Vietnamville http://www.vietnamville.ca

Đầu tư toàn cầu bùng nổ đón sóng hậu Covid-19, thị trường chứng khoán sẽ tăng mạnh
12.09.2021

Trên toàn cầu, từ các nhà sản xuất mỳ đến những gã khổng lồ bán dẫn đang đẩy mạnh đầu tư vào nhà máy, thiết bị - điều họ đã không làm trong nhiều năm.
Tập đoàn Chaudhary Group (trụ sở tại Nepal) - chuyên sản xuất các sản phẩm như mỳ, đồ ăn nhẹ, đồ uống cung cấp cho hơn 35 quốc gia - đang mở rộng tại Ai Cập. Doanh nghiệp muốn sản xuất mỳ cho thị trường châu Phi, đồng thời, cũng để mắt đến các cơ hội ở Mỹ Latin. Nhà máy mới sẽ sản xuất 1 triệu gói mỳ mỗi ngày, sử dụng 500 nhân viên và cần 10 triệu USD để phát triển.
"Chúng tôi muốn trở thành công ty mỳ toàn cầu", GP Sah, Giám đốc kinh doanh toàn cầu của bộ phận FMCG nói trong một cuộc phỏng vấn.


Khi nào các nền kinh tế có thể phục hồi về mức trước đại dịch Covid-19?
Hoài Thu - VNE

Trung Quốc và Mỹ nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu về tốc độ phục hồi kinh tế. Trên thực tế, Trung Quốc đã trở lại mức GDP đầu người trước đại dịch ngay từ quý 2/2020...

Bùng phát đầu tiên ở Trung Quốc vào cuối năm 2019, dịch bệnh Covid-19 đã nhanh chóng lan rộng khắp thế giới, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế toàn cầu suốt hơn 1 năm rưỡi qua.

Đến nay, trong khi một số nền kinh tế đã trở hoạt động gần như bình thường, một số khác bị tụt lại khá xa phía sau. Sử dụng dự báo từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), biểu đồ dưới đây thể hiện mốc thời gian phục hồi trở về mức GDP đầu người trước đại dịch của một số nền kinh tế.

Theo đó, Trung và Mỹ nằm trong nhóm dẫn đầu toàn cầu về tốc độ phục hồi kinh tế. Trên thực tế, Trung Quốc đã trở lại mức GDP đầu người trước đại dịch ngay từ quý 2/2020. 

Ở chiều người lại, một số quốc gia có thể mất nhiều năm để phục hồi. OECD dự báo Saudi Arabia chưa thể phục hồi mức trước đại dịch cho tới tận quý 1/2024. Trong khi đó, Argentina thậm chí còn chậm hơn, tới tận sau quý 2/2026. 

Hầu các nền kinh tế được dự báo sẽ phục hồi hoàn toàn vào cuối năm 2022. Trong nhóm các nền kinh tế phát triển, Iceland và Tây Ban Nha được dự báo phục hồi chậm nhất, sau năm 2023. 

Nga, Chile, Ấn Độ và Indonesia được dự báo là các nền kinh tế mới nổi phục hồi nhanh nhất khi có thể trở lại mức GDP đầu người trước đại dịch sau quý 2-4/2021. Tuy nhiên, chưa có gì chắc chắn trong bối cảnh các quốc gia đang phải đối mặt với làn sóng lây nhiễm biến thể Covid-19 mới. Trong đó, Ấn Độ hứng chịu làn sóng dịch lớn nhất từ trước tới nay vào tháng 5/2021. Còn Indonesia cũng đang là tâm dịch Covid-19 với số ca nhiễm mới liên tục lập kỷ lục mỗi ngày.

Bên cạnh đó, tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 cũng là một trong những yếu tố quan trọng nhất đối với sự phục hồi của các nền kinh tế.

Tỷ lệ tiêm vaccine cao giúp các quốc gia có thể nới lỏng các biện pháp hạn chế, cho phép người dân và doanh nghiệp trở lại cuộc sống bình thường. Song song với đó, tiêm vaccine càng nhanh, các biến thể Covid-19 càng có ít thời gian để tiếp tục biến đổi.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cuộc sống “bình thường” sau đại dịch Covid-19 sẽ không còn như trước. Những tác động của đại dịch toàn cầu này sẽ còn hiện hữu trong các nền kinh tế trong dài hạn. 


Walmart Inc. vào tháng 2 cho biết sẽ đầu tư khoảng 14 tỷ USD trong năm 2021 vào các lĩnh vực bao gồm chuỗi cung ứng, tự động hóa và công nghệ. Năm ngoái, mức chi đầu tư của công ty là 10,3 tỷ USD.
Tại Mỹ, chi tiêu đầu tư cho thiết bị, cấu trúc và phần mềm đã đạt mức trung bình hàng năm là 13,4% tính đến quý II, là tốc độ mạnh nhất kể từ năm 1984. Chỉ riêng đầu tư cho thiết bị đã đạt mức trung bình 14,4% trong năm qua, cao hơn gấp đôi so với trung bình giai đoạn 2009-2019.X
Châu Âu cũng có diễn biến tương tự. S&P Global Ratings dự đoán mức tăng đầu tư sẽ tăng 16,6% trong năm 2021 – mức tăng tốt nhất kể từ 2006. Đầu tư kinh doanh ở Anh, vốn bị kìm hãm khi nước này rời khỏi Liên minh châu Âu, cũng đã bắt đầu phục hồi, nhưng vẫn thấp hơn 15% so với mức trước đại dịch vào cuối quý II.
Theo đánh giá của S&P Global Ratings, capex – chi phí vốn hay chi phí tài sản cố định - của các doanh nghiệp trên toàn cầu sẽ tăng 13% trong năm nay ở tất cả khu vực, nhóm ngành, đặc biệt là nhóm bán dẫn, bán lẻ, phần mềm và vận tải. Các nhà kinh tế tại Morgan Stanley dự báo, đầu tư toàn cầu sẽ đạt 115% và 121% so với mức trước suy thoái vào cuối 2021 và cuối 2022. So với các đợt suy thoái trước đó, sự phục hồi đã diễn ra nhanh hơn rất nhiều.
Nguyên nhân tăng đầu tư này đến từ cả phía cung và cầu. Theo đó, về phía nguồn cung, sự tắc nghẽn do Covid-19 đang buộc các doanh nghiệp tăng đầu tư vào các cơ sở sản xuất mới.
Rob Subbaraman, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu thị trường toàn cầu tại Nomura Holdings Inc. đánh giá, sự phục hồi trong đầu tư kinh doanh rất quan trọng với tăng trưởng dài hạn. Bởi lẽ, tích luỹ vốn là chìa khoá nâng cao năng suất.
"Một khi các chính sách kích thích toàn cầu mất dần, thế giới cần đầu tư kinh doanh và cải cách cơ cấu để duy trì tăng trưởng", ông nói.
Với lạm phát gia tăng, chuỗi cung ứng tiếp tục hỗn loạn... sự gia tăng vốn đầu tư mang lại tia hy vọng hiếm hoi cho kinh tế toàn cầu vào năm 2022 và xa hơn nữa. Đây cũng là một động lực rất khác so với cuộc khủng hoảng toàn cầu năm 2008 khi thắt lưng buộc bụng, đầu tư kém đã kéo việc làm, tiền lương xuống thấp trong nhiều năm sau.
Tiếp theo, cuộc khủng hoảng về chất bán dẫn trên toàn cầu cũng là động lực thúc đẩy làn sóng đầu tư. Làm việc tại nhà và sự gia tăng mạnh mẽ của kinh tế số đã thúc đẩy nhu cầu về chất bán dẫn, tạo ra sự thiếu hụt cũng như đang định hình lại việc đầu tư vào lĩnh vực này. Hàn Quốc đang có kế hoạch chi khoảng 450 tỷ USD, do Samsung Electronics Co. và SK Hynix Inc. dẫn dắt, nhằm xây nhà máy sản xuất chip lớn nhất thế giới trong thập kỷ tới. Tương tự, các doanh nghiệp Nhật Bản cũng đẩy mạnh các cơ sở đầu tư sản xuất chip. Đại dịch đã mang đến nhiều rủi ro khiến họ cho rằng cần phải phân tán các cơ sở sản xuất.
Một động lực khác về phía nguồn cung là biến đổi khí hậu, buộc các công ty phải trang bị lại các thiết bị khi các Chính phủ thúc đẩy thông qua chính sách năng lượng sạch. Dữ liệu từ BloombergNEF cho thấy, một khoản đầu tư kỷ lục 174 tỷ USD đã được đầu tư vào năng lượng mặt trời, điện gió ngoài khơi và các công nghệ xanh khác trong nửa đầu năm 2021 nhằm hạn chế lượng khí thải carbon.
Về phía cầu, chi tiêu của người tiêu dùng đang bị nén lại là động lực thuyết phục những người điều hành doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư. Đây là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang kỳ vọng vào triển vọng phục hồi kinh tế ngay cả khi biến thể Delta phủ bóng. Ngoài ra, họ cũng đặt cược vào mức lãi suất thấp sẽ được duy trì.
Tuy nhiên, nhiều người cũng lo ngại rằng chi tiêu vốn sẽ mất đà khi nhu cầu tiêu dùng nguội đi hoặc tình trạng thiếu hàng hoá sẽ chuyển sang dư thừa khi Covid-19 qua đi. Các nhà kinh tế cũng đánh giá, một số khoản đầu tư có thể không mang lại hiệu quả như mong đợi. Dù vậy, hiện các công ty đánh cược rằng họ có nhiều thứ để mất hơn nếu không đầu tư nâng cấp.
Đức Minh (Theo Bloomberg

Kinh tế thế giới 2021: Thoát khỏi “bóng đen” Covid-19 và sẽ phục hồi?

Quá trình phục hồi có thể kéo dài, không đồng đều và không chắc chắn nhưng nền kinh tế thế giới sẽ dần thoát khỏi bóng mây u ám Covid-19.

Các tổ chức và chuyên gia phân tích dự báo, đại dịch Covid-19 chưa chắc có thể được kiểm soát hoàn toàn trong năm 2021, quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu kéo dài, và phụ thuộc nhiều vào “lời giải” từ vaccine, quan hệ thương mại giữa các nền kinh tế lớn…

Năm 2021, dịch bệnh vẫn còn dai dẳng trên thế giới, nhưng tác động sốc
của nó có thể sẽ suy giảm đáng kể. (Ảnh minh họa)

Theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), trong năm 2021 tăng trưởng toàn cầu sẽ đạt khoảng 5,4%, thấp hơn nhiều so với con số 6,5% mà tổ chức này đưa ra vào thời điểm trước khi đại dịch bùng phát vào tháng 1/2020.

Mặc dù kinh tế toàn cầu đã thoát đáy kể từ thời điểm “đóng bang” hồi tháng 4 năm ngoái do các lệnh hạn chế đi lại và giãn cách xã hội, nhưng Covid-19 vẫn đang diễn biến phức tạp khiến nhiều nước vẫn thận trọng mở cửa biên giới và hạn chế…

Ngân hàng Thế giới (WB) cũng không mấy lạc quan về khả năng phục hồi nhanh của kinh tế toàn cầu khi “bóng đen” Covid-19 vẫn đang hiện hữu.

Đại dịch đã làm trầm trọng thêm những rủi ro liên quan đến làn sóng tích lũy nợ toàn cầu kéo dài hàng thập kỷ, đồng thời làm giảm tốc độ tăng trưởng tiềm năng được dự báo từ lâu trong thập kỷ tới. WB cho rằng, kinh tế toàn cầu sẽ tăng trưởng khoảng 4% năm 2021, và con số này phụ thuộc vào tiến độ tiêm phòng vaccine Covid-19 trên toàn cầu.



Dự báo khá ảm đạm cho năm 2021, chuyên gia kinh tế trưởng Laurence Boone của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) lưu ý: Kinh tế thế giới có thể sẽ còn phải trải qua tác động của đại dịch trong năm nay. Triển vọng kinh tế toàn cầu năm 2021 sẽ được cải thiện nhưng ở mức thấp và không đồng đều ở tất cả các quốc gia.

Chẳng hạn, Trung Quốc dự kiến sẽ tăng trưởng 8% vào năm 2021, trong khi các nền kinh tế thành viên OECD khác dự kiến chỉ tăng trưởng trung bình hơn 3%. Các quốc gia sẽ phục hồi tốt như thế nào sẽ phụ thuộc vào việc triển khai vaccine suôn sẻ ra sao.

Sẽ vẫn có phong tỏa và giãn cách xã hội ngay cả khi triển khai vaccine toàn cầu.
(Ảnh minh họa)


Theo giới chuyên gia kinh tế, hậu quả của đại dịch Covid-19 đối với kinh tế toàn cầu sẽ còn dai dẳng, tăng trưởng GDP không chỉ đối mặt với triển vọng ảm đạm trong năm 2021 mà còn lan sang cả năm 2022-2023, với đầu tư tư nhân và tăng năng suất thấp hơn. Đối với các nền kinh tế phát triển, mức tăng trưởng GDP vào cuối năm 2021 sẽ vẫn thấp hơn năm 2019 và thấp hơn đáng kể so với mức dự kiến trước đại dịch.



Trong năm 2021, nhiều khả năng tốc độ phục hồi việc làm của Mỹ - cường quốc số 1 thế giới có thể tăng cao sau cú sốc ban đầu của đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, do Chương trình bảo vệ tiền lương đã hết hạn vào cuối tháng 7/2020, sự phục hồi có xu hướng sẽ giảm tốc do có ít hỗ trợ hơn, đặc biệt là do ảnh hưởng của hậu bầu cử Tổng thống. Do vậy, GDP của Mỹ sau khi giảm 6% vào năm 2020 có thể đạt mức phục hồi 3,7% vào năm 2021. Nếu cuộc khủng hoảng y tế tiếp tục kéo dài trong những tháng tới, GDP dự kiến sẽ chỉ đạt 1% vào năm 2021.



Kinh tế của Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) dự kiến sẽ phục hồi với mức tăng 5,8% vào năm 2021, sau khi ghi nhận mức giảm 7,1% trong năm 2020. Trong số các thành viên của Eurozone, Đức dự kiến sẽ phục hồi nhanh hơn nhờ các biện pháp kích thích tài chính mạnh mẽ và thu nhập phục hồi trở lại mức trước đại dịch vào quý 1/2023. 


Tại khu vực châu Á, giới chuyên gia nhận định tăng trưởng trong khu vực dự kiến sẽ dần phục hồi sau khi bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Mặc dù đang trong tình trạng thu hẹp, khu vực này vẫn duy trì hiệu suất tương đối so với phần còn lại của thế giới. Xét về tổng thể, khu vực châu Á vẫn có những nền tảng cơ bản tương đối vững chắc nhờ khả năng phục hồi của mỗi quốc gia.


Phục hồi đối với Trung Quốc - nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới vẫn sẽ được duy trì trong bối cảnh nước này kiểm soát tốt dịch bệnh và thực hiện các biện pháp kích thích tương đối hiệu quả. Nhằm ngăn chặn tình trạng mất cân đối cơ cấu ngày càng trầm trọng, hiện chính sách kinh tế của Trung Quốc đang hướng tới sự bền vững của tăng trưởng thay vì chỉ tập trung theo đuổi các biện pháp kích thích. Do chính sách kích thích kinh tế chú trọng nhiều hơn đến tính bền vững của tăng trưởng, tăng trưởng sẽ không cao như mong đợi, dự kiến vào khoảng 8% trong năm 2021.


Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế cơ bản khó có thể đảo ngược trong phát triển kinh tế thế giới, song hình thức biểu hiện của nó sẽ có sự thay đổi. Trong mấy năm qua, do kinh tế toàn cầu phát triển mất cân bằng, sự bất bình đẳng giữa các nước gia tăng, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy. Đại dịch Covid-19 có khả năng sẽ làm trầm trọng hơn sự lan truyền của làn sóng chống lại toàn cầu hóa.


Các nước lần lượt áp dụng những biện pháp kiểm soát dịch bệnh như cách ly, giám sát hải quan…, vì vậy sự lưu chuyển con người và các yếu tố sản xuất chắc chắn sẽ khó khăn, điều này sẽ khiến toàn cầu hóa và mở cửa phát triển bị cản trở trong ngắn hạn./.

Theo VOV.VN


Kinh tế Mỹ trên đường phục hồi hoàn toàn sau đại dịch Covid-19 

Nền kinh tế lớn nhất thế giới Mỹ đang từng bước phục hồi khi "cơn bão" Covid-19 đang dần qua đi và các gói kích thích khổng lồ của chính phủ phát huy tác dụng. Theo công bố của Bộ Thương mại Mỹ, kinh tế Mỹ đã tăng trưởng 6,4%, đạt 19,1 nghìn tỷ USD trong quý I/2021. Đây là mức tăng cao nhất được ghi nhận trong quý đầu tiên của bất kỳ năm nào kể từ năm 1984.
Kinh tế Mỹ đang tiệm cận với sự phục hồi hoàn toàn

Các hoạt động kinh tế Mỹ tăng bùng nổ trong quý đầu năm 2021, nhờ chiến dịch tiêm chủng ngừa Covid-19 được đẩy nhanh và nỗ lực kích cầu của Chính phủ. Trong vòng 3 tháng, đã có 2 gói cứu trợ với tổng trị giá gần 3.000 tỉ USD được thông qua giúp thúc đẩy thu nhập và chi tiêu của người dân. Gói cứu trợ đầu tiên trị giá 900 tỉ USD được thông qua vào cuối tháng 12/2020 cấp cho mỗi người Mỹ 600 USD. Trong tháng 3/2021, một gói cứu trợ mới trị giá 1.900 tỉ USD cũng được thông qua và cấp thêm cho mỗi người 1.400 USD. Các chuyên gia kinh tế nhận định, dòng tiền mặt ồ ạt từ các gói ngân sách trên sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp và thúc đẩy chi tiêu. Mặt khác, việc nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội cũng như tăng cường tiêm chủng phòng Covid-19 sẽ kích thích chi tiêu của người tiêu dùng và đây chính là động lực kinh tế quan trọng trong năm nay.

 
Kinh tế Mỹ trên đường phục hồi hoàn toàn sau đại dịch Covid-19

Ảnh minh họa, nguồn Internet

Báo cáo GDP do Bộ Thương mại Mỹ công bố mới đây cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ, nhưng nền kinh tế vẫn chưa hồi phục hoàn toàn về mức trước đại dịch. Theo đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) của Mỹ đạt mức tăng trưởng 6,4% trong quý I/2021. Tuy nhiên, mức tăng này thấp hơn so với mức dự báo 6,5% mà giới phân tích đưa ra. Trước đó, trong quý IV/2020, kinh tế Mỹ tăng 4,3%. Chuyên gia kinh tế trưởng Mark Zandi của Moody’s Analytics nhận định, đây là một dấu hiệu cho thấy nền kinh tế Mỹ đang cất cánh và năm nay có thể là một năm bùng nổ. Rõ ràng, người tiêu dùng Mỹ đang giữ vai trò đầu tàu của nền kinh tế và các doanh nghiệp đang đẩy mạnh đầu tư.

Tiêu dùng, khu vực chiếm 68,2% nền kinh tế Mỹ đạt tốc độ tăng trưởng 10,7% trong quý I/2021, so với mức tăng 3,2% đạt được trong quý IV/2020. Tốc độ tăng trưởng tiêu dùng mạnh mẽ này xuất phát từ tấm séc kích cầu 1.400 USD trong khuôn khổ gói kích cầu 1,9 nghìn tỷ USD của Tổng thống Joe Biden. Các chi tiêu chủ yếu gồm mua xe có động cơ, đồ nội thất, hàng hóa giải trí và đồ điện tử… Doanh thu các nhà hàng, sòng bạc và dịch vụ lưu trú cũng tăng trong quý I/2021. Dự kiến, khi dịch bệnh được kiểm soát, nhiều nhà hàng và địa điểm giải trí mở cửa trở lại thì người dân sẽ chi tiêu nhiều hơn cho các dịch vụ giải trí. Điều này sẽ tạo nền tảng vững chắc cho hoạt động tiêu dùng tại Mỹ tiếp tục tăng tốc trong quý II/2021. Bên cạnh đó, đầu tư và chi tiêu công cũng tăng 6,3%. Các chuyên gia kinh tế nhận định, những con số trên phản ánh một nền kinh tế đã có những bước tiến dài kể từ đợt phong toả năm 2020 khiến hơn 22 triệu người Mỹ rơi vào cảnh thất nghiệp và GDP nước này có cú sụt chưa từng có tiền lệ 31,4% trong quý 2/2020. Tuy nhiên, Cục Nghiên cứu kinh tế Mỹ (BER) vẫn chưa công bố kinh tế Mỹ thoát suy thoái, vì tổng GDP tính bằng USD chưa quay trở lại mức đỉnh thiết lập trước đại dịch. Nếu so với trước đại dịch, GDP cả năm của Mỹ hiện mới đạt khoảng 96%.

Trong số người Mỹ mất việc vì Covid, đến nay đã có 14 triệu người tìm được việc. Dù vậy, theo ước tính của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), số người có việc làm ở nước này hiện vẫn đang ít hơn khoảng 8,4 triệu so với trước đại dịch. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm mạnh về 6% từ mức đỉnh 14,7%, nhưng vẫn cao hơn nhiều so với mức 3,5% vào thời điểm tháng 2/2020. Công ty Xếp hạng tín nhiệm Moody's Analytics ước tính, kế hoạch kích cầu của chính quyền Tổng thống Joe Biden sẽ tạo ra 7,5 triệu việc làm trong năm nay.

Với thị trường việc làm còn nhiều khó khăn, Fed có thể tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ siêu nới lỏng để hỗ trợ phục hồi. Ngoài việc hạ lãi suất về 0-0,25% và duy trì cho đến nay, Fed đã chi gần 4 nghìn tỷ USD để mua tài sản, nâng giá trị bảng cân đối kế toán của ngân hàng trung ương này lên gần 8 nghìn tỷ USD.

Chỉ số lòng tin tiêu dùng do Đại học Michigan (Mỹ) khảo sát vừa được công bố vào ngày 30/4 cũng đã tăng lên 88,3 trong tháng Tư vừa qua, tăng từ mức 84,9 của tháng Ba và cao hơn mức tương ứng của cùng kỳ năm 2020 là 71,8. Đây là mức cao nhất của chỉ số này kể khi đại dịch bắt đầu bùng phát. Dữ liệu trên phản ánh việc nền kinh tế lớn nhất thế giới dần mở cửa trở lại và mức độ sẵn sàng chi tiêu cho ăn uống, du lịch của người Mỹ ngày càng tăng sau khi được tiếp cận rộng rãi với các đợt tiêm chủng vaccine ngừa COVID-19.
Bên cạnh đó, theo một thống kê tích cực khác, Hiệp hội Môi giới Bất động sản Quốc gia Mỹ cho biết, ngày càng có nhiều người Mỹ ký hợp đồng mua nhà trong tháng ba. Điều này cho thấy thị trường nhà đất tăng trưởng mạnh hơn khi mùa hè đến gần. Các nhà kinh tế nhận định, Hoạt động mở cửa trở lại của nhiều doanh nghiệp, gói viện trợ liên bang và tốc độ tạo việc làm sẽ giúp duy trì ổn định tăng trưởng kinh tế Mỹ. Tuy nhiên, trong cuộc họp chính sách tiền tệ định kỳ tháng 4, Fed nhấn mạnh rằng“các chỉ số về hoạt động kinh tế và việc làm đã khởi sắc gần đây, nhưng những ngành nghề bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi đại dịch vẫn còn đang yếu” và sự phục hồi của nền kinh tế còn chưa đều và sẽ phải mất nhiều thời gian mới có thể hoàn thiện.

Ngoài sự hỗ trợ của Fed, nền kinh tế Mỹ còn nhận được sự hậu thuẫn mạnh mẽ từ chính sách tài khoá. Quốc hội Mỹ từ đầu đại dịch đến nay đã phân bổ khoảng 5,3 nghìn tỷ USD để kích cầu, đẩy thâm hụt ngân sách liên bang lên 1,7 nghìn tỷ USD trong nửa đầu tài khoá 2021 và nợ liên bang lên mức 28,1 nghìn tỷ USD. Mới đây, Tổng thống Mỹ Joe Biden còn đề xuất thêm một gói đầu tư hạ tầng 2,3 nghìn tỷ USD và một gói hỗ trợ gia đình-giáo dục trị giá 1,9 nghìn tỷ USD.

Trong một thông báo gửi cho khách hàng vào giữa tháng 3, ngân hàng Goldman Sachs dự báo, nền kinh tế Mỹ sẽ tăng trưởng 8% trong năm 2021. Nếu dự báo này là đúng, đây sẽ là năm mà nền kinh tế có sự cải thiện lớn nhất trong nhiều thập kỷ, khi lần gần nhất mà GDP của Mỹ đạt mức tăng trưởng 8% là vào năm 1951. Goldman Sachs cho biết, việc nâng dự báo tăng trưởng phản ánh các chính sách tài khóa mới nhất của Mỹ.

Như vậy, sau khi tăng trưởng với tốc độ hàng năm là 3,4% và 4,3% trong quý III và quý IV/2020; 6,4% trong quý I/2021, có thể nói nền kinh tế Mỹ đang trên đà phục hồi hoàn toàn. Điều này có nghĩa là kinh tế Mỹ sẽ hoàn toàn trở lại mức sản xuất như trước thời đại dịch COVID-19 vào quý III hoặc quý IV/2021.
Khi một số nhà kinh tế lo ngại việc Chính phủ Mỹ tiếp tục chi tiền để hỗ trợ nền kinh tế và giúp các hộ gia đình bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch COVID-19, Goldman Sachs cho rằng động lực lạm phát sẽ phản ánh chu kỳ trước đó và sẽ chỉ chuyển thành lạm phát được tính bằng chỉ số chi tiêu tiêu dùng cá nhân lõi ở mức 2,1% vào năm 2023.


Tăng trưởng mạnh nhưng không “quá nóng”
 
Sự phục hồi nhanh chóng của nền kinh tế Mỹ làm dấy lên lo ngại rằng lạm phát có thể tăng cao hơn. Tuy nhiên, Bộ trưởng Tài chính Mỹ, Bà Janet Yellen cho rằng điều đó sẽ không xảy ra, đồng thời khẳng định có đủ công cụ để điều chỉnh tăng trưởng của nền kinh tế.

Bà Yellen cũng phản bác quan điểm cho rằng gói kích thích trị giá 1.900 tỷ USD là quá lớn để nền kinh tế có thể hấp thụ mà không bị phát triển quá nóng. Bà cho rằng, gói cứu trợ là cần thiết để vực dậy nền kinh tế trở lại như trước khi đại dịch xảy ra. Trong trường hợp gói kích thích này gây ra lạm phát sẽ có những công cụ để giải quyết và vấn đề này sẽ được giám sát chặt chẽ.

Phát biểu trên được bà Yellen đưa ra trong bối cảnh ngày 10/2 vừa qua, lợi suất trái phiếu kho bạc kỳ hạn 10 năm chưa điều chỉnh lạm phát của Mỹ đã tăng từ 1,13% lên 1,61%/năm, mức cao nhất trong một năm kể từ trước khi đại dịch bùng phát. Trong khi đó, Fed đã giữ nguyên mức lãi suất cho vay ở biên độ gần bằng 0 kể từ khi bùng phát dịch một năm trước đây.

Sự gia tăng lợi suất đã khiến các nhà đầu tư lo ngại về khả năng lạm phát tăng vọt từ sự phục hồi kinh tế hình chữ V, đặc trưng cho sự phục hồi nhanh chóng và bền vững sau sự suy giảm mạnh mẽ. Lo ngại lạm phát gia tăng đang khiến các nhà đầu tư suy đoán Fed có thể phải thay đổi chính sách sớm hơn dự kiến bằng cách giảm mua trái phiếu hoặc thậm chí tăng lãi suất vào một thời điểm nào đó.

Chủ tịch Fed Jerome Powell nhận định, kinh tế Mỹ đã phục hồi nhanh hơn dự kiến, nhưng Fed sẽ không ngừng các nỗ lực hỗ trợ nền kinh tế. Ông nhấn mạnh, Fed sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp hỗ trợ cần thiết và không bỏ rơi hàng triệu người Mỹ vẫn đang chịu tổn thương trong cuộc khủng hoảng do dịch COVID-19. Dù nâng dự báo tăng trưởng kinh tế đáng kể, Fed tiếp tục phát đi tín hiệu cho thấy lãi suất sẽ không đổi đến hết năm 2023 nhằm hỗ trợ cho các thị trường tài chính và lạm phát duy trì trên 2% trong một thời gian.

Trong khi đó, phân tích của Moody’s cũng chỉ ra rằng kế hoạch đầu tư cho cơ sở hạ tầng của ông Biden sẽ khiến tăng trưởng giảm nhẹ vào năm tới, khi việc tăng thuế đánh vào doanh nghiệp (nguồn tiền huy động cho kế hoạch này) sẽ có hiệu lực. Tuy nhiên, nền kinh tế sẽ chuyển hướng tăng tốc về tăng trưởng và việc làm bắt đầu từ năm 2023.

Như vậy, sau năm 2020 với quá nhiều biến động, Mỹ muốn hướng đến sự phục hồi mạnh mẽ trong năm 2021 bằng việc đơn giản là quay trở lại hoạt động bình thường nhờ quá trình tiêm chủng. Dựa trên các thông số và chính sách mà Chính phủ Mỹ đã ban hành, các nhà đầu tư hoàn toàn có thể lạc quan về triển vọng và xu hướng phục hồi của nền kinh tế lớn nhất thế giới này./.

Tiến Long


URL của bản tin này::http://www.vietnamville.ca/article.8215

© Vietnamville contact: admin@vietnamville.ca