Trung Quốc; rút tỉa ra bài học từ sự phát triển (trỗi dậy) của Trung Quốc để định hình con đường đi cho đất nước và dân tộc, tránh được “vết xe đổ” của họ.

3.1. Chính sách của Trung Quốc đối với Việt Nam

3.1.1. Về chính trị

Khi còn tồn tại hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của hệ thống này. Hiện nay, khi hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa tan rã thì Việt Nam và Trung Quốc đều kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, hai nước có nhiều kênh liên lạc cấp cao, ngoại giao nhân dân cũng luôn được coi trọng. Chẳng hạn, tháng 11/2013 đã diễn ra Liên hoan Thanh niên Việt – Trung lần thứ 2.[19] Tuy nhiên, đúng 5 tháng sau giao lưu hữu nghị đó, Trung Quốc lại đưa giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam. “Mối tình hữu nghị sáng như rạng đông” dường như “đời đời bền vững” ấy lại không được như lời bài hát tại Liên hoan hữu nghị thể hiện. Thực chất mối quan hệ giữa hai nước là “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” như Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định. Thoát Trung về chính trị cần nhận thức rõ rằng Trung Quốc luôn “nói một đằng, làm một nẻo” và “họ nói với chúng ta thế này nhưng lại tuyên truyền trong nước thế khác”. Ví dụ, khi ông Du Chính Thanh (Chủ tịch Chính hiệp Trung Quốc) sang thăm Việt Nam thì ông ta nói với các lãnh đạo nước ta rằng cần: “thúc đẩy mối quan hệ đi đúng hướng” và rằng: “ngoại giao kiểu loa phóng thanh không giúp giải quyết vấn đề” nhưng Tân Hoa Xã lại tuyên truyền rằng: “căng thẳng trên biển Đông đều do Việt Nam gây ra”. Rõ ràng, Trung Quốc luôn áp dụng chính sách 2 mặt đối với Việt Nam và luôn tìm cách đổ lỗi với Việt Nam mỗi khi xảy ra va chạm hoặc tranh chấp.

3.1.2. Về kinh tế

Hiện nay, Trung Quốc đang trải qua thời kì đổi mới mô hình tăng trưởng (chuyển từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu hay còn gọi là “thời kì đau đớn”). Trong giai đoạn này, kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng chậm lại nhưng bền vững hơn. Để làm được điều đó, Trung Quốc sẽ chuyển mạnh sang nền kinh tế tri thức, giảm dần công nghiệp gia công, chế biến, tăng dần tỉ trọng các ngành công nghệ cao. Để giảm thiểu thiệt hại, Trung Quốc sẽ tìm cách bán công nghệ cũ sang các nước xung quanh. Chẳng hạn, họ bán cho ta công nghệ luyện thép, bô-xit, đường sắt trên cao, nhiệt điện sử dụng than,… Nếu không tỉnh táo, Việt Nam sẽ trở thành bãi rác công nghệ của họ.

3.1.3. Về văn hóa

Văn hóa Trung Hoa với hàng nghìn năm hình thành và phát triển đã thu được những thành tựu rực rỡ. Trong lịch sử, Trung Hoa đã từng là một đế quốc hùng mạnh nhất thế giới với những phát minh còn giá trị đến ngày nay: làm ra giấy, thuốc súng, làm ra lịch,…Những tư tưởng của Khổng Tử về trị quốc, của Tôn Tử về quân sự vẫn còn nguyên giá trị cho đời sau. Trong tháng 12/2014, Việt Nam cũng cho phép khai trương Viện Khổng Tử tại Đại học Hà Nội. Tuy nhiên, Trung Quốc thường mượn văn hóa để tuyên truyền chủ quyền vô lí ở biển Đông. Thoát Trung về văn hóa không có nghĩa là từ bỏ những giá trị tốt đẹp trong tư tưởng của Khổng Tử hay không giao lưu nhân dân với Trung Quốc mà cần phải lựa chọn những giá trị nào còn tốt đẹp, còn phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam để kế thừa và phát triển.

3.2. Một số giải pháp “thoát Trung”

Để đối phó với các chiến lược và chiến thuật của Trung Quốc và để tránh lệ thuộc vào họ, Việt Nam cần thực hiện các giải pháp đồng bộ và quyết liệt như sau:

3.2.1. Về nhận thức

Chúng ta coi Trung Quốc là một cường quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, đóng vai trò ngày càng quan trọng trên phạm vi toàn thế giới. Trung Quốc có những lợi ích của mình (với tư cách là nước lớn), chúng ta tôn trọng những lợi ích của họ miễn sao chúng không đi ngược lại chuẩn mực và xu hướng chung của thế giới. Đặc biệt, lợi ích của Trung Quốc không được xâm hại lợi ích chính đáng của Việt Nam.

Chúng ta củng cố và duy trì mối quan hệ với Trung Quốc trên tất cả các phương diện. Coi trọng mối quan hệ Việt – Trung; phấn đấu đạt được mục tiêu của tinh thần 16 chữ “vàng” và 4 “tốt” nhưng không mơ hồ, mất cảnh giác càng không để họ lợi dụng tinh thần đó để trói buộc, chèn ép chúng ta. Về nhận thức, chúng ta cần có một số chuyển biến như sau:

– Cần loại bỏ các rào cản sự phát triển của dân tộc. Cần khẳng định mạnh mẽ rằng: “Việt Nam không phải là một nước nhược tiểu”[20] và “Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc”.[21] Người Việt Nam vốn coi trọng giữ gìn hòa hiếu với các nước, đặc biệt là với láng giềng nhưng nếu chúng ta càng nhân nhượng thì họ càng lấn tới. Sau khi hai nước kí Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam- Trung Quốc (năm 2011), rồi thiết lập đường dây nóng giữa hai nước, chúng ta tin tưởng rằng xung đột có thể giảm bớt. Bằng chứng là trong 2 năm 2012, 2013 giữa Việt Nam và Trung Quốc hầu như không xảy ra va chạm lớn trên biển Đông. Tuy nhiên, bước sang năm 2014 thì tình hình biển Đông đã xấu đi một cách trầm trọng. Trung Quốc có quan điểm: “Ta không động đến mi thì mi cũng đừng động với ta”.[22] Nhưng có lẽ quan điểm đó chỉ được Trung Quốc áp dụng với các nước lớn, mạnh hơn họ. Còn đối với các nước xung quanh biển Đông, thì họ áp dụng nguyên tắc: “Chỉ có ta động đến mi còn mi không được phép động đến ta”.

Khép lại năm 2014 với rất nhiều sóng gió biển Đông, ông Du Chính Thanh sang thăm Việt Nam với thông điệp: “Các vấn đề hàng hải rất phức tạp và nhạy cảm, đòi hỏi các cuộc đàm phán để quản lí và kiểm soát sự khác biệt. Ngoại giao “loa phóng thanh” chỉ kích động sự bất ổn của công luận mà cả hai bên nên tránh”.[23] Hàm ý ở đây có nghĩa là họ yêu cầu chúng ta không đưa đậm nét thông tin về các hành động ngang ngược của họ để giữ thể diện cho họ. Tuy nhiên, nếu chúng ta không công khai cho nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế biết rõ sự chèn ép của họ đối với ta thì không huy động được sức mạnh tổng hợp để bảo vệ chủ quyền biển đảo.

– Việt Nam cần nhận thức rõ ràng về âm mưu của Trung Quốc: độc chiếm biển Đông và thủ đoạn của họ rất tinh vi nhưng tựu chung lại là: “mềm nắn, rắn buông”. Như vậy, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo là lâu dài, Việt Nam cần kiên trì, không được lơ là, mất cảnh giác. Quy luật về cách hành xử của Trung Quốc trên biển Đông và biển Hoa Đông đã cho thấy: mỗi năm họ “khuấy động” trên một mặt trận (năm 2011 là biển Đông, năm 2012 và 2013 là biển Hoa Đông, năm 2014 là biển Đông) và họ triệt để tranh thủ những cơ hội có lợi (dư luận quốc tế không chú ý, các nước lớn tập trung giải quyết công việc nội tại,…) để hành động. Chúng ta cần nắm bắt được xu hướng hành động của Trung Quốc để có chính sách phù hợp.

3.2.2. Về chính trị

Trên mặt biển, Trung Quốc luôn tìm cách gây sức ép đối với Việt Nam nhưng họ lại không muốn quốc tế hóa vấn đề và luôn lo sợ dư luận quốc tế lên án (do họ không có cơ sở vững chắc cho các tuyên bố chủ quyền). Nắm bắt được điểm yếu này của Trung Quốc, Việt Nam cần công khai về mối quan hệ Việt – Trung, đặc biệt là sự tồn tại tranh chấp biển đảo để người dân trong nước và bạn bè quốc tế biết. Việc công khai này sẽ giúp chúng ta có một số lợi thế: (1) huy động được sức mạnh đoàn kết của dân tộc; (2) định hướng dư luận, tránh gây nhiễu thông tin; (3) tăng thêm cơ sở pháp lí của Việt Nam trong cuộc đấu tranh đòi chủ quyền; (4) tranh thủ được sự ủng hộ của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Cứ sau mỗi lần gây ra căng thẳng với Việt Nam và bị quốc tế lên án, Trung Quốc lại tìm cách “tấn công quyến rũ” Việt Nam.[24] Trung Quốc cũng luôn tìm cách chia rẽ ASEAN trong vấn đề biển Đông. Mục đích của Trung Quốc là để các nước ASEAN nói chung, Việt Nam nói riêng rối trí không nhận thức được âm mưu và hành động thực tế của họ và làm suy giảm sức mạnh của ASEAN trong giải quyết vấn đề biển Đông. Việt Nam cũng cần chủ động trong chính sách đối ngoại, tránh mắc mưu Trung Quốc. Chúng ta cần khẳng định rõ lập trường của Việt Nam trong khối ASEAN đối với vấn đề biển Đông; kêu gọi ASEAN đồng thuận, coi việc giải quyết tranh chấp giữa từng nước với Trung Quốc cũng là công việc chung của ASEAN. Chúng ta cũng cần có thái độ rõ ràng đối với Trung Quốc khi họ vi phạm độc lập, chủ quyền của Việt Nam.

Trung Quốc luôn nói là muốn giúp đỡ Việt Nam phát triển nhưng thực chất là muốn kiềm chế chúng ta, định hướng ta vào quỹ đạo của họ. Ông Du Chính Thanh nói định hướng “quan hệ hai nước đi đúng hướng” nhưng hướng ở đây là hướng nào; nếu là hướng do họ định ra và khuôn ta vào thì nhất định chúng ta không chấp nhận. Bài học lịch sử trong Hội nghị Genève đã cho thấy, ngay vào thời kì quan hệ tốt đẹp, Trung Quốc cũng sẵn sàng mưu cầu lợi ích quốc gia dân tộc của mình và coi rẻ lợi ích của Việt Nam.

Phân tích quan điểm, lập trường của Trung Quốc tại Hội nghị Genève, Giáo sư sử học Yang Kuisong (Đại học Bắc Kinh) lập luận: “Mao Trạch Đông tin rằng những nhượng bộ được thực hiện tại Genève là tạm thời và chiến thuật, bởi vì vào thời điểm đó, sức mạnh mọi mặt của Trung Quốc cần tiếp tục được củng cố và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa đủ sức để theo đuổi một thắng lợi hoàn toàn”[25]. Nhìn chung, Hội nghị Genève đã mang lại cho Trung Quốc những lợi ích to lớn: Về chính trị, Hội nghị chứng tỏ rằng, trên phương diện giải quyết những vấn đề quốc tế cấp bách, sự tham gia của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có vai trò quan trọng; về kinh tế, hai năm sau Hội nghị, khối lượng buôn bán giữa Trung Quốc với các nước châu Âu tăng rõ rệt, “kim ngạch giữa Trung Quốc với châu Âu tăng gấp đôi, nếu như tổng khối lượng đó năm 1954 là 173,4 triệu USD, thì đến năm 1955 đã đạt 226,2 triệu và đến năm 1956 là 326 triệu”[26]về đối ngoại, “việc kí kết Hiệp định Genève đã đánh dấu sự mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc trong các công việc quốc tế và sự nâng cao địa vị quốc tế của Trung Quốc”[27]; đồng thời, “giải quyết hòa bình vấn đề Đông Dương đã làm rối loạn việc triển khai chiến lược của Mỹ nhằm uy hiếp Trung Quốc từ ba chiến tuyến (Nam Triều Tiên, Đài Loan, Đông Dương), đảm bảo an ninh cho Trung Quốc ở biên thùy phía Nam, Trung Quốc có thể tập trung sức người, sức của vào phát triển kinh tế”.[28]

Sau khủng hoảng giàn khoan Hải Dương 981, Trung Quốc sẽ hạn chế những hành động khiêu khích mạnh, thay vào đó là những hành động nhỏ nhưng tần suất sẽ ngày càng tăng như: khảo sát địa chất, nghiên cứu đại dương, du lịch biển đảo, bắt giữ tàu thuyền, hoán cải tàu quân sự thành tàu chấp pháp, cải tạo các đảo và bãi đá ở Trường Sa,…Để đối phó với chiến thuật này của Trung Quốc, các lực lượng của Việt Nam cần hiện diện nhiều hơn trên biển (kiểm ngư, cảnh sát biển, ngư dân). Việt Nam cần hỗ trợ để ngư dân yên tâm bám biển.

3.2.3. Về kinh tế

Việt Nam có quan niệm: Trong quá khứ, Trung Quốc đã từng giúp đỡ chúng ta về vật chất nên bây giờ Việt Nam phải mang ơn Trung Quốc. Trung Quốc cũng nhận thức như vậy nên mỗi khi họ chèn ép ta thì đều bao biện rằng: “Việt Nam vô ơn”. Việt Nam cần khẳng định rõ quan điểm: “Tiền bạc phân minh, nghĩa tình trọn vẹn”. Chúng ta không quên ơn Trung Quốc nhưng giữa vật chất và chủ quyền là khác nhau. Chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, vùng trời là thiêng liêng, bất khả xâm phạm và nó không thể đánh đổi bằng lợi ích kinh tế. Mặt khác, chúng ta cũng cần khẳng định rằng: Mối quan hệ Việt – Trung là “có đi có lại” chứ hoàn toàn không phải là sự giúp đỡ một chiều (Trung Quốc đối với Việt Nam) nhằm tạo dựng mối quan hệ ngang hàng, bình đẳng trong quan hệ 2 nước.[29]

Năm 2015, Hiệp định thương mại hàng hóa ASEAN-Trung Quốc có hiệu lực, nguy cơ hàng hóa Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt Nam “bóp chết” sản xuất trong nước đang ngày càng hiện hữu. Mặt khác, Trung Quốc có thể lợi dụng Hiệp định này để chia rẽ, chi phối ASEAN. Họ có thể lấy cớ để không nhập hàng hóa của các nước có tranh chấp chủ quyền để gây sức ép. Để đối phó, Việt Nam cần: (1) Đẩy mạnh công tác truyền thông định hướng người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam; (2) Lập ra một số hàng rào kĩ thuật để hạn chế hàng hóa Trung Quốc chất lượng kém; (3) Đa dạng hóa bạn hàng, giảm sự phụ thuộc vào một đối tác; (4) Tranh thủ các hiệp định thương mại khác để phát huy những lợi thế của Việt Nam; (5) Phát triển công nghiệp phụ trợ để giảm dần tỉ trọng nhập siêu từ Trung Quốc; (6) Điều hành kinh tế vĩ mô linh hoạt hơn.

3.2.4. Về văn hóa

Việt Nam ở bên cạnh Trung Quốc nên chịu nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc. Trong tháng 12/2014, Việt Nam đã cho khai trương Viện Khổng Tử trực thuộc Đại học Hà Nội. Trong bối cảnh các nước trên thế giới đang cảnh giác với Viện Khổng Tử[30] thì Việt Nam cần có quan điểm rõ ràng về cơ chế, nội dung hoạt động viện này ở nước ta.

Trung Quốc thường lợi dụng các sản phẩm văn hóa để tuyên truyền chủ quyền của mình. Việt Nam cần quản lí chặt chẽ các ấn phẩm văn hóa có xuất xứ Trung Quốc đồng thời tăng cường tuyên truyền về chủ quyền hợp pháp của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việt Nam có thể khuyến khích tuyên truyền thông qua các mạng xã hội, diễn đàn, hội thảo khoa học,… Mặt khác, chúng ta cần đưa nội dung giáo dục biển đảo sâu đậm hơn trong các nhà trường từ bậc phổ thông đến bậc đại học.

3.2.5. Về quân sự

Bài học lịch sử đã cho thấy: Khi nào nước Việt Nam vững mạnh thì kẻ thù phương Bắc không dám nhòm ngó. Tổ tiên đã dạy chúng ta: “Bắc môn tỏa thược”.[31] Hiện nay, Trung Quốc đang phát triển mạnh mẽ không quân và hải quân để “sớm giải quyết các tranh chấp trên biển Đông và biển Hoa Đông”. Mặt khác các lực lượng vũ trang trá hình của Trung Quốc[32] luôn được tung ra tuyến đầu để tranh đoạt chủ quyền. Phía sau lực lượng bán quân sự đó là hải quân và không quân. Cho đến năm 2019, Trung Quốc có thể đưa vào sử dụng 4 tàu sân bay[33] thì nguy cơ biển Đông bùng phát xung đột là rất cao. Để bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam cần:

– Đẩy mạnh đối ngoại quốc phòng để xây dựng lòng tin, giảm thiểu nguy cơ xung đột. Các cuộc viếng thăm, giao lưu quốc phòng giữa các nước ASEAN cần được tiến hành thường xuyên và hiệu quả hơn.

– Có cách hiểu phù hợp với chính sách “3 không” về quốc phòng.[34] Một gợi ý được đưa ra là: Việt Nam chỉ áp dụng chính sách này trong trường hợp chủ quyền, an ninh không bị đe dọa. Trong tình huống khẩn cấp, chúng ta cần có đối tác tin cậy về an ninh, quốc phòng để đảm bảo nguồn cung vũ khí, đặc biệt là vũ khí độc đáo đủ sức răn đe, đối phó với vũ khí của kẻ đi xâm lược.

– Nghiên cứu kĩ âm mưu, chiến lược quân sự của kẻ xâm lược để có kế sách, nghệ thuật quân sự phù hợp. Cần đa dạng hóa các loại vũ khí, đặc biệt là vũ khí công nghệ cao, kết hợp với nghệ thuật quân sự độc đáo của dân tộc. Nghiên cứu, đầu tư, chuẩn bị cẩn thận cho chiến tranh nhân dân, đặc biệt là chiến tranh nhân dân trên biển.

– Xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, hiện đại là cơ sở vững chắc để bảo vệ tổ quốc. Quân đội mạnh cũng là cơ sở để “kẻ thù không dám nhòm ngó bờ cõi” và “dẫu chúng muốn thì cũng không thể làm được”. Khi có quân đội mạnh, chúng ta sẽ có nhiều nước cờ thông minh hơn.

Kết luận

Chúng ta đã bàn rất nhiều đến việc phải thoát Trung nhưng “Thoát như thế nào?” thì vẫn là câu hỏi không dễ trả lời. Thực tiễn đã chứng minh: Khi Việt Nam mạnh mẽ, độc lập và giàu mạnh thì các thế lực ngoại quốc dù mạnh đến đâu cũng không thể dễ bề thao túng. Để xây dựng một đất nước như thế, Việt Nam phải dựa vào sức mình là chính, không trông đợi vào “những thứ hữu nghị, viển vông”. Trước  hết, trong suy nghĩ, nhận thức phải tìm được cách tiếp cận phù hợp, hóa giải được chính sách “hai mặt” của Trung Quốc đối với Việt Nam. Về hành động cần: rõ ràng, dứt khoát, phù hợp xu hướng chung của thời đại, phải biết “chọn bạn mà chơi”. Mỗi người dân cần nâng cao sức sáng tạo, trong suy nghĩ và hành động đều hướng về Tổ quốc thiêng liêng. Việt Nam cần tự chủ về vũ khí, trang bị; mỗi người lính, người dân cần có ý thức sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Chúng ta tôn trọng Trung Quốc nhưng chúng ta không được phép sợ họ. Chúng ta phải thoát ra khỏi những suy nghĩ, cách làm cũ, không còn phù hợp; có cách tiếp cận mới linh hoạt hơn: “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Và phải chăng, giải pháp “Thoát Trung” phù hợp nhất là “thoát chính mình”?

Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, TS. Trần Văn Thành, hiện đang công tác tại trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam.

—————————–

[1] Bộ Quốc Phòng, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Lịch sử kĩ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945- 1954), NXB Quân đội Nhân dân, Hà Nội, 2002, tr 367.

[2] http://giaoduc.net.vn/Kinh-te/Cau-chuyen-Tang-Sam-giet-nguoi-va-thu-doan-cua-Trung-Quoc-post144965.gd.

[3] http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/35-nam-cuoc-chien-bien-gioi-phia-bac-2950346.html.

[4] http://www.thanhnien.com.vn/hoang-sa-truong-sa-cua-viet-nam/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-31988-462904.html.

[5] Nhà thơ Tố Hữu đã từng viết 4 câu thơ về mối tình Mị Châu – Trọng Thủy dẫn đến họa mất nước: “Tôi kể ngày xưa chuyện Mị ChâuTrái tim lầm chỗ để trên đầuNỏ thần vô ý trao tay giặcNên nỗi cơ đồ đắm biển sâu”.

[6] http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/161648/chien-tranh-bien-gioi-1979khong-the-quen-lang.html.

[7] http://www.vietnamplus.vn/vietinbank-thu-hoi-qua-dia-cau-xuat-xu-trung-quoc/189212.vnp.

[8] http://dantri.com.vn/xa-hoi/xin-dung-vo-tinh-bo-quen-mot-phan-mau-thit-to-quoc-707257.htm.

[9] http://nld.com.vn/ban-doc/tham-hiem-den-long-trung-quoc-20130218110645727.htm.

[10] http://nghiencuuquocte.net/forums/topic/thuong-mai-viet-nam-trung-quoc.

[11] http://www.doisongphapluat.com/tin-tuc/su-kien-hang-ngay/ha-noi-dut-day-cau-o-duong-sat-tren-cao-4-nguoi-thuong-vong-a67695.html.

[12] http://vneconomy.vn/thoi-su/lai-tai-nan-nghiem-trong-tai-du-an-duong-sat-tren-cao-ha-noi-2014122801574535.htm.

[13] http://giaoduc.net.vn/Quoc-te/Thoi-bao-Hoan-Cau-vu-cao-Bo-truong-Dinh-La-Thang-post154477.gd.

[14] http://www.vietnamplus.vn/xu-nghiem-co-so-san-xuat-va-ban-che-lan-tap-chat/100686.vnp.

[15] http://baodatviet.vn/phap-luat/bat-2-nguoi-trung-quoc-dang-phun-thuoc-kich-thich-len-dua-2345562.

[16] http://vtc.vn/ky-thi-chung-toc-nguoi-trung-quoc-tu-lam-minh-dau.311.368639.htm.

[17] Tức là tuân thủ theo các nguyên tắc quốc tế, nếu thấy có lợi cho họ.

Bỏ đầu óc nô lệ Tàu học cách Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? 

communist mongolia.png


Trần Công Tâm

VietTimes -- Mông Cổ là một trường hợp kỳ lạ. Nằm kẹt giữa Nga và Trung Quốc, từng có một lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, rồi có lúc lại phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nước này hoặc nước kia, nhưng cuối cùng, bao giờ người Mông Cổ cũng tìm ra lối thoát thoát ngoạn mục để phát triển đất nước theo con đường riêng của mình.

Lựa chọn thứ nhất: thống nhất các bộ tộc   

Đất nước Mông Cổ tươi đẹp, con người hiền hòa, đôn hậu.

Đất nước Mông Cổ tươi đẹp, con người hiền hòa, đôn hậu.

Lựa chọn thứ hai: thoát Trung

Hốt Tất Liệt cháu Thành Cát Tư Hãn đã chinh phục được Trung Quốc và thành lập nhà Nguyên (1271-1368). Xuất phát từ trinh độ văn minh thấp hơn hẳn Trung Quốc (TQ), sau một thời gian ngắn không thành công trong việc “du mục hóa” TQ, và dưới áp lực của phong trào phục quốc Trung Hoa do Chu Nguyên Chương lãnh đạo, người Mông Cổ lập tức tháo chạy khỏi TQ.

Phải nói rằng việc “rút chân” kịp thời ra khỏi Trung Quốc, là một sự lựa chọn rất sáng suốt. Sau hơn 80 năm thống trị Trung Hoa người Mông Cổ rất ít bị (chịu) Hán hóa, họ bảo tồn được hầu như nguyên vẹn lãnh thổ, bản sắc dân tộc và phiên hiệu quốc gia của mình.

Điều này hoàn toàn khác với người Mãn Châu một ngoại tộc thống trị Trung Hoa dưới thời nhà Thanh (1644-1912). Cùng xuất phát từ trình độ văn minh thấp hơn hẳn văn minh TQ như người Mông Cổ, nhưng lại có tham vọng chinh phục Trung Quốc bằng cách “hòa mình” vàDưới áp lực của các bộ tộc Tartar, Khiết Đan, Mãn Châu và Turk, từ thế kỷ 12, các bộ lạc Mông Cổ phân tán đã bắt đầu có ý thức hợp nhất. Sau gần một thế kỷ thăng trầm, cuối cùng năm 1206, trong một cuộc họp toàn thể các bộ tộc Mông Cổ, các thủ lĩnh đã chọn Thiết Mộc Chân (Temujin) và bầu ông làm Đại Hãn (thủ lĩnh tối cao) với danh hiệu Thành Cát Tư Hãn (Genjis Khan).Sau cuộc nhất thống các bộ tộc Mông Cổ, Thành Cát Tư Hãn và con cháu đã tiến hành nhiều cuộc chinh phạt tàn bạo khắp Châu Á và Châu Âu. Họ đã thành công nhờ sức hành quân bền bỉ vô song, kỷ luật sắt, tổ chức quân đội và chiến thuật giao tranh hiện đại, vũ khí tinh xảo của người Mông Cổ và kỹ thuật phá thành Trung Hoa hiệu quả. Trong các thế kỷ 13-14, một Đế Quốc Mông Cổ mênh mông được hình thành với thủ đô ban đầu ở Karakorum (Trung Á).

o văn hóa Trung Hoa, nên họ đã có kết cục khá bi thảm. 

Mặc dù từng có những minh quân như Khang Hy, Càn Long, sau 268 năm “nấn ná” ở Trung Quốc, người Mãn Châu đã bị Hán hóa và “hòa tan” hầu như toàn phần, nghĩa là đánh mất hết cả lãnh thổ, bản sắc dân tộc và phiên hiệu quốc gia của mình. Điều thú vị nhất, là trong thời kỳ Nhật xâm lược Trung Quốc (1937-1945), người Mông Cổ còn truyền bá kinh nghiệm lịch sử này cho người Nhật.Bản đồ thể hiện biên giới của Đế quốc Mông Cổ trong thế kỷ XIII so với các khu vực người Mông Cổ hiện nay (đỏ).Đế quốc Mông Cổ từng có lãnh thổ rộng lớn nhất trong lịch sử nhân loại, trải dài từ biển Nhật Bản phía Đông đến Đông Âu phía Tây, từ Siberia phía Bắc đến vịnh Oman và Đông Nam Á ở phía Nam, bao gồm phần lớn lãnh thổ Châu Á (China, Nam Siberia, Trung Á, Trung Đông, Tây Tạng, Caucasus) và một phần lãnh thổ Châu Âu. Tóm lại, việc thống nhất thành công các bộ tộc Mông Cổ và bầu được Đại Hản, không những cho phép người Mông Cổ bảo tồn được dân tộc, mà còn đưa dân tộc Mông Cổ lên một tầm vóc mới về tổ chức chính trị xã hội (chuyển sang chế độ phong kiến, hình thành các đô thị lớn), và văn hóa (tiếp nhận rất nhiều thành tựu văn hóa khoa học kỹ thuật của cả Trung Hoa lẫn Châu Âu).Mặt khác, phải nói rằng việc hình thành Đế quốc Mông Cổ cũng là sự bắt đầu quá trình suy vong của dân tộc này. Đơn giản là vì việc quản lý một đế quốc như vậy vượt quá xa khả năng của họ. Về sau người Mông Cổ đành phải chấp nhận cơ chế tản quyền tự trị cống nạp.

Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? (phần 1) - ảnh 3
Những đội quân Mông Cổ từng một thời làm mưa làm gió khắp Á - Âu.



Lựa chọn thứ ba: trong những cái xấu chọn cái ít xấu nhất

Sau triều đại nhà Nguyên sụp đổ, người Mông Cổ rút về phía Bắc thành lập triều đại Bắc Nguyên (1368-1635) trên phần lãnh thổ Mông Cổ và Nội Mông (Trung Quốc hiện nay). Đây cũng là thời kỳ mà Phật giáo Mật Tông (Lamaism) từ Tây Tạng bắt đầu xâm nhập vào Mông Cổ

Triều đại Bắc Nguyên tuy giữ được độc lập đối với nhà Minh và các quốc gia Trung Á khác, nhưng đã mất hoàn toàn hào quang của Đế quốc Mông Cổ và dần suy yếu do những mâu thuẫn nội bộ.

Năm 1635, Đại Hãn Bắc Nguyên chính thức đầu hàng Mãn Châu, và trở thành một bộ phận TQ từ 1644 khi nhà Thanh chính thức thành lập. Sau đó, dần dần Mông Cổ trở thành một tỉnh ngoại vi lạc hậu của nhà Thanh. Họ chỉ thoát khỏi sự cai trị của Trung Hoa vào năm 1911, khi nhà Thanh sụp đổ trong Cách mạng Tân Hợi. Sau năm 1911 ở Mông Cổ đã thiết lập chế độ quân chủ Đại Hãn (1911-1924).

Xukhe Bator là người có công lớn nhất trong việc đưa Mông Cổ hoàn toàn thoát khỏi Trung Quốc lạc hậu, nửa phong kiến và nửa thuộc địa lúc đó. 

Xuất thân là một chiến binh trẻ tuổi (sinh 1893), Xukhe Bator nổi tiếng là một chỉ huy dũng cảm và có học thức trong quân đội Đại Hãn.

Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? (phần 1) - ảnh 4
Xukhe Bator là Tổng chỉ huy đầu tiên của quân đội nhân dân Mông Cổ theo mô hình Hồng quân Liên Xô
Nhận thức được sự vượt trội về mọi mặt của nước Nga, của Liên Xô so với Trung Quốc phong kiến, Xukhe Bator đã cùng với các đồng chí như Choibansan tiếp cận được các lãnh đạo Liên Xô (kể cả Lenin). Được sự giúp đỡ của Liên Xô họ thành lập Đảng Nhân dân Cách mạng Mông Cổ (1921) và Quân đội Nhân dân Mông Cổ theo mô hình ĐCS và Hồng quân Liên Xô.


Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? (phần 1) - ảnh 1
Thiết Mộc Chân (Temujin) được bầu làm Đại Hãn (thủ lĩnh tối cao) với danh hiệu Thành Cát Tư Hãn (Genjis Khan).




Ông Xukhe Bator là Tổng chỉ huy đầu tiên của quân đội này. Được sự hỗ trợ của Liên Xô, Quân đội Nhân dân Mông Cổ của Xukhe Bator và các đồng chí đã đuổi được Quân đội Quốc dân đảng Trung Quốc ra khỏi Mông Cổ. Ngày 11/07/1921 Mông Cổ chính thức tuyên bố độc lập. Cũng từ đó Mông Cổ chính thức bước vào kỷ nguyên Liên Xô hóa toàn diện, thậm chí cả chữ viết Mông Cổ cũng dùng mẫu tự Kiril.

Trong khoảng thời gian kỷ lục bốn mươi năm (1925-1965), Mông Cổ đã từ một nước phong kiến với nền kinh tế nông nghiệp chăn nuôi du mục lạc hậu trở thành một quốc gia nông công nghiệp có nền chăn nuôi khá phát triển, gần như Liên Xô hồi đó.

Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? (phần 1) - ảnh 5
Đường phố xây dựng kiểu Liên Xô sạch đẹp

Thời kỳ Xô Viết, Mông Cổ thường được gọi là nước Cộng hòa thứ 16 của Liên Xô. Thực tế Mông Cổ đã thực sự trở thành một bản sao không tồi về mọi phương diện, và được giúp đỡ toàn diện mọi mặt của Liên Xô. Sau Thế chiến 2, từ khoảng 1950 thủ đô Ulan Bator bắt đấu được quy hoạch, các căn hộ kiểu Xô Viết đã thay thế hầu hết các khu nhà yurt (nhà lều truyền thống Mông Cổ). Liên Xô thường xuyên tư vấn và hỗ trợ kinh phí xây dựng. Hầu hết các công trình tại Ulan Bator hiện nay được xây dựng trong thời kỳ từ 1960 đến 1985.

Vì vậy, tuy đô thị Mông Cổ phát triển gần như từ số không, nhưng nhìn chung cũng khá khang trang. Đặc biệt là tránh được tình trạng nhà ổ chuột, nhà ống, cũng như quy hoạch nhôm nham ở phần lớn các đô thị Châu Á đương thời.

Đa số người Mông Cổ đã được chuyển đến sống trong các khu chung cư có đầy đủ điện nước và các tiện nghi tối thiểu, cũng như được sử dụng các phương tiện công cộng, được biết đến nhà hát, rạp chiếu bóng, nhạc viện …

Người Mông Cổ thoát Trung và thoát Xô thế nào? (phần 1) - ảnh 6
Đa số người Mông Cổ đã được chuyển đến sống trong các khu chung cư có đầy đủ điện nước và các tiện nghi.

Đồng thời giống như các nước thuộc Liên Xô thời kỳ đó, giáo dục Mông Cổ phát triển vượt bậc, trẻ em được đi học ở các trường thuộc một nền giáo dục hiện đại bao gồm hệ thống các nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, trung học và đại học được trang bị đầy đủ.

Tóm lại, bị “kẹp chặt” giữa TQ và Liên Xô, giới tinh hoa Mông Cổ luôn nói đùa một cách cay đắng “nếu không có nước Nga, Mông Cổ từ lâu đã là “Nội Mông mở rộng”. Còn nếu không có TQ, từ lâu Mông Cổ đã trở thành “nước Cộng hòa tự trị Mông Cổ” thuộc LB Nga”.

Tuy nhiên phải nói rằng trong nửa đầu thế kỷ 20 đối với người Mông Cổ, việc ngả về Liên Xô là một lựa chọn thành công. Lựa chọn này vừa tạo cho Mông Cổ khả năng phát triển tăng tốc trong một giai đoạn lịch sử nhất định, vừa tránh cho Mông Cổ nguy cơ bị đồng hóa nếu trở thành một tỉnh của Trung Quốc.

Vào những năm 1990, cùng với phong trào dân chủ hóa xã hội và mở cửa sang Phương Tây, trong thế hệ trẻ Mông Cổ khá nhiều người (đặc biệt là những người chưa bao giờ từng phải đốt phân bò khô để sưởi ấm lều trại trong mùa đông) đã phủ nhận sự lựa chọn này. Họ cho rằng Liên Xô đã kìm hãm và làm “méo mó” sự phát triển tự nhiên đáng lẽ có thể rất huy hoàng của Mông Cổ, tương tự như trường hợp Cộng hòa dân chủ Đức và Czech(?).

Mông Cổ tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc

VIẾT ĐỈNH (Tổng hợp)/DNSGCTThứ hai, 23/6/2014 | 07:22 GMT+7

Đứng trước bao nhiêu xung đột trên thế giới, nhiều quốc gia đã khéo léo sớm tìm cho mình một con đường đi riêng để thoát khỏi ảnh hưởng của các thế lực hùng mạnh, một trong các nước đó là Mông Cổ.

Mông Cổ tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc

Đứng trước bao nhiêu xung đột trên thế giới, nhiều quốc gia đã khéo léo sớm tìm cho mình một con đường đi riêng để thoát khỏi ảnh hưởng của các thế lực hùng mạnh, một trong các nước đó là Mông Cổ.

Đọc E-paper

Mông Cổ là một quốc gia Trung Á giáp với Nga về phía bắc và Trung Quốc về phía nam, đông và tây. Với diện tích rộng lớn đứng hàng thứ 19 trên thế giới (1.564.115km²) nhưng dân số chỉ khoảng 3 triệu người, Mông Cổ trở thành nước có mật độ dân cư thấp nhất hành tinh.

Phần lớn đất đai Mông Cổ không thể trồng trọt được, chủ yếu là thảo nguyên, đồi núi và sa mạc, tổng sản lượng quốc gia ước tính chỉ 10,2 tỉ USD, nhưng nhờ dân số ít nên GDP đầu người lên đến 3.627 USD, cao hơn chúng ta (hiện chỉ mới 931 USD). Thủ đô Ulan Bator là thành phố lớn nhất của Mông Cổ, nơi sinh sống của gần 38% dân số.

Đường phố Ulan Bator ngày nay

Vùng đất thuộc quốc gia Mông Cổ xưa kia từng bị cai trị bởi nhiều đế chế du mục như Hung Nô, Tiên Ti, Nhu Nhiên, Đột Quyết và các đế chế khác.

Năm 1206, Thành Cát Tư Hãn gây chiến tranh từ Á sang Âu và dựng nên đế quốc Mông Cổ hùng mạnh nhất thế giới. Tiếp theo, người cháu là Hốt Tất Liệt chinh phục Trung Quốc lập ra nhà Nguyên vào năm 1271.

Sau khi nhà Nguyên sụp đổ, người Mông Cổ rút về chính quốc và thường xảy ra những cuộc tranh chấp biên giới với Trung Hoa. Vào cuối thế kỷ XVII, toàn bộ Mông Cổ chịu sự cai trị của triều đình Mãn Thanh đang làm chủ Trung Quốc thời bấy giờ. Vào năm 1911, nhà Thanh bị Cách mạng Tân Hợi khai tử, Mông Cổ tuyên bố độc lập, chấm dứt 220 năm lệ thuộc Mãn Thanh – Trung Quốc.

Năm 1921, dưới sự bảo trợ của Liên Xô, Mông Cổ chính thức tách khỏi Trung Quốc, xây dựng mô hình nhà nước xã hội chủ nghĩa. Mãi đến năm 1945, Mông Cổ mới được quốc tế công nhận là một quốc gia độc lập với tên gọi Cộng hòa Nhân dân Mông Cổ.

Vào năm 1990 do tác động của trào lưu cải tổ ở Liên Xô và Đông Âu khiến các nước XHCN châu Âu tan rã, Mông Cổ bắt đầu tiến trình dân chủ hóa, cải tổ kinh tế, chính trị, xây dựng một thể chế đa đảng.

Bản Hiến pháp công bố ngày 13/1/1992 minh xác những quyền tự do căn bản, tôn trọng nhân quyền, công lý và đoàn kết dân tộc, đưa Mông Cổ chuyển sang thể chế Cộng hòa đại nghị và kinh tế thị trường. Hiện nay Mông Cổ có 18 chính đảng trong đó đảng Nhân dân Mông Cổ có truyền thống lãnh đạo lâu đời nhất đang chiếm ưu thế.

Sống bên cạnh một nước nhiều tham vọng bá quyền, người Mông Cổ vẫn giữ mối nghi ngờ, lãnh đạm với Trung Quốc, kể cả với người Mông Cổ đã bị Hán hóa sinh sống tại khu tự trị Nội Mông thuộc Trung Quốc. Điều này được biểu hiện rõ nét qua luật lệ khắt khe, định mức số lượng người Hoa thường trú tại Mông Cổ.

Để giữ thế tồn tại với người láng giềng khổng lồ phía nam, hầu hết người dân Mông Cổ đều hiểu rằng một số kết thân về kinh tế với Trung Quốc là việc chẳng đặng đừng, vì thế họ luôn luôn cảnh giác và giới hạn ảnh hưởng của Trung Quốc trong mọi hoạt động.

Có vị trí địa chính trị quan trọng giữa hai nước lớn Nga và Trung Quốc, Mông Cổ chủ trương chính sách Người Láng giềng Thứ ba (Third Neighbor Policy), vươn cánh tay giao thiệp với những quốc gia khác trên thế giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quân sự.

Trong bối cảnh chính trị phức tạp tại nhiều điểm nóng của thế giới hiện nay, Mông Cổ cũng mong muốn Nga và Trung Quốc có sự giao hảo tốt đẹp để không bị vạ lây hoặc bị áp lực lôi kéo về một phía, phá vỡ chính sách độc lập và tự chủ.

Trong thời đại toàn cầu hóa của thế kỷ XXI, Mông Cổ lo âu bị tràn ngập bởi cơn hồng thủy di dân Trung Quốc, đây sẽ là một cuộc xâm lăng không cần tiếng súng nhưng có khả năng xóa bỏ đất nước.

Chỉ cần nhìn qua khu tự trị Nội Mông của Trung Quốc gồm khoảng 4 triệu người Mông Cổ đang bị vây quanh với hơn 20 triệu người Hán cũng có thể tiên liệu được nguy cơ diệt chủng. Vì vậy, các tầng lớp dân chúng và chính quyền luôn luôn bày tỏ thái độ phải giữ một khoảng cách với Trung Quốc đồng thời cố gắng điều hòa sự giao dịch với nước này ngang tầm mức liên hệ với Nga trong sự phát triển y tế, giáo dục… và cả quan hệ làm ăn.

Khai thác ở mỏ than Coke, Tavan Tolgoi

Trong quan hệ làm ăn, Trung Quốc là thị trường ưu tiên nhập khẩu than đá, đồng, vàng, các kim loại, tài nguyên gia súc từ Mông Cổ.

Chính sách Người Láng giềng Thứ ba đã tỏ ra có hiệu quả trong cố gắng ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc. Điển hình là trường hợp khai thác mỏ than Coke tại Tavan Tolgoi ở biên giới Mông – Trung.

Đầu tiên, xí nghiệp quốc doanh Trung Quốc Shen Shua muốn chiếm phần chủ quản nhưng người Mông Cổ chỉ muốn Trung Quốc giữ phần thứ yếu, dành ưu thế cho xí nghiệp Tây phương (Công ty Mỹ Peabody Energy).

Giới quân sự Mông Cổ cũng biết rằng họ không đủ sức đánh trả nếu Trung Quốc gây sự, vì vậy trong những năm gần đây họ nhắm đến những phong trào hoạt động bảo vệ hòa bình ở hải ngoại và kết chặt giao hảo với những quốc gia khác.

Kể từ 2003, được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ, hằng năm Mông Cổ chủ trì tổ chức cuộc diễn tập quân sự với nhiều quốc gia thân hữu mang tên Khaan Quest. Năm 2013, tại cuộc diễn tập kỷ niệm lần thứ 10 diễn ra từ ngày 3 đến 14/8 có sự tham dự của 14 quốc gia gồm Mông Cổ, Mỹ, Úc, Canada, Pháp, Đức, Nhật, Ấn Độ, Indonesia, Nepal, Hàn Quốc, Tajikistan, Anh, Việt Nam. Ngoài ra, các nước Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Kazakhstan đều gởi quan sát viên.

Do quán tính cảnh giác, người Mông Cổ cố gắng tự cung ứng trong nhiều lĩnh vực và gây áp lực buộc chính quyền đi theo khuynh hướng này. Năm 2009 sau khi biết tin chính quyền dự tính vay 3 tỉ USD từ Trung Quốc để điều hòa những tác động do sự suy thoái của kinh tế thế giới, tất cả phương tiện truyền thông đại chúng đều đồng loạt chống đối, lên án chính quyền đã bán rẻ tương lai con cháu.

Ảnh hưởng lớn nhất của Trung Quốc đối với Mông Cổ là sự trao đổi thương mại, trong đó 70% xuất khẩu là sản phẩm thiên nhiên cung cấp năng lượng hoặc nguyên vật liệu cho các nhà máy ở Trung Quốc.

Tương tự như ở Việt Nam, sự đầu tư của cá nhân hoặc xí nghiệp Trung Quốc vào Mông Cổ chủ yếu là đầu tư trực tiếp trong lĩnh vực khoáng sản và xây dựng. Trong thập niên vừa qua, hơn 2/3 vốn FDI trong số tiền 2,5 tỉ USD đến từ Trung Quốc so với 200 triệu USD đến từ Mỹ.

Để thoát khỏi sự lệ thuộc kinh tế vào Trung Quốc, Mông Cổ đang tiến hành phát triển quan hệ ngoại giao sâu đậm với nhiều quốc gia khác trong khu vực như Hàn Quốc, Nhật Bản đồng thời cũng phát triển thương mại tương xứng với Mỹ trong tương lai gần.

Chính quyền và các tầng lớp dân chúng Mông Cổ quan niệm rằng Hoa Kỳ là quốc gia thích hợp nhất giữa những quốc gia đang giao thiệp với Mông Cổ trong chính sách Người Láng giềng Thứ ba.

Hiện nay quốc gia Mông Cổ vẫn ở giữa hai gọng kềm Nga và Trung Quốc, tuy nhiên người Mông Cổ vẫn đầy đủ bản lĩnh vươn lên ngang tầm thời đại với tư tưởng tự do dân chủ.

Hiến pháp hiện hành của Mông Cổ gồm 70 điều, bao gồm những quy định khuôn mẫu của một xã hội văn minh. Lời mở đầu của Hiến pháp này là một minh chứng về ý chí sinh tồn và sự trưởng thành của một dân tộc đã từng trải qua những vinh quang lẫn cay đắng:

Chúng tôi, nhân dân Mông Cổ:

Giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc,
Trân quý nhân quyền, tự do, công lý và đoàn kết dân tộc
Nối tiếp truyền thống tình nghĩa dân tộc, lịch sử và văn hóa,
Tôn trọng những thành quả của văn minh nhân loại,
Và hướng đến mục tiêu tối thượng là xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, nhân bản trong toàn quốc.

Ngôi nhà đặc trưng của người Mông Cổ

Tuy nhiên, cũng có một số thắc mắc về việc liệu người Mông Cổ có thể tránh khỏi những cám dỗ thường thấy của quyền lực, tham nhũng và sự bất ổn ở một quốc gia đang giàu lên nhanh chóng, mặc dù các quan chức chính phủ khẳng định đang làm việc rất tích cực để chống tham nhũng.

Người Mông Cổ từ trước tới nay vốn sống trên một kho than đá, đồng và vàng khổng lồ. Những tài nguyên quý giá ấy đang thay đổi số phận và hình ảnh của đất nước vốn gần như chẳng có gì.

Để có được điều này, một phần nhờ vào nhu cầu khoáng sản không ngừng tăng của láng giềng Trung Quốc. Việc xuất khẩu khoáng sản đã giúp Mông Cổ trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới.

Với người dân địa phương, thủ đô Ulan Bator của họ, nơi cư trú của một nửa trong số 2,7 triệu dân Mông Cổ, đã trở thành nơi kết hợp giữa niềm hy vọng và nỗi lo sợ. Giữa các khu nhà chung cư đổ nát và những tòa cao ốc đang mọc lên, đang nổi lên một cuộc tranh luận dữ dội về tác động của việc khai thác khoáng sản giữa những người mong muốn giữ gìn tài nguyên thiên nhiên và những người muốn đưa đất nước phát triển nhanh chóng.

Dù có tán thành hay không, phải thừa nhận rằng ngành công nghiệp khai khoáng đang thay đổi Ulan Bator. Vài năm trở lại đây, người dân đã khó có thể thấy được đường chân trời ở thành phố, do ảnh hưởng của những tòa cao ốc.

Ulan Bator vừa hoàn thành việc xây dựng công trình cao nhất thành phố, tích hợp hệ thống khách sạn với mức giá 300 USD cho một đêm. Tòa tháp này hướng ra quảng trường Soukhe Bator, trung tâm kinh tế và chính trị của đất nước, được bao quanh bởi rất nhiều công trình quan trọng như tòa nhà Quốc hội, Trung tâm Chứng khoán và trụ sở Tập đoàn Khai khoáng.

Bên kia đường, một trung tâm mua sắm mới được mở cửa với tên những thương hiệu nổi tiếng như Burberry và Armani. Nếu không nhờ khai khoáng, nơi này vẫn sẽ không thay đổi so với 50 năm trước đây. Năm nay, công nhân viên chức nước này được tăng lương tới 50%.

Sự bùng nổ kinh tế của Mông Cổ cũng giống như một nam châm hút những người từng rời bỏ đất nước tha phương cầu thực mười mấy năm về trước. Ngày nay nhiều người trong số họ đã quyết định trở về quê hương và nhanh chóng có được công việc mới tại các công ty khai khoáng.

Ai không thấy tiềm năng ở Mông Cổ thì rõ ràng đó không phải là một nhà kinh doanh đúng nghĩa. Gần đây đã xuất hiện một tầng lớp đi xe hơi hạng sang, dùng túi xách Louis Vuitton và sở hữu tác phẩm nghệ thuật đắt giá.

Saurabh Sinha, một nhà kinh tế học tại Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc ở Ulan Bator, nhận định: “Mông Cổ đang ở ngã ba đường. Liệu chính phủ sẽ sử dụng việc khai thác tài nguyên một cách vững mạnh và lâu dài để cải thiện cuộc sống của người dân trên khắp đất nước, hay sẽ trở thành một Nigeria thứ hai với hiểm họa môi trường”.

Trung Quốc: Di dân và thôn tính đất
Vốn Nhật ồ ạt thoát khỏi Trung Quốc
Công ty Trung Quốc nợ nhiều nhất thế giới
Dự trữ ngoại hối của Trung Quốc cao nhất thế giới
Công ty Mỹ nối gót Google bỏ Trung Quốc

Viêm phổi Vũ Hán và bài toán kinh tế thế giới thoát phụ thuộc Trung Quốc

Nền kinh thế giới phụ thuộc vào “đại công xưởng” Trung Quốc sẽ phải đối mặt nhiều thách thức vì dịch viêm phổi Vũ Hán lan rộng.
Bên trong nhà máy của liên doanh sản xuất ô tô giữa Honda và nhà sản xuất ô tô Trung Quốc Dongfeng tại thành phố Vũ Hán /// AFP
Bên trong nhà máy của liên doanh sản xuất ô tô giữa Honda và nhà sản xuất ô tô Trung Quốc Dongfeng tại thành phố Vũ Hán
AFP
Tính đến ngày 30.1, dịch viêm phổi Vũ Hán do vi rút corona mới (2019-nCoV) gây ra tiếp tục lây lan, với số người chết tăng lên 170 người và 7.711 ca nhiễm, theo báo cáo của Ủy ban Y tế Quốc gia Trung Quốc.
Trung Quốc hiện là một phần thiết yếu của bộ máy công nghiệp toàn cầu. Riêng Trung Quốc đã chiếm khoảng 1/6 sản lượng kinh tế toàn cầu và còn được mệnh danh là “đại công xưởng thế giới”.
Các doanh nghiệp Mỹ đặt nhà máy sản xuất và dần trở nên phụ thuộc Trung Quốc được xem là lý do để Tổng thống Mỹ Donald Trump phát động cuộc chiến thương mại với Bắc Kinh cách đây 2 năm. Cuộc thương chiến buộc các doanh nghiệp lớn phải cân nhắc chuyển nhà máy khỏi Trung Quốc, tìm đến những quốc gia có quan hệ tốt hơn với Washington, theo tờ The New York Times.

Dịch bệnh làm gián đoạn dây chuyền sản xuất

Giờ đây dịch bệnh viêm phổi Vũ Hán đang thách thực sự phụ thuộc của thế giới vào Trung Quốc.
Hãng Ford và Toyota buộc phải tạm ngừng hoạt động một số nhà máy lắp ráp lớn ở Trung Quốc thêm một tuần sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán. Các nhà sản xuất ô tô khác như General Motors, Nissan có kế hoạch đóng cửa các nhà máy ở Trung Quốc đến ngày 3.2.
Ngày 29.1, hãng hàng không British Airlines, United Airlines và Air Canada cùng nhiều hãng khác lần lượt đình chỉ tất cả chuyến bay đến Trung Quốc đại lục. Các khách sạn và công ty tour du lịch khắp châu Á đang theo dõi tình hình dịch bệnh trong tâm trạng sợ hãi do phụ thuộc vào số lượng lớn du khách Trung Quốc.
Viêm phổi Vũ Hán và bài toán kinh tế thế giới thoát phụ thuộc Trung Quốc - ảnh 1

Ảnh từ trên cao các tòa nhà dân cư và thương mại ở Vũ Hán ngày 27.1

AFP

Bên cạnh đó, các công ty như G.M., Honeywell, Facebook và Bloomberg đã hạn chế việc đi lại cho nhân viên ở Trung Quốc. Hãng Apple đang cân nhắc lại chuỗi cung ứng và Starbucks ngày 28.1 đã đóng cửa hơn phân nửa trong tổng số 4.292 quán cà phê ở Trung Quốc.
Mức độ thiệt hại đối với kinh tế thế giới vẫn chưa thể do đếm được do tình hình dịch bệnh ngày càng diễn biến phức tạp lây lan nhiều nơi trên thế giới và số người chết gia tăng mỗi ngày.
“Chúng tôi đang đối mặt nguy cơ hoạt động kinh doanh đi xuống, bao gồm chuỗi cung ứng bị gián đoạn, đóng cửa tạm thời một số cửa hàng bán lẻ và nhà máy, cùng nhiều thách thức khác”, ông Jake Parker, phó chủ tịch Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ-Trung đại diện cho các công ty lớn, nói với tờ The New York Times.
“Nếu biện pháp hạn chế đi lại và kiểm dịch quy mô lớn tiếp tục được mở rộng hoặc kỳ nghỉ Tết nguyên đán kéo dài qua ngày 8.2, thì điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh”, ông Parker nói.
Tầm quan trọng của Trung Quốc không chỉ dừng lại ở “đại công xưởng thế giới”. Người tiêu dùng Trung Quốc mua sắm nhiều xe hơi và điện thoại thông minh hơn bất kỳ ai khác. Khi ra nước ngoài, khách du lịch Trung Quốc chi tiêu tới 258 tỉ USD/năm, gần gấp đôi số tiền người Mỹ chi, theo Tổ chức Du lịch Thế giới.
Các công ty lớn đang xem xét lại chiến lược ở Trung Quốc ngay cả trước khi cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung bắt đầu, do tăng trưởng chậm lại, chi phí lao động tăng lên, doanh nghiệp nội địa cạnh tranh khốc liệt và chính phủ không có nhiều điều kiện ưu đãi.
Dù vậy, Trung Quốc có nền tảng công nhân có tay nghề, hệ thống đường cao tốc, đường sắt và thị trường tiêu dùng rộng lớn nên các công ty nước ngoài khó lòng từ bỏ.

Tìm nơi tạm thời thay thế Trung Quốc

Nhiều công ty hiện đang tìm kiếm các điểm dừng chân tạm thời thay thế Trung Quốc.
< iframe width="100%" height="214" title="null" frameborder="0" scrolling="no" name="dableframe-0.5354942730434868" src="https://api.dable.io/widgets/id/G7ZJbw7W/users/66485262.1578844656639?from=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fviem-phoi-vu-han-va-bai-toan-kinh-te-the-gioi-thoat-phu-thuoc-trung-quoc-1176513.html&url=https%3A%2F%2Fthanhnien.vn%2Fthe-gioi%2Fviem-phoi-vu-han-va-bai-toan-kinh-te-the-gioi-thoat-phu-thuoc-trung-quoc-1176513.html&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com%2F&cid=66485262.1578844656639&uid=66485262.1578844656639&site=thanhnien.vn&id=dablewidget_G7ZJbw7W&category1=Th%E1%BA%BF%20gi%E1%BB%9Bi&ad_params=%7B%7D&item_id=920938&pixel_ratio=0.8999999761581421&client_width=639&network=non-wifi&lang=en&is_top_win=1&top_win_accessible=1&inarticle_init=1" data-ready="1" style="box-sizing: border-box; border-width: 0px; border-style: initial; line-height: 30px !important;">< /iframe>
Tim Cook, giám đốc điều hành của Apple, ngày 28.1 cho biết nhà sản xuất iPhone đang tìm kiếm nhà cung cấp thay thế nhằm bù đắp tổn thất. Mitch Foxconn, công ty Đài Loan có nhiều nhà máy ở Trung Quốc đại lục chuyên sản xuất thiết bị cho Apple và những hãng khác, thông báo các nhà máy của họ sẽ tiếp tục đóng theo lịch nghỉ lễ kéo dài của chính phủ Trung Quốc nhằm ngăn chặn dịch bệnh lây lan.
Ổ dịch bệnh Vũ Hán thu hút nhiều công ty lớn do đó là một trung tâm vận tải quốc gia lớn và ngành công nghiệp ô tô khổng lồ. Hãng General Motors, Honda, Nissan và nhiều công ty khác đã mở cửa hàng tại đây và nhiều nhà cung cấp, sản xuất linh kiện cũng chạy theo. Hơn 1/3 tổng vốn đầu tư của các doanh nghiệp Pháp vào Trung Quốc là nằm ở Vũ Hán.
Ngày 27.1, tập đoàn sản xuất ô tô Pháp PSA Group thông báo đã thiết lập kênh liên lạc xử lý khủng hoảng giữa văn phòng Vũ Hán và trụ sở ở thủ đô Paris nhằm dự báo và xác định nguy cơ tổn thất đối với việc kinh doanh sản xuất. PSA Group sử dụng khoảng 2.000 lao động ở Vũ Hán, hoạt động theo hình thức liên doanh và đang nỗ lực sơ tán 38 nhân viên người nước ngoài khỏi ổ dịch.
Hiện vẫn chưa rõ các doanh nghiệp sẽ phục hồi như thế nào sau dịch viêm phổi Vũ Hán. Trong đợt dịch SARS chết người cách đây 17 năm ở Trung Quốc và giết chết hàng trăm người khắp thế giới, nhiều công ty buộc phải trả lương cao hơn để công nhân trở lại nhà máy làm việc.
Ford, không có dây chuyển sản xuất ở Vũ Hán, cho biết một số nhà máy chính của hãng này sẽ tiếp tục ngừng hoạt động cho đến ngày 10.2. Các nhà máy của Ford tại bốn thành phố ở Trung Quốc tạo ra gần nửa triệu xe mỗi năm, tức trung bình 9.400 chiếc/tuần.
Viêm phổi Vũ Hán và bài toán kinh tế thế giới thoát phụ thuộc Trung Quốc - ảnh 2

Một khu chợ thường thu hút nhiều khách du lịch Trung Quốc tại thủ đô Bangkok, Thái Lan

AFP

Doanh nghiệp từ các quốc gia khác cũng đang đánh giá tác động từ dịch viêm phổi Vũ Hán.
Tại Nhật Bản, Yasutoshi Nishimura, bộ trưởng phụ trách chính sách kinh tế và tài chính, cảnh báo nguy cơ dịch bệnh kéo dài, gây tổn hại đến xuất khẩu, sản lượng và lợi nhuận của doanh nghiệp Nhật Bản.
Bên cạnh đó, du khách Trung Quốc chiếm khoảng 30% tất cả khách du lịch nước ngoài đến Nhật Bản và các công ty Trung Quốc là khách hàng chính mua nhiều linh kiện do Nhật Bản sản xuất, như chất bán dẫn và ống kính.
Trong khi đó, khách du lịch Trung Quốc đến Thái Lan và chi tiêu gần 18 tỉ USD/năm, chiếm 1/4 tổng chi tiêu khách du lịch nước ngoài. Yuthasak Supasorn, người đứng đầu Tổng cục Du lịch Thái Lan cho biết chính phủ đang tìm cách hỗ trợ cho các công ty du lịch thua lỗ từ sự sụt giảm số lượng khách du lịch Trung Quốc trong vài tuần qua.
Viêm phổi Vũ Hán và bài toán kinh tế thế giới thoát phụ thuộc Trung Quốc - ảnh 3

Một người đàn ông đeo khẩu trang đi dọc một con đường ở Vũ Hán ngày 26.1

AFP

Anan Buates, chủ công ty vận tải chuyên chở khách du lịch Trung Quốc ở Thái Lan, cho biết: “Tôi hoảng loạn khi các công ty du lịch hủy bỏ tour vào phút cuối khi dịch bệnh bùng phát. Kể từ ngày 27.1, Trung Quốc đình chỉ tất cả tour du lịch khách đoàn ra nước ngoài”.
“Họ có quyền ra chính sách để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh và tôi biết bản thân sẽ phải đối mặt nhiều khó khắn thời gian tới. Chúng tôi sống sót cả năm nhờ vào số lượng đông du khách Trung Quốc đến Thái Lan suốt năm”, ông Anan (45 tuổi) chia sẻ
Các công  ty Tây Phương và Nhất, Hàn tai TQ muốn dời qua VN nhưng CSVN bị nô lệ cho TQ phải đón tiếp người Tàu đến truyền nhiễm bêễnh dịch Corona nên ho đành chọn nước khác.

Virus Vũ Hán hay Virus Cộng sản đáng sợ hơn  Trần Tuệ An, RFA

Hình minh hoạ. Cảnh sát đeo khẩu trang bảo vệ đứng canh tại một nhà ga xe lửa ở Bắc Kinh hôm 27/1/2020
Hình minh hoạ. Cảnh sát đeo khẩu trang bảo vệ đứng canh tại một nhà ga xe lửa ở Bắc Kinh hôm 27/1/2020
 AFP

Trung Quốc vĩ đại

Trung Quốc thời Tập Cận Bình đã có nhiều “ảo vọng” về việc “cai trị” thế giới với nhiều kế hoạch khổng lồ. Một trong những kế hoạch đó là “Made in China 2025”. Kế hoạch này nhằm giúp chính quyền Trung Quốc chi phối hoạt động sản xuất công nghệ cao trên toàn cầu.

Kế hoạch thì rất vĩ đại, tuy nhiên, đầu năm 2020 cả thế giới đã chứng kiến, cái mà Trung Quốc đã xuất khẩu ra toàn thế giới không phải là công nghệ gì cao sang mà là một thảm hoạ y tế toàn cầu với tên gọi - Coronavirus Vũ Hán.

Một số chuyên gia đã so sánh sự kiện virus Vũ Hán khởi phát từ Trung Quốc với sự kiện lây nhiễm virus bệnh than từ thành phố Sverdlovsk của Liên Xô năm 1979. Việc bùng phát bệnh than tại thành phố này đã khiến ít nhất 66 người tử vong. Khi nhà chức trách tới mở cuộc điều tra, họ tuyên bố rằng nguyên nhân do người dân ăn phải gia súc đã nhiễm mầm bệnh than.

Tuy nhiên, đó chỉ là lời nói dối. Năm 1992, các nhà khoa học của trường đại học Harvard của Hoa Kỳ đã khám phá ra đó là một thử nghiệm vũ khí sinh học bí mật của quân đội Liên Xô.

Năm 1986, tuy xảy ra thảm hoạ Chernobyl, nhưng chính quyền Xô Viết cũng ém nhẹm mọi thông tin và bằng chứng về tác hại của vụ nổ.

Vũ khí sinh học

Cho đến hiện nay, với sự bùng phát của loại coronavirus Vũ Hán, cũng đã có người nghi ngờ đó không phải là thiên tai, mà “nhân tai” từ các kế hoạch chế tạo vũ khí sinh học của quân đội Trung Quốc.

Các nghi vấn về việc Trung Quốc thử nghiệm các vũ khí sinh học không phải là không có cơ sở.

Chuyên trang về quân sự Defense o­ne có điểm lại các thông tin mà phía Trung Quốc có tiết lộ về các ưu tiên cho các kế hoạch quân sự mà trong đó vũ khí sinh học luôn được coi là ưu tiên hàng đầu.

Hình minh hoạ. Ống nghiệm có tên virus Corona. Hình chụp hôm 29/1/2020
Hình minh hoạ. Ống nghiệm có tên virus Corona. Hình chụp hôm 29/1/2020 Reuters

Theo đó, năm 2010, một giáo sư đại học quân y của Trung Quốc là Guo Jiwei đã viết bài về ảnh hưởng của vũ khí sinh học tới các cuộc chiến trong tương lai.

Năm 2015, Tướng He Fuchu - lúc đó là Giám đốc Học viện Quân y, sau này giữ chức Phó Giám đốc Học viện Quân sự Trung Quốc cũng cho rằng vũ khí sinh học sau này sẽ trở thành đỉnh cao tác chiến chiến lược.

Năm 2017, Zhang Shibo - Tướng về hưu và cũng là Cựu Giám đốc Học viện Quốc phòng Trung Quốc có xuất bản một cuốn sách, trong đó kết luận rằng “Sự phát triển của công nghệ sinh học hiện đại là chỉ dấu cho thấy tính chất đặc biệt của một cuộc tấn công”.

Năm 2017, trên tạp chí Khoa học về chiến lược quân sự - Một tạp chí chuyên ngành của Học viện Quốc phòng Trung Quốc cũng thể hiện quan điểm “sinh học là một lĩnh vực của chiến tranh quân sự”.

Tình báo Trung Quốc núp bóng

Trong thực tế, Trung Quốc cũng tìm nhiều cách để thúc đẩy việc phát triển công nghệ sinh học bằng nhiều cách khác nhau. Một cách nhanh nhất là tìm cách “tuyển dụng” các giáo sư đại học danh tiếng từ bên ngoài. Mới đây, một giáo sư danh tiếng của đại học Harvard đã bị Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cáo buộc là đã vi phạm luật pháp Hoa Kỳ khi không khai báo trung thực về việc tham gia dự án với Trường đại học Vũ Hán của Trung Quốc cùng với việc nhận các khoản lương và tài trợ nghiên cứu từ đại học Vũ Hán lên đến con số cả triệu USD.

Mặc dù khó có bằng chứng cụ thể, nhưng chúng ta nên biết rằng, có bàn tay của Cơ quan Tình báo Hoa Nam đằng sau việc “tuyển dụng” giáo sư này.

Từ hồi cuối năm ngoái, Cơ quan Điều tra Liên Bang (FBI) đã phải ra thông báo về việc thận trọng trước các kế hoạch tuyển dụng người tài từ các Viện nghiên cứu và các Trường đại học tại Hoa Kỳ của Trung Quốc. Trong đó không loại trừ các chuyên gia về công nghệ sinh học.

Coi rẻ sinh mạng người dân

Bài học từ sự bùng phát bệnh than ở Liên Xô năm 1979 cho thấy rằng, các chính quyền cộng sản dường như không quan tâm tới sinh mạng người dân của chính họ, miễn là đạt được các mục đích họ mong muốn.

Hình minh hoạ. Hình chụp hôm 26/1/2020: nhân viên y tế đứng canh chống sự lan rộng của virus corona ở điểm kiểm soát tại tỉnh Sơn Đông.
Hình minh hoạ. Hình chụp hôm 26/1/2020: nhân viên y tế đứng canh chống sự lan rộng của virus corona ở điểm kiểm soát tại tỉnh Sơn Đông. AFP

Các cách hành xử của chính quyền Liên Xô và Trung Quốc trước các thảm hoạ đều có điểm giống nhau. Đối với thảm hoạ bệnh than 1979 và Chernobyl 1986 thì do chính quyền Liên Xô gây ra. Đối với virus Vũ Hán, chưa có bằng chứng chính thức nên đây chỉ là nghi vấn.

Tuy nhiên, cả chính quyền Liên Xô trước đây và Trung Quốc bây giờ đều giống nhau ở cách “ém nhẹm” thông tin về thảm hoạ, cho dù nó có thể đe doạ tính mạng của người dân đất nước họ.

Khi thông tin về dịch virus mới xuất hiện, truyền thông Trung Quốc đã tìm cách ém nhẹm thông tin và giảm nhẹ độ nguy hiểm của dịch bệnh. Thậm chí công an địa phương còn truy tố 8 bác sĩ đã tìm cách thông tin về dịch bệnh. Thị trưởng thành phố Vũ Hán - ổ dịch, đã lên truyền hình Trung Quốc phân bua là tình trạng dịch bệnh muốn được thông báo phải có sự chuẩn thuận của cấp trên.

Trung Quốc sau cùng cũng thừa nhận là phản ứng quá chậm trễ, khiến cho nhiều nạn nhân bị chết và số người bị nhiễm đã lan rộng.

Chính việc che giấu thông tin bệnh dịch đã khiến nhiều người trên thế giới lo ngại về tính trung thực của Trung Quốc trước các vấn đề quốc tế.

Chính vì vậy, mới đây, Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo đã khẳng định: “Đảng Cộng sản Trung Quốc đang hiện hình như trung tâm của các đe doạ của thời đại chúng ta”.

Thế còn Việt Nam?

Việt Nam thì đang bị nhiễm cả hai loại virus Vũ Hán và Cộng sản. Nhiều người rất ngờ vực khi lẽ ra Việt Nam phải là quốc gia bị nhiễm nhiều nhất, vì Việt Nam có 6 tỉnh phía Bắc giáp biên giới Trung Quốc với rất nhiều cửa khẩu trên bộ. Các cửa khẩu này một ngày có ít nhất hàng ngàn người qua lại. Chưa kể lượng khách du lịch Trung Quốc sang Việt Nam dịp Tết Nguyên Đán rất nhiều, cả trăm ngàn người. Hệ thống y tế Việt Nam thì không thể nói là tiên tiến và hiện đại như các nước phát triển được. Thế nhưng con số người Việt Nam bị nhiễm virus được nhà chức trách Việt Nam thông báo rất ít. Điều này khiến nhiều người rất ngạc nhiên, cho dù người đứng đầu Tổ chức Y tế Thế giới có nhắc tới Việt Nam như 1 trong 4 quốc gia có tình trạng lây nhiễm bệnh từ người sang người đáng lưu ý. Và vừa mới đây, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã phải chính thức công bố dịch Corona, điều đó cho thấy nguy cơ nhiễm virus Vũ Hán ở Việt Nam rất nguy hiểm. Một số chuyên gia cho rằng, khả năng Việt Nam cũng “ém nhẹm” thông tin chính xác về số người nhiễm bệnh, giống như “ông anh” Trung Quốc vì cả hai cùng có sẵn virus Cộng sản như nhau.

Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu ngưng các chuyến bay tới và từ Trung Quốc. Tuy nhiên, còn các cửa khẩu trên bộ thì chưa có động thái gì, mặc dù đó là nguồn đe doạ lây nhiễm rất lớn. Trả lời báo chí, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết là Việt Nam có ký kết Hiệp định về cửa khẩu với Trung Quốc cho nên không thể muốn đóng cửa biên giới là đóng mà phải có sự đồng ý của Trung Quốc. Tuy nhiên câu này sau đó đã bị xoá khỏi báo chí Việt Nam như chưa từng tồn tại.

Kết luận

Cũng có nhiều quốc gia đã từng bị dịch bệnh. Dịch bệnh là điều khó tránh khỏi trong bối cảnh biến đổi khí hậu và toàn cầu hoá như hiện nay. Tuy nhiên, cái mà quốc tế lo ngại là thái độ thiếu minh bạch về thông tin, lạm quyền, coi rẻ tính mạng của người dân thường mới là điều đáng lên án. Mà các căn bệnh này, chúng ta lại chỉ gặp ở những quốc gia Cộng sản mà Trung Quốc và Việt Nam đang là đại diện tiêu biểu.

Vậy tại sao các nước cộng sản lại có căn bệnh này? Đó là sự độc tài được dung dưỡng trong cơ chế tập quyền. Xã hội thiếu vắng các cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực. Chính trong môi trường như vậy, nên mới dẫn tới căn bệnh này. Và cho dù virus Vũ Hán bị tiêu diệt thì sẽ có ngày xuất hiện một virus khác một khi virus Cộng sản chưa bị tiêu diệt.


Lầu Năm Góc: Trung Quốc trỗi dậy là đe doạ hàng đầu của Mỹ

 
A-A+ ‹Đọc›
Thích tắt quảng cáo hãy nhấn nút 
< iframe name="f2d4d384d82882c" width="90px" height="1000px" title="fb:like Facebook Social Plugin" frameborder="0" allowtransparency="true" allowfullscreen="true" scrolling="no" allow="encrypted-media" src="https://www.facebook.com/v2.9/plugins/like.php?action=like&app_id=340117399949179&channel=https%3A%2F%2Fstaticxx.facebook.com%2Fconnect%2Fxd_arbiter.php%3Fversion%3D45%23cb%3Df1f0b0dbd387afc%26domain%3Dwww.xaluan.com%26origin%3Dhttps%253A%252F%252Fwww.xaluan.com%252Ff117112808cb5bc%26relation%3Dparent.parent&container_width=496&href=https%3A%2F%2Fwww.xaluan.com%2Fmodules.php%3Fname%3DNews%26file%3Darticle%26sid%3D2716628&layout=button_count&locale=vi_VN&sdk=joey&send=false&show_faces=false&width=90" class="" style="position: absolute; border-width: initial; border-style: none; visibility: visible; width: 76px; height: 20px;">< /iframe>

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tuyên bố sự trỗi dậy của Trung Quốc đe doạ không chỉ tới Mỹ mà còn ảnh hưởng đến trật tự thế giới chung.

Hạm đội 7 Hải quân Mỹ tập trận trên biển Đông tháng 7-2019. Ảnh: AP
Hạm đội 7 Hải quân Mỹ tập trận trên biển Đông tháng 7-2019. Ảnh: AP
Vance Creek- Exploring Abandoned Mega Bridges
00:00
00:00 / 01:43
Copy video url
Play / Pause
Mute / Unmute
Report a problem
Language
Mox Player

ph‌át biểu tại Hội nghị An ninh Munich lần thứ 56 ở Đức, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper ngày 15-2 nhấn mạnh Trung Quốc và sự trỗi dậy của nước này hiện đang đứng đầu danh sách các mối đe doạ hàng đầu của Mỹ.

"Bắc Kin‌h đã từng tuyên bố đến trước năm 2035 sẽ hoàn tất cải cách toàn bộ lực lượng quân đội nước này và đến năm 2049 sẽ kiểm soát hoàn toàn châu Á", hãng tin Al Jazeera dẫn lời ông Esper tuyên bố.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mark Esper tham dự Hội nghị An ninh Munich hôm 14-2. Ảnh: CNN

Ông chủ Lầu Năm Góc cũng cá‌o buộc Trung Quốc ngày càng can thiệp nhiều hơn vào nội bộ của các quốc gia khá‌c, nhất là các quốc gia phương Tây, để "giành lợi thế bằng mọi cách và mọi giá".

"Điều cần thiết là cộng đồng quốc tế và cảnh giác trước ý đồ của Trung Quốc muốn thay đổi và xoá b‌ỏ trật tự thế giới hiện hàn‌h và các quy tắc quốc tế lâu đời", Bộ trưởng Mark Esper lên tiếng.  

Trong khi đó, Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo cảnh báo Trung Quốc đặt ra rủ‌i r‌o rất lớn cho phương Tây. Ông Pompeo sau đó liệt kê các vấn đ‌ề mà châu Âu sẽ cảm nhậ‌n được sức nón‌g từ Trung Quốc như về Huawei, tham vọng chủ quyền của Bắc Kinh, nỗ lực gây ảnh hưởng đến chính trị Mỹ, châu Âu và sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc ở Bắc Cực. 

Dù vậy, với vị thế là cường quốc hàng đầu của Mỹ, Ngoại trưởng Pompeo tin rằng "chiến thắng cuối cùng vẫn sẽ thuộc về phương Tây". 

Đáp trả, Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị ch‌ỉ trí‌ch các Bộ trưởng Mỹ đưa ra những ph‌át ngôn "không đúng sự thật" và lên á‌n hai quan chức cấp cao của Mỹ liên tụ‌c “buộc tộ‌i và vu khống” Trung Quốc trên trường quốc tế.

“bấ‌t kể họ đi tới đâu, họ cũng lặp đi lặp lại những điều tương tự. Chúng ta phải vượt qua sự phâ‌n biệt giữa Đông và Tây. Trung Quốc sẽ không sao chép mô hình của phương Tây”, ông Vương nói thêm, nhấn mạnh Trung Quốc cam kết cách tiếp cận về hợp tác cùng có lợi, duy trì chủ nghĩa đa phương nhằm giữ gìn hòa bình thế giới.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Vương Nghị cũng đ‌ề cao những nỗ lực của Bắc Kin‌h phả‌n ứn‌g trước sự bùng ph‌át của virus COVID-19. Ông cho biết việc xử lý sự lây lan của dịc‌h viê‌m phổi cấp là bằng chứng cho thấy Bắc Kin‌h hoàn toàn có thể đem lại lợi ích cho thế giới.

“Như nhiều nhà lãnh đạo các quốc gia đã bày tỏ sự ngưỡng mộ cho chính phủ và người dân Trung Quốc qua những phả‌n ứn‌g chắc chắn (về dịc‌h COVID-19). Điều này đã phản á‌nh những lợi ích mà Trung Quốc mang lại”, ông Vương nhấn mạnh



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Chỉ có Mỹ ‘bênh Việt Nam CS vong ân, lên án Trung Quốc’ vụ chìm tàu ở Hoàng Sa, TQ hàm hồ bảo ngư dân dùng thuền gỗ đánh cá đâm nhào chiến hạm TQ nên bị chìm
Gần 70,000 người chết, trên 1,3 triệu bệnh nhân vì nCoV China toàn cầu - Mỹ sẽ chết hàng chục ngàn trong 2 tuần tới
When will the Chinese government be held accountable for the spread of coronavirus?
Dịch Tàu tàn sát nhân loại: Thế giới có hơn 1 triệu người mắc Covid-19, hơn 51.000 người tử vong
Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ kêu gọi TGĐ W.H.O từ chức vì bảo vệ Trung Cộng, đã có gần 1 triệu chữ ký yêu cầu tên bù nhìn TQ từ chức
Đến giờ nầy mà Trump và CIA còn ngây thơ trách TQ lừa bịp vìđó là bản tình của CS Tàu
Số người chết vì Covid-19 ở Mỹ tăng kỷ lục, hơn 228.000 người mắc bệnh, 5400 chết, triệu người thế giới nhiễm bệnh 50,000 chết
Nghiên cứu: Covid-19 có thể khiến 81.000 người tử vong tại Mỹ kể cả ngàn người gốc Việt, gần 1 triệu người bị nhiễm khắp thê 1giớ, 40,000 tử vong
VN sấp sản xuất và xuất khẩu máy trợ thở compact hiện đại giá rẻ để cưú bệnh nhân Covid 19
Quan hệ tốt đẹp với TQ đã mang lại số tử vong khủng khiếp dịch Covid 19 cho Tây Ban Nha không kém Ý
Trừ CSVN mù quáng trung thành, nhân loại còn lại biến nguy cơ thành thời cơ: Thế giới cần thoát khỏi phụ thuộc vào TQ
Vũ khí sinh học TQ sát nhân vô cùng công hiệu: Tăng thêm 100,000 ca nhiễm trong ngaỳ lên 663.740 chết 30,671
Giám đốc Sở TN-MT thừa nhận văn bản có đoạn “hỏa táng bệnh nhân Covid-19 nặng” còn sống nhăn răng
Phong trào phụ nữ Việt may khẩu trang giúp nhân viên y tế toàn thế giới- Cách mở kinh doanh sản xuất khẩu trang và máy thở cứu người làm giàu nhanh
Corona siêu vũ khi sinh học của TQ tiêu diệt nhân loại trừ người Tàu

     Đọc nhiều nhất 
Nghệ An: Quê hương của bạo chúa và những kẻ cuồng tín tôn thờ Mác Lê Nin [Đã đọc: 22716 lần]
Đại dịch Corona lan rộng 51 quốc gia 82,000 người bị nhiễm bệnh gần 3000 tử nạn, sắp lan toàn cầu [Đã đọc: 12709 lần]
Số người nhiễm Covid-19 ở Italia tăng vọt lên gần 2000, 52 người chết- Hàn Quốc: Hơn 5000 ca nhiễm corona, 2 người chết, Mỹ 6 người chết [Đã đọc: 11954 lần]
VN lưỡng đầu thọ địch: Bất chấp COVID-19, gần 3.000 binh sĩ Campuchia tập trận lớn với Trung Quốc [Đã đọc: 9151 lần]
Giữa đại dịch Corona, siêu tàu sân bay Mỹ tiến vào Đà Nẵng [Đã đọc: 6871 lần]
Gả con cho chồng Hàn, bố miền Tây đi thâm con về vừa xuống phi trường tử vong vì ? [Đã đọc: 6866 lần]
Nhắm cung ứng co dâu cho TQ, đảng CSVN khuyến khích Sinh con gái sẽ được thưởng tiền từ 390 ngàn đến 1,3 triệu đồng [Đã đọc: 6769 lần]
Gián điệp: Phát hiện người Trung Quốc không hộ chiếu trên xe khách lúc nửa đêm [Đã đọc: 5813 lần]
Phật tử bị lừa suốt 10 năm mất chùa làm giàu cho sư sãi lưu manh! [Đã đọc: 5602 lần]
Cựu nữ sinh Trưng Vương tiếp nối truyền thống Bà Trưng kêu gọi toàn dân cứu nước [Đã đọc: 4911 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.