Đó là nhận định của đô đốc James Stavridis, tướng hải quân Mỹ đã về hưu, người trải qua phần lớn sự nghiệp ở Thái Bình Dương, với nhiều nhiệm vụ chỉ huy.

Theo vị tướng Mỹ, trong thời kỳ hỗn loạn hiện nay, sự kiên nhẫn đó của Tôn Tử đang bắt đầu thay đổi khi Trung Quốc, được thúc đẩy bởi sự thoái trào trong vai trò lãnh đạo của  Mỹ và bởi một thế giới bị phân tâm, giành chiến thắng trong sự gây hấn.

Gần đây nhất, Trung Quốc đã sử dụng lực lượng hải quân để gây áp lực đối với các quốc gia duyên hải, đặc biệt là Việt Nam và Philippines. Một tháng trước, Trung Quốc đã đánh chìm một tàu cá Việt Nam, một động thái bị cộng đồng quốc tế lên án.

Trung Quốc đang gia tăng lực đẩy chống lại tàu chiến Mỹ, phát đi các tín hiệu gây hấn; cơ động gần một cách nguy hiểm; chiếu xạ bằng radar điều khiển hỏa lực, gợi ý rằng họ sắp dùng đến vũ khí; cho máy bay bay ở khoảng cách rất gần.

Do việc ngăn chặn coronavirus tương đối thành công và các động thái nhanh chóng để khởi động lại nền kinh tế, Trung Quốc có lẽ đang ở vị trí để cung cấp các ưu đãi kinh tế và sức mạnh mềm cho các quốc gia xung quanh biển Đông.

“Chúng ta có thể suy luận ra điều gì từ tất cả những động thái mới của Trung Quốc để củng cố kiểm soát ở biển Đông”?, tướng Stavridis đặt câu hỏi.

Trung Quốc tuyên bố đòi chủ quyền gần như toàn bộ vùng biển Đông. Điều này có ý nghĩa quốc tế to lớn vì dầu mỏ, khí đốt tự nhiên và thương mại trong khu vực. Họ vẫn ngoan cố duy trì các yêu sách của mình mặc dù một tòa án quốc tế phán quyết rằng những đòi hỏi của họ là vô lý và phải đối mặt với sự phản kháng từ các quốc gia duyên hải - đặc biệt là Việt Nam và Philippines.

Mỹ đã tiến hành chiến dịch "tự do hàng hải" tuần tra để thách thức các đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc, thách thức các đảo nhân tạo mà Bắc Kinh xây dựng trên khắp vùng biển tranh chấp. Nhưng Trung Quốc đã ráo riết mở rộng hạm đội tàu chiến, tăng số lượng tên lửa hành trình "sát thủ tàu sân bay" và cải tiến công nghệ dưới biển. Tất cả những điều này giúp họ tự tin hơn khi phản ứng với các cuộc tuần tra của Mỹ.

“Chiến lược này cũng đang trở nên tích cực hơn vì những lo ngại chính trị nội bộ của Trung Quốc. Khi Chủ tịch Tập Cận Bình cố gắng củng cố quyền lực của mình, ông ta cần phải duy trì và gia tăng tầng lớp trung lưu, nhưng một nền kinh tế chậm lại có nghĩa là cần phải có thứ khác. Điều đó cũng có thể thể hiện qua giọng điệu dân tộc chủ nghĩa hơn về biển Đông”, vị tướng Mỹ nhận định trên Nikkei Asian Review.

Đối với phần còn lại của thế giới, các lựa chọn là khó khăn. Không ai muốn rơi vào một cuộc chiến tranh lạnh toàn diện, hay thực sự là một cuộc chiến có súng nổ, với Trung Quốc. Nhưng tránh điều này trong khi chống lại các yêu sách ồ ạt của Trung Quốc ở biển Đông sẽ đòi hỏi áp lực kinh tế và ngoại giao cũng như răn đe quân sự.

Điều đó có nghĩa là Mỹ nên tìm kiếm sự lên án ngoại giao của tất cả các quốc gia trên biển Đông cộng với Nhật Bản, Ấn Độ và Úc.

Về phía quân đội, chẳng hạn, sẽ có nhiều cuộc tuần tra tự do hàng hải hơn nữa, của không chỉ Mỹ mà cả các đồng minh khác - kể cả các quốc gia hàng đầu của NATO như Anh và Pháp.

Một phần khác của chiến lược phải bao gồm khía cạnh trừng phạt kinh tế nếu hành vi nguy hiểm tiếp tục. Cuối cùng, một phần của cuộc đối đầu này sẽ xảy ra trong thế giới mạng, và ở đây cần có sự phòng thủ mạnh mẽ vì Trung Quốc có thể sẽ sử dụng môi trường này để lan truyền sự bất mãn của họ.

Tôn Tử là một người ủng hộ mạnh mẽ cho chiến thắng nhờ kiên nhẫn, nhưng ông cũng nói rằng "cơ hội nhân lên khi chúng được nắm bắt". Bắc Kinh dường như đang làm điều đó ở biển Đông.

Trung Quốc sẽ lập vùng nhận dạng phòng không ở biển Đông?

Bắc Kinh đã lên kế hoạch cho một khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Đông kể từ năm 2010, một nguồn tin trong quân đội Trung Quốc (PLA) nói với báo Hong Kong SCMP.

Mỹ có thể răn đe Trung Quốc ở biển Đông bằng những cách nào?

Mỹ có thể ngăn cản Trung Quốc dựa vào sức mạnh quân sự để đạt được sự kiểm soát lớn hơn ở biển Đông bằng cách bắn đi tín hiệu đáng tin cậy rằng Bắc Kinh sẽ phải chịu tổn hại lớn.

Chiến thuật ‘bên bờ vực chiến tranh’ của Bắc Kinh ở biển Đông

Chiến thuật “bên bờ vực chiến tranh” của Trung Quốc ở biển Đông sẽ tạo ra gánh nặng ngày càng leo thang đối với các bên yêu sách chủ quyền khác, có lẽ để thuyết phục họ từ bỏ các hòn đảo đang chiếm giữ.  ANH MINH

Danh tiếng toàn cầu của Trung Quốc lao dốc do đại dịch Covid-19: thế giới ghê tởm TQ

Dân trí

 Quan điểm của thế giới về Trung Quốc ngày càng trở nên tiêu cực, khi nhiều người cho rằng Bắc Kinh đã không làm tốt trong việc kiểm soát đại dịch Covid-19, theo kết quả một cuộc khảo sát.

Danh tiếng toàn cầu của Trung Quốc lao dốc do đại dịch Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Đại dịch Covid-19 bắt nguồn từ thành phố Vũ Hán, Trung Quốc (Ảnh: Reuters)

Pew, một trung tâm nghiên cứu phi đảng phái có trụ sở tại Mỹ, đã khảo sát 14.276 người tại 14 quốc gia về quan điểm đối với Trung Quốc. Cuộc khảo sát diễn ra trong thời gian từ tháng 6-8 năm nay và được thực hiện chủ yếu qua điện thoại trong bối cảnh dịch Covid-19 đang hoành hành.

“Các quan điểm không có lợi cho Trung Quốc ngày càng gia tăng và điều này liên quan tới việc Trung Quốc đã không làm tốt chuyện kiểm soát Covid-19”, Laura Silver, nhà nghiên cứu của Pew và đồng tác giả của báo cáo, viết.

Trong số 14 quốc gia mà Pew khảo sát, những người được hỏi phần lớn đều có quan điểm tiêu cực về Trung Quốc. Ngoài Pháp, Nhật Bản và Italy, danh tiếng của Trung Quốc tại các nước còn lại đều rơi xuống ngưỡng thấp chưa từng có.

Pew bắt đầu khảo sát về quan điểm của người dân thế giới đối với Trung Quốc và các nước lớn khác trên thế giới vào năm 2012, nhưng không phải tất cả các quốc gia đều được khảo sát hàng năm. Năm nay, Đan Mạch và Bỉ là những nước được khảo sát lần đầu tiên.

Theo khảo sát, tỷ lệ người dân có quan điểm tích cực với Trung Quốc giảm mạnh tại một số quốc gia. Ví dụ, vào năm 2017, 64% những người được hỏi tại Australia nói có cái nhìn tích cực về đối tác thương mại lớn nhất của Canberra, nhưng năm nay tụt xuống chỉ còn 14% và 81% nói có cái nhìn không thiện cảm với Trung Quốc.

Tương tự như vậy, tại Anh, vào năm 2018, có tới 49% người được hỏi nói có quan điểm tích cực về Trung Quốc, so với 35% có quan điểm tiêu cực. Năm nay, 74% người tham gia thăm dò nói có cái nhìn tiêu cực về Trung Quốc.

Theo cuộc khảo sát do hãng Pew thực hiện, niềm tin với nhà lãnh đạo Trung Quốc Tập Cận Bình cũng giảm trong 12 tháng qua, với hơn 77% số người được hỏi tại Mỹ nói họ không tin ông Tập “làm điều đúng đắn” trong các vấn đề toàn cầu.

Theo nghiên cứu, đại dịch Covid-19 nhiều khả năng là nguyên nhân khiến quan điểm của thế giới về Trung Quốc lao dốc. Trên khắp 14 quốc gia cuộc thăm dò được thực hiện, 61% người tham gia nói rằng Bắc Kinh đã xử lý đại dịch Covid-19 yếu kém.

Tuy nhiên, cuộc thăm dò cũng thấy quan điểm của thế giới về Trung Quốc đã xấu đi vào năm 2019, trước khi đại dịch nổ ra. Một số tin tức không tích cực về Trung Quốc trong 2 năm qua là nguyên nhân của hiện tượng này.

An Bình
Theo Pew