Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Một 2022
T2T3T4T5T6T7CN
          1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28 29 30
31            
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 10
 Lượt truy cập: 20166960

 
Văn hóa - Giải trí 23.01.2022 00:15
Chữ Quốc Ngữ, tiếng Việt Nam, và Tu sĩ Alexandre de Rhodes
13.12.2021 19:59

MAI KIM NGỌC
Đại hội 48-55 năm nay các bạn đồng khoá giao cho tôi công việc nhẹ nhàng gần như tượng trưng. Đó là đọc và nhặt lỗi chính tả những bài gửi đến. Vậy mà tôi chưa đọc được một bài, vì một vấn đề nguyên tắc: lấy tiêu chuẩn gì mà sửa chính tả của bạn bè.

Khi viết lách tôi thường dùng những từ điển Việt ngữ phổ thông. Nhưng hiệu đính chính tả người khác, tôi phải cẩn thận hơn. Tôi tự hỏi các từ điển tôi thường dùng căn cứ vào đâu mà xác định cách đánh vần. Tìm kiếm thêm chút nữa, tôi khám phá ra là những sách tôi có đều không xuất xứ. Như một thứ tác phẩm mồ côi, chúng không dựa vào thẩm quyền nào khi chọn lựa chính tả.

Mơ màng đi ngược dòng thời gian, tôi nghĩ đến cuốn từ điển đầu tiên ngày xưa thầy giáo nhắc tới. Đó là cuốn Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (DALeL) do tu sĩ dòng tên Alexandre de Rhodes in tại Roma năm 1650, cùng với cuốn 'Phép Giảng Tám Ngày ...' của ông.

Mong ước cầm được trong tay cuốn sách hiếm của Rhodes là chuyện viển vông. Cuốn DALeL xuất bản hơn 300 năm trước tại Roma không tái bản lần nào, một vài bản có còn tồn tại chắc được các viện bảo tàng cất kỹ trong lồng kính. Để tự an ủi, tôi nghĩ thầm dù có được cuốn sánh cổ trong tay, chưa chắc nội dung đã phù hợp với tiếng Việt bây giờ.

Cứ như vậy, tôi sinh hoạt trong nghề văn với chính tả có độ chuẩn tương đối, định bụng một ngày nào rảnh rang sẽ bỏ công ra tra cứu vấn đề đến tận ngọn nguồn. Nấn ná suốt bảy năm trung học tôi đã không có dịp thi hành ý định. Rồi bảy năm y khoa tiếp nối, tôi vẫn viết lách với chính tả tương đối của mình. Hai năm trung úy quân y trưng dụng quá bận rộn vì y khoa cấp cứu thời chiến, tôi cũng không làm được gì cho mối tư lự chính tả bấy lâu trăn trở.

*

Khi về hưu tuởng đã quên, nhưng một sự việc nhỏ nhặt vô tình nhắc lại chuyện cũ, nhân một hôm đi nghe đoàn nghệ sĩ của Rio de Janeiro trình diễn dân ca Ba Tây tại hí viện ngoài trời Hollywood Bowl. Không hiểu lời, nhưng tôi thú vị tức thì với âm hưởng tiếng Bồ Đào Nha được nghe lần đầu.

Tôi đã đọc đâu đấy rằng tiếng Bồ của Ba Tây rất chuẩn so với chính quốc. Lý do là Ba Tây không là một thuộc địa như các thuộc địa khác, mà có thời đã là trụ sở chính của vương quốc Bồ. Khi Napoléon chinh phục hết nước này đến nước khác tại Âu châu, vua Bồ thấy bất an đã đưa cả hoàng gia và triều đình sang đóng đô tại Rio. Napoléon sau cùng thất trận đi đày nơi hải đảo, vua Bồ trở về ngai vàng chính quốc nhưng để con trai lại thay vua trị vì Ba Tây... Có lẽ do đó Ba Tây có ngôn ngữ không những rất chuẩn, mà âm hưởng lại có gì vương giả.

Trở lại buổi đi xem trình diễn dân ca Ba Tây tại Hollywood Bowl. Lúc tôi thiu thiu với cơn gió đêm mát rượi của hí viện ngoài trời, một hiện tượng như mơ như thực xảy ra. Tôi vẫn không hiểu tiếng Bồ, nhưng trong lúc mơ màng bỗng thấy nhạc Bồ có gì gần gũi. Rồi có lúc tôi cảm thấy như nghe được tiếng Việt xen kẽ giữa những lời ca ngoại quốc. Trong tâm thức một đoàn âm thanh quen thuộc kéo về. Chúng gồm những phụ âm kép mà tôi vẫn nghĩ chỉ tiếng Việt mới có, như NG hay TH ở đầu hay cuối một số từ. Rồi một lũ nguyên âm trầm bổng với đủ năm dấu sắc huyền hỏi ngã nặng kéo theo. Nửa thú vị nửa ngỡ ngàng, tôi như người lữ khách một chuyến du lịch nơi xa lại gặp một đoàn trẻ con trong họ chạy tới vây quanh.

Cuộc sống bận rộn lại làm tôi quên vụ nhạc Bồ có âm hưởng Việt, cũng như ý định giải quyết mối thắc mắc kinh niên về chính tả. Nhưng không quên hẳn được, vì hai năm sau tôi có dịp đi du lịch Ba Tây. Tôi may mắn vì ngoài anh hướng dẫn viên chính thức lại có cô sinh viên sắp tốt nghiệp khoa du lịch xin đi theo tập sự. Cô bé sõi tiếng Anh, nhưng nói tiếng Bồ khi trao đổi với bác tài xế cũng là người địa phương.

Nghe ngôn ngữ líu lo của họ, tôi lại bắt được những nguyên âm và phụ âm quen thuộc cùng với năm dấu sắc huyền hỏi ngã nặng của tiếng mẹ đẻ. Tha hương, âm hưởng Việt Nam bất ngờ trong tiếng nói Ba Tây nghe ngọt như cam và mát như cơn mưa giữa trưa hè. Cảm giác đẹp như câu thơ cổ lớp Hán tự ngày xưa:

          Đại hạn phùng cam vũ,

          Tha hương ngộ cố tri.

Du lịch tại Nam Bán Cầu mà tôi thấy gần gũi với cảnh với người, cô sinh viên viên Ba Tây bỗng giống con cháu gái gọi tôi bằng ông.

Tôi nghĩ hòan cảnh thuận lợi để tìm hiểu tại sao tiếng Bồ nghe giống tiếng Việt. Tôi viết ra giấy chữ NGA bắt cô gái đọc, hy vọng cô sẽ không đọc thành NHA như những người Pháp hay Mỹ. Cô không phạm phải lỗi phát âm ấy, chỉ thoáng ngạc nhiên là tại sao lại bị trắc nghiệm. Tôi lại bắt cô đọc NGA NGỦ NGON, mệnh đề ba chữ đã vặn lưỡi vô số người ngoại quốc. Cô đọc vẫn chuẩn. Không có vụ NHA NHỦ NHON như đám bạn người nước ngoài của tôi... Tôi đố thêm vài phụ âm nữa nhưng đặt ở đuôi của từ, như manG và manH, hay thanG và thanH xem cô gái có phân biệt được mang với manh hay thang với thanh không. Cô gái không gặp khó khăn gì. Cô còn thoải mái với mấy nguyên âm có bỏ đủ dấu sắc huyền hỏi ngã nặng.

Cảm giác vô lý có bà con ruột thịt với cô sinh viên Ba Tây làm tôi vui như tự nhiên được thêm đứa cháu gái. Đồng thời tôi nhớ đã đọc đâu đó rằng mẫu tự Quốc ngữ là do các tu sĩ Dòng Tên soạn ra từ mẫu tự Bồ khi họ phiên âm chữ Nôm. Hèn chi cô gái đã thoải mái đọc được mấy từ và khóm từ Việt tôi đem ra đố. Thật là một sự tình cờ lý thú, thanh quản Ba Tây và mẫu tự Việt tình cờ lại khao khít với nhau và ngược lại. Thật là hú vía. Nếu bị phiên âm với một mẫu tự khác như Pháp hay Nga hay Anh chẳng hạn, không biết tiếng Việt bây giờ sẽ ngọng nghịu như thế nào.

Tôi quyết định bỏ thời gian tra cứu vụ này. Bớt một số giờ vãn cảnh, tôi tìm đọc trên liên mạng những đề tài liên quan đến Việt ngữ xưa và nay. Tôi tìm hiểu các tu sĩ dòng Tên Lisbonne hà cớ gì sang tận Việt Nam trên ba trăm năm trước để sáng chế ra lối viết mới. Tại sao số từ họ phiên âm ba bốn thế kỷ trước đã ngưng lại tại mức 8000. Từ cuốn DALeL của Alexandre de Rhodes cho đến cuối thế kỷ XIX khi được thực dân mang ra xử dụng, không thấy một cuốn từ điển mới của nhà Dòng với nhiều từ hơn. Và tôi cũng tò mò về một tu sĩ đặc biệt làm việc trong nhà Dòng Hà Nội thế kỷ 17 là ALexandre de Rhodes.

Pháp đánh giá công lao của Rhodes rất cao trong việc phiên âm chữ Nôm ra tiếng La-tanh, và những lời khen lao họ dành cho ông có vấn đề lạm phát trầm trọng. Không những người Pháp mà một số không nhỏ người Việt thời Bảo hộ cũng cực kỳ quý trọng ông.

Mặt khác, ngay thủa sinh thời ông lại bị hai người Việt Nam quý tộc đánh giá rất thấp và xếp vào thành phần bất hảo. Đó là chúa Trịnh của xứ Đằng Ngoài và chúa Nguyễn của xứ Đằng Trong. Người thì trục xuất người thì hạ ngục Rhodes, thậm chí phán cho đương sự cái án tử hình... Sau bao nhiêu bôn ba để xin về lại Việt Nam, Rhodes sau cùng bị bề trên đổi sang Iran, và qua đời ở đấy. Hai thập niên sau cùng, ông chưa chết mà đã bị lãng quên. Cứ thế tên tuổi ông cũng như hai cuốn sách về tiếng An Nam do ông trước tác không ai nhắc tới suốt 300 năm lẻ.

Bất ngờ vì nhu cầu chính trị, thực dân Pháp đem Alexandre de Rhodes ra suy tôn như một thần tượng, thậm chí một vị thánh văn hoá cho dân thuộc địa. Những dữ kiện thu được nhờ một tối lang thang trên mạng, làm tôi hăng hái truy lùng thêm những tài liệu về tiếng An Nam của các tu sĩ Bồ và Việt ngữ của chúng ta. Kết quả là một câu chuyện hy vọng có đầu có đuôi khá nhiều tình tiết ly kỳ đáng ghi lại để mua vui cho các bạn đồng khoá.

Tiếng An Nam, thủa trứng nước

Từ đầu thế kỷ 17 hay sớm hơn nữa, những tu sĩ Dòng Tên tại nhà dòng Hà Nội bắt đầu phiên âm chữ Nôm bằng mẫu tự Bồ. Tôi không nghĩ các tu sĩ bấy giờ có phương tiện như phòng vi âm các đài phát thanh hay phòng thí nghiệm thính giác của các đại học ngữ học bây giờ. Tôi đoán phương cách làm việc của họ đại khái như sau. Họ nhờ một người thông ngôn lanh lợi chọn trong đám nhân viên Việt của nhà Dòng đọc những từ chữ Nôm (văn tự chính thống bấy giờ). Tu sĩ lắng nghe nhiều lần cho đến khi thật quen tai thì phiên âm bằng mẫu tự Bồ và ghi ra giấy. Từng từng chữ từng chữ một, tu sĩ và người phụ tá bản xứ hoàn tất một văn tự mới gọi là chữ An Nam, như tên gọi trong cuốn tự vị Việt Bồ La Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (DALeL) của Alexandre de Rhodes. Mớ ngữ vựng hoàn tất được mỗi lúc một nhiều, chẳng mấy chốc đủ dùng trong sinh hoạt hàng ngày của nhà Dòng như sai bảo người làm, luyện tiếng Việt cấp tốc (kiểu phrase book) cho các tu sĩ tân nhiệm từ Lisbonne mới qua, hay dậy giáo lý căn bản cho kẻ tân tòng bản xứ đang chuẩn bị rửa tội...

Từ điển DALeL của Alexandre de Rhodes sưu tập được khoảng 8000 từ. Con số này chắc bao gồm cả những từ đã phiên âm của hai cuốn từ điển có trước soạn bởi các sư huynh của Rhodes là Antonio Barbosa và Gaspar do Amaral. Danh từ An nam hay An nam mít xuất hiện từ đây, mới đầu chỉ để chỉ thứ văn tự mới, có lẽ đến thời Pháp thuộc cuối thế kỷ XIX mới có nghĩa coi rẻ coi thường.

Trừ hai cuốn sách của Rhodes, toàn bộ tài liệu liên quan đến tiếng An Nam của các tu sĩ Bồ bị thất lạc. Mất mát quan trọng là hai cuốn từ điển của Antonio Barbosa và Gaspar do Amaral. Không những ấn bản không còn, mà tất cả những bản nháp, bản thảo cũng không sót lại một tờ. Mất mát quan trọng không kém là văn khố của nhà dòng Bồ hơn ba thế kỷ sinh hoạt, gồm những tài liệu giảng huấn, những bài vở của các học viên, những bài giảng của các giáo viên... Sau cùng, người ta cũng không tìm được một tài liệu gì về công trình của tu sĩ bề trên Francisco de Pina, người đã vỡ lòng tiếng Việt cho Rhodes khi đương sự mới từ Lisbonne sang nhậm chức...

Sự mất mát xảy ra bao giờ, không ai biết rõ. Ta có thể võ đoán là chuyện đó không xảy ra trong 300 năm đầu khi nhà dòng Bồ tại Hà Nội do giáo hội Bồ quản trị. Người Bồ không lơ là với tài sản văn hoá của người Bồ. Nhưng khoảng trăm năm cận sử, Bồ bàn giao cho Pháp nhà Dòng Hà Nội cùng những cơ sở tôn giáo khác tại Việt Nam. Sự mất mát có thể xảy ra vào khoảng thời gian này. Phải đây là do chiến tranh loạn lạc liên miên, hay còn phản ánh nhiều lý do khác về chính trị, hành chánh, quản trị, hay kỳ thị và ganh tỵ giữa Bồ và Pháp.

Giao Si Alexandre de Rhodes
Giáo sĩ Alexandre de Rhodes



Huyền Thoại Alexandre de Rhodes

Dù vì nguyên do gì, sự thất lạc những tài liệu tiền phong về việc soạn từ điển tiếng An Nam làm Rhodes trở thành người có tác phẩm xưa nhất trong lãnh vực. Dựa vào chi tiết này và nhiều ý đồ khác, người Pháp gọi ông là cha đẻ của Quốc ngữ (Le Père du Quốc Ngữ).

Sự vinh danh tất nhiên quá đáng, vì Rhodes không phải là người sáng chế ra lối viết mới. Khi ông tới Hà Nội thì bề trên Francisco de Pina và các sư huynh của ông đã khởi xướng việc này từ lâu. Ông cũng không phải là người độc nhất đã đánh vần số 8000 từ trong từ điển của ông. Như đã nói, trước ông đã có từ hai cuốn từ điển Việt Bồ, một của Antonio Barbosa và một của Gaspar do Amaral. Chỉ tiếc là Rhodes không ghi xuất xứ những từ ông sưu tập và bỏ vào Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum (DALeL), nên hiện tại không biết bao nhiêu là công ông, bao nhiêu là công của người đi trước.

Tiểu sử của Rhodes cũng phức tạp và mơ hồ như sự nghiệp của ông. Ông sinh năm 1593 tại Avignon, và theo học chủng viện Dòng Tên Lisbonne. Tốt nghiệp, ông được cử sang xứ Đằng Ngoài của chúa Trịnh năm 1620 khi mới 27 tuổi. Như đã nói, tu sĩ trẻ tân nhiệm Rhodes được học tiếng Việt với bề trên là Francisco de Pina. Bốn năm sau với vốn ngôn ngữ ấy, ông vào truyền giáo tại xứ Đằng Trong của Chúa Nguyễn. Được hai năm, ông lại trở ra xứ Đằng Ngoài.

Sự cố quan trọng đầu tiên trong nghiệp vụ truyền giáo đến với Rhodes khi Chúa Trịnh trục xuất ông (1630). Về Macao, ông xoay xở vận động với giáo hội và 10 năm sau ông lại được sang Việt Nam (1640). Không về được Hà Nội vì cái án trục xuất vẫn còn đấy, ông vào Đằng Trong truyền giáo. Ở đây ông cũng đụng chạm với luật pháp địa phương. Năm 1645, chúa Nguyễn hạ ngục ông rồi kết án tử hình. Ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tội chết được chúa ân xá vào phút chót, nhưng án trục xuất vẫn áp dụng.

Bị cả hai miền Nam Bắc lần lượt đuổi đi, ông về lại Âu Châu. Mười năm ở đấy, ông năng nổ tìm cách thỉnh cầu Lisbonne và Roma yểm trợ tài nguyên cho ông trở lại Việt Nam. Thời gian này ông mang tiếng khoác lác về bản thân, khoe con số 6000 tân tòng ông đã tự tay rửa tội. Ông cũng khoác lác trình bày Việt Nam như một vùng đất giàu có ngoan đạo và đông đúc giáo dân. Có lẽ vì Rhodes thiếu trung thực trong những báo cáo trên nên cuộc vận động của ông đã thất bại. Ông bỏ Roma và Lisbonne để sang Pháp vận động với vua Pháp về việc thành lập hội truyền giáo Paris cho giáo hội Pháp. Không biết sợi rơm nào đã bẻ gẫy lưng con lạc đà, bề trên tại Lisbonne sau cùng thuyên chuyển ông sang Teheran. Từ đó về sau người ta không nghe nói ông vận động gì thêm để về lại Việt Nam. Ông qua đời năm 1660, hưởng thọ được 69 tuổi.

Cuộc sống của giáo sĩ Rhodes tại Việt Nam đầy sự cố không phải không có lý do. Tu sĩ trong khi truyền giáo tìm cách thân thiện với cả hai miền Nam Bắc đang thù nghịch nhau. Dưới góc nhìn của các chúa Trịnh và Nguyễn, có thể họ cho ông là người bất hảo và trí trá. Với các nhân vật quan trọng của Âu châu, ông xem ra cũng không trung thành với ai. Để thuyết phục Roma và Lisbonne yểm trợ ý đồ trở lại Việt Nam của mình, ông đã không ngần ngại tô điểm thành tích bản thân cũng phóng đại sự trù phú của Việt Nam. Khi không toại nguyện, ông cũng không ngần ngại chạy sang Paris khuyên vua Pháp nên thiết lập Hội Truyền Giáo Pháp để sớm xử lý mục vụ Viễn Đông trước các cuờng quốc khác. Tuy nhiên chưa kịp nhận phẩm hàm gì của vua Pháp, ông bị giáo hội Lisbonne đổi sang nhà dòng Ba Tư.

Giaoly
Phép Giảng Tám Ngày.

Tác phẩm Phép Giảng Tám Ngày, cũng có thể là nguồn gốc của những vấn nạn đã xảy đến cho ông tại Việt Nam. Nói chung, người Việt chúng ta vua quan cũng như dân chúng coi trọng tôn giáo người khác. Chúng ta tin rằng từ bi là đức hạnh của mọi tôn giáo, và không có gì bất đồng với giáo lý đạo Ky Tô. Vậy mà ngoài các chương giáo lý cổ điển, Alexandre de Rhodes sáng tác thêm chương Bốn với tựa là 'Những Đạo Vạy' để miệt thị Phật Lão Nho cũng như mỹ tục thờ cúng tổ tiên. Lời lẽ khá thô lỗ, có chỗ ông gọi Phật là thằng Thích Ca... (coi phụ lục).  Ông đã dùng tài liệu 'Phép Giảng Tám Ngày' để rửa tội cho vô số tân tòng. Nội dung Chương Bốn, Những Đạo Vạy không còn bí mật với ai. Tai vách mạch rừng, thái độ miệt thị ông dành cho tôn giáo chủ nhà chắc đã đến tai nhà chức trách. Phải chăng đây là lý do trực tiếp làm hai lần ông bị trục xuất, và một lần bị hạ ngục với án tử hình. Nhìn theo cái nhìn dài, Rhodes coi rẻ văn hoá và tín ngưỡng Việt Nam đã làm hại đạo Thiên Chúa không ít, tạo chia rẽ Lương Giáo, và gây khó khăn cho những tu sĩ đến sau. Tôi có nhiều bạn thân theo đạo Thiên Chúa mà chưa thấy ai có kiến thức giới hạn về tôn giáo Á Đông như Rhodes. Tôi cũng chưa thấy ai đối đãi thô bạo với cốt lõi của văn hoá Việt Nam như khi ông bàn về Tam Giáo...

Hiếu động như vậy mà sinh thời Alexandre de Rhodes không đạt được vinh hoa gì đáng kể. Cuối cùng ông chết âm thầm tại Iran. Sự nghiệp ông tượng trưng bằng hai cuốn sách liên hệ đến tiếng An Nam cũng không thành công bao nhiêu. Âu châu vào thời ông quá bận tâm với những vấn đề quan trọng để lưu ý đến một chức sắc cấp trung hay cấp thấp, với hai tác phẩm ích lợi giới hạn cho người Bồ giảng đạo tại Việt Nam. Ở Hà Nội, sách của Rhodes cũng không hữu dụng. Nhà Dòng đã đầy đủ chuyên viên để phiên âm tiếng địa phương theo vần mẫu tự Bồ. Sự thật là chính Rhodes còn phải đi học tiếng Việt với các sư huynh và sư phụ của ông tại đây. Ngoại trừ những bản làm quà tặng cho bè bạn và bề trên cũ, sách ông mang về nhà Dòng Hà Nội khác gì chở củi về rừng.

Bên trong giáo đường đã vậy, bên ngoài giáo đường tác giả cũng như tác phẩm kể như không ai biết đến. Người Việt Nam từ văn nhân thi sĩ đến vua chúa quan lại, mọi người thoả mãn với hai tiếng Hán và Nôm. Giấy tờ hành chánh dùng Hán tự, còn toàn bộ những sinh hoạt khác đều dùng chữ Nôm. Kể từ những văn bản thủa ban sơ như Văn Tế Cá Sấu cho đến Sãi Vãi, Nhị Độ Mai, Trê Cóc, Hoa Tiên, Phan Trần, Lục Vân Tiên... cho tới ba đại tác phẩm của đất nước là truyện Kiều, Chinh Phụ Ngâm và Cung Oán, tất cả đều viết bằng tiếng Việt (chữ Nôm). Không ai làm thơ làm văn bằng chữ An Nam hay An Nam Mít của Rhodes với 8000 từ đánh vần bằng mẫu tự Bồ. Suốt ba thế kỷ hơn, quên lãng là số phận của Rhodes và sự nghiệp viết lách của ông.

Chuyện bể dâu Văn tự và Văn học

Tuy nhiên lịch sử có những bất ngờ. Tiếng An Nam của các tu sĩ Bồ tưởng đã bị bụi thời gian phủ lấp, bỗng hồi sinh vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX. Lý do là Thực dân Pháp một khi chiếm được Việt Nam nhất định triệt tiêu ảnh hưởng của Tầu. Văn tự là một gốc rễ quan trọng của ảnh hưởng ấy, nên Pháp nhất định loại chữ Hán và chữ Nôm ra khỏi đời sống Việt Nam.

Nhanh chóng và dể dàng Tây thay Hán tự bằng Pháp văn. Vừa nắm được chính quyền ba tỉnh miền Đông (1862), họ tức thì đặt một nền hành chánh trực trị có khuôn mẫu từ Pháp mang sang, với quan chức Pháp trực tiếp cai trị dân bản xứ. Tất cả văn thư đều viết bằng Pháp văn, từ công báo, giấy tờ hộ tịch, cho đến đơn từ của dân chúng và công văn các công sở... Nhu cầu thông tin giữa quan chức Tây và nhân dân Việt được qiải quyết bằng thông ngôn. Đến 1867 Pháp chiếm nốt ba tỉnh miền Tây, và toàn bộ Nam kỳ trở thành nhượng địa Cochinchine. Dân chúng Nam Kỳ không còn là con dân Triều Đình, và tiếng Pháp trở thành văn tự hành chánh độc nhất.

Tiếp theo là Trung kỳ và Bắc kỳ. Vì những lý do phức tạp, Pháp không cai trị vùng đất cuối cùng của Triều đình như đã cai trị Nam kỳ. Họ để vua quan ta làm vì, nhưng lập một đội ngũ công chức cao cấp Pháp ngồi bên trên cai trị tất cả từ phủ toàn quyền tới tòa hành chánh tỉnh. Họ nắm thực quyền kể cả quyền trả lương cho vua quan ta, nhưng mang danh xưng hiền lành là công sứ hay khâm sứ, tựa hồ họ chỉ đóng vai đại diện ngoại giao hay cùng lắm cố vấn cho chánh quyền Việt Nam. Nhưng quan Tây chỉ nói tiếng Tây là chuyện dĩ nhiên, và không kèn không trống Hán tự biến mất khỏi đời sống hành chánh.

Pháp thanh toán chữ Nôm song song với Hán tự. Thật ra Pháp dư biết chữ Nôm cần còn phải thanh toán nhanh hơn. Nó là chữ viết mà cũng là tiếng nói của người Việt. Hình dạng gần gũi với Hán tự, chữ Nôm như cái gai trước mắt thực dân. Còn lối viết này ngày nào là thực dân còn chưa yên tâm trong ý đồ tiêu diệt toàn bộ ảnh hưởng Tàu trên con người và văn hoá Việt Nam.

Bắt quần chúng thay đổi tiếng nói là chuyện vô cùng khó khăn chưa ai làm được, kể cả những bạo chúa. Nhưng thay đổi chữ viết là chuyện trong tầm tay người Pháp, nhất là các tu sĩ Bồ đã chế sẵn chữ An Nam từ hơn ba trăm năm trước. Tương kế tựu kế, thực dân lấy chữ An Nam thay thế chữ Nôm.

Theo nguyên tắc, tiếng An Nam của các tu sĩ Bồ thoả mãn tất cả chờ mong của Pháp. Không còn liên hệ hình dáng cũng như nội dung với Hán tự, chữ An nam sẽ giúp Pháp dứt khoát thanh toán ảnh hưởng văn hoá Trung quốc. Chút bất tiện nhỏ là những từ điển tam ngữ sẵn có của các giáo sĩ dư thừa phần tiếng Bồ và tiếng La-tanh. Giải pháp cũng dễ dàng, Pháp chỉ việc cho đội ngũ thông ngôn lấy sách gốc cũ bỏ phần Bồ và La-tanh mà thay thế chữ Pháp vào.

Pháp áp dụng chính sách dẹp bỏ chữ Nôm ngay khi mới chiếm được một nửa Nam Kỳ. Phải công nhận sự siêng năng vượt bực của giáo chức Pháp tòng sự tại Soái phủ Nam Kỳ bấy giờ. Ba tỉnh miền Đông cụ Phan mới mất cho Tây năm 1862, thì trung tuần tháng tư năm 1865 tờ Gia Định Báo bằng chữ An Nam ra đời. Trong khoảng thời gian ba năm, Pháp đã huấn luyện xong một quần chúng bản xứ đông đúc biết viết và đọc chữ An Nam để đóng vai ban biên tập cũng như độc giả cho tờ báo.

Rồi sách truyện bằng chữ An Nam nối đuôi theo báo chí xuất hiện. Trong khi lãnh thổ còn lại của Triều đình vẫn dùng Hán tự và chữ Nôm, dân Nam kỳ bắt đầu tiêu khiển với các truyện ngắn bằng tiếng An Nam như Người Buôn Ngọc, Thầy Lazaro Phiền, Câu Chuyện Một Tối Của Người Tân Hôn, vân vân... Báo chí và văn học bằng chữ An Nam vùng nhượng địa đi trước Bắc Kỳ và Trung Kỳ cả mấy thập niên.

Từ bàn đạp Nam Kỳ Pháp tiếp tục truy kích chữ Nôm tại vùng đất theo lý thuyết còn thuộc Triều đình. Bằng áp lực từ mọi phía, Vua Khải Định sau cùng hạ chiếu chính thức hoá và chính thống hoá văn tự An Nam mà vua ban cho tên mới là Quốc ngữ (1918). Lúc này nhà Nguyễn đã mất thực quyền từ lâu, từ hành chánh đến tài chánh, đến quốc phòng, đến ngoại giao, đến lục lộ, đến canh nông, đến y tế, vân vân, và đến học chánh. Có lẽ học trò các trường bảo hộ đã học Quốc ngữ từ trước cả lệnh vua.

Tiếng An Nam và Chữ Quốc Ngữ.

Hai danh từ tiếng An Nam và chữ Quốc Ngữ thường bị dùng lẫn lộn với nhau. Sự lầm lẫn có lý do chính là cả hai loại văn tự đều chung một bảng mẫu tự dựa trên bảng mẫu tự Bồ Đào Nha. Nhưng sự giống nhau chấm dứt tại đây.

Tiếng An Nam gồm 8000 từ phiên âm bởi các giáo sĩ Bồ và đã được sưu tập bởi Rhodes để in trong từ điển DALeL. Tiếng An Nam có công dụng giãi quyết nhu cầu nội bộ của nhà Dòng. Như đã nói chức năng của nó là giúp cho các giáo sĩ từ Lisbonne mới qua một mớ ngữ vựng tối thiểu để giao tiếp với dân bản xứ, và huấn luyện giáo lý cơ bản cho tân tòng muốn theo đạo Chúa với những tài liệu trình độ như Phép Giảng Tám Ngày của Rhodes.

Với nhu cầu như vậy, xem ra vốn ngữ vựng của DALeL cũng đã đầy đủ. Gần bốn thế kỷ sau, nhu cầu nội bộ của nhà Dòng Hà Nội về tiếng An Nam có lẽ không gia tăng, nên ta không thấy một cuốn từ điển mới nào dày hơn ra đời. Nhu cầu cố định thì ngữ vựng cũng cố định.

Tiếng Quốc ngữ là tiếng Việt ngôn ngữ của dân tộc Viêt Nam viết theo mẫu tự Bồ. Trái lại tiếng Việt tất nhiên có từ khi có nước Việt Nam. Nó phục vụ cho mọi nhu cầu của dân tộc, từ giao tiếp hàng ngày, yêu thương vợ chồng, dậy dỗ con cái, sinh hoạt học đường, văn chương thơ phú vân vân... Nó có một số ngữ vựng khổng lồ có thể diễn tả được mọi ý nghĩ, mọi ý niệm, dù phức tạp hay tế nhị đến đâu. Nó có từ trước khi Tây tìm ra pho sách cổ là cuốn từ điển Rhodes và quyết định dùng nó làm khởi điểm để thay thế chữ Nôm.

Chỉ một truyện Kiều cũng đủ chứng tỏ sự giàu có của tiếng Việt. Truyện đủ ngữ vựng, đủ tinh tấn, đủ tế nhị, đủ hào hùng, đủ nên thơ để xử lý mọi tâm cảnh. Viết bằng chữ Nôm hay viết bằng mẫu tự Bồ Đào Nha, sự việc cũng thế thôi. Cái chân lý vẫn không đổi là Việt ngữ là một ngôn ngữ đã phát triển đến chỗ tinh hoa dù viết bằng phương pháp nào. Nói cách khác, Quốc ngữ hay Việt ngữ có lịch sử dài như lịch sử đất nước, chứa đựng tất cả văn hoá và văn minh Việt Nam.

Cái vốn 8000 chữ các cha Bồ để lại có giúp gì cho Quốc ngữ không? Sự thật là không có bao nhiêu. Những từ quá cũ sau ba bốn thế kỷ đã tự đào thải ra khỏi ngôn ngữ dân chúng. Nhiều từ khác cũng không dùng được vì đánh vần không chuẩn, như Trời đánh vần thành Blời, Bậy đánh vần ra Vạy, vân vân và vân vân. Chỉ cần đọc Phép Giảng Tám Ngày của Rhodes ta thấy ngay vấn đề của 8000 từ các giáo sĩ đã phiên âm và để lại. Tại sao các tu sĩ Bồ đã phiên âm không chuẩn? Lý do hiển nhiên là phiên âm tùy thuộc rất nhiều khả năng nghe của nguời phiên âm. Nghe sai thì đánh vần sai. Những tu sĩ Bồ dù học vấn uyên thâm cũng ít khi có cặp tai của người bản xứ khi nghe tiếng Việt.

*

Khi mập mờ lẫn lộn Quốc ngữ với tiếng An Nam của từ điển Rhodes, Pháp muốn ta hiểu lầm rằng tất cả ưu điểm của Việt ngữ là nhờ phiên âm ra mẫu tự Bồ mà có. HIểu lầm như vậy, ta phải ơn Rhodes vì ông là cha đẻ của Quốc ngữ. Pháp vun đắp cho sự ngộ nhận bằng đủ mọi cách.

Hình ảnh của Rhodes xuất hiện khắp nơi, từ bìa vở học trò cho đến con tem bưu điện... Những hội ái hữu Việt Pháp treo những tấm chân dung vĩ đại của ông. Sách giáo khoa bậc trung và tiểu học có những bài vô cùng kính phục và ưu ái, tri ân vị giáo sĩ gốc Avignon đã tận tình chế tạo cho Việt Nam một văn tự thích nghi để bước vào thời đại văn minh... Rhodes sau khi được Pháp tô điểm có thể sánh với các thánh hiền thời tiền sử như Thần Nông, Nhân Diêm hay Sĩ Nhiếp...

Lập luận tuyền truyền của Pháp không phải không có ảnh hưởng. Thời Cộng hòa của chính phủ miền Nam, ảnh Rhodes vẫn được in trên tem bưu điện. Ngòai Bắc, tượng Rhodes dựng tại vườn hoa bờ hồ Hòan Kiếm bị dẹp đi một thời gian, đến gần đây được phục hồi và đặt lại tại công viên cũ. Ta phải phục khả năng thuyết phục của người Pháp, khi khá gần đây một hoạ sĩ Việt Nam vẽ bức tranh lớn trình bày cảnh Rhodes đã thành thánh, ân cần đưa thi hài cụ Nguyễn Văn Vĩnh vào thiên đường. Tôi không tin cụ Vĩnh muốn như vậy. Tất nhiên cụ đã qua đời trước khi bức tranh được vẽ, và cụ không thể cải chính được sứ điệp của người hoạ sĩ xu thời.

Sau cùng là huyền thoại về Pháp tịch của Alexandre de Rhodes. Huyền thoại này tóm gọn tất cả những mập mờ về giáo sĩ thành một chủ đề, là Việt Nam nợ nước Pháp một thánh nhân đã có công lớn mang lại văn tự và văn minh cho mình. Nhưng sự thật là sự thật, và trước khi sang đề tài khác, tôi xin tóm tắt những nhược điểm chính của luận điệu thực dân:

1. Alexandre de Rhodes không phài là người Pháp. Cha ông gốc Tây Ban Nha và mẹ ông gốc Ý Đại Lợi. Thời Rhodes, sanh quán Avignon của ông cũng không thuộc địa phận Pháp khi ông ra đời. Nhiều nhiều năm sau, Avignon mới sát nhập với Pháp.

2. Alexandre de Rhodes không phải là người có sáng kiến lấy mẫu tự Bồ để phiên âm chữ Nôm. Khi ông tới Việt Nam thì nhà dòng Hà Nội đã phiên âm tiếng Việt từ lâu. Chính họ đã vỡ lòng Rhodes về tiếng Việt phiên âm bằng mẫu tự Bồ của họ.

3. Cuốn từ điển của Alexandre de Rhodes là một sưu tập từ ngữ không mấy hữu dụng. Như đã nói, không kể sự già cỗi bắt buộc sau hơn ba thế kỷ đông lạnh, một phần không nhỏ của 8000 từ sưu tập bị đánh vần không chuẩn. Các tu sĩ Bồ dù sao cũng là người ngoại quốc, nên tai nghe chỉ chính xác đến mức tương đối.

4. Cuốn Phép Giảng Tám Ngày phản ánh sự giới hạn kiến thức trầm trọng của Rhodes về văn hoá, triết học, và tôn giáo Đông phương nói chung và Việt Nam nói riêng. Phát biểu một cách bừa bãi (Chương 4, các Đạo Vạy), sách cũng phản ánh sự coi thường nước chủ nhà của tác giả. Đây là sự hỗn hợp đáng tiếc của sự khiếm khuyết kiến thức trầm trọng với cung cách phát biểu bất nhã và thô bạo. Nó nguy hiểm cho liên hệ hài hòa giữa Lương với Giáo, và gây ra một hình ảnh bất lợi cho nhà thờ Thiên Chúa giáo, nơi tôi có nhiều thầy cũng như bạn.

*

Vậy thì ta nên ơn ai hay ơn cái gì?  Không phải bỗng dưng trên trời rơi xuống mà ta có được chữ Quốc ngữ. Tôi nghĩ ta phải cảm ơn các giáo sĩ Bồ đã chế tạo cho ta một mẫu tự rút ra từ mẫu tự của họ. Dù họ đi khỏi Việt Nam đã mấy thế kỷ, các nhà từ điển Việt nam vẫn có thể tiếp tục phiên âm một mình bằng cách dùng bảng mẫu tự này mà đánh vần. Không có một bảng mẫu tự nào khác trên thế giới có thể đóng góp như vậy cho chúng ta.

Cái kỳ diệu của bản mẫu tự này là mặc dù đã có hàng chục người việt Nam làm từ điển, mà kết quả kể như vẫn tương đối nhất quán. Khác nhau chút đỉnh từ người này sang người khác vì cách phát âm địa phương, nhưng tựu trung vẫn là tiếng Việt, không ngô ngọng như mớ từ An Nam của từ điển Rhodes.

Vấn đề còn lại là một ngày nào đó, một viện hàn lâm Việt Nam sẽ xét lại mỗi từ Việt Nam, để hoàn tất toàn bộ chính tả theo một số quy ước chung được mọi người đón nhận trong tinh thần yêu thương dân tộc. Một công cuộc như vậy không phải là không làm được.

Nhu cầu tương lai. Sau cùng tôi có vài suy ngẫm phát xuất từ sự thiếu thông tin bản thân về nguồn gốc tiếng Quốc Ngữ. Có lẽ trong tương lai càng gần càng tốt, chương trình giáo dục tại cấp tú tài hay dự bị đại học nên có ít nhất trong các lớp chuyên về nhân văn một số giờ tối thiểu về ngôn ngữ và văn hoá Bồ Đào Nha, mà bản mẫu tự đã là chìa khoá để phiên âm chữ Nôm ra Quốc ngữ trong dạng thức Việt ngữ hiện tại.

Một số giờ tối thiểu cũng nên dành cho các tu sĩ Dòng Tên đã tiên phong trong việc La-tanh hoá chữ Việt như Francisco de Pena, Antonio Barbosa, Gaspar do Amaral, và sau cùng như Alexandre de Rhodes. Với họ, và đặc biệt với tu sĩ Rhodes, ta cần một cái nhìn mới dưới ánh sáng khoa học thuần túy, thay vì xu hướng thần thánh hoá nặng ý đồ tư lợi của chánh quyền Bảo Hộ trong quá khứ, hay xu hướng khắt khe về sau của một vài học giả quốc gia mà lòng căm phẫn chưa nguôi vì những tội ác cũ của thực dân.

Sau cùng, ta cũng không nên quên những người Việt đã cộng tác với các giáo sĩ Bồ trong công trình La-tanh hoá chữ Nôm. Họ là ai, cuộc sống như thế nào, tương quan với các tu sĩ ngoại quốc như thế nào, ta hòan tòan không biết hay chưa biết thấu đáo. Ta chỉ biết họ phần đông là giáo dân, đúng đắn thấy được giá trị tâm linh của đạo Chúa để gửi đức tin, mặc dù sự cấm đạo không sáng suốt của vua quan ta bấy giờ, cũng như sự cẩu thả của những văn bản như Phép Giảng Tám Ngày của Rhodes.

Cuộc đời của mỗi đồng bào ruột thịt ấy là một cuốn tiểu thuyết về thân phận con người giằng co giữa những thử thách của đức tin, lương tâm, xã hội và lịch sử. Là dân bản xứ phục vụ trong cơ sở ngoại nhân, họ bị coi như nhân viên phụ thuộc trong công tác ngữ học của các giáo sĩ. Vậy mà trong mỗi ê-kíp phiên âm Bồ Việt, với mỗi chữ Nôm được đem ra đánh vần, tôi không ngạc nhiên nếu họ hiểu rõ ý nghĩa hơn, nghe và phát âm chuẩn hơn, so với đối tác ngoại quốc. Vì sự lãng quên của hòan cảnh, tên tuổi họ chưa được truy nguyên rõ ràng và công lao của họ chưa được ghi nhận đúng mức. Đã đến lúc trả cho César cái gì của César, và một Đại học Ngôn Ngữ chân chính phải tìm hiểu cho rõ danh tánh cũng như công lao của những người Việt tiên phong trong công cuộc phiên âm chữ Nôm ra vần La-tanh.

Tôi có bệnh lạc quan kinh niên và những ước vọng không mệt mỏi cho tương lai Việt ngữ. Tôi thấy trong tương lai gần một trường cao đẳng ngôn ngữ quốc gia được thành lập. Trường có một đội ngũ học giả có khả năng quốc tế, chuyên về những vấn đề liên quan đến tiếng Việt trước cũng như sau Quốc ngữ.

Nhìn trong khuôn khổ hẹp của bài này, cơ sở ấy sẽ đánh giá bằng cái nhìn phi chính trị, phi cảm tính, và nếu cần phi hận thù, phần công lao của các nhà tiền phong Việt cũng như Bồ hay Pháp trong việc La-tanh hoá chữ Nôm...

Nhìn rộng ra thì cơ sở ấy sẽ là điểm phát xuất những trao đổi lưỡng lợi và rộng  rãi với các cơ sở quốc tế như Trường Ngôn Ngữ Á Đông của Pháp hay một cơ sở tương đương của Bồ Đào Nha, hay văn khố Hội Truyền Giáo Paris cũng như văn khố giáo hội Lisbonne... Những luận án giá trị do sự cố gắng quốc gia hay sự cộng tác quốc tế sẽ ra đời, về những tác phẩm đầu tiên viết bằng Quốc ngữ tại vùng thuộc địa Nam Kỳ hay vùng Bảo Hộ Trung và Bắc Kỳ, về những suy ngẫm đối chiếu hai ngôn ngữ Bồ Việt, từ ngữ vựng tới văn phạm, từ sự giống nhau hay khác nhau của linh hồn hai dân tộc qua tiếng nói, về chuyện lợi lạc của Quốc ngữ trong việc chống nạn mù chữ, hay chuyện thiệt thòi vì bỏ chữ Nôm mà mất liên lạc với văn học Tàu cùng với kho tàng dịch thuật đồ sộ người Tàu đã thực hiện từ cuối nhà Thanh tiếp nối bởi chế độ Dân Quốc cho đến bây giờ... Đó là những bông hoa sẽ nở trong vườn văn học và nhân văn đất nước.

Mai Kim Ngọc




Alexandre de Rhodes và chữ Quốc Ngữ

Alexandre de Rhodes và chữ Quốc Ngữ

Bài phát biểu của GS Nguyễn Lý-Tưởng trong Đại Lễ Văn Hóa Tạ Ơn.

Kính thưa quý vị,

Trước hết, tôi xin cám ơn nhà truyền thông Quốc Nam và Ban Tổ Chức cho phép tôi được phát biểu về đề tài “Alexandre de Rhodes và chữ Quốc Ngữ” trước quý vị trong Hội Trường này, ngày hôm nay.

Đề tài của tôi trình bày có hai phần:

(1) Về cuộc đời hoạt động của Alexandre de Rhodes, người được xem là có công trong việc hình thành chữ Quốc Ngữ mà chúng ta sử dụng ngày hôm nay

(2) Tiến trình hình thành chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự la tinh…

Thời gian trinh bày trong vòng 15 phut nên nội dung chỉ giới hạn trong phạm vi Alexandre de Rhodes và chữ Quốc Ngữ (thời khai sinh) chứ không nói rộng ra về nhiều lãnh vực khác liên quan đến chữ quốc ngữ (trong phạm vi văn học cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20)

Kính thưa quý vị,

Trước khi giới thiệu phần tài liệu có liên quan đến hai vấn đề nêu trên, chúng tôi xin đặt câu hỏi: Chữ Quốc Ngữ là gì? Chúng ta hiểu “chữ Quốc Ngữ” như thế nào?

Thi sĩ Tản Đà, được xem là thi bá vào những năm đầu thế kỷ 20, đã hô hào người Việt Nam chúng ta phải học “Chữ Quốc Ngữ” và ông đã gọi Chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự la tinh mà ngày nay chúng ta đang sử dụng là “chữ nước ta” nghĩa là chữ của người Việt Nam chúng ta để phân biệt với chữ Hán là chữ của người Tàu (người Hoa) mà tổ tiên chúng ta hàng ngàn năm đã sử dụng. Tản Đà gọi chữ Quốc Ngữ hiện nay là “chữ nước ta”, là “chữ của người Việt Nam” và tất nhiên “chữ Hán” không phải là chữ của người Việt Nam, đó là chữ của người Hoa, người phương Bắc, người Tàu, mà ai cũng biết.

Vậy, trước khi có chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự la tinh mà chúng ta đang sử dụng thì tổ tiên chúng ta có một thứ chữ nào khác (không phải là chữ Hán) hay không?

Tôi xin trả lời dứt khoát là không có (hay nói cách khác là chúng ta chưa tìm ra được bằng chứng chắc chắn đã có một thứ chữ nào khác ngoài chữ Hán được gọi là “chữ nước ta”). Chữ Nôm xuất hiện thời nhà Trần là một thứ chữ được mượn từ chữ Hán, một thứ chữ do nhiều chữ Hán ghép lại, rất rắc rối và chưa được thống nhất. Muốn đọc được chữ Nôm thì phải học chữ Hán trước. Các triều đại Việt Nam đã dùng chữ Hán là văn tự chính thức để dạy cho dân, để thi cử, để viết sách vở, ghi chép lịch sử và văn tự có giá trị luật pháp (nghĩa là văn tự viết bằng chữ Hán mới có giá trị luật pháp: ví dụ viết một giấy vay nợ, viết một giấy bán nhà cửa, đất ruộng, bán trâu bò,v.v…đều phải viết bằng chữ Hán…Các công văn, giấy tờ, thông báo,v.v. nói chung là giấy tờ hành chánh từ vua quan phổ biến cho dân hay từ dân trình bày lên vua quan,v.v…đều viết bằng chữ Hán. Dân học chữ Hán, thi cử bằng chữ Hán…Nhà nước tuyển chọn nhân tài ra làm việc trong bộ máy hành chánh của quốc gia (xưa gọi là làm quan giúp dân, giúp nước) đều căn cứ theo trình độ chữ Hán của người đó.

Ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1889-1939) là một nhà Nho, học chữ Hán, viết văn, làm thơ bằng chữ Hán, lều chõng đi thi, bài thi phải viết bằng chữ Hán…Khoa thi cuối cùng tại Miền Bắc vào những thập niên đầu của thế kỷ 20 , ông không đậu được cử nhân. Lúc đó phong trào học chữ quốc ngữ, nhà nước mở trường dạy chữ Quốc Ngữ, ông học chữ Quốc Ngữ (theo mẫu tự la tinh), ông bắt đầu viết văn, làm thơ bằng chữ Quốc Ngữ, (bút hiệu Tản Đà 1916) ông hô hào học chữ Quốc Ngữ. Người chịu khó học, chỉ vài tuần là đọc được; đọc được thì viết được, chữ gì cũng viết được, viết theo lối phiên âm, đồng âm mà khác nghĩa. Nhưng người Việt Nam chúng ta đều hiểu được hết. Nó khác với chữ Hán mà ông Tản Đà đã bỏ ra cả chục năm mới đọc được, viết được, hiểu được, vì mỗi chứ viết khác nhau, đồng âm mà dị nghĩa. Công phu học chữ Hán đến ngoài 20 tuổi mà đi thi không đậu. Bây giờ, ông học chữ Quốc Ngữ, thấy học quá nhanh, quá tiện lợi cho người Việt Nam chúng ta, nên ông hô hào:

“Chữ Quốc Ngữ,

Chữ Nước ta

Con cái nhà

Đều phải học…”

Kính thưa quý vị,

Vừa rồi, tôi đã nói về ý nghĩa chữ Quốc Ngữ theo định nghĩa của Ông Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu mà ai cũng đồng ý đó là chữ nước ta, chữ của người Việt Nam. Vậy ai là người đã đặt ra chữ Quốc Ngữ mà chúng ta đang sử dụng hiện nay?

I. Cuộc đời hoạt động của Alexandre de Rhodes:

Nhiều người cho rằng chính Alexandre e Rhodes là người đặt ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam vì họ căn cứ vào hai tác phẩm đầu tiên xuất bản tại Roma vào năm 1651 tác giả là Alexandre de Rhodes: đó là cuốn Từ Điển Việt-Bồ-La và cuốn Phép Giảng Tám Ngày Cho Kẻ Muốn Chịu Phép Rửa Tội Mà Vào Đạo Thánh Đức Chúa Trời.

Xin nhắc lại, trước Alexandre de Rhodes, chưa có tác giả nào viết thành sách vở bằng thứ tiếng Việt theo mẫu tự la tinh, do đó, người ta tin rằng Alexandre de Rhodes chính là người đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ Việt Nam, cũng có người tin rằng ông là người đầu tiên làm việc này. Trước khi đặt vấn đề có phải Alexandre de Rhodes là người đầu tiên đặt ra chữ Quốc Ngữ hay không? Trước tiên, xin hãy tìm hiểu về cuộc đời (hay cuộc đời hoạt động) của ông này…

Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon năm 1591, Avigon là lãnh thổ thuộc Giáo Hoàng, không phải là nước Pháp. Năm 1612, khoảng 20 tuổi, ông vào tu Dòng Jesuiste (tức dòng tên Đức Chúa Giêsu, sách vở tiếng Việt thường gọi là Dòng Tên). Năm 1619, từ Lisbonne ông lên đường đi đến xứ Đông Dương (Indochina), sau khi ghé nơi này, nơi khác, ông đến trụ sở Dòng Tên tại Macao năm 1623  và năm 1624, ông được sai đến xứ Đàng Trong (ở tại trụ sở Dòng Tên thuộc Hội An để học tiếng Việt). Khoảng 1626, ông theo bề trên là Linh Mục Pêro Marquez ra truyền giáo ở Đàng Ngoài, hoạt động được chừng 3,4 năm (1627-1630) thì bị chúa Trịnh trục xuất phải trở về Macao. Ôn sống ở Macao được 10 năm (1630-1640) vừa hoạt động truyền giáo, vừa nghiên cứu tiếng Việt. Sau đó, ông được gửi trở lại truyền giáo ở xứ Đàng Trong hoạt động trong vòng 5 năm (1640-1645) thì bị chúa Nguyễn trục xuất. Cuối năm 1645, ông lên tàu đi Âu Châu, đến Roma. Thời gian ở Roma, ông cho xuất bản hai cuốn sách tiếng Việt vào năm 1651 như đã nói trên. Từ 1652-1654, ông sống tại Pháp, sau đó ông theo đoàn truyền giáo đi Ba Tư, ngụ tại Ispahan và qua đời vào năm 1660, hiện còn ngôi mộ của ông tại đây.

Xin lưu ý một điều này, Alexandre de Rhodes sinh tại Avignon là vùng nói tiếng Pháp, nhưng chữ Quốc Ngữ thì lại sử dụng cách chuyển âm của tiếng Bồ Đào Nha, cách đọc 24 chữ cái tiếng Việt bây giờ là cách đọc của tiếng Bồ, không phải tiếng Pháp. Điều đó giúp cho chúng ta hiểu tiếng Việt (chữ Quốc Ngữ) là từ các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha. Alexandre de Rhodes vào tu tại Lisbonne là thủ đô của nước Bồ Đào Nha và đi theo các nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha vào Việt Nam (Đàng Trong rồi Đàng Ngoài) vào những thập niên đầu của thế kỷ 17. Cuốn Từ Điển đầu tiên của ông là “Việt-Bồ-La” không dính dáng gì đến tiếng Pháp. Lúc đó, các nhà truyền giáo người Pháp chưa có mặt tại Việt Nam.

Trong sách “Les missionnaires portugais et les débuts de L’Eglise catholique au Viêt-nam” (Các nhà truyền giao Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo Hội Công giáo Việt Nam) do Tiến Sĩ Roland Jacques (một Linh Mục người Pháp sinh 1943 tại Lorraine, Pháp) xuất bản năm 2004, được dịch ra tiếng Việt mà tôi được hân hạnh là người giới thiệu sách này tại Trung Tâm Công Giáo VN giáo phận Orange…đã cho biết các chi tiết về cuộc đời hoạt động của Alexandre de Rhodes, như tôi vừa giới thiệu trên đây…Tác giả Roland Jacques đã cho biết khi mới đến Hội An năm 1624, Alexandre de Rhodes đã học tiếng Việt với một giáo sĩ tên là Di Pina, người Bồ Đào Nha. Di Pina sinh 1585 đến Việt Nam 1617 ở Hội An và Quy Nhơn, bị tai nạn chìm thuyền chết trên biển ngày 15-12-1625 khi mới 40 tuổi, là người rất giỏi tiếng Việt…

Đặt vấn đề: Có phải Alexandre de Rhodes là người đầu tiên đặt ra chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự La-tinh hay không? Xin thưa: mặc dù ông là tác giả hai tác phẩm tiếng Việt đầu tiên là cuốn Tự Điển…và cuốn sách “Phép Giảng Tám Ngày…” nhưng việc hình thành chữ Quốc Ngữ không phải là công trình của một cá nhân ông mà do nhiều người và đã trải qua một thời gian dài từ giữa thế kỷ 17 đến giữa thế kỷ 19, khoảng 200 năm mới hoàn chỉnh như ngày hôm nay. Như chúng tôi đã nói ở trên: Linh Mục Di Pina (1685-1625) là người đã dạy cho Alexandre de Rhodes học tiếng Việt, tất nhiên chúng ta phải hiểu rộng ra rằng Di Pina cũng là người đã tham gia vào việc đặt ra chữ quốc ngữ… Ngoài ra còn có nhiều người Việt Nam khác vào thời đó đã cộng tác với các nhà truyền giáo người Bô Đào Nha, và Alaxandre de Rhodes…

II. Tiến trình hình thành chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự latinh.

Do nhu cầu truyền giáo, các giáo sĩ phải tìm cách phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự latinh để học tiếng Việt, để ghi chép tiếng Việt theo cách phiên âm của họ chứ không thể học thuộc lòng chữ Hán hay chữ Nôm (vì khó nhớ)…Sau khi đã có chữ Quốc ngữ tiếng Việt, họ in kinh sách bằng tiếng Việt (chữ Quốc Ngữ) và truyền bá chữ này cho người Việt (các Linh Mục, các tu sĩ người Việt và giáo dân) để học kinh, học giáo lý, thư từ liên lạc trong nội bộ người Công giáo với nhau. Giữa thế kỷ 19, có một người Việt Nam tên Nguyễn Văn Bỉnh quê ở Thanh Hóa, linh mục thuộc Dòng Tên, đã đến Roma yết kiến Đức Giáo Hoàng… Ông đã sống tại Lisbonne nước Bồ Đào Nha và đã viết lại một quyển sách hồi ký kể lại các hoạt động của ông từ khi còn ở Việt Nam cho đến khi qua làm việc tại Âu Châu. Ông viết bằng tiếng Việt thế kỷ 19 (chưa được hoàn chỉnh như tiếng Việt bây giờ). Khoảng 1965, Đại học Đà Lạt đã cho chụp hình và in lại sách này. Sau khi xứ Nam kỳ bị Pháp chiếm và hoàn tất việc tổ chức cai trị  (1868), Pháp cho dạy chữ Quốc Ngữ tại các trường học và cho phát hành sách báo bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Các nhà trí thức Tây học như Trương Vĩnh Ký (1837-1898), Huỳnh Tịnh Của (1834-1907),Trương Minh Ký (1855-1900).v.v. cho phát hành sách báo tiếng Việt, cổ võ học chữ quốc ngữ… Các nhà thờ Công giáo lập nhà in, in sách kinh, sách giáo lý, sách học tiếng Việt…Gia Định Báo (1865-1910) do Trương Vĩnh Ký phụ trách được xem là lâu đời nhất (sau 1865…) Văn chương tiếng Việt, chữ quốc ngữ thịnh hành trong Nam ảnh hưởng tới ngoài Bắc nhất là trong giới Công gíao. Sau Trương Vĩnh Ký phải kể đến nhà văn Hổ Biểu Chánh (1885-1958), vào những năm đầu thế kỷ 20 nổi tiếng về viết tiểu thuyết tiếng Việt tại Nam Kỳ. Năm 1915, sau khi vua Việt Nam tuyên bố bãi bỏ các kỳ thi bằng chữ Hán và chủ trương dạy chữ quốc ngữ trong các trường học tại miền Trung và miền Bắc, lúc đó phong trào viết văn viết báo và truyền bá chữ quốc ngữ mới thịnh hành tại Hà Nội và các tỉnh Miền Bắc. Các nhà Nho chủ trương duy tân lập ra Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) vào đầu thế kỷ 20 và các nhà Tây học như  Nguyễn Văn Vĩnh (Đông Dương Tạp Chí 1913-1919), Phạm Quỳnh (Nam Phong Tạp Chí 1917-1934) v.v. cho xuất bản các sách, báo tiếng Việt …lúc bấy giờ dân Bắc Kỳ, Trung Kỳ mới chịu bỏ chữ Hán qua học chữ quốc ngữ…Khoảng 1930, nhóm Tự Lực Văn Đoàn (1930-1945) ra đời do Nhất Linh, Hoàng Đạo, Khái Hưng,v.v…với lối văn gọn gàng, sáng sủa đã giúp cho tiếng Việt thêm phong phú…So với xứ Nam Kỳ thì phong trào học chữ quốc ngữ tại Miền Bắc và Miền Trung đã đi sau Miền Nam khoảng 50 năm. Sau năm 1945, phong trào học tiếng Việt, phong trào bình dân học vụ, xóa nạn mù chữ , phổ biến từ Nam chí Bắc. Đặc biệt sau, 1954, tại miền Nam, báo chí, sách vở tiếng Việt phát triển rầm rộ… Chỉ trong vòng một thế kỷ sử dụng chữ quốc ngữ mà người Việt Nam bây giờ đã có một kho tàng văn học tiếng Việt gấp trăm, gấp ngàn lần sách vở viết bằng chữ Hán của cả ngàn năm từ thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn để lại.

Sau 1975, tại hải ngoại cũng có phong trào học chữ quốc ngữ, bảo vệ tiếng Việt, xuất bản sách báo tiếng Việt…đã tạo nên một nên văn học Việt Nam hải ngoại…

Từ giữa thế kỷ thứ 19 trở về trước, Việt Nam cũng như Triều Tiên, Nhật Bản đều dùng chữ Hán để giao thiệp, ghi chép sử sách, học hành, thi cử,v.v…Từ năm 1868, khi Minh Trị Thiên Hoàng lên lãnh đạo nước Nhật, bắt đầu duy tân, cải cách thì mới đặt ra tiếng Nhật để thay thế chữ Hán; nước Triều Tiên (hay Cao Ly) bây giờ là Hàn quốc…cũng vào hậu bán thế kỷ 19 mới có chữ quốc ngữ của mình. Tại nước Tàu (Trung Hoa) mãi đến sau cách mạng Tân Hợi 1911 mới sử dụng bạch thoại, quan thoại hay tiếng phổ thông là tiếng nói của người Bắc Kinh và văn mới (tức văn bạch thoại là ngôn ngữ của giới bình dân) thay thế cho cổ văn (Hán tự) là văn chương của giới thượng lưu trí thức …Chữ Hán vốn là chữ của người Hoa ở Trung nguyên được Tần Thủy Hoàng sử dụng để thống nhất văn tự cho lục quốc sau khi nhà Tần thống nhất Trung Hoa. Cho đến bây giờ, người Hoa mỗi vùng vẫn nói tiếng khác nhau và đọc chữ Hán khác nhau, do đó, sau cách mạng Tân Hợi (1911) thời Tôn Dật Tiên và Tưởng Giới Thạch ra lệnh dạy tiếng Bắc Kinh cho cả nước gọi là tiếng phổ thông hay tiếng quan thoại. Người Việt Nam cũng học chữ Hán và cách đọc chữ Hán của người Việt Nam khác với cách đọc hay nói của người Hoa. Do đó, trong ngôn ngữ Việt Nam có nhiều chữ Hán (chúng ta thường gọi là tiếng Hán Việt vì nó đã thành tiếng Việt như quốc gia, xã hội, gia đình, tổ quốc, dân tộc…là tiếng Việt chúng ta nói thường ngày…) Học chữ Hán rất khó, chữ Nôm lại càng khó hơn…nhưng học chữ quốc ngữ thì quá dễ, một vài tuần là đọc được, viết được…Thời Mao Trạch Đông, đặt ra “đơn giản tự” phổ biến cho toàn nước Tàu…Đơn giản tự là chữ Hán viết tắt, ít nét hơn, dễ học hơn chữ Hán…Nhưng người học đơn giản tự rồi thì không đọc được cả triệu quyển sách văn chương, triết học, khoa học, lịch sử của người xưa để lại (viết bằng chữ Hán). Tiếng phổ thông là tiếng nói của người Hoa bây giờ khác với văn chữ Hán ngày xưa gọi là cổ văn. Trình độ tiểu học, trung học không thể hiểu được cổ văn (văn chương chữ Hán xưa)…Do đó, tiếng Tàu, chữ Tàu còn nhiều điều rắc rối. So với chữ quốc ngữ của Việt Nam chúng ta, ai học cũng được, nói sao thì viết như vậy…Nhờ chữ quốc ngữ, chúng ta học qua tiếng Anh, tiếng Pháp dễ dàng (vì cùng mẫu tự latinh). Nhờ chữ quốc ngữ mà dân tộc Việt Nam chúng ta tiến bộ rất nhanh, từ Nam chí Bắc thông tin với nhau quá dễ dàng chứ không rắc rối như các dân tộc Á Đông. Tại Á Châu, chỉ có người Việt Nam chúng ta có chữ viết theo mẫu tự latinh, người Tàu, người Nhật, ngươi Hàn, người Thái, Lào, Kampuchia, Indonesia…đều dùng chữ riêng của họ, rất khó đọc, rất khó học.

Kết luận: Chúng ta cám ơn người đặt ra chữ Quốc Ngữ, chúng ta cám ơn các nhà truyền giáo với các bệnh viện, trường học, trại mồ côi và những công tác bác ái, từ thiện, rao truyền tình bác ái, huynh đệ trên đất nước chúng ta. Người Pháp xâm lăng chúng ta, cai trị chúng ta… nhưng quân xâm lăng khác với các nhà truyền giáo. Cùng đi trên một chuyến tàu đến nước ta, nhưng mỗi người một mục đích khác nhau. Chúng ta không vì thù ghét quân xâm lăng, quân cướp nước mà thù ghét luôn những nhà truyền giáo, những người đã tặng cho dân tộc chúng ta Chữ Quốc Ngữ…

Bổ túc:  Huỳnh Tịnh Của (1834-1897) là tác giả cuốn Đại Nam Quốc Âm Tự Vị xuất bản tại Saigon (1895-1896) và Giám Mục Taberd có xuất bản Tự Điển tên là Nam Việt – Dương Hiệp Tự Vị (tiếng La Tinh dịch ra tiếng Việt viết bằng chữ Nôm và chữ Quốc ngữ theo mẫu tự Latinh)… Giám Mục Jean Louis Taberd (1794-1840) làm Giám Mục tại Saigon (Nam Việt) từ 1830-1840) sách này dựa trên tài liệu của Giám Mục Pigneau de Behaine (thường gọi là Bá Đa Lộc) biên soạn từ 1773 để lại. Giám Mục Jean Louis Taberd là người hoàn tất khi còn ở bên Ấn Độ… Sách này ra đời sau Tự Điền Việt-Bồ-La của Alexandre de Rhodes… Các nhà làm tự điển sau này (thế kỷ 19, 20) đều tham khảo sách của Taberd.

NGUYỄN LÝ TƯỞNG (Westminster CA, Thứ 7 Ngày 7 Tháng 7 Năm 2018)

Trở Lại Vấn Đề: Alexandre de Rhôdes và Chữ Quốc Ngữ

(Riêng tặng tập thể Thánh Gia Ninh Cường - Bùi Chu)

Mấy điều sơ lược về lịch sử chữ viết và nguồn gốc chữ quốc ngữ

Các nhà nhân chủng học cho biết loài người đứng thẳng (homo erectus) đã có mặt trên trái đất từ 2 triệu năm trước. Loài người khôn ngoan (homo sapiens) mới xuất hiện 160 ngàn năm và tiến hóa thành loài người chúng ta hiện đại. Chắc chắn là loài người khôn ngoan (homo sapiens) đã biết dùng tiếng nói để thông tin với nhau từ nhiều chục ngàn năm trước, nhưng chữ viết của loài người thì chỉ mới được phát minh cách đây hơn 5000 năm mà thôi.

Theo các nhà khảo cổ thì chữ viết đầu tiên của loài người là chữ viết của dân tộc Sumer ở Babylon (phía nam Iraq ngày nay) được phát minh năm 3150 TCN , tức cách đây 5153 năm. Thoạt đầu, người Sumerians phát minh ra loại chữ tượng hình (pictographic / giống như chữ Hán) nhưng họ chỉ dùng loại chữ này một thời gian ngắn rồi bỏ đi vì loại chữ này bất tiện, khó nhớ, học chữ nào biết chữ đó nên mất rất nhiều thời gian học đọc và học viết. Họ sáng chế ra 18 ký hiệu thay cho 18 âm căn bản, rồi dùng các ký hiệu đó để ghi âm cho mọi tiếng khác. Các ký hiệu này trông giống như nêm cối (cunei) nên họ gọi loại chữ này là cuneiform (chữ viết hình nêm cối). Sự xuất hiện loại chữ Cuneiform năm 3150 TCN trở thành một dấu mốc quan trọng của lịch sử nhân loại, bởi vì tất cả những gì xảy ra trước năm 3150 TCN đều được gọi là thời tiền sử (prehistoric). Những người viết sử Sumerians là những người viết sử đầu tiên trên thế giới. Các tu sĩ Sumerians thu thập các chuyện thần thoại dân gian, viết thành sách, trong đó có các chuyện về Vườn Địa Đàng Gan-Eden (Archeology in the Land of the Bible – Abraham Negrey Shoken Books, NY 1977). .Trong nhiều thế kỷ trước Công nguyên, chữ Cuneiform và ngôn ngữ Sumerian trở thành ngôn ngữ giao dịch trong toàn vùng Trung Đông và Cận Đông, nền văn hóa của dân tộc Sumer được nhiều dân tộc quanh vùng theo Điển hình là đạo thờ bò El (Elohim) của Abraham (sinh trưởng tại UR thuộc Babylon) trở nên một tôn giáo phổ biến ở Do Thái và các nước Ả Rập. Câu chuyện thần thoại Vườn Địa Đàng của người Sumer trở thành rường cột của đạo Kitô và từ đó phát sinh ra lý thuyết về Tội Tổ Tông, về ơn cứu chuộc của chúa Kitô, về tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, vân vân và vân vân…Chuyện thần thoại Tamuz của Babylon là cha đẻ ra ý niệm về Chúa Cứu Thế của đạo Kitô (Babylon Mystery Religion – Ancient and Modern – Ralph Woodrow Evangelistic Association – Riverside, CA). Sự phát minh ra chữ viết là một biến cố vô cùng quan trọng trong lịch sử văn hóa nhân loại. Chữ viết là phương tiện chuyển tải phổ biến tư tường tới mọi người và lưu truyền tư tưởng qua nhiều ngàn năm. Nếu không có chữ viết, loài người sẽ không có lịch sử, không có văn hóa, không có triết học, khoa học, không có tiến bộ và thế giới ngày nay hoàn toàn khác ! Hơn 14 thế kỷ sau, đến đời nhà Thang (1700 TCN), người Trung Hoa phát minh ra chữ viết tượng hình, hình tròn, sau đó được đổi sang hình vuông và được hoàn chỉnh (thành chữ viết thông dụng ngày nay) trong thời nhà Hán (206 TCN – 220 sau CN), do đó được gọi là chữ Hán (Hán tự)

Năm 1600 TCN, người Hy Lạp phát minh ra một hệ thống ký hiệu ghi âm (a phonetic system of writing). Một thế kỳ sau, vào năm 1500 TCN, người Latinh (tức người La Mả cổ) mô phỏng ký hiệu ghi âm của Hy Lạp để sáng chế ra mẫu tự A,B,C,D,… (ta gọi là mẫu tự la tinh).

Những người đầu tiên có ý nghĩ la-tinh-hóa ngôn ngữ Á châu (gồm có tiếng Nhật, tiếng Tàu và tiếng Việt) là các tu sỉ dòng Tên (Jesuists) Bồ Đào Nha giảng đạo tại Á châu trong thề kỷ 17. Đây là một sự thật lịch sử hiển nhiên mà hầu như các nhà nghiên cứu văn hóa và giáo hội Công giáo Việt Nam, cũng như các giới chức thực dân Pháp (trước 1945) đã vô tình hay cố ý bỏ quên để chỉ đề cao một mình Alexandre de Rhôde như vị thánh tổ duy nhất đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ.

Ngày nay, nếu chúng ta chịu khó sưu tầm các tài liệu còn lưu trữ tại văn khố Dòng Tên tại La Mã, Madrid, Lisbone (“Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ” – trang 21 của Huỳnh Ái Tông – so sánh các bản lưu trữ mới thấy Alexandre de Rhôde chưa định chuẩn được cách phiên âm tiếng Việt. Các tài liệu khác của các bậc thầy Bồ Đào Nha của Alexandre de Rhôde như Christoforo Baris, Jao Ruiz, Gaspa Louis, Antonio de Fontes, Gasparo d’Amiral mới thấy phiên âm tiếng Việt của họ đã định chuẩn như chúng ta viết ngày nay – www.saomai.org).

Như vậy, việc tôn vinh Alexandre de Rhôde lên tận mây xanh hoàn toàn là một chuyện thần thoại hoang đường. Chữ quốc ngữ Việt Nam cũng không phải là chữ duy nhất “la tinh hóa” tại Á Châu ngày nay. Chữ Mã Lai và Indonesia (Nam Dương) cũng được La Tinh hóa trong thời kỳ thuộc địa. Tiếng Tagalog là một trong 168 ngôn ngữ của người Phi Luật Tân đã được la-tinh-hóa. Điều đáng chú ý là các chữ quốc ngữ la-tinh-hóa của Mã Lai, Nam Dương và Tagalog đều không có dấu rắc rối như chữ quốc ngữ của ta.

Vấn đề chữ quốc ngữ Việt Nam, các nhà văn hóa Việt Nam thực sự chưa thống nhất quan điểm xác nhận ai là tác giả đã phát minh ra nó. Ngoài ra còn một vấn đề khác không kém quan trọng, đó là: chữ quốc ngữ là một món quà tặng của ngoại nhân cho dân tộc Việt Nam hay chỉ là một chiến lợi phẩm do ta tịch thu của địch ?

Tôi đã viết bài bày tỏ ý kiến của tôi về những vấn đề trên dưới tựa đề “Dòng Tên, thánh Phanxico Xavier, cố đạo Đắc Lộ và chữ Quốc Ngữ”, tức chương 2, phần III trong cuốn “Công Giáo - Huyền Thoại và Tội Ác” của Charlie Nguyễn – Giao Điểm xuất bản Hè 2001 (trang 297-320). Phần cuối của bài viết này (từ đoạn viết về Phanxico Xavier) đã được đăng trong cuốn “Alexandre de Rhôde, người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc Ngữ” gồm 9 tác giả - Giao Điểm xuất bản năm 1998 (trang 160-166).

Tôi thiết nghĩ những điều trình bày trong các bài viết trên đã biểu lộ trọn vẹn quan điểm của tôi về chữ quốc ngữ, nên tôi tự thấy không còn điều gì để nói thêm về vấn đề này nữa. Tuy nhiên, gần đây có hai sự việc vừa mới xuất hiện trong giới gọi là “trí thức” Việt Nam làm tôi phải buộc lòng trở lại với vấn đề “Alexandre de Rhôde và chữ Quốc Ngữ”:

I.- Vấn đề thứ Nhất : Phải chăng các giáo sĩ thừa sai và các học sĩ Tống Nho là những người có công lớn với văn hóa Việt Nam ?

Houston, thành thố lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, với trên 100 ngàn người Việt định cư, ngày 15 tháng 6 năm 2003 vừa qua, tại nhà hàng Ocean Palace, một tổ chức mệnh danh là “Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam – Houston” long trọng tổ chức buổi lễ “VINH QUI” theo nghi lễ cổ truyền Việt Nam, để vinh danh 58 sinh viên nam nữ Việt Nam cư ngụ tại Houston đã tốt nghiệp trong năm 2003 tại các trường đại học Mỹ ( gồm đủ các phân khoa các ngành và thuộc các trường đại học ở khắp các tiểu bang Hoa Kỳ).

Điểm danh 58 tân khoa có hình in trên từng trang của tập kỷ yếu “VINH QUI – Vietnamese Traditional Ceremony Honoring Graduates 2003” (dày 114 trang khổ lớn, in trên giấy láng đẹp ngày 15-6-2003), tôi nhận thấy phần lớn là những thanh niên nam nữ trẻ tuổi, nét mặt khôi ngô rạng rỡ tươi vui với tinh thần lạc quan hướng về tương lai. Phần lớn họ đã tốt nghiệp thành bác sĩ y khoa, tiến sĩ dược khoa, kỹ sư các ngành, tiến sĩ âm nhạc. tiến sĩ sinh vật học, tiến sĩ sử học,… Nhiều người khác đậu bằng BBS, BBA về quản trị tài chánh, ngân hàng, v.v…

Nói chung, họ là những người đáng được cộng đồng chúng ta vinh danh. Tuy nhiên, trong số họ có một tên bất xứng lộn sòng không đáng vinh danh chút nào, đó là tên linh mục Đỗ Văn Lực, tốt nghiệp tiến sĩ thần học (PhD of Theology – 2003 - tại trường Houston Graduate School of Theology).

Tên Đỗ Văn Lực hiện đang hành nghề linh mục tại giáo xứ Đức Mẹ La Vang tại Houston. Thần học Công Giáo một môn học đáng khinh bỉ dựa trên một thần thuyết loạn luân cực kỳ ngu xuẩn, phản khoa học. Vậy việc vinh danh tên linh mục “tiến sĩ thần học” Đỗ Văn Lực thuộc giáo xứ La Vang trong lễ Vinh Qui ngày 15-6-2003 vừa qua của TTVHVN-Houston phải được coi là một sự lầm lẫn đáng tiếc. Đó là một vết đen văn hóa của cái tổ chức tự xưng là TTVHVN-Houston, nhưng thật sự nó đang nhằm phá hoại văn hóa Việt Nam.

Hành vi phá hoại văn hóa Việt Nam thứ hai là thuyết trình viên của TTVHVN-Houston đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong buổi lễ là: “Các giáo sĩ thừa sai và các học sĩ Nho học là những người có công với văn hóa Việt Nam !!!”

A.- Các giáo sĩ thừa sai là ai ? TTVHVN-Houston hết lời ca ngợi những giáo sĩ thừa sai dã sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Thật sự qúi vị đã nghiên cứu về chữ quốc ngữ rất phiến diện. Qúi vị đã không suy xét rốt ráo về tội ác của bọn giáo sĩ thừa sai là phá hủy văn hóa cổ truyền Việt Nam để thay bằng văn hóa Công giáo độc tôn. Linh mục Trần Thái Đỉnh đã đưa ra một nhận định rất sáng suốt như sau: “Tiêu diệt các tôn giáo khác để tôn giáo mình độc trị, tiêu diệt văn hóa bản địa cho văn hóa Công giáo độc diễn, tiêu diệt sinh lực của các dân tộc chậm tiến để các thế lực đế quốc thực dân xâm lăng. Đó là truyền thống của Vatican” (Xin đọc “Cái nhìn về Phật Giáo trong Phép Giảng Tám Ngày” – Kitô giáo từ thực chất đến huyền thoại - nhiều tác giả, nxb Văn Hóa – USA 1996)

Nghiên cứu lịch sử thế giới, học giả Mac Kher đã viết : “Sự tiến tới của Kitô giáo tại Âu Châu, Mỹ Châu, Úc Châu và phần lớn Phi Châu luôn luôn dẫn tới sự tiêu diệt hoàn toàn các tôn giáo đa thần và các nền văn hóa tiền-kitô” (The advent of Christianity in Europe, America, Australia and large parts of Africa always led to the elimination of the pre-Christian polytheistic religions and cultures)

Bọn truyền giáo Tây Ba Nha là thủ phạm tiêu diệt các nền văn hóa Aztec, Inca của người Da Đỏ tại Mỹ Châu trong thế kỷ 16 và 17.

Tội ác lớn nhất về văn hóa của giáo hội Công giáo La Mã là đã hủy diệt toàn bộ các sách khoa học, triết học, toán học rất tiến bộ của Hy Lạp trong các thế kỷ 3~5 khiến cho nền văn minh của nhân loại bị lùi lại 10 thế kỷ (Deceptions and Myths of the Bible – by Lloyd Graham – A Citadel Press Book 1991 - pp. 294, 448, 450).

Riêng đối với lịch sử Việt Nam, Alexandre de Rhôde phải được coi là kẻ thù số một vì chính y là kẻ đầu tiên có sáng kiến lập ra hội Thừa Sai Paris và cũng là người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam. Sử gia Pháp là ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà Nội năm 1930 đã viết: “Vai trò của Alexandre de Rhôde trong việc thành lập hội Thừa Sai Paris đã đưa giáo hội Công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ Đào Nha, đã đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương – pages 16-17. (“Sự Du Nhập đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19” của giáo sư Nguyễn Văn Kiệm - Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam – Hà Nội 2000 – trang 123). Phê bình về Alexandre de Rhôde và các giáo sĩ thừa sai, giáo sư Kiệm (sách dẫn chiếu, trang 300-301) viết: “Các giáo sĩ thừa sai, trong đó có Alexandre de Rhôde, dẵ gây nên một cú sốc lớn đối với đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc ta… làm băng hoại nền tảng của cộng đồng. Họ mang mặc cảm tự cao cho rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo hoàn vũ, cao siêu hơn bầt cứ tôn giáo nào khác …. Do đó, họ coi các tôn giáo truyền thống bản địa đều là thấp kém, man muội cần phải xóa sạch để thay thế bằng Cơ Đốc giáo. Sự cấm đạo của nhà cầm quyền Việt Nam và tâm lý bất hòa giữa lương giáo trong dân chúng còn kéo dài đến ngày nay chính là những phản ứng tất nhiên chống lại sự xúc phạm đó và đồng thời là một hành động tự vệ chính đáng của một dân tộc đã có một nền văn hóa định hình và một ý thức tự tôn dân tộc cao.

Trên đây chỉ là mấy nét đại cương về tội ác của bọn giáo sĩ Tây phương đối với dân tộc Việt Nam nói chung, và đối với văn hóa của dân tộc ta nói riêng. Xin đọc thêm tác phẩm “Alexandre de Rhôde, người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt Nam và chữ Quốc Ngữ” 9 tác giả - Gia Điểm xuất bản 1998 – và bài viết “Hồ Sơ Tội Ác của hội Thừa Sai Paris và Giáo Hội Công Giáo Việt Nam trong lịch sử mất nước hồi cuối thế kỷ 19” của Charlie Nguyễn - tháng 8, 2003 (www.giaodiem.com).

B.- Các Học Sĩ là ai ? Học sĩ là những người đỗ đạt những bằng cấp Hán học ngày xưa tại nước ta, thịnh hành từ đời Hậu Lê (1428-1527). Kể tử thời Hậu Lê, chính sách của triều đình Việt Nam là loại bỏ tinh thần “tam giáo” để chỉ đề cao vai trò độc tôn của Nho giáo và Hán học mà thôi. Do chính sách đó, xã hội Việt Nam xuất hiện một giai cấp trí thức Hán học được gọi là Học sĩ. Họ trở thành những phần tử trí thức với tinh thần vọng ngoại, luôn luôn coi các bậc thầy Trung Quốc là những khuôn vàng thước ngọc cho mọi vấn đề trong cuốc sống của họ. Từ tinh thần vọng ngoại, họ rất dễ dàng trở thành những kẻ “ỷ ngoại”, thích dựa vào sức mạnh của ngoại bang và cuối cùng họ đã đi theo giặc phản bội tổ quốc (trường hợp Lê Chiêu Thống). Chính sách sai lầm về văn hóa của thời Hậu Lê đã mau chóng đưa dân tộc ta đến chỗ suy tàn. Đó chính là quốc nạn “Trịnh Nguyễn phân tranh” kéo dài 259 năm (1527-1786) đưa đất nước đến gần thảm họa diệt vong với bao cảnh điêu linh loạn lạc, với núi xương sông máu của thảm cảnh nồi da sáo thịt.

Giới học sĩ Tống nho tiếp tục là một giai cấp trí thức rường cột của các triều đình nhà Nguyễn. Chế độ độc tài văn hóa và tư tưởng giáo điều gò bó của tầng lớp học sĩ thống trị xã hội Việt Nam từ thời Gia Long, qua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức cho đến Bảo Đại. Chính sách này đã tạo ra những bọn “học sĩ bán nước” như cha con Ngô Đình Khả, Ngô Đình Diệm. Họ đều là những quan đại thần của nhà Nguyễn rất nặng đầu óc Tống nho cổ hủ, lại cộng thêm tinh thần giáo điều độc tôn của Công giáo thời Trung Cổ. Cho nên chính sách của Diệm (1954-1963) là chính sách độc tài, phi nhân và phi dân tộc.

Tinh thần học sĩ Tống Nho là tinh thần nô lệ tư tưởng ngoại lai. Từ “vọng ngoại” đến “sợ ngoại” và cuối cùng là đem mạng sống toàn dân trao cho ngoại bang. Ngày 18-12-1960, Hội đồng Giám mục Việt Nam và toàn thể chính phủ Việt Nam Cộng Hòa do Ngô Đình Diệm cầm đầu đã long trọng tổ chức Lễ “Dâng Tổ Quốc Việt Nam cho Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội Đức Mẹ”, thực chất là dâng tổ quốc Việt Nam cho Vatican, con bạch tuộc của chủ nghĩa Đế Quốc Tinh Thần. Một việc làm thật ngu xuẩn của nhà Ngô và Hội đồng Giám mục Việt Nam, mặc dầu họ biết rõ là hơn 90% dân chúng không theo tôn giáo của họ.

Ngày nay, ông Nguyễn Trần Qúi, tổng thư ký và nhóm chủ trương “Trung Tâm Văn Hóa Việt Nam” (gồm 13 người tại Houston) đã lưu manh núp dưới danh nghĩa Văn Hóa Việt Nam để phá hoại Văn Hóa Việt Nam bằng cách đầu độc tinh thần giới trẻ Việt Nam trong buổi lễ Vinh Qui vừa qua bằng cách gieo vào đầu óc họ cái ý tưởng sai lầm nguy hiểm: “Giáo sĩ thừa sai và học sĩ Tống Nho là những người có công với văn hóa Việt Nam”. Điều đáng buồn là trong danh sách Ban Cố Vấn của TTVHVN-Houston có tên: bác sĩ Hoàng Xuân Chỉnh, cựu giáo sư Đại Học Y Khoa Saigon và Huế; giáo sư Mai Văn Lễ, cựu giáo sư Đại Học Luật Khoa Saigon và Huế; nhà văn Doãn Quốc Sỹ, cựu giáo sư Đại Học Văn Khoa Saigon.

Qúi vị đều là những khuôn mặt văn hóa nổi tiếng tại Việt Nam trước 1975 và tại hải ngoại sau này. Nhưng điều đáng tiếc là qúi vị đã vì cả nể nên đã bị đám học trò bất lương lợi dụng danh nghĩa qúi vị và đem qúi vị ra làm bình phong che đậy hành động bất chính của chúng.

Tôi cũng tự hỏi: Phải chăng ông Tổng Thư Ký Nguyễn Trần Qúi và đa số trong thành phần của nhóm chủ trương là những tín đồ Công giáo cuồng tín … nên mới có những hành động phá hoại văn hóa Việt Nam một cách mù quáng như vậy. Thật đáng tiếc !

II.- Vấn đề kế tiếp : Phải chăng chữ Quốc Ngữ là sự đóng góp vô cùng lớn lao của Giáo hội Công giáo Việt Nam cho dân tộc Việt Nam và chúng ta phải biết ơn GHCGVN là người đã sáng tạo ra nó ?

Trong “Thánh Gia Bản Tin” số 41 và trên trang nhà của Tập Thể Thánh Gia (www.angelfire.com/rnb/thanhgia) có đăng bài “Cảm Ơn Chữ Quốc Ngữ” của một thành viên Thánh Gia là anh Nguyễn Dương An ở Việt Nam. Nguyên văn như sau :

Cảm ơn chữ Quốc Ngữ !

Tôi đã đọc nhiều tài liệu chống đối và bài bác Giáo Hội Công Giáo VN, và gần đây, tôi cũng đọc được những bài như vậy trên trang web của Giao Ðiểm. Theo các tác giả đó, Giáo Hội Công Giáo VN không đem lại cho dân tộc VN một lợi ích gì, ngược lại, còn làm hại cho nền văn hóa, cho phong tục, cho đời sống xã hội của dân tộc VN, tóm lại, chỉ làm hại mà thôi..

Có một điều làm tôi rất ngạc nhiên : tất cả những bài đó đều viết bằng chữ Quốc Ngữ, là thứ chữ do một linh mục Công Giáo sáng lập từ mẫu tự Latin. Chính nhờ có thứ chữ Quốc Ngũ này mà những tác giả đó có thể viết bài chống đối GHCGVN, cũng như dùng chữ Quốc Ngữ này để truyền bá tư tưởng của mình đến cho đồng bào VN. Những tác giả này đang tận dụng một trong những ích lợi lớn lao mà GHCGVN đem lại cho dân tộc VN. Thế mà họ dám lớn tiếng phủ nhận sự đóng góp của GHCGVN cho dân tộc VN !!! Phải chăng những tác giả này không biết nguồn gốc của chữ Quốc Ngữ ? Do đó, họ đã tự mâu thuẫn với họ. Nếu đúng như vậy thì kiến thức của họ còn non dại quá ! Mỉa mai thay !

Mỗi khi anh viết một chữ Quốc Ngữ là anh đã nhắc lại sự đóng góp vô cùng quý báu của GHCGVN cho dân tộc VN, anh không biết điều đó sao ?

Nếu muốn phủ nhận những đóng góp của GHCGVN cho dân tộc VN thì các tác giả đó đừng dùng chữ Quốc Ngữ nữa, hãy dùng một thứ chữ khác. Bắt chước các vua nhà Nguyễn, các chiếu chỉ cấm Ðạo đều được viết bằng chữ Hán (cũng gọi là chữ Nho), không có cái nào viết bằng chữ Quốc Ngữ ! Có làm được như vậy không ? Tôi mong chờ sự “hiểu biết” một cách hợp lý của các tác giả đó !

Nguyễn Dương An

Chúng ta thường nói “cám ơn Trời Phật”, “cám ơn Chúa”, hoặc cám ơn người này người khác, chứ không bao giờ lại nói cám ơn một vật vô tri vô giác như “cám ơn chữ Quốc Ngữ” ! Đáng lý phải nói là cám ơn người đã sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ thì mới có ý nghĩa.

Theo Nguyễn Dương An thì chữ Quốc Ngữ là thứ chữ do một một linh mục Công giáo sáng lập từ mẫu tự la-tinh. Hẳn ý bạn muốn nói đến linh mục Alexandre de Rhôde là người đã sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ. Nhưng rõ ràng Alaxandre de Rhôde là một người Pháp, chứ có phải là một người Công giáo Việt Nam đâu, mà anh dám nói chữ Quốc Ngữ là công lao của Giáo hội Công giáo Việt Nam đóng góp cho dân tộc Việt Nam ?

III.- Chữ Quốc Ngữ đã được sáng tạo trong khuôn khổ chiến lược xâm lăng Á Châu của Bồ Đào Nha trong thế kỷ 17.

Từ thế kỷ 15, kỹ nghệ đóng tầu của Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha đã đạt được nhiều tiến bộ mới. Nhờ có súng hỏa mai và kỹ thuật hàng hải, nhiều nhà thám hiểm Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha đã thực hiện được những cuộc viễn du làm thay đổi lịch sử nhân loại:

1.- Christopher Columbus tìm ra Châu Mỹ năm 1492

2.- Vasco de Gama là người đầu tiên vượt mũi Hảo Vọng ở cực Nam châu Phi tới Ấn Độ năm 1497.

3.- Alvarez Cavral vượt qua Đại Tây Dương tìm ra Brazil năm 1500.

4. Alfonso de Albuquerque vượt qua Ấn Độ Dương năm 1503, chiếm tỉnh Goa của Ấn năm 1510, chiếm Malacca năm 1511 để mở đường cho Bồ Đào Nha tiến vào Trung Quốc và Nhật Bản. Chính sự kiện này đã làm nảy sinh tham vọng của Bồ Đào Nha là xâm lăng toàn bộ Á Châu.

Chiến lược của Bồ Đào Nha trong thế kỷ 16 là trước hết phải chiếm Trung Hoa và Nhật Bản làm thuộc địa, đồng thời biến hai nước này thành hai nước Công giáo, để từ đó sẽ chinh phục toàn Á Châu theo thế cờ domino. Do đó, vào cuối năm 1511, hạm đội Bồ Đào Nha đã rời Malacca tiến lên phía Bắc gần Macao để yểm trợ cho các nhà truyền giáo thuộc dòng Tên Bồ Đào Nha đang hoạt động tại Nhật và Trung Quốc. Tuy nhiên, chiến lược xâm lăng và truyền đạo của Bồ Đào Nha tại Á Châu trong thế kỷ 16 và 17 đã không thành công vì không có một ông vua Nhật hay Tàu nào chịu theo đạo cả. Năm 1638, người Nhật đã thẳng tay tàn sát một lúc 37000 giáo dân tại Nagasaki và đánh đuổi người Bồ Đào Nha ra khỏi nước Nhật. Mọi ảnh hưởng của Bồ Đào Nha tại Nhật đến đây là chấm dứt.

Như chúng ta đã biết, từ giữa thế kỷ 15, hai nước Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha đã dẫn đầu các cuộc thám hiểm đất mới để xâm chiếm thuộc địa và truyền đạo. Do các tranh chấp về đất đai và quyền lợi, Tây Ba Nha và Bồ Đào Nha có thể trở thành hai quốc gia thù địch. Do đó hai nước đã thỏa thuận với nhau đưa vụ tranh chấp này ra trước toà Thánh Vatican để giáo hoàng Alexander VI phân xử. Do sắc chỉ Inter Coetera năm 1493, giáo hoàng Alexander VI chia thế giới làm hai phần qua đường ranh tưởng tượng chạy từ Bắc cực xuống Nam cực chạy qua quần đảo Acores. Phía Tây của đường ranh này thuộc độc quyền xâm lăng và truyền đạo của Tây Ban Nha. Phía Đông đường ranh này bao gồm toàn vùng Á Châu thuộc độc quyền xâm lăng và truyền đạo của Bồ Đào Nha. Trong thực tế, kể từ năm 1615, mọi công cuộc truyền đạo tại Việt Nam thuộc quyền điều động của dòng Tên Bồ Đào Nha, có trụ sở tại Nhật Bản, với sự phối hợp của tòa Giám Mục Bồ Đào Nha tại Macao.

Cũng do độc quyền truyền giáo mà Tòa Thánh đã dành riêng cho Bồ Đào Nha tại Á Châu, nên suốt trong các thế kỷ 15 và 16, các nhà truyền giáo Pháp hoàn toàn vắng bóng tại Viễn Đông. Năm 1619, Alaxandre De Rhôde lên tàu từ thủ đô Lisbone của Bồ Đào Nha để đến giảng đạo tại Việt Nam, không phải với tư cách là một giáo sĩ Pháp, mà là một giáo sĩ đặt dưới quyền bảo trợ của triều đình Bồ Đào Nha. Trong khuôn khổ chiến lược xâm lăng và truyền giáo tại Á Châu, Bồ Đào Nha chú ý đến việc phiên âm theo mẫu tự la-tinh ưu tiên là tiếng Tàu, tiếng Nhật, và sau đó là tiếng Việt. Cuốn từ vựng Bồ-Hoa được soạn thảo sớm nhất vào năm 1584. Tự điển La-Bồ-Nhật được hoàn thành năm 1595. Cuốn giáo lý tiếng Nhật được la-tinh-hóa năm 1592. Tất cả các kinh nghiệm về việc la-tinh-hóa chữ Nhật và chữ Tàu nói trên đều rất hữu ích cho việc phát minh chữ Quốc Ngữ của Việt Nam sau này.

IV.- Các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha ở Đàng Trong (Quảng Nam) là những người đã thật sự sáng tạo chữ Quốc Ngữ trong các năm 1617-1622.

Các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha bắt đầu truyền đạo ở Đàng Trong từ 1615. Từ 1617 họ khởi công la-tinh-hóa tiếng Việt. Người có công đầu trong việc này là linh mục Francis de Pina. Ông sinh tại Bồ Đào Nha năm 1585, đến giảng đạo tại Đàng Trong năm 1617 và sinh sống tại Việt Nam liền trong 8 năm. Lúc này, trụ sở của dòng Tên Bồ Đào Nha đặt tại Thanh Chiêm là dinh trấn của Nguyễn Phước Nguyên, nay là huyện Điện Bàn, Quảng Nam. Bề trên của nhà dòng là linh mục Buzomi cũng là một nhà ngôn ngữ học, và chình ông đã sáng tác một hệ thống văn phạm tiếng Việt.

Năm 1618, linh mục Francis de Pina là người đầu tiên dịch các kinh la-tinh sang tiếng Việt. Đó là kinh Lạy Cha (Pater Noster), kinh Kính Mừng (Ave Maria). Kinh Tin Kính (Credo), kinh Sáng Danh (Gloria), ….

Đến năm 1622, linh mục Francis de Pina hoàn thành một hệ thống ghi âm theo mẫu tự la-tinh thích hợp với lối phát âm và thanh điệu tiếng Việt. Năm 1624, linh mục Pina mở trường dạy nói tiếng Việt và dạy viết chữ quốc ngữ tại Thanh Chiêm để dạy các giáo sĩ mới đến giảng đạo tại Việt Nam, trong số đó có Alexandre de Rhôde và Antonio de Fontes.

Alexandre de Rhôde được linh mục Pina dạy tiếng Việt từ 1624 đến cuối năm 1625 thì chẳng may linh mục Pina bị tai nạn chết đuối tại bến cảng Đà Nẵng.

Linh mục Pina đóng vai trò quan trọng trong việc sáng tạo chữ quốc ngữ, nhưng ông không phải là người duy nhất, vì có nhiều người khác đã đóng góp những nỗ lực của họ trong việc phân tích văn phạm, phân tích ngữ âm và thanh điệu của tiếng Việt. Do đó, công trình sáng tạo chữ quốc ngữ là một công trình tập thể của các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha giảng đạo tại Á Châu trong thế kỷ 17.

Nhiều người thường căn cứ vào việc xuất bản cuốn tự điển Việt-Bồ-La tại Rome năm 1651 để xác quyết Alexandre de Rhôde là tác giả đã phát minh ra chữ quốc ngữ. Sự thật Alexandre de Rhôde không phải là tác giả của cuốn tự điển này. Ông chỉ là người viết thêm vào tự điển phần la-tinh mà thôi. Hai phần quan trọng liên quan đến chữ quốc ngữ là tự điển Việt-Bồ thuộc công lao của linh mục Bồ Đào Nha Gaspar de Amaral và tự điển Bồ-Việt của linh mục Bồ Đào Nha Antonio de Barbose. Alexandre de Rhôde chỉ là một biên tập viên chứ không phải là tác giả của cuốn tự điển quan trọng này, nhất là vể phần Việt ngữ, nên ông ta không thể được coi là cha đẻ của chữ quốc ngữ được

Nhưng dù cho chữ quốc ngữ đã được phát minh do Alexandre de Rhôde hay do các tu sĩ dòng Tên Bồ Đào Nha trong thế kỷ 17 thì bản chất của nó vẫn không thay đổi: Chữ Quốc Ngữ không phải là một món quà tặng do ngoại nhân có lòng tốt đem lại cho chúng ta. Nó thực sự chỉ là một thứ vũ khí do địch sáng chế để truyền vào dân tộc ta một thứ tôn giáo phi nhân, nhằm mục đích nô dịch nhân dân ta và đưa tổ quốc ta vào vòng nô lệ của chúng.

Nay chúng ta dung chính vũ khí đó của địch để đánh địch và tay sai. Đó là công việc mà các tác giả Giao Điểm đang làm. Các tác giả Giao Điểm đang noi gương tiền nhân dùng đòn “gậy ông đập lưng ông” trong mục tiêu xây dựng đất nước và bảo vệ văn hóa dân tộc: Noi gương Lý Thường Kiệt xưa kia dùng chữ Hán để viết “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư” để xác nhận chủ quyền của tổ quốc. Trần Hưng Đạo dùng chữ Hán để viết “Hịch Tướng Sĩ” động viên toàn dân chống quân Nguyên. Nguyễn Trãi dùng chữ Hán viết “Bình Ngô Đại Cáo”. Trong thập niên 1930, các nhà cách mạng yêu nước Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đã cổ súy việc học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí và phổ biến tư tưởng cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp. Đòn “gây ông đập lưng ông” là một chiến thuật lâu đời trong truyền thống chiến đấu bảo vệ tổ quốc của nhân dân ta.

Để cụ thể hóa thái độ của chúng ta đối với bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ, chúng ta hãy hình dung một tên cướp đột nhập vào nhà chúng ta với một con dao. Khi bị cảnh sát rượt đuổi, tên cướp đã vứt bỏ lại con dao tang vật. Hành động đúng nhất là chúng ta hãy sử dụng con dao tang vật vào những việc hữu ích, như cắt rau, thái thịt, v.v… Chạy theo tên cướp để cám ơn nó đã để lại con dao rõ ràng là một hành vi ngu xuẩn. Hô hào mọi người phải cám ơn bọn giáo sĩ đã sáng tạo ra chữ quốc ngữ cũng là một hành vi ngu xuẩn tương tự.

Charlie Nguyễn

Sept 2003

_______________

Các chương khác trong sách:

Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ
Con Đường Cụt của Vatican (Charlie Nguyễn)
Các Hoạt Động Chính Trị của Đạo Quân Thứ 5
Hồ Sơ Tội Ác của Hội Thừa Sai ...
In God We Trust
Màn Kịch Lộ Đức
Một Vấn Đề về Huyền Thoại Giáng Sinh
Nhận Xét về Thư của Phan Dình Diệm
Quan Niệm Ông Trời của Người Việt
Từ Thái Độ Khinh Miệt ...
Việt Nam cần thực hiện ...
Đòi Lại Đất bị Nhà Thờ Chiếm Đoạt
Độc Thần Giáo ...

___________________

Bài đọc thêm:

Alexandre de Rhodes và Chữ Quốc Ngữ, Biện Chính Với Giáo Sư Chương Thâu (Bùi Kha)

Đắc Lộ, Trương Vĩnh Ký & Chữ Quốc Ngữ của Tác Giả Minh Vân (Bùi Kha)

Không Là Lính Thì Là Gì? (An chi, Huệ Thiên)

Alexandre de Rhodes không phải là người sáng tạo ra chữ Việt? (An Chi)

Alexandre de Rhodes - Đối luận với tác giả Hoàng Hưng (Bùi Kha)

A. de Rhodes, trả lời các ông Phạm Quang Tuấn và Phong Uyên (Bùi Kha)

Alexandre de Rhodes, chữ Quốc ngữ và quan điểm chính trị (Bùi Kha)

Có phải chỉ Alexandre de Rhodes là cha đẻ của chữ Quốc ngữ (Đậu Kỷ Luật)

Alexandre De Rhodes và Chữ Quốc Ngữ   (Charlie Nguyễn)

Giáo Sĩ Đắc-Lộ &Chữ Quốc Ngữ Của Minh Vân (Trần Chung Ngọc)

Giáo Sĩ Đắc Lộ &  Chữ Quốc Ngữ (Bùi Kha)

Phải Làm Gì Đối Với Tình Trạng Vinh Danh Những Việt Gian? (Nguyễn Mạnh Quang)

Nguồn Gốc Chữ Quốc ngữ (Huỳnh Ái Tông)

ALEXANDRE DE RHODES, Công và Tội (Bùi Kha)

Chữ Quốc Ngữ Và Quan Điểm Chính Trị (Bùi Kha)

Alexandre De Rhodes - Những Nhầm Lẫn Đáng Tiếc (Bùi Kha)


GIÁO SĨ DÒNG TÊN ALEXANDRE DE RHODES
KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI SÁNG TẠO RA CHỮ QUỐC NGỮ VÀ
KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ DUY NHẤT CỦA “TỪ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA
Thích Nhật Từ giới thiệu

 thich-nhat-tu

 

I. UBND ĐÀ NẴNG NGỪNG ĐẶT TÊN ĐƯỜNG CHO ALEXANDRE DE RHODES

1.1. Hai khuynh hướngỦng hộ => thần tượng: Các học giả và tín hữu Thiên chúa giáo Việt Nam. Chống đối => tội đồ: Người yêu nước, chống chủ nghĩa thực dân.

1.2. Tiêu chí nhận xét: Vinh danh hay phê phán giáo sĩ A. de Rhodes không phải vì ông có cùng một tín ngưỡng hay khác đức tin với Phật giáo. Chỉ căn cứ trên công trạng hay tội trạng, nếu có, của ông đối với tiếng Việt và dân tộc Việt Nam.

1.3. Sở Văn hoá và Thể thao Đà Nẵng lấy ý kiến Dự thảo đề án đặt, đổi tên đường: 07-10-2019: Gồm 140 đường. Có đường Alexandre de Rhodes (1593 - 1660, người Pháp) và Francisco de Pina (1585 - 1625, người Bồ-đào-nha)

- Ngày 26.11, NSND Huỳnh Văn Hùng, Giám đốc Sở VH-TT TP.Đà Nẵng (Phó chủ tịch Hội đồng đặt, đổi tên đường TP tham mưu UBND TP chưa trình đề án ra kỳ họp HĐND TP cuối năm mà tạm gác để dịp sau. Do phản đối của Bản kiến nghị của 12 học giả ngày 23-10-2019

1.4. Tiêu chí chọn nhân danh đặt tên đường, phố: Khoản 5, điều 10, nghị định 91/2005/NĐ-CP quy định: “Đường, phố được đặt tên có thể là tên danh nhân bao gồm cả danh nhân nước ngoài. Danh nhân đó phải là người nổi tiếng, có đức, có tài, có đóng góp to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như của địa phương hoặc có đóng góp đặc biệt cho đất nước, có công lớn trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học, kỹ thuật, phát triển tình hữu nghị giữa các dân tộcđược nhân dân suy tôn và thừa nhận. Những nhân vật lịch sử còn có ý kiến đánh giá khác nhau hoặc chưa rõ ràng về mặt lịch sử thì chưa xem xét đặt tên cho đường, phố và công trình công cộng.”

Lưu ý:

Đường Alexandre de Rhodes, gần 300 m, nằm trên phường Bến Nghé, quận 1, kéo dài từ đường Phạm Ngọc Thạch đến Pasteur. Sát công viên 30/4. Rợp cây xanh.

Theo Sổ tay tên đường ở TP HCM, tháng 6/1871 đường này có tên là Paracels. Tháng 10/1871 đổi thành Colombert. Năm 1955, tên Alexandre de Rhodes. Năm 1985 mang tên Thái Văn Lung. Khoảng 1995 => Alexandre de Rhodes đến ngày nay.

II. ALEXANDRE DE RHODES KHÔNG PHẢI LÀ TỔ KHAI SÁNG CHỮ QUỐC NGỮ

2.1. Ngộ nhận đáng tiếc:

- Những người đề nghị vinh danh Lm. Alexandre de Rhodes và đặt tên đường mang tên Linh mục này là vì ngộ nhận rằng ông là cha đẻ, người sáng tạo ra tiếng Việt theo mẫu tự La-tinh. Trong Lời nói đầu của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La, NXB KHXH, 1991, tr.3, phần Việt ngữ, Lm. Alexandre de Rhodes đã chối bỏ điều đó.

- Lm. Alexandre de Rhodes dùng ký tự La-tinh để ký âm chữ An Nam để truyền bá đạo Thiên chúa => quyền tự do của ông ấy, đồng thờicố tình phỉ báng đạo Phật, khi ông gọi Phật Thích Ca là thằng và xuyên tạc rằng đạo Phật là đạo quỷ.

- Năm 1500 TCN, người Latinh (tức La-mã cổ) mô phỏng hệ thống ký hiệu ghi âm (a phonetic system of writing) của Hy Lạp để sáng chế ra mẫu tự A,B,C,D,… (ta gọi là mẫu tự La-tinh).

- Các tu sĩ dòng Tên (Jesuists) Bồ-đào-nha tại Á châu thế kỷ 17 đã la-tinh-hóa ngôn ngữ Á châu (gồm có tiếng Nhật, tiếng Tàu và tiếng Việt) để truyền đạo => đề cao 1 mình Alexandre de Rhôde là thánh tổ sáng tạo ra chữ quốc ngữ?

2.2. Nguồn gốc chữ quốc ngữ (9 trích dẫn hữu ích)

(i) GS. Hoàng Tuệ (nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học), Tuổi Trẻ Chủ Nhật’’, 1993, TP HCM, Việt Nam, với tựa đề “Ai Làm Ra Chữ Quốc Ngữ?’’, trang 14:

“…có giả thuyết cho rằng chữ quốc ngữ là công trình không phải của duy nhất ai, đặc biệt của riêng de Rhodes, mà là của nhiều người. Giả thuyết này không vu vơ, mà có căn cứ’’.

(ii) Đào Duy Anh, “Việt Nam Văn Hoá Sử Cương’’, NXB Tổng Hợp TpHCM, 1992 (1st 1950s)

 “Xưa kia Việt ngữ vốn viết bằng chữ nôm, nhưng từ khi phép học đổi mới thì Việt ngữ lại viết bằng một thứ chữ mới gọi là chữ quốc ngữ. Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo sư Gia Tô đặt ra. Vào khoảng thế kỷ 16, 17, khi các nhà ấy mới sang nước ta, thì có lẽ mỗi người lấy tự mẫu của nước mình mà đặt ra một lối chữ riêng để dịch tiếng bản xứ cho tiện việc giảng dạy tín đồ. Các lối chữ riêng ấy sau do hai nhà truyền giáo sư người Bồ-đào-nha, rồi sau đến cố A. de Rhodes người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng chung trong truyền giáo hội, tức là thủy tổ của chữ quốc ngữ ngày nay…”

(iii) Vũ Ngọc Phan, Nhà Văn Hiện Đại”, quyển nhất, Tủ Sách Tao Đàn, NXB. Tân Dân, Hà Nội, năm Tân Tỵ, 1941:

Vào khoảng cuối thế kỷ XVI, có các giáo sĩ người Bồ-đào-nha là bọn các ông cố Gaspard Amiral (đúng ra phải viết Gaspar d’Amiral), Antoine Barbore cùng các giáo sĩ người Pháp và người Nhật đến Bắc Kỳ. Rồi kế đến ông Alexandre de Rhodes tới Nam Kỳ từ tháng Chạp tây năm 1624…Cố Alexandre de Rhodes ra Bắc Kỳ ngày 19 tháng hai 1625; rồi đến năm 1651, ông xuất bản hai quyển bằng quốc ngữ nhan đề: Dictionarium Annamiticum và Catechismus. Cố Alexandre de Rhodes nói hai quyển này soạn theo bản của hai giáo sĩ Gaspard Amiral [Gaspar d’Amiral] và Antoine Barbore. Như vậy, thứ chữ quốc ngữ chúng ta hiện dùng ngày nay không phải do một người đặt ra, mà do ở nhiều người góp sức… (tr. 22&23).

(iv) Linh Mục Phan Phát Huồn, Việt Nam Giáo Sử”, quyển 1 (1533-1933), Sài Gòn, 1965, trang 130: “Ngài [Alexandre de Rhodeskhông phải là người đầu tiên sáng chế ra Việt ngữ, nhưng là người có công nhất trong việc tu sửa một thứ chữ đang trong thời kỳ phôi thai. Công việc tu sửa ấy là một sự nghiệp lớn lao...”

(vLinh mục Đỗ Quang Chính (Lịch sử chữ quốc ngữ, Sài Gòn, 1972, tr.78): "Đắc-Lộ không phải là người Âu châu đầu tiên học tiếng Việt, cũng không phải người đầu tiên sáng tác chữ quốc ngữ, hơn nữa, vào năm 1636 Đắc-Lộ cũng không phải là người ghi chữ quốc ngữ đúng được như một số Linh mục Dòng tên Bồ Đào Nha ở Việt Nam thời đó. Thật ra, trong giai đoạn thành hình chữ quốc ngữ, Đắc-Lộ chỉ góp một phần trong công việc quan trọng này, mà rõ rệt nhất là soạn sách chữ quốc ngữ và cho xuất bản đầu tiên".

(vi) Sử gia Mỹ Joseph Buttinger, The Smaller Dragon, A Political History of Vietnam, Frederick A. Praeger, New York, 1958:

“Chữ quốc ngữ không phải do Alexandre de Rhodes sáng nghĩ ra  như phần lớn tác giả nói, trong đó có hai người Ý và Bồ-đào-nha, là giáo sĩ Gaspar d’Amiral và Antonio de Barbosa… Đây cũng là hai tác giả đầu tiên của cuốn Từ Điển Việt-Bồ…”     

(Quốc Ngữ was not invented by Alexandre de Rhodes, as most authors say, but by Italian and Portuguese missionaries two of whom, Gaspar d’ Amiral and Antonio de Barbosa were the authors of the first Portuguese Vietnamese Dictionary, (Chapter 4).

(vii) GSTS.Nguyễn Tài Thư - nguyên Viện trưởng Viện Triết học (2010)

http://nhandanvietnam.org/view.php?storyid=871

    “Cách đây gần 10 năm, một hội thảo của các nhà khoa học liên quan đến đề nghị từ Pháp nên dựng lại tượng và đặt tên đường Alexandre de Rhodes tại Hà Nội. Kết quả, phần lớn các nhà khoa học không đồng tình và phía Pháp đã rút lại khoản kinh phí hỗ trợ cho việc này.”

    “Cho dù Alexandre de Rhodes là người góp phần hoàn thiện chữ Quốc ngữ nhưng cũng có một vết nhơ lớn khi đã gởi thư vận động triều đình Pháp mang quân xâm lược Việt Nam. Đây là điều không thể chấp nhận.”  

(viii) Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về nguồn gốc chữ quốc trong Tập san Nghiên cứu Lịch sử  như sau: “….chữ quốc ngữ ngày hôm nay được hoàn chỉnh và phong phú, do những bậc thức giả là các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, các cụ Đông Kinh Nghĩa Thục, và là một công trình tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước...Nhận ra tầm quan trong  của việc mở mang dân trí và cổ xúy việc truyền bá quốc ngữ, do đó Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời vào thập niên 1930, và trong thời kháng Pháp, cán bộ ta truyền dạy chữ quốc ngữ cho nhân dân trong vùng tạm chiếm….Nói cho cùng chữ quốc ngữ ngày hôm nay phong phú và hoàn chỉnh là do những bậc thức giả cách mạng và toàn dân chung sức mà thôi.

(ix) Bùi Kha 1996 (Giáo Sĩ Đắc Lộ &  Chữ Quốc Ngữ )“Lm. Đắc Lộ không phải là người có sáng kiến đầu tiên sử dụng mẫu tự La tinh để phiên âm chữ Quốc ngữ, mà do Dòng Tên Bồ-đào-nha và tập thể quần chúng như con chiên Việt Nam, thầy đồ, sư sải, các nhà văn hóa như phong trào Đông Du, nhóm Tự Lục Văn Đoàn, cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Vũ Hoàng Chương, Hồ Biểu Chánh, Chủ tịch HCM, v.v..”.

III. CHỮ QUỐC NGỮ CỦA ALEXANDRE DE RHODES RẤT SƠ KHAI

3.1. Chữ Quốc ngữ trong Từ điển Việt–Bồ–La phản ánh những âm vực nay đã biến mất trong tiếng Việt như những thí dụ sau đây (https://vi.wikipedia.org/wiki/Từ_điển_Việt–Bồ–La )

cách viết thế kỷ 17

chính tả ngày nay

khou᷄

không

đào᷄

đòng

dôi blá

dối trá

blời

trời

blu᷄́

nhúng

bua

vua

mlẽ

lẽ, nhẽ

plăn

lăn

khŏở, thŏở

thuở

ꞗai ( ai)

vai

3.2. Chữ quốc ngữ của Alexandre de Rhodes rất sơ khai. Ví dụ, kinh Lạy Cha được viết tay năm 1632 (trích từ sách “Các nhà truyền giáo Bồ Đào Nha và thời kỳ đầu của Giáo hội Công giáo Việt Nam” của Jacques Roland, Phụ trương VII, tr 375)

Bản văn của Đắc Lộ tương đối khá hơn vào năm 1651:

3.3. Một đoạn chữ quốc ngữ trong "Phép Giảng 8 Ngày...":

"Ngày thứ nhít.  Ta cầu cừ đức Chúa blời giúp fưc cho ta biét tó tuầng đạo Chúa là nhuầng nào vì bậy ta phải hay ở thế nầy chẳng có ai fòú lâu; vì chưng ké đến bảy tám mươi tuếi chảng có nhiềo.  Vì bậy ta nên tìm đàng nào cho ta được fòú lâu, thật là viẹc người cuên tử, khác phép thế gian nầy, dù mà làm cho người được phú quí; fâũ le chẳng làm được cho ta ngày fau...”

3.4. Linh mục Gasparo d'Amiral phiên âm Latinh gần với chữ Việt, hơn là các phiên âm của Đắc Lộ. Tài liệu Gasparo d'Amiral 1632 : Tài liệu Đắc Lộ 1636

Thanh đô vương

thanh đô

Nhà ti

gna ti

Nhà hién

gna hien

Nghệ ăn, nghệ an

Gne an

Bố chính

bochin

IV. ALEXANDRE DE RHODES KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ DUY NHẤT CỦA TỪ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA

4.1. La tinh hóa để truyền đạo Thiên chúa và cải đạo

- Thế kỷ 17, các nhà truyền giáo Dòng Tên người Bồ-đào-nha, Ý và Nhật Bản nhờ quy chế bảo trợ của chính phủ thực dân Bồ-đào-nha đã tới hai xứ Đàng Trong và Đàng Ngoài của Đại Việt.

- Họ học tiếng Việt và tạo ra hệ thống ghi âm tiếng Việt bằng chữ Latinh để truyền bá đạo Thiên Chúa và cải đạo tín đồ.

- Chiến lược xâm lăng và truyền giáo tại Á Châu, Bồ-đào-nha phiên âm theo mẫu tự la-tinh ưu tiên tiếng Tàu, tiếng Nhật, tiếng Việt.

- Quyển từ vựng Bồ-Hoa năm 1584. Tự điển La-Bồ-Nhật 1595. Cuốn giáo lý tiếng Nhật được la-tinh-hóa năm 1592 => hữu ích cho việc ký âm chữ quốc ngữ Việt Nam.

­Nguyễn Xuân Thọ, Les Débuts de L’Installation du Système Colonial Francais au Vietnam (1858-1897)’’, bản dịch Việt ngữ có tựa đề: “Bước Mở Đầu Của Sự Thiết Lập Hệ Thống Thuộc Địa Pháp Ở Việt Nam (1858-1897)’’, California, 1994:

Đoạn 5, chương I: “Nước Pháp đã rất nhanh chóng thay chân Bồ-đào-nha trong sự nghiệp truyền đạo tại Đông Dương (tức Indochine), nhờ sự hoạt động cá nhân của Linh Mục Alexandre de Rhodes, thuộc dòng Jésuites (Dòng tên), đã không ngừng làm công tác tuyên truyền tại Rome, rồi tại Pháp, với những nhân vật thân cận của Richelieu, và từ 1625 đến 1630, đã phát triển Kitô Giáo tại Nam Bộ và Bắc Bộ. Chẳng bao lâu, những bài ký sự của vị giáo sĩ, Giám Mục “Vùng ngoại đạo” Francois Pallu, đã làm cho người ta chú ý nhiều đến các dân cư Việt Nam”.

- Công cụ truyền đạo:  3 cuốn tự điển

(i) Từ điển Việt-Bồ (1631-1645) của Lm. Gaspar d’Amaral,

(ii) Tự điển Bồ-Việt của Linh mục Antonio Barbosa (1594-1647),

(iii) Từ điển Việt–Bồ–La của Alexandre de Rhodes, trong đó có 8.000 từ tiếng Việt dịch ra tiếng Bồ-đào-nha và tiếng Latinh.

- Năm 1629, Lm. Gaspar d’Amaral tới Đàng Ngoài truyền giáo. Người đầu tiên soạn bộ từ điển Diccionario Anamito-Portuguès-Latin (Từ điển Việt-Bồ-La), song chưa kịp cho ấn hành thì mất.

- Năm 1636, Lm. Antonio Barbosa đến Đàng Ngoài và soạn Từ điển Bồ-Việt, bản cảo viết tay.

-Từ điển Việt–Bồ–La (tiếng Latinh: Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) được Lm. Alexandre de Rhodes sử dụng thành quả của 2 từ điển có trước (mất bản gốc) và thêm phần Latinh, được Thánh Bộ Truyền bá Đức Tin (Sacra Congregatio de Propaganda Fide) ấn hành tại Roma năm 1651. Nxb KHXH, 1991.

=> Sai lầm của các học giả Thiên chúa giáo: Dựa việc xuất bản cuốn tự điển Việt-Bồ-La tại Rome năm 1651 để xác quyết Alexandre de Rhôde là tác giả đã phát minh ra chữ quốc ngữ.

4.2. Tập thể tác giả quốc tế và Việt Nam (5 dẫn chứng tiêu biểu)

(i) Hoàn thiện chữ Việt dạng Latinh hóa là công trình quốc tế có sự đóng góp của nhiều người, nhiều thế hệ

- Các tu sĩ dòng Tên Bồ-đào-nha ở Đàng Trong (Quảng Nam) sáng tạo chữ Quốc Ngữ trong các năm 1617-1622.

- Từ năm 1624, Alexandre de Rhôde học học tiếng Việt với 3 Lm Bồ-đào-nha là Francis de Pina, Amaral, Barbosa và học người Việt Nam 20 năm.

- Năm 1618, linh mục Francis de Pina là người đầu tiên dịch các kinh la-tinh sang tiếng Việt. Đó là kinh Lạy Cha (Pater Noster), kinh Kính Mừng (Ave Maria), kinh Tin Kính (Credo), kinh Sáng Danh (Gloria), ….

(ii) Trần tình của Alexandre de Rhodes trong Lời giới thiệu của Từ điển Annam-Lusitan-Latinh, tức Từ điển Việt-Bồ-La, Nxb KHXH, 1991, phần phiên dịch, tr.3):

Tuy nhiên trong công cuộc này, ngoài những điều mà tôi đã học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai nămthời gian mà tôi lưu trú tại hai xứ Cô-sinh và Đông-kinh (tức Đàng Trong và Đàng Ngoài), thì ngay từ đầu tôi đã học với Cha Francisco de Pina người Bồ-đào-nha, thuộc Hội Dòng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng này, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công trình của nhiều Cha khác cùng một Hội Dòng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đã biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam (tức là từ điển Việt - Bồ), ông sau bằng tiếng Bồ - Đào (tức là từ điển Bồ - Việt), nhưng cả hai ông đều đã chết sớmSử dụng công khó của hai ông, tôi còn thêm tiếng La tinh theo lệnh các Hồng y rất đang tôn.”

(iii) Hoàng Cơ Thụy, “Việt sử khảo luận”, cuốn 2, tập 4, Chương 2, (NXB. Nam Á, Paris, 1989), trang 703&704:

Nên biết thêm rằng Lm. Gaspar d’Amaral có viết một quyển từ điển Việt-Bồ, sau trao lại cho Lm. Đắc Lộ. Ông d’Amaral bị chết đuối ở gần đảo Hải Nam ngày 23-12-1645, vậy cuốn từ điển của ông đã được soạn khoảng 1631-1645, và trao cho linh mục Đắc Lộ ở Áo Môn hồi mùa đông 1645.

Nhưng sau ông được thừa hưởng hai cuốn từ điển viết tay là: cuốn Từ Điển Việt-Bồ nói trên…và cuốn Từ Điển Bồ-Việt của Linh mục Antonio Barbosa (Bồ-đào-nha, 1594-1647), đến giảng đạo ở Đàng Ngoài hồi 1636-1642, chết bệnh năm 1647…

Cả hai cuốn sách quý giá ấy về sau bị thất lạc nhưng đã giúp cho Linh mục Đắc Lộ cải thiện rất nhiều chữ quốc ngữ của ông…Nói tóm lại, Linh-mục Đắc Lộ không phải là người đầu tiên sáng tạo ra chữ quốc ngữ. Ông chỉ có công phổ biến rộng rãi chữ quốc ngữ, với sự giúp đỡ vật chất rất đầy đủ của Bộ Truyền Giáo tại La Mã năm 1651.”

=> Alexandre de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ quốc ngữ nhưng có công phổ biến quốc ngữ bằng cách cho in sách và từ điển.

(iv) Linh mục Thanh Lãng (Địa chí văn hóa Thành phố  Hồ Chí Minh, Tập II, TPHCM, 1988, tr.136-137): "Giáo sĩ Đắc Lộ không những không phải là ông tổ duy nhất của chữ quốc ngữ mà cũng không phải là một trong các ông tổ của chữ quốc ngữ". Và "Sở dĩ Đắc Lộ về sau này được lịch sử nhắc nhở đến nhiều, có lẽ không phải vì ông đã có công kiện toàn chữ quốc ngữ cho bằng ông đã để lại hai quyển sách (tức Từ điển Việt-Bồ-La và Phép giảng tám ngày) được coi như tài liệu duy nhất (có hệ thống) về chữ quốc ngữ".

(v) Học giả Charlie Nguyễn cho rằng Alexandre de Rhodes ăn cắp của hai giáo sĩ Bồ Amaral và Barbosa và biên soạn lại, cho thêm tiếng La-tinh: “Đó là lừa đảohay nói thẳng ra đó là hành vi “đạo” công trình của Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa, lại tự ý ghép tên mình thêm chữ “de” kệch cỡm! Hành vi “đạo” [nghĩa là ăn cắpcông trình rất rõ, vì không am hiểu người Việt nên Alexandre viết sai chữ độc nhất trên bìa: Annam viết là Annnam. Có người nói rằng đó là chữ quốc ngữ độc nhất sáng tạo bởi Alexandro Rhodes cũng không xa sự thật lắm!

V. CHỐNG ALEXANDRE DE RHODES SAO LẠI DÙNG TIẾNG VIỆT LATINH CỦA ÔNG?

5.1. Chữ quốc ngữ không phải của Alexandre de Rhodes

5.2. Noi gương các anh hung dân tộc “gậy ông đập lưng ông”

- Lý Thường Kiệt xưa kia dùng chữ Hán để viết “Nam Quốc Sơn Hà, Nam Đế Cư” để xác nhận chủ quyền Việt Nam.

- Trần Hưng Đạo dùng chữ Hán để viết “Hịch Tướng Sĩ” động viên toàn dân chống quân Nguyên. Nguyễn Trãi dùng chữ Hán viết “Bình Ngô Đại Cáo”.

-Thập niên 1930, các cụ Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu cổ súy học chữ quốc ngữ để mở mang dân trí và phổ biến tư tưởng cách mạng nhằm đánh đuổi thực dân Pháp.

5.3. Chữ Việt Latinh đã xóa sổ vị trí quốc ngữ của Hán Nôm (3 dẫn chứng)
(i) Charlie Nguyễn Đôminic Bùi Văn Chấn, trong cuốn A. DE RHODES VÀ CHỮ QUỐC NGỮ do Giao Điểm, xuất bản 1998, từ tr 161 – tr 166, “…Về vấn đề chữ quốc ngữ, tôi thiết nghỉ chúng ta không phải “biết ơn” đối với các cố đạo Tây phương, nếu nghĩ rằng họ là người đầu tiên sáng chế ra chữ quốc ngữ. Lý do vì họ không có ý định làm ơn cho dân tộc ta mà chúng chỉ muốn sáng chế ra một phương tiện có lợi cho việc truyền giáo gieo rắc biết bao tai ương cho đất nước ta mà thôi. Chúng thực sự là địch quân của tổ quốc Việt Nam. Chữ quốc ngữ là một “chiến lợi phẩm” do chúng ta tịch thâu được trong tay địch. Chúng ta không cần phải quay cổ lại để cám ơn bọn địch về việc chúng đã “cho” chúng ta những chiến lợi phẩm đó. Chúng ta cướp súng địch để giết bọn chúng và dẹp tan bọn tay sai bán nước truyền kiếp, bọn này tự biến mình thành những kẻ xa lạ trên quê hương mình…” tr, 166

(ii) GS. Trần Chung Ngọc, trong phần Phụ lục quyển “Pétrus Trương Vĩnh Ký – Tuyển tập, do Lê Trong Văn biên tập, NXB. Mẹ Việt Nam, trong bài “Alexandre De Rhodes CÔNG hay TỘI?

“…Một tên giặc tới nhà chúng ta, tạo ra một thứ vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiênchúng ta dùng vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người trong gia đình chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lý đạo đức của gia đình, bảo toàn gia tài của tổ tiên khỏi bị cướp đi, vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đình có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch đánh địch hay là chúng ta nên cám ơn kẻ đã mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất hòa trong gia đình chúng ta? Tôi hy vọng vấn đề công và tội của Alexandre De Rhodesnay đã sáng tỏ.”

- (iii) GS. Trần Trung Ngọc (Giáo Sĩ Đắc-Lộ & Chữ Quốc Ngữ, 06-4-2013Vào thập niên 1930, hội truyền bá quốc ngữ ra đời, 1938, và dù thực dân Pháp và các Cha cố Ca-tô muốn cản cũng không được. Việc phát động học chữ Quốc Ngữ trong quần chúng còn có mục đích xóa nạn mù chữ.  Chúng ta cũng phải kể đến việc Việt Minh phát động mạnh phong trào Bình Dân Học Vụtruyền bá quốc ngữ trong những năm 1945-46, xóa nạn mù chữ và đến năm 1958 thì hơn 93% người dân đã thoát nạn mù chữ..  [Theo Alain Guillemin  (TS. Viện Nghiên cứu Xã hội học Địa Trung Hải, Trung tâm nghiên cứu khoa học Pháp)

Sự phát triển quốc ngữ cho tới ngày nay là do công ơn của cha ông chúng ta dùng đòn (gậy ông đập lưng ông), dùng quốc ngữ để mở mang dân trí người Việt, xuất bản báo chí bằng chữ quốc ngữ để phổ biến tinh thần cách mạng Pháp năm 1789, và khẩu hiệu “Tự Do, Bình Đẳng, Tình Huynh Đệ” thường được dịch thoát là “bác ái” (Liberté, Égalité, Fraternité) và từ đó các phong trào cách mạng đã lan rộng trong quần chúngcuối cùng đưa đến sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Namvô hiệu hóa âm mưu dùng Quốc Ngữ làm vũ khí văn hóa để nô lệ hóa đầu óc dân ta.

< iframe id="aswift_2" name="aswift_2" sandbox="allow-forms allow-popups allow-popups-to-escape-sandbox allow-same-origin allow-scripts allow-top-navigation-by-user-activation" width="696" height="0" frameborder="0" src="https://googleads.g.doubleclick.net/pagead/ads?client=ca-pub-6270775876548586&output=html&h=174&slotname=9517148552&adk=762506416&adf=3031025288&pi=t.ma~as.9517148552&w=696&fwrn=4&lmt=1639443525&rafmt=11&psa=0&format=696x174&url=https%3A%2F%2Fthuvienhoasen.org%2Fa33044%2Fgiao-si-dong-ten-alexandre-de-rhodes-khong-phai-la-nguoi-sang-tao-ra-chu-quoc-ngu&flash=0&wgl=1&adsid=ChAIgPvbjQYQi9PBnYqHzvdjEj0AyuH72S6rvxeVPPcI7dvyuMUdgp47PUyWHM_EG3WAAPbpOXEMcKsOtAIxXf6pfKKhtlE81hZuBCQxjcjY&uach=WyJXaW5kb3dzIiwiMTAuMC4wIiwieDg2IiwiIiwiOTYuMC40NjY0LjkzIixbXSxudWxsLG51bGwsIjY0Il0.&dt=1639443515824&bpp=15&bdt=4294&idt=1676&shv=r20211207&mjsv=m202112060101&ptt=9&saldr=aa&abxe=1&cookie=ID%3D5e68014344c244da-2230a400bbce00ca%3AT%3D1639443517%3ART%3D1639443517%3AS%3DALNI_Ma1l-oFp-bKK2fRRHxyy7hzRd33_w&prev_fmts=0x0%2C696x174%2C300x250%2C300x250&nras=1&correlator=1221806066102&frm=20&pv=1&ga_vid=169234253.1639443516&ga_sid=1639443517&ga_hid=77009372&ga_fc=1&rplot=4&u_tz=-300&u_his=23&u_h=1080&u_w=1920&u_ah=1040&u_aw=1920&u_cd=24&dmc=8&adx=453&ady=8158&biw=1903&bih=969&scr_x=0&scr_y=4289&eid=31063825%2C21067496&oid=2&pvsid=2270071796952902&pem=456&tmod=572&ref=https%3A%2F%2Fwww.google.com%2F&eae=0&fc=1920&brdim=0%2C0%2C0%2C0%2C1920%2C0%2C1920%2C1040%2C1920%2C969&vis=1&rsz=%7C%7CpoeEbr%7C&abl=CS&pfx=0&fu=128&bc=31&jar=2021-12-14-00&ifi=3&uci=a!3&btvi=2&fsb=1&xpc=8GHs1MEFC9&p=https%3A//thuvienhoasen.org&dtd=9354" marginwidth="0" marginheight="0" vspace="0" hspace="0" allowtransparency="true" scrolling="no" allowfullscreen="true" allow="attribution-reporting" data-google-container-id="a!3" data-google-query-id="CKSNoYeL4vQCFVjBEQgd0QQCBQ" data-load-complete="true" style="outline: none; line-height: 1.5; margin: 0px; padding: 0px; appearance: none; background-clip: padding-box; box-sizing: border-box; text-overflow: ellipsis; border-width: 0px; border-style: initial; left: 0px; position: absolute; top: 0px; width: 696px; height: 0px;">< /iframe>

VI. CHỮ QUỐC NGỮ LATINH VÀ CHIẾN LƯỢC XÂM LĂNG Á CHÂU CỦA BỒ-ĐÀO-NHA VÀ THỰC DÂN PHÁP

6.1. Về chủ nghĩa thực dân

Nguyễn Ái Quốc (Cụ HCM)Bản án chế độ thực dân Pháp, tiếng Pháp, in 1925-26, trang 161 [12 chương, đăng trên báo Le Paria], chương Chủ nghĩa giáo hội: “Dưới chiêu bài dân chủ, đế quốc Pháp đã cắm vào Việt Nam chế độ đáng nguyền rủa của thời trung cổ, người dân Việt Nam bị hành hình vừa bằng lưởi lê của nền văn minh tư bản chủ nghĩa vừa bằng cây thánh giá của giáo hội sa đọa làm ô danh Chúa.” [Tổng Tập Văn Học Việt Nam, 1980, tập 36, NXBKH, tr 244]

Chúng ta biết rằng chính phủ Pháp quyết định việc chinh phục Bắc Kỳ là do sự xúi giục của các ngài giáo phẩm thực dân [trong đó có giáo sĩ Alexandre De Rhodes] được mụ vợ Napoléon để tâm đỡ đầu. Và các vị đó đã làm những gì? Họ đã lợi dụng lòng hiếu khách của người Việt Nam để đánh cấp những bí mật quân sự, vẽ những bản đồ nộp cho quân đội viễn chinh. Chúng tôi không biết hiểu tiếng La Tinh gọi cái công việc ấy là gì, chứ tiếng Pháp thông dụng thì gọi đó là gián điệp” [Tổng Tập Văn Học Việt Nam, tập 36, tr 408, Lên Án Chế Độ Thực Dân]

 6.2. Vì sao Alexandre de Rhodes bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất? (7 dẫn chứng)

(i) Hoàng Cơ Thụy, “Việt Sử Khảo Luận”, cuốn 2, Tập 4, Chương 2, Nam Á, Paris, 1989, trang 703&704. Còn về linh mục Alexandre de Rhodes tức Đắc Lộ, ông có tới giảng đạo tại nước Nam hai lần: lần đầu từ 1624 đến 1630 (ở Đằng trong rồi Đằng ngoài, và bị Chúa Trịnh Tráng trục xuất), lần sau từ 1640 đến 1645 (ở Đàng Trong rồi bị Chúa Nguyễn Phúc Lan trục xuất).

(ii) Alexandre de Rhôde có sáng kiến lập ra hội Thừa Sai Paris và cũng là người đầu tiên vận động Pháp chiếm Việt NamSử gia Pháp là ông Bonifacy, tác giả cuốn “Les Debuts du Christianisme en Annam” xuất bản tại Hà Nội năm 1930 đã viết:

“Vai trò của Alexandre de Rhôde trong việc thành lập hội Thừa Sai Paris đã đưa giáo hội Công giáo Đàng Trong và Đàng Ngoài ra khỏi vòng kiểm soát của người Bồ-đào-nha, đã đem lại cho người Pháp vai trò quan trọng nhất ở bán đảo Đông Dương” (pages 16-17).

(iii) Trong Hành trình và truyền giáoAlexandre de Rhodes viết: “Tôi tưởng nước Pháp là một nước ngoan đạo nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi nhiều lính chiến  (plusieurs soldats) đi chinh phục toàn cõi Đông phương (la conquête de tout l’Orient)…”  (xem thêm Hồng Nhuệ dịch, TP. Hồ Chính Minh, 1994)

=>  Tuy sự vận động đó chưa thành cuộc Thánh chiến trong thời điểm của ông, nhưng nó đã mở đường cho Pháp xâm lăng nước ta 206 năm sau. (Lính Pháp đổ bộ lên Đà Nẵng ngày 1-9-1858).  

(iv) Sách Hành trình và truyền giáo, tr. 264)Tôi chưa công bố thánh chiến chống mọi địch thù của đức tin ở Nhật, ở Trung Quốc, ở Đàng Trong, ở Đàng Ngoài và ở Ba Tư thì lập tức đã có một số đông con cái thánh Inhaxu, đầy tinh thần đã đưa thánh Phanchicô Xavie tới ba trăm quốc gia, các ngài đã bừng bừng ao ước vác thánh giá Thầy và đem đi cắm những nơi cùng kiệt cõi đất.”.

(v) GS. Nguyễn Văn Kiệm (Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam, Hà Nội 2000): “Sự Du Nhập đạo Thiên Chúa vào Việt Nam từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19”, trang 300-301 viết: “Các giáo sĩ thừa sai, trong đó có Alexandre de Rhôde, đã gây nên một cú sốc lớn đối với đời sống tâm linh và văn hóa của dân tộc ta… làm băng hoại nền tảng của cộng đồng. Họ mang mặc cảm tự cao cho rằng Cơ Đốc giáo là tôn giáo hoàn vũ, cao siêu hơn bầt cứ tôn giáo nào khác …. Do đó, họ coi các tôn giáo truyền thống bản địa đều là thấp kém, man muội cần phải xóa sạch để thay thế bằng Cơ Đốc giáo.”

(vi) Stanley Karnow, “Việt Nam, A History. The First Complete Account of Việt Nam at War”, NY.1983: Việt NamLịch Sử. Một Mô Tả Đầy Đủ Về Giai Đoạn Đầu Của Cuộc Chiến Việt Nam. Nhà sử học nổi tiếng này viết về A. de Rhodes như sau:

 “Linh Mục Alexandre de Rhodes sớm thấy uy tín Bồ-đào-nha ngày càng mờ nhạt không còn ích lợi cho Công Giáo ở Á Châu. Ông nghĩ rằng, có thể chinh phục tâm hồn người bản xứ bằng các giáo sĩ người Việt hiệu quả hơn là các thừa sai Âu châu. Ông đến La Mã vận động việc bải bỏ giáo lệnh của Giáo Hoàng, có từ thế kỷ 15, cho Bồ độc quyền khai thác Á Châu. Nhưng ông bị Bồ chống đối quyết liệt và cũng khó xuây chuyển các giới chức tại Vatican, rồi ông lại trở về quê hương nước Pháp xin giúp đỡ. Để thành công, ông thuyết phục cả hai thành phần lãnh đạo tôn giáo và thương gia Pháp bằng hình ảnh là nước Việt Nam đã đến giai đoạn chín muồi để dân cải đạo theo Công Giáo, và là một quốc gia thần tiên với tài nguyên vô tận, ngay cả người đánh cá cũng dùng lưới làm bằng tơ.”

(Rhodes soon realized that its waning prestige no longer made Portugal a credible of Christianity in Asia. He calculated, too, that “hearts and minds” could be won more effectively by Vietnamese priests than European missionaries. He went to Rome to plead, arguing in effect for the abrogation of the fifteenth-century papal edicts that had granted Portugal its Asian domain. But he ran into stiff Portuguese opposition and the intractable Vatican bureaucracy, and he returned to his native France for help. To succeed, however, he would have to persuade French religious and commercial leaders to underwrite his project. Thus he lobbied with both, depicting Việt Nam as ripe for Christian conversion and portraying it as an Eldorado of boundless wealth where, as o­ne of his accounts put it, Việt Namese fishermen wove their nets of silks”(P. 60).

(vii) Sử gia về Giáo hội Vatican La-mã và best-seller Avro Manhattan, “Vietnam: Why Did We Go? The Shocking Story of the Catholic “Church’s” Role in Starting the Vietnam War”, USA, 1984: Tại sao chúng ta đến đó? Chuyện chấn động về vai trò của Giáo hội Công giáo trong việc gây ra cuộc chiến tranh Việt Nam:

 Trang 139: Giáo sĩ Dòng Tên Alexandre de Rhodes Đến Đông Dương năm 1610. Mười năm sau, ông gửi về Vatican và Pháp một bản mô tả rất chính xác về tiềm năng thương mại, chính trị và chiến lược. Nhiều giáo sĩ dòng Tên Pháp lập tức được tuyển mộ và gửi sang giúp ông ta thực hiện hai công tác: Cải đạo theo Công Giáo và bành trướng thương mãi. La Mã và Ba Lê xem những hoạt động này như những bước dẫn khởi cho việc chiếm đóng chính trị lẫn quân sự trên các quốc gia này”.

(Jesuit priest Alexandre de Rhodes arrived in Indo-China in 1610. A decade later he sent back to the Vatican and to France a very accurate description of the commercial, political and strategic potential. French Jesuits were promptly recruited and sent to help him in his double work of converting to Catholicism and commercial expansion. Rome and Paris considered these activities as inseparable stepping stones leading to eventual political and military occupation of these countries, p.139).

VII. CHỦ NGHĨA THỰC DÂN VÀ VAI TRÒ CÁC GIÁO SĨ DÒNG TÊN

7.1. Từ khám phá đến xâm lăng

-Từ thế kỷ 15, Tây-ba-nha và Bồ-đào-nha có công nghệ đóng tàu, súng hỏa mai và kỹ thuật hàng hải. Các nhà thám hiểm Tây-ba-nha và Bồ-đào-nha thay đổi lịch sử nhân loại:

(i) Christopher Columbus tìm ra Châu Mỹ năm 1492

(ii) Vasco de Gama là người đầu tiên vượt mũi Hảo Vọng ở cực Nam châu Phi tới Ấn Độ năm 1497.

(iii) Alvarez Cavral vượt qua Đại Tây Dương tìm ra Brazil năm 1500.

(iv) Alfonso de Albuquerque vượt qua Ấn Độ Dương năm 1503, chiếm tỉnh Goa của Ấn năm 1510, chiếm Malacca năm 1511 để mở đường cho Bồ-đào-nha tiến vào Trung Quốc và Nhật Bản. Chính sự kiện này đã làm nảy sinh tham vọng của Bồ-đào-nha là xâm lăng toàn bộ Á Châu.

7.2. Tranh quyền thuộc địa và cải đạo

7.2.1. Sắc chỉ Inter Coetera năm 1493

- Thế kỷ 15, Tây-ba-nha và Bồ-đào-nha dẫn đầu thám hiểm, xâm chiếm thuộc địa và truyền đạo => thù địch nhau. Kiện, nhờ toà Thánh Vatican phân xử.

- Giáo hoàng Alexander VI hậu thuẫn xâm lăng, qua sắc chỉ Inter Coetera năm 1493, chia thế giới làm hai phần chạy từ Bắc cực xuống Nam cực chạy qua quần đảo Acores. Phía Tây thuộc độc quyền xâm lăng và truyền đạo của Tây-ban-nha. Phía Đông đường ranh gồm toàn vùng Á Châu thuộc Bồ-đào-nha.

- Chiến lược xâm lăng và truyền giáo tại Á Châu: Quyển từ vựng Bồ-Hoa năm 1584. Tự điển La-Bồ-Nhật 1595. Cuốn giáo lý tiếng Nhật được la-tinh-hóa năm 1592.

Linh mục Trần Tam TỉnhThập giá và lưỡi gươm, Paris: Sudestasie, 1978, tr. 14-15:

“..., quyền lợi của Bồ Đào Nha đã được phân định rõ ràng trong sắc chỉ “Romanus Pontifex” do (Giáo hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Tòa thánh, Đức Giáo hoàng ban cho triều đình Lisbon (Bồ Đào Nha) “toàn quyền tự do xâm lăngchinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lãnh địa, vương hầu, đất, đô hộ và cướp tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của chìm của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn.”

“Ngày 4 tháng 5 năm 1493, qua sắc chỉ “Inter caetera” (“giữa những điều khác”), Giáo hoàng Alexander VI giao quyền chinh phục các vùng đất kể trên mà các dân Phương Tây chưa từng biết, cho các triều đình nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha có quyền đi chiếm tất cả các đất đai gặp được ở một trăm dặm kể từ quần đảo Azores, còn Bồ Đào Nha, tất cả các nước nằm ở mạn Đông đường ranh đó (quần đảo Azores ở mạn giữa cắt đôi Đại Tây Dương.” (Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 14).

- Từ năm 1615, truyền đạo tại Việt Nam thuộc dòng Tên Bồ-đào-nha, có trụ sở tại Nhật Bản, với sự phối hợp của tòa Giám Mục Bồ-đào-nha tại Macao.

- Năm 1619, Alaxandre De Rhôde lên tàu từ thủ đô Lisbone của Bồ-đào-nha để đến giảng đạo tại Việt Nam, không phải với tư cách là một giáo sĩ Pháp, mà là một giáo sĩ đặt dưới quyền bảo trợ của triều đình Bồ-đào-nha.

7.2.1. Sứ mệnh của các giáo sĩ dòng Tên (Jesuite)

Linh mục Alexandre de Rhodes gia nhập Dòng Tên lúc 19 tuổi (1612), đến Macao năm 1623, Nam Kỳ Việt Nam năm 1645. Trong 22 năm ở các nước Á Châu, qua về Âu Châu,  ông ở Việt Nam 6-8 năm.

Lời thề của các tu sĩ Dòng Tên trước Giáo Hoàng (Bản dịch của Thái Vân, Gia-tô thực dân sử liệu của Chu Văn Trình, Văn Sử Địa 1990, in lần thứ ba. Ban tu thư Tự Lực, trang 255-257):

Bùi Kha dịch: … Con xin tuyên hứa thêm rằng con sẽ, nếu có cơ hội, con sẽ gây ra và tham gia chiến tranh tàn nhẫn, bí mật hoặc công khai, chống mọi kẻ dị giáoTin Lành và Tự Do, như con được lệnh thi hành, tận diệt chúng khỏi mặt địa cầu; và con sẽ không chừa một ai, bất kể tuổi tác, nam hay nữ hay tình trạng xã hội; và con sẽ treo cổ, thiêu sống, luộc sống, mổ bụng, siết cổ và chôn sống những kẻ dị giáo ô nhục đó, phanh bụng moi bào thai của vợ chúng, và quật đầu con sơ sinh của chúng vào tường để tận diệt vĩnh viễn cái giống dân đáng ghét của chúng…

(The extreme oath of the Jesuits: http://www.ianpaisley.org/article.asp?ArtKey=jesuit )

 …I furthermore promise and declare that I will, when opportunity present, make and wage relentless war, secretly or openly, against all heretics, Protestants and Liberals, as I am directed to do, to extirpate and exterminate them from the face of the whole earth; and that I will soar neither age, sex or condition; and that I will hang, burn, waste, boil, flay, strangle and bury alive these infamous heretics, rip up the stomachs and wombs of their women and crush their infants’ heads against the walls , in order to annihilate forever their execrable race!)

bản Tuyên thệ cực đoan của Dòng Tên, nằm trong Biên bản chính thức của phiên thứ ba, Kỳ họp Quốc hội Liên Bang Hoa Kỳ lần thứ 62 (Dự luật được Nghị viện thông qua số 397, Bút lục số 1523, đề ngày 15 tháng 2 năm 1913, các trang 3215 đến trang 3216) (ngay sau đó đã bị loại ra). Bản tuyên thệ này cũng đã được Charles Didier trích dẫn trong cuốn “Subterranean Rome” (New York, 1843), dịch từ nguyên bản Pháp ngữ của Tiến sĩ Alberto Rivera, người đã xuất tu khỏi Dòng Tên vào năm 1967, khẳng định rằng nghi thức mở đầu và nội dung Bản tuyên thệ của Dòng Tên mà chúng tôi viện dẫn dưới đây chính là những gì ông đã từng trải nghiệm.

Huỳnh Ái Tông với bài “Nguồn Gốc Chữ Quốc Ngữ”  trên [http://chimviet.free.fr/ngonngu/phuctrun/phul050.htm] : “Linh mục Đắc Lộ (Alexandre de Rhodes), người được Pháp đề cao đã sáng chế ra chữ Quốc Ngữ, mang lại sự khai hóa cho dân tộc Việt Nam, với chiêu bài nầy để che đậy hành động thực dân, xâm chiếm lãnh thổ và cai trị hà khắc dân tộc chúng ta.”

- Bùi Kha: (Alexandre de Rhodes : Công và Tội):  “Tóm lại, qua các trích dẫn và luận chứng nêu trên, ta thấy, Linh mục Đắc Lộ không hề có công sáng tạo chữ Quốc ngữ như nhiều người gán ép sai lầm qua nhiều thế hệ, còn truyền đạo chỉ là một trong những hình thức chính để phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chính trị, rồi từ đó sẽ đưa đến chiến tranh chiếm thuộc địa.” (đăng trên báo Hồn Việt và trên http://sachhiem.net/./?content=showrecipe&id=5086 )

7.3. Mục đích sử dụng chữ quốc ngữ của giám mục Puginier: (Bùi Kha dịch trong bài Alexandre de Rhodes : Công và Tội)

Mở trường tiếng Pháp để truyền đạo“Từ lâu, tôi chủ trương dạy và dùng chữ Châu Âu để viết tiếng An Nam, nhưng khốn thay, tôi không được ủng hộ trong việc thực hiện kế hoạch mà đã sáu lần tôi đề nghị. Nhưng tôi sung sướng thấy từ hai năm nay, chúng ta hoạt động tích cực trong mục đích này: Ngoài trường dạy tiếng Pháp của phái bộ là trường đầu tiên được thiết lập ngày 8-12-1884, chính phủ còn lập nhiều trường khác từ ngày 5-4-1885.”

Xóa bỏ chữ Nho và ảnh hưởng của Trung Quốc: “Cần phải dạy càng sớm càng tốt cho người An Nam viết và đọc được tiếng họ bằng chữ Âu Châu, việc này dễ hơn và tiện lợi hơn dùng chữ Nho. Trong vài năm sau, cần phải bắt buộc mọi giấy tờ chính thức không được viết bằng chữ Nho như trước nữa, phải viết bằng tiếng trong nước, mỗi viên chức ít nhất phải được dạy đọc và viết tiếng An nam bằng chữ Châu Âu. Trong lúc đó việc dạy chữ Pháp sẽ tiến triển nhiều hơn và chúng ta chuẩn bị một thế hệ để cung cấp các viên chức có học tiếng nước chúng ta. Như thế có lẽ trong vòng 20 hay 25 năm chúng ta có thể bắt buộc mọi giấy tờ đều viết bằng tiếng Pháp, do đó chữ Nho sẽ dần già bị bỏ rơi mà chúng ta chẳng cần phải cấm đoán gì.

 “Khi chúng ta đạt được thành quả lớn lao đó, chúng ta xóa đi của nước Trung hoa một phần lớn ảnh hưởng tại An nam và phe trí thức An nam là phe rất căm ghét sự thiết lập thế lực Pháp, cũng sẽ bị tiêu diệt dần dần.”

 Chữ quốc ngữ là phương tiện chính trị, xâm chiếm Việt Nam:Vấn đề này có tầm quan trọng rất lớn, sau khi đạo Thiên Chúa được thiết lập, tôi xem việc tiêu diệt chữ Nho và thay thế dần dần ban đầu bằng tiếng An nam, rồi bằng tiếng Pháp như là phương tiện rất chính trị, rất tiện lợi và rất hiệu nghiệm để lập nên tại Bắc Kỳ một nước Pháp nhỏ ở Viễn Đông.”

Bắc Kỳ = nước Pháp nhỏ ở Viễn đông: “Tôi đã làm việc gần 30 năm trong phái bộ và tôi biết khá nhiều về đất nước này để bảo đảm được rằng nếu chính phủ chấp thuận theo kế hoạch mà chúng tôi hân hạnh đưa ra, thì không bao lâu nữa Bắc kỳ sẽ thành một nước Pháp nhỏ ở Viễn đông mà tôi một lòng tha thiết muốn xây dựng.”

VIII. KẾT LUẬN (2 dẫn chứng)

(i) NNC An Chi (Alexandre de Rhodes không phải là người sáng tạo ra chữ Việt): “Cái tâm lý đòi dân ta phải mang ơn A. de Rhodes chẳng qua là hậu quả của sự nhồi sọ mà bọn thực dân Pháp đã thực hiện trong thời kỳ chúng còn cai trị dân ta, nước ta. Ngoài ra, còn có thể có cả những nguyên nhân khác thuộc về tâm thức riêng, và cả... tín ngưỡng riêng nữa.”

“Người ta thì làm cuốn từ điển để tạo điều kiện thuận lợi cho việc truyền đạo của người ta mà mình thì cứ nằng nặc đòi người Việt Nam phải ghi công ông cố đạo Alexandre de Rhodes, thậm chí có người mà lòng biết ơn cụ cố còn làm tượng nặng đến những 43 tấn.” (Theo antg.cand.com.vn)

(ii) Tình trạng tôn vinh Alexandre de Rhodes là lố bịch:

GS. Jacques Roland, trưởng khoa giáo luật ở đại học Saint Paul, Ottawa, Canada (“Pionniers Portugais de la Linguistique Vietnamienne Jusqu’en 1650” = Những Người Bồ Đào Nha Tiên Phong Về Ngôn Ngữ Học Việt Nam Cho Tới 1650). Bản dịch của Trần Chung Ngọc trong bài viết của ông: “Giáo Sĩ Đắc-Lộ & Chữ Quốc Ngữ”

(https://sachhiem.net/TCN/TCNdt/TCNdt070.php)

Đề cao thái quá: “Đến khi chữ quốc ngữ đã bắt đầu được sử dụng chính thức tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, người ta cố truy tìm lịch sử của nó, bấy giờ tên tuổi Alexandre de Rhodes đã sớm được công nhận như là người khai sinh ra việc chuyển vần La- tinh vào tiếng Việt Nam. Rồi từ đó ông được nâng lên tận mây xanh như một ngôi sao đứng một mìnhsoi sáng cho đêm tối của quá khứ xa xưa, của những thời kỳ truyền giáo tiên khởi, trước khi các vị truyền giáo Paris đến, trong đó Taberd và các đấng kế vị là những đại diện có tên tuổiChính quyền thực dân và Giáo Hội đều đã ca ngợi thiên tài truyền giáo và ngữ học có một không hai của vị tu sĩ Dòng Tên, tán dương những lợi ích đem lại cho Việt Nam trong thời đại mới….”

Thấy vậy không phải vậy:Về việc cho rằng Rhodes là người khai sinh ra các công trình có tính cách quyết định về tiếng quốc ngữ, các nhà nghiên cứu khoa học đã từng thấy hơi vướng vấp trước một mâu thuẫn: Rhodes, sinh ở Avignon, được xem là nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ; thế nhưng hệ thống chuyển tiếng Việt bằng chữ La tinh lại không mang dấu vết tiếng nói của Boileau ...”

Sao phải tránh né? “Tuy vậy đã không ai cố tìm hiểu để bác khước vị thế khai sáng của Alexandre de Rhodes từng được xem là cha đẻ của chữ viết này; người ta lại cố tìm cách tránh né khó khăn trên bằng cách đưa ra giả thiết về gốc gác có tính đa quốc của vị tu sĩ người Avignon ấy, đồng thời thổi phồng khả năng ngữ học vô song về nhiều thứ tiếng khác nhau của ông.”

 

****

MỜI XEM HAI BÀI GIẢNG CỦA TT. THÍCH NHẬT TỪ VỀ CHỦ ĐỀ NÀY

Bài 1: “LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES KHÔNG PHẢI NGƯỜI SÁNG TẠO CHỮ QUỐC NGỮ VÀ KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ DUY NHẤT CỦA TỪ ĐIỂN VIỆT-BỒ-LA

TT Nhật Từ giảng tại Chùa Giác Ngộ, lúc 18:22 ngày 28-11-2019 nhân dịp Sở Văn hoá - Thể thao Đà Nẵng tạm ngưng Dự án đặt tên đường Tại TP Đà Nẵng có ALEXANDRE De RHODES”

- Facebook: https://www.facebook.com/ThichNhatTu/videos/960700710961307?vh=e&d=n&sfns=mo
-Youtube: https://youtu.be/GQEtHqIyR9E

< iframe id="ctrl_media_Mt6iEyq_10022021_youtube" frameborder="0" allowfullscreen="1" allow="accelerometer; autoplay; clipboard-write; encrypted-media; gyroscope; picture-in-picture" title="YouTube video player" width="689" src="https://www.youtube.com/embed/GQEtHqIyR9E?rel=0&modestbranding=1&wmode=transparent&enablejsapi=1&origin=https%3A%2F%2Fthuvienhoasen.org&widgetid=1" style="outline: none; line-height: 1.5; margin: 0px; padding: 0px; appearance: none; background-clip: padding-box; box-sizing: border-box; text-overflow: ellipsis; border-width: 0px; border-style: initial; position: absolute; top: 0px; left: 0px; width: 688.625px; height: 387.344px;">< /iframe>


(i) UBND Đà Nẵng ngừng đặt tên đường cho Alexandre de Rhodes là quyết định đúng với Khoản 5, điều 10, nghị định 91/2005/NĐ-CP
(ii) Alexandre de Rhodes không phải là tổ khai sáng chữ quốc ngữ Latinh hóa
(iii) Chữ quốc ngữ của Alexandre de Rhodes rất sơ khai
(iv) Alexandre de Rhodes không phải là tác giả duy nhất của Từ điển Việt-Bồ-La
(v) Chống Alexandre de Rhodes sao lại dùng tiếng Việt Latinh của ông?
(vi) Chữ quốc ngữ Latinh và chiến lược xâm lăng Á châu của Bồ-đào-nha và thực dân Pháp
(vii) Chủ nghĩa thực dân và vai trò của các giáo sĩ dòng Tên (Jesuists)

Bài 2: “LINH MỤC ALEXANDRE DE RHODES THÓA MẠ ĐỨC PHẬT VÀ XÚC PHẠM TAM GIÁO TRONG SÁCH ‘PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY’ CỦA ÔNG

TT. Nhật Từ giảng tại Chùa Giác Ngộ vào lúc 18:30 ngày 29-11-2019

(i) Văn bản, tán dương và phê phán Alexandre De Rhodes

(ii) Nhận xét tổng quát về Alexandre De Rhodes

(iii) Đóng góp cho chữ quốc ngữ, nhiệm vụ và ý đồ của Alexandre de Rhodes

(iv) Khát quát về “Phép giảng tám ngày”

(v) Thóa mạ đức Phật và “tam giáo” bằng ngôn ngữ kém văn hóa

(vi) Thóa mạ đức Phậtmiệt thị đạo Phật

(vii) Phê phán tục cúng ông bà của Việt Nam

https://www.facebook.com/ThichNhatTu/videos/547751742439287?vh=e&d=n&sfns=mo

Youtube: https://youtu.be/zd0eMf4l4j0



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Xem tướng phụ nữ [21.01.2022 22:46]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 
Việt Nam Hóa chiến tranh: Môt sự lừa dối dối tàn ác [NEW]
Xem tướng phụ nữ
Thiền Sư Nhất Hạnh ra đi 'yên bình' ở tuổi 95
CSBK lừa cả dân tộc Đại Ngu đến bao giờ?
CSVN trao tặng huy chương cho tội phạm ấu dâm gốc Hoa Minh Béo
Đề đốc Lâm Ngươn Tánh của hải chiến Hoàng Sa qua đời ở Mỹ- Ôn lại hải chiến Hoàng Sa
Thành kính phân ưu gia đình ký giả thi thi văn sĩ giáo sư Hoang lê vừa tạ thế tại Montr1al do Covid
Hun Sen tay sai TQ vong ân bội nghĩa, ASEAN phản đối hội nghị Siem Reap: Không phải Trung Quốc muốn phá cái gì cũng được
Ngươi Việt cẩn thận: Thêm một phụ nữ gốc Á bị Mỹ đen sát nhân dã man xô xuống đường rày tan xác khi xe điện ngầm đang vừa tới do thù ghét chủng tộc
TQ ném đá công nhân VN , chơi kiểu ông nội VC: Cấm xe chở thực phẩm VN tại biên giới làm hư hỏng hết trong khi cho xe lửa chở hàng sang VN được tiếp đón thượng khách
Bắc Kinh đã ngăn cản Võ Nguyên Giáp trở thành Tổng Bí thư như thế nào?
Tai họa do bọn chính quyền CS MAFIA trong đại dịch Covid: Cưỡng bức dân tiêm Vaccine TQ gây hậu quả cực kỳ nghiêm trọng cho sự tồn vong của dân tộc VN
Đại ngu quốc nhục: CSVN đồng tài trợ với Trung Quốc cho trụ sở mới của Bộ Quốc phòng Campuchia để cùng xâm lăng đồng hóa VN
Bộ xét nghiệm Việt Á: Trò lừa bịp âm mưu của CSBK tay sai TQ bóc lột tiền dân làm dịch lây lan khắp nước tiêu diệt dân tộc VN
Chúc mừng giáng sinh và Năm Mới Hạnh Phúc

     Đọc nhiều nhất 
Thủ tướng Hun Sen buộc CSVN xin lỗi nếu không muốn bị trừng phạt vì tuyên bố Covid lan từ Campuchia thay vì từ TQ [Đã đọc: 554 lần]
TQ là tác giả của Corona virus nhưng cả thế giới khiếp sợ bị trừng phạt nên không dám tố đích danh [Đã đọc: 532 lần]
Thanh Hóa quê hương Phạm Minh Chính, cái nôi cách mạng trung thành với TQ được chích Vaccine Tàu nhiều người tử vong [Đã đọc: 491 lần]
Chính phủ CSVN triều cống nô lệ Việt làm lao nô tại Serbia để TQ bóc lột tận xưởng tủy [Đã đọc: 485 lần]
Huỳnh Thục Vy ‘bình an đón nhận’ tin thi hành án tù vì tội 'xúc phạm Quốc kỳ' [Đã đọc: 480 lần]
Dịch bệnh lây lan chết chóc quá nhiều hơn số công bố dân hết tin tưởng, CSVN se ngưng công bố về dịch bệnh để mặc dân sống chết kệ bay [Đã đọc: 477 lần]
Phong trào cán bộ CS tự tử gia tăng [Đã đọc: 456 lần]
Hoa hậu Việt Nam đồng hương Phạm Minh Chính biểu diễn đàn T'rưng Diệt MỸ giúp TQ bị đánh rớt [Đã đọc: 417 lần]
Vụ cô gái quỳ gối trong shop quần áo: Đồng hương thủ tướng PMC thuộc gia đình quá nghèo, đông con! [Đã đọc: 380 lần]
Nhân viên Trung Quốc bị tố trộm bí mật vắc-xin Covid-19 của Pfizer [Đã đọc: 360 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.