Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Tư 2026
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30      
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 7
 Lượt truy cập: 28983868

 
Tin tức - Sự kiện 21.04.2026 12:33
Lừa bịp có một không hai trong lịch sử: VC thờ HCM người Hoa!
09.09.2013 11:18

Nhận định về Hồ Tập Chương trong tác phẩm "Sinh bình Khảo"
  

Nhóm Hành Khất (Danlambao) - Giáo sư Hồ Tuấn Hùng là tác giả của cuốn "Sinh bình Khảo" ("Khảo cứu về Cuộc đời Hồ Chí Minh") được xuất bản vào năm 2008, vốn đã tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan. Ông sinh năm 1949 (có tài liệu nói là sinh năm 1948), tại Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, và từng dạy học hơn 30 năm, đồng thời còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính. 

Ông ta đã bỏ ra nhiều năm nghiên cứu, đối chiếu nhiều tư liệu khác nhau để hoàn thành tác phẩm mà ông ta đã từng ôm ấp từ lâu mà nó cũng là nguyện vọng của gia tộc được trọng giao lại cho ông ta, nhất là lời trăn trối sau cùng của người cha của ông ta.
Như Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đã bày tỏ trong phần mở đầu, nơi trang 11, như sau: "Nội dung cuốn sách nầy hoàn toàn bảo đảm tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người." Rất nhiều lần, từ phần "Thay lời tựa," suốt trong cuốn sách, đây đó, đến phần cuối cùng, tác giả luôn luôn khẳng định là: "Hồ Chí Minh sau năm 1933 chính là Hồ Tập Chương đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan, tuyệt đối không phải là Nguyễn Ái Quốc." Và cũng như thế, rất nhiều lần ông ta hoàn toàn khẳng định là việc làm nầy của ông ta không phải vì mục đích tìm kiếm danh lợi mà chỉ muốn trả sự thật về cho lịch sử mặc dù nếu xét ra Hồ Chí Minh chính là bác ruột của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng.

A. Về thân thế Hồ Tập Chương:

Nơi trang 53, tác giả Hồ Tuấn Hùng cho biết về thân thế của nhân vật Hồ Tập Chương như sau:

- Sinh năm 1901 (Minh Trị năm thứ 34).

- Cha là Hồ Dần Lượng vốn là tú tài (sinh đồ), mở nhà dạy học kiêm nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Dân địa phương phục tài xưng là "Thánh nhân" và mẹ là Lý Thị.

- Là người con thứ 7 trong số 10 anh chị em (người anh thứ 3 tên là Hồ Tập Phỉ, người em út là Hồ Tập Dưỡng).

- Tốt nghiệp Đại học Công nghiệp số 1 Đài Bắc vào năm 1921 trong thời Nhật chiếm đóng Đài Loan.

- Trong khoảng thời gian 1922--1928, ông ta trở về vùng Miêu Lật và mở xưởng nấu rượu và tiệm thuốc Bắc cùng người anh trưởng.

- Kết hôn vào năm 1926 với người địa phương tên là Lâm Quế.

- Có đứa con gái đầu lòng tên là Hồ Tố Mai vào năm 1928 và đứa con trai trưởng là Hồ Thự Quang vào năm 1930 (tính đến năm 2013 là 83 tuổi).

- Tham gia "Tổ chức Lao động Thái Bình Dương" của Cộng sản Quốc tế với bí danh là Hồ Quang vào năm 1929.

- Bị bắt ở Quảng Châu vào năm 1931 và được giải cứu.

- Từ năm 1932--1933, ông ta đến vùng núi Quảng Tây khai thác quặng mỏ và qua Xiêm La hoạt động và mất liên lạc với gia đình.

Và khoảng thời gian quan trọng là thời kỳ sau năm 1933 được tác giả cho biết như sau:

- Khoảng cuối năm 1938 (tháng 11 và 12) làm thông dịch cho quân đội Nhật.

- Khoảng đầu năm 1939, gia nhập Bát lộ Quân và từ đó không liên lạc gì với gia đình.

B. Nhận định sơ lược:

Cùng một mục đích "trả lại sự thật cho lịch sử," Ngô Trọc Lưu vốn là người từng được vinh danh là "Người cha của nền văn nghệ Đài Loan" vào năm 1946 (theo trang p51) cho xuất bản cuốn sách bằng tiếng Nhật với tựa đề "Hồ Chí Minh" được chuyển qua Trung văn là "Đứa con côi châu Á," từng nói: "Cần phải xem việc lẩn tránh sự thật chính là xuyên tạc lịch sử."

Nơi trang 51 cho biết thêm là "Trước đây, Ngô Trọc Lưu và Hồ Tập Chương rất quen biết nhau, sau nầy ông cùng với em trai Hồ Tập Chương là Hồ Tập Dưỡng, cháu rể Hồ Tập Chương là La Lộc Xuân có mối quan hệ rất thân mật." Ông ta cũng thừa nhận là:

"Hồ Chí Minh xuất thân là người thuộc sắc tộc Khách Gia (Hakka, người Việt gọi là Hẹ) tại huyện Miêu Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan" (trang 05).

Qua hàng loạt những sự kiện lịch sử liên quan đến Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh và Hồ Tập Chương, Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đưa ra nhiều bằng chứng và dẫn chứng hùng hồn cho kết quả thừa nhận của mình. Và qua đó, tập thơ "Ngục trung Nhật Ký" ("Nhật ký trong Tù") vốn gây nhiều tranh cãi về vấn đề ai là tác giả mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã từng tung ra rất nhiều sách để ca tụng tác giả Hồ Chí Minh, được Giáo sư chứng minh rất cụ thể qua từng ý nghĩa, cũng như nguồn gốc của chữ, cách chơi chữ của một người lão luyện về Hán tự mà một Nguyễn Ái Quốc tức Nguyễn Tất Thành không tài nào có thể có được một kiến thức sâu rộng về Trung văn đến như thế vì không có đủ thời gian tu tập về chữ Hán trước đây hay nói đúng hơn là trình độ Hán văn của Nguyễn Tất Thành chỉ là sơ cấp. Mặc dù sau nầy, Nguyễn Tất Thành được Tăng Tuyết Minh, người vợ Quảng Châu đầu tiên của ông ta, dạy thêm về tiếng Quảng nhưng đó cũng chỉ là văn nói hơn là văn viết.

Tiếng Tàu đơn âm cũng như tiếng Việt, nên học nói rất dễ nhưng học viết lại là một vấn đề khác, mà học cách viết văn, thơ điêu luyện lại càng rắc rối hơn. Cái cách điêu luyện đó, chỉ có những người bản xứ mới hiểu thấu. Và đó là cách nhận định của Giáo sư với tư cách là người cùng địa phương của tác giả "Ngục trung Nhật ký."

Trong khi đó, một Hồ Chí Minh sau năm 1933 đã cố tình tung ra lai lịch "huyền thoại" hầu tự ca tụng và che lấp quá khứ của chính mình trong cuốn sách đầu tay là "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch" của tác giả Trần Dân Tiên (cũng là Hồ Chí Minh) được xuất bản lần đầu tiên tại Trung Quốc năm 1948 và tại Paris năm 1949, và tiếp theo là một cuốn sách khác với nội dung và mục đích như cuốn sách đầu tiên là cuốn "Vừa đi đường Vừa kể chuyện" của tác giả T.Lan (cũng là Hồ Chí Minh) được xuất bản lần đầu vào năm 1950 tại Trung Quốc và trên báo "Nhân dân" của Hà Nội vào năm 1961.

Mặc dù trên khía cạnh chính trị, dường như tác giả cũng có ít nhiều niềm tin vào những người Cộng sản, khi tin rằng Hồ Chí Minh có khuynh hướng dân tộc hơn là Cộng sản và tin tưởng vào những gì mà Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố về vấn đề "hòa hợp hòa giải" mà không hề đá động gì đến vấn đề cải tạo trừng phạt những quân nhân của Việt Nam Cộng hòa mà qua đó chính là chủ ý của chế độ Cộng sản. Dường như đó là cách mà tác giả cố tình bảo vệ, bào chữa cho Hồ Tập Chương (Hồ Chí Minh) là một người yêu dân tộc, không hẳn là một tay mật vụ của Cộng sản Quốc tế sau nầy. Tác giả cũng quá ngây thơ khi nghĩ rằng, một tay mật vụ Cộng sản Quốc tế khi muốn quay về với dân tộc thì dễ dàng tuyên bố và thoát ra khỏi lưới mật vụ trừng phạt như trường hợp Hồ Chí Minh, trong khi mạng tình báo Trung cộng lúc nào cũng cận kề trong và ngoài nội bộ đảng Cộng sản Việt Nam.

C. Nhận định chi tiết:

Nhằm bổ sung thêm tư liệu "Sinh bình Khảo" của tác giả hầu làm sáng tỏ vấn đề ai là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Tập Chương, và Hồ Chí Minh; Qua những tài liệu dồi dào hôm nay, người ta có thể ngẫm nghĩ, tự hỏi, và so sánh để tìm ra một lý lẽ thích hợp nhất. Mặc dù nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam tìm mọi cách giấu kín sự thật đến khi họ khó lòng có thể chối bỏ thì tìm cách bào chữa cho hành động của họ hoặc "im lặng" phớt lơ, xem như việc đã rồi (đó là cách mà họ hay sử dụng nhất). Và không những thế, họ xem đó là một thành công về tuyên truyền dù phải xem thường lịch sử, hay phải sửa đổi, thậm chí nếu cần thì xóa bỏ luôn phần đó.

I. Về thể hình:

Về vấn đề nhận diện thể chất của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Tập Chương, tác giả có nhắc đến vấn đề vành tai trái có vết sẹo của Hồ Tập Chương mà người ta có thể dễ dàng nhận ra trong những bức hình của Hồ Chí Minh sau nầy:



Hình 01 Hình 02 Hình 03 

Hình 01: Nguyễn Ái Quốc vào năm 1919 (theo ghi chú dưới hình).

Hình 02: Bức hình nầy theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng có nhiều nghi ngờ. Quả thật, nếu so với hình số 1, nó rất thiếu tự nhiên như là cái đầu được cắm vào (càm nhọn hơn, quay hàm chạy một đường thẳng --lộ hẳn bên ngoài vành khăn, đôi chân mày được tô đậm hơn, hàm răng lộ ra, hai vành mũi nhỏ lại, vần trán cũng bị thu hẹp)

Hình 03: Bức hình nầy theo Giáo sư chính là Hồ Tập Chương lúc còn trẻ. Từ bức hình số 02, vốn bị sữa lại sao cho khuôn mặt ốm đi, qua cách vẽ lại quay hàm, để sao cho có nét gần giống bức hình số 03 nầy. Tuy nhiên, nếu nhìn vành tai trái sẽ thấy sự khác biệt: hình số 03 có trái tai to hơn, và vành tai tròn, rộng hơn.


Hình 04 Hình 05 Hình 06

Hình 04: Nguyễn Ái Quốc tại Đại hội toàn quốc Đảng Xã hội Pháp ở thành phố Tour, Pháp vào tháng 12/1920. Bức hình số 03, phần nhiều có nét như bức hình số 05, được xem như là Nguyễn Ái Quốc

Hình 05: Nguyễn Ái Quốc là đại biểu Bán đảo Đông Dương tại Đại hội Cộng sản Pháp ở Marseilles vào năm 1921

Hình 06: Dù được cho là hình của Nguyễn Ái Quốc vào năm 1921, nhưng xét ra không có nét của hai bức hình số 04 và 05 vì chân mày trái cong gãy về phía cuối, trong khi bên phải nhô cao hơn (tương tự hình số 03). Phần lớn có nét của hình số 01 là Hồ Tập Chương với cái miệng hơi nhọn nhưng không rộng quá so với hình số 04 và 05.


Hình 07 Hình 08 Hình 09

Hình 07: (Sau đại hội ở Moscow, Nguyễn Ái Quốc (theo tác giả nhìn nhận) vào năm 1925, lúc về Quảng Châu tham gia cách mạng Trung Quốc, đồng thời lo xây dựng phong trào cách mạng Việt Nam). Tuy nhiên, nếu so sánh với bức hình số 08, cho thấy phần lớn có nét giống nhau, nhưng bức hình nầy dường như không có nét nào của người dân quê miền Bắc, vùng Nghệ Tỉnh. Dường như đây lại là một bức hình được chỉnh sữa từ bức hình số 08.

Hình 08: (Nguyễn Ái Quốc??? trong thời gian bị tù ở Hương Cảng được Luật sư Francis (Frank) Henry Loseby biện hộ và bảo vệ cho chuyến trốn thoát đến Moscow vào khoảng năm 1932). Bức hình nầy có nét chân mày trái cong gãy của bức hình số 06, và càm nhọn vì vậy khó chấp nhận là hình của Nguyễn Ái Quốc mà là hình của Hồ Tập Chương cũng bị bắt trong khoảng thời gian nầy.

Hình 09: (Nguyễn Ái Quốc vào năm 1930 trong nhà triển lãm ở Việt Nam. Bức ảnh truyền thần của của Nguyễn Sinh Huy, thân phụ Nguyễn Ái Quốc). Cái miệng rộng ngang và nhất là cái mũi hơi to mang nét đặc trưng của người Nghệ Tỉnh hơn, cũng như chiếc càm khá rộng, có khả năng đúng là hình của Nguyễn Ái Quốc đang mang bệnh lao nặng làm gầy ốm khuôn mặt nhiều trong khoảng thời gian trước vào sau ngày lao tù.


Hình 08b Hình 10 Hình 11

Hình 08b: Bức hình trong nghi vấn nầy lại có nhiều nét giống với bức hình số 10 (tái xuất hiện trong một khoảng thời gian mất tích) và bức hình số 11 (lúc nầy tự xưng là Hồ Chí Minh). Từ chân mày trái cong gãy đến vành tai phải nhọn đầu trong khi vành tai phải cong tròn khác với bức hình số 09 ở trên.

Hình 10: Ảnh Hồ Chí Minh năm 1934 tại Mạc Tư Khoa trong "Truyện Hồ Chí Minh" của William J. Duiker. (Theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, đây là Hồ Tập Chương). Như vậy, chứng minh ngược lại là bức hình số 08 cũng là Hồ Tập Chương.

Hình 11b Hình 12
Hình 11: Tấm ảnh Hồ Chí Minh nầy do Andred Roth chụp đăng trong "Tân Việt Nam" vào năm 1946 tại Việt Bắc. Và từ đây trở về sau, nhân vật chính trong đảng Cộng sản Việt Nam đã thay thế hoàn toàn một Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Tập Chương.




Hình 11b: Bức hình Hồ Tập Chương (tức Hồ Chí Minh) nầy có những nguồn tin khác cho là vào năm 1944 ở Việt Bắc (không phải là 1946).

Hình 12: Theo vi.wikipedia, bức hình Hồ Chí Minh nầy vào năm 1946, sau khi cướp lấy chính quyền của Thủ tướng Trần Trọng Kim.



Hình 13 Hình 14

Hình 13: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1954, trong thời kỳ thảm sát đẫm máu nhất của công cuộc Cải cách Ruộng đất và bắt đầu cuộc ly hương của những người dân miền Bắc vào Nam theo ký kết hiệp ước giữa hai miền.

Hình 14: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1957, trong thời kỳ chuẩn bị ráo riết những cuộc vận chuyển vũ khí do Liên Xô và Trung cộng cung cấp bằng những con tàu "không số" do Trung cộng chế biến, và bằng những đường rừng núi của "Đường mòn Hồ Chí Minh" để tiến hành cuộc xâm lược miền Nam Việt Nam lâu dài qua chiêu bài "thống nhất đất nước." Có lẽ, Hồ Tập Chương chỉ được huấn luyện để làm cách mạng Cộng sản hơn là có sự hiểu biết về làm cách nào phát triển đất nước, nên con đường phải đi là quyết chiếm cho bằng được miền Nam Việt Nam sau Hiệp định Phân chia Genève 1954 để khỏa lấp nền kinh tế đang suy bại khủng khiếp sau công cuộc Cải cách Ruộng đất.


Hình 15

Hình 15: (Ghi chú trong bức hình: "Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm viện "Cải lão hoàn đồng" ở Rumani, tháng 8/1957"). Đây là bằng chứng cho thấy Hồ Tập Chương thường đi ngoại quốc để sửa chữa da mặt, tiêm thuốc căng da.

HCM Thật Chết 1932, 1 HCM Giả Lên Thay; Sử Gia Hồ Tuấn Hùng: HCM Giả Là Người Tàu

Ông Hồ Chí Minh (tức chàng thanh niên Nguyễn Tất Thành) đã chết bệnh vaò năm 1932, và vào năm sau, 1933, một nhà hoạt động gốc người Hẹ ở TQ tên là Hồ Tập Chương đã dùng lý lịch người chết để mạo nhận là ông Hồ Chí Minh nhằm tiếp tục vai trò CS Quốc Tế giao phó là nhuộm đỏ Việt Nam. Đó là một khám phá mới được trình bày trong tập biên khảo của Giáo Sư Hồ Tuấn Hùng, một chuyên gia sử học ở Đài Loan.
Nếu các khám phá trên là đúng, thì người ta dễ dàng hiêu được vì sao ông Hồ làm thơ chữ Hán rất là hay trong khi làm thơ tiếng Việt thành ra vè, và cũng hiểu vì sao ông Hồ sau khi cầm quyền đã tránh né nhiều dịp gặp gỡ họ hàng thân tộc ở Nghệ An. Và cũng dễ dàng hiểu vì sao ông Hồ giả khi lên ngôi, đã không muốn tìm gặp bà Tăng Tuyết Minh, vì sợ người vợ của ông Hồ thật sẽ dễ dàng khám phá vì các thói quen chăn chiếu không cách chi giả mạo nổi, và cũng dễ hiểu vì sao trứơc khi chết, ông Hồ giả lại xin cho nghe một ca khúc dân gian Trung Hoa...
Chưa thấy nhà nứớc Hà Nội lên tiếng gì về tác phẩm biên khảo này. Cac1 thông tin sau đây đã đăng trên trang Ý Kiến (www.ykien.net) ngày 29-11-2008, từ bài gốc là của nhà văn Tạ Phong Tần (Công Lý và Sự Thật's Blog). Bản tin như sau.

Gs Hồ Tuấn Hùng: Hồ Chí Minh Là Người Khách Gia (Trung Quốc)


Sách “HỒ CHÍ MINH SANH BÌNH KHẢO” (Khảo cứu về cuộc đời Hồ Chí Minh) do tác giả Giáo sư Hồ Tuấn Hùng (Đài Loan) dày công nghiên cứu trong nhiều năm qua, vừa được Nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành tại Đài Loan vào ngày 01/11/2008 (mã số ISBN: 9789866820779).
Giáo sư Hùng sanh năm 1949, tốt nghiệp khoa Lịch sử của Trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, có kinh nghiệm giáo chức 30 năm đồng thời ông còn là viên chức cao cấp Giáo Dục Hành Chính.
Theo Giáo sư Hồ Tuấn Hùng, cụ Hồ Chí Minh xuất thân là người dân tộc Hồ trong nhóm Khách Gia (Hakka, người Việt ở Bạc Liêu gọi là Hẹ) tại huyện Miên Lật, địa khu Đồng La, Đài Loan.
Lời giới thiệu sách trên website của Nhà sách Press Store như sau:
Mặc dù thời gian đã vào Thiên niên kỷ thứ 2, phương tiện truyền thông và công nghệ hiện đại đã phát triển mạnh, nhưng trong 40 năm qua, gia đình, lịch sử, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng cách mạng, thực tế hôn nhân, thậm chí những bí ẩn của sự sống và cái chết của “cha Hồ Chí Minh” vẫn bị Đảng Cộng sản che giấu như “bị khóa trong hộp đen, tại sao ?”.
Giáo sư Hùng nhiều lần khẳng định rằng, ông Nguyễn Ái Quốc đã “bệnh vong” năm 1932, từ năm 1933 và người đội lốt cái tên Nguyễn Ái Quốc, sau này là Hồ Chí Minh, chính là một người tộc Khách Gia có tên là Hồ Tập Chương - một người dòng tộc Giáo sư Hồ Tuấn Hùng.
Quý vị có thể tham khảo nội dung sách tại website của nhà sách Press Store ở đây (http://translate.google.com/translate?client=tmpg&hl=en&u=http%3A%2F%2Fwww.vital.com.tw%2Fps%2FShowPage.asp%3Fpage%3Ddefault&lan gpair=zh-TW|vi -- xem hàng cuối, cột thứ nhì).
Công bố của Giáo sư Hồ Tuấn Hùng quả là một “quả bom tấn” gây chấn động mạnh trên thế giới và cộng đồng người Việt, hoàn toàn ngược lại với những gì mà người Việt Nam được biết về cụ Hồ Chí Minh qua các chương trình giáo dục của sách giáo khoa giảng dạy trong nhà trường và báo chí, sách vở xuất bản tại Việt Nam.
Sự việc quả là rất quan trọng vì Giáo sư Hồ Tuấn Hùng đã lật đổ toàn bộ “thần tượng” về một lãnh tụ được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ Việt Nam suy tôn là “Cha già dân tộc Việt Nam”, bỗng dưng đùng một cái, cụ Hồ Chí Minh lại trở “trở về cội nguồn” thành “con dân Trung Quốc” thì rõ ràng là không thể chấp nhận được.
Sách đã xuất bản và lưu hành rộng rãi từ ngày 1/11/2008, tính đến nay đã 27 ngày, nhưng chưa thấy phía Chính phủ Việt Nam có động tĩnh gì.
Thiết nghĩ Chính phủ Việt Nam cần sớm có tiếng nói chính thức để phản biện lại vấn đề này (Ví dụ: Kiện tác giả ra Tòa án Quốc tế), giống như Chính phủ Trung Quốc đã phản ứng mạnh mẽ vụ sách giáo khoa lịch sử của Nhật che giấu những tội ác mà quân đội Nhật gây ra tại Châu Á trong thời gian Chiến tranh Thế giới thứ Hai.
Tạ Phong Tần

http://www.vietbao.com/?ppid=45&pid=4&nid=137873

Phạm Đình Lân


Hồ Chí Minh: Người Việt hay Người Tàu?

Trong bài viết nầy tôi cố gắng tìm hiểu xem Hồ Chí Minh là người Việt hay người Tàu để góp ý cùng học giả Đài Loan (Taiwan) Hồ Tuấn Hùng trong Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo hiện được lục địa Trung Hoa nhiệt liệt đón nhận. Sự im lặng của Hà Nội làm cho nhiều người nghi rằng Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, một người Tàu giả làm Hồ Chí Minh lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam từ thập niên 1930 đến khi chết năm 1969...

Hồ Chí Minh là lãnh tụ của Cộng Sản Việt Nam và là người được bao vây bởi nhiều chuyện huyền hoặc bí hiểm. Ông có tới 120 tên và bí danh tiếng Việt, Hoa, Pháp, Đức, Nga, Thái, La Tinh, v.v…

Về nơi sinh của ông có sách ghi là làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Có sách lại ghi là làng Hoàng Trù, quê ngoại cùng huyện và cùng tỉnh.

Về ngày sinh của ông chắc chắn không phải là ngày 19-05 như bài ca Mười Chín Tháng Năm Ngày Sinh Bác Hồ và được chánh quyền Hà Nội dùng để tổ chức lễ sinh nhật cho ông. Năm sinh của ông biến đổi từ 1890, 1891 rồi 1892, 1894. Theo tài liệu chính thức của đảng Cộng Sản Việt Nam năm sinh của ông là 1890 (Canh Dần). Các thầy tử vi không biết dựa vào đâu mà cho rằng ông sinh ngày 06-06-1891 (ngày 06-06 là ngày Âm Lịch) năm Tân Mão. Trong bức thơ gởi từ Pháp cho chánh quyền thuộc địa năm 1911, ông ghi năm sinh của ông là 1892, tức năm Nhâm Thìn, v.v…

Trong bài viết nầy tôi cố gắng tìm hiểu xem Hồ Chí Minh là người Việt hay người Tàu để góp ý cùng học giả Đài Loan (Taiwan) Hồ Tuấn Hùng trong Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo hiện được lục địa Trung Hoa nhiệt liệt đón nhận. Sự im lặng của Hà Nội làm cho nhiều người nghi rằng Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, một người Tàu giả làm Hồ Chí Minh lãnh đạo Cộng Sản Việt Nam từ thập niên 1930 đến khi chết năm 1969. Sự im lặng được hiểu theo ba cách:

1- Người Cộng Sản Việt Nam không biết gì về Hồ Chí Minh. Họ theo Cộng Sản vì thù giai cấp và vì ước muốn cải thiện cuộc sống bởi họ được dạy rằng họ không có cái gì để mất cả. Nếu mất thì mất ngục tù, xiềng xích và sự nghèo khổ. Nếu được thì được tất cả!

2- Chủ nghĩa Cộng Sản là chủ nghĩa quốc tế, chủ nghĩa đại đồng. Hồ Chí Minh là người Tàu cũng không sao vì người Cộng Sản trên thế giới đều tôn thờ Marx, Engel, Lenin, Stalin, những người hoàn toàn xa lạ trong nước họ. Riêng đối với Cộng Sản Việt Nam và Bắc Hàn, ngoài các nhân vật vừa kể, còn có thêm Mao Zedong (Mao Trạch Đông) nữa. Những nhân vật trên không phải là đồng hương hay đồng bào của họ.

3- Người Cộng Sản Việt Nam khép nép và khiếp sợ trước Cộng Sản Trung Hoa nên không dám có ý gì khác với Beijing cho dù biết học giả Taiwan và Cộng Sản Trung Hoa gượng ép sự kiện lịch sử để cường điệu tài năng xuất chúng của người Hoa.

Nói vắn tắt ông Hồ Tuấn Hùng cho rằng Hồ Chí Minh là người Tàu chớ không phải Nguyễn Ái Quốc vì, theo học giả nầy, Nguyễn Ái Quốc tức Tống Văn Sơ đã chết vì bệnh lao trong bịnh viện của khám đường Hong Kong nơi Tống Văn Sơ bị giam giữ sau khi bị bắt ở Hong Kong năm 1931. Ông Hồ Tuấn Hùng cho biết ông thấy giấy khai tử của Tống Văn Sơ chết năm 1932 do chánh quyền Anh ở Hong Kong lưu giữ.

Yếu điểm to lớn của tôi trong bài viết nầy là tôi không có một ngày bên chiến tuyến của Hồ Chí Minh, cũng không có một ngày nào được danh dự đứng gần ông mặc dù tôi là tác giả một cuốn sách về Hồ Chí Minh (1890 - 1969) bằng Anh ngữ.

*

Tên thật của Hồ Chí Minh là Nguyễn Sinh Cung, con của nhà nho Nguyễn Sinh Huy và bà Hoàng Thị Loan. Chị của ông là Nguyễn Thị Thanh tức Bạch Liên, anh là Nguyễn Sinh Khiêm. Không biết vì sao và vào lúc nào nhà nho Nguyễn Sinh Huy đổi tên Huy thành Sắc, Nguyễn Sinh Khiêm thành Nguyễn Tất Đạt và Nguyễn Sinh Cung thành Nguyễn Tất Thành. Sự thay đổi chữ lót và tên nầy có thể xảy ra trước năm 1901, năm nhà nho Nguyễn Sinh Sắc đậu phó bảng. Nó xuất phát từ sự nghèo khó của gia đình ông. Nhà nho chỉ ước mơ đỗ đạt trong kỳ thi tam trường để được bổ nhiệm ra làm quan hầu cải thiện cuộc sống. SẮC là khởi sắc, bằng sắc, màu sắc. TẤT THÀNH và TẤT ĐẠT như là một mệnh lệnh phải thành công, phải đạt được bằng mọi giá. Năm 1900 bà Hoàng Thị Loan chết trong cảnh nghèo khổ.

Nguyễn Tất Thành vào Huế học năm 1905. Đến năm 1910 ông bỏ học vào Phan Thiết và làm giáo viên cho một trường tư thục ở địa phương. Được vài tháng ông rời trường Dục Thanh để vào Sài Gòn. Năm 1911 ông tìm một công việc làm trên tàu Latouche Tréville. Nhờ làm việc trên tàu, ông có cơ hội xuất ngoại. Việc bỏ học và xuất ngoại của ông hoàn toàn vì lý do kinh tế. Cha ông, phó bảng Nguyễn Sinh sắc, bị cách chức tri huyện Bình Khê năm 1909. Ông phải sống phiêu bạt ở Sài Gòn bằng nghề bốc thuốc rồi phiêu dạt về Cao Lãnh (Kiến Phong sau nầy) và mất ở đó năm 1929.

Khi làm việc dưới tàu buôn Pháp, Nguyễn Tất Thành dùng tên Nguyễn Văn Ba. Đến Pháp, ông phục hồi lại tên Nguyễn Tất Thành. Năm 1917 nhà cách mạng Phan Châu Trinh gởi thơ gọi Nguyễn Tất Thành về Paris. Lúc ấy Nguyễn Tất Thành làm thợ nhồi bột để làm bánh ở London. Từ đó Nguyễn Tất Thành được quen với những nhà trí thức Tây học yêu nước ở Paris. Và ông cũng được xem là một thành viên của nhóm trí thức yêu nước, được gọi là nhóm Ngũ Long do Phan Châu Trinh đứng đầu cùng với các ông Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Tất Thành.

Phan Châu Trinh đậu phó bảng năm 1901 cùng với ông Nguyễn Sinh Sắc. Cả hai đều làm việc ở bộ Lễ dưới quyền của ông Ngô Đình Khả. Phan Châu Trinh rũ áo từ quan để dấn thân vào đường cách mạng và bị xử tử hình năm 1908 sau vụ biểu tình chống thuế rầm rộ ở Quảng Nam, Quảng Ngải, Phú Yên, Thừa Thiên. Bản án tử hình được đổi thành bản án lưu đày Côn Đảo trong khi phó bảng Nguyễn Sinh Sắc vẫn tiếp tục quan lộ với tư cách tri huyện Bình Khê, tỉnh Bình Định, cho đến khi bị cách chức vào năm 1909. Phan Châu Trinh đề xuất những bài xã luận trong nhóm Ngũ Long. Tiến sĩ Phan Văn Trường, kỹ sư Nguyễn Thế Truyền, nhà luật học Nguyễn An Ninh khai triển chủ đề bằng tiếng Pháp. Bút hiệu tập thể của nhóm là Nguyễn Ố Pháp (Nguyễn: ám chỉ người Việt Nam, Ố Pháp: ghét Pháp). Nguyễn Tất Thành đem các bài viết cho báo Xã Hội của Pháp đăng. Họ rất thích những bài xã luận của nhóm Ngũ Long và khuyên nhóm nên bỏ bút hiệu Nguyễn Ố Pháp làm mất lòng độc giả Pháp. Từ đó nhóm Ngũ Long dùng bút hiệu Nguyễn Le Patriot, dịch sang tiếng Việt thành Nguyễn Ái Quốc.  Các báo Xã Hội Pháp thấy Nguyễn Tất Thành đem bài viết đến tòa soạn nên tin rằng ông là Nguyễn Ái Quốc.

Năm 1920 Nguyễn Tất Thành trở thành đảng viên đảng Cộng Sản Pháp dưới bí danh Nguyễn Ái Quấc.  Năm 1924 ông được đảng Cộng Sản cử sang Moscow dự khóa huấn luyện để trở thành một cán bộ Cộng Sản Quốc Tế (Comintern). cuối năm nầy ông được chọn để phục vụ cho Borodin ở Quảng Châu (Guangzhou) với tư cách là một thông ngôn vì ông biết chữ Hán và từng viết chữ Hán trên đồ cổ Trung Hoa giả ở Paris để mưu sinh. Đó là thời kỳ Quốc Cộng Liên Minh ở Trung Hoa khi Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) còn sống. Ở Quảng Châu Nguyễn Ái Quấc lấy bí danh Trung Hoa: Li Shui (Lý Thụy). Ông cùng Lâm Đức Thụ (Nguyễn Công Viễn) và Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội, tiền thân của đảng Cộng Sản Việt Nam. Năm 1926 ông cưới một nữ y tá và đảng viên Cộng Sản Trung Hoa tên là Zheng Xue Ming (Tăng Tuyết Minh).

Năm 1927 Jiang Zhong Zheng (Tưởng Giới Thạch – Chiang Kaishek) đàn áp Cộng Sản ở Trung Hoa. Lý Thụy trốn khỏi Trung Hoa về Moscow. Đối với Lý Thụy (Hồ Chí Minh), Zheng Xue Ming là vợ của ông. Điều nầy có thể không đúng với đảng Cộng Sản Trung Hoa. Họ muốn dùng mỹ nhân để kiểm soát một cán bộ Cộng Sản Quốc Tế do Liên Sô huấn luyện. Năm 1938 Lý Thụy từ Moscow đến chiến khu Yenan dưới bí danh Hồ Quang rồi từ đó tiến về biên giới Việt-Hoa, nhưng Zheng Xue Ming vẫn không gặp lại ông. Dưới bí danh Hồ Chí Minh ông là chủ tịch Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa năm 1945, rồi chủ tịch miền Bắc (VNDCCH) từ năm 1954 đến khi mất năm 1969. Trong suốt thời gian nầy ông không hề gặp lại Zheng Xue Ming. Mãi đến thập niên 1990 Zheng Xue Ming mới mất.

Hồ Chí Minh hoạt động ở Trung Hoa hai lần: 1925 - 1927 và 1938 - 1941. Bị ở tù ở Trung Hoa hai lần: 1931 - 1933 va 1942 - 1943. Ông mang nhiều bí danh Trung Hoa như Lý Thụy (Li Shui), Vương (Wang), Vương Sơn Nhị (Wang Shan Yi), Tống Văn Sơ (Song Wen Shu), Hồ Quang (Hu Guang), Hồ Chí Minh (Hu Zhi Ming). Năm 1931 ông bị cảnh sát Hong Kong bắt giữ dưới bí danh Tống Văn Sơ. Vào năm nầy ông bị tòa án Vinh tuyên án tử hình khiếm diện vì những cuộc bạo động đẫm máu của Phong Trào Sô-Viết Nghệ Tĩnh.

Pháp hay tin "Nguyễn Ái Quấc" bị bắt ở Hong Kong nên yêu cầu nhà cầm quyền Anh ở Hong Kong dẫn độ ông về Việt Nam. Trước kia chánh quyền Anh cũng gặp trường hợp tương tự với Sun Yatsen và nhà Thanh. Họ từ chối không trao Sun Yatsen cho nhà Thanh để bị xử tử về tội chống phá triều đình. Lần nầy Tống Văn Sơ (Hồ Chí Minh) được vợ chồng luật sư Loseby giúp đỡ dưới sự tán đồng của nhà cầm quyền Hong Kong. Tống Văn Sơ được đưa vào bịnh viện để chữa bịnh lao. Tiếp theo đó nhà cầm quyền Hong Kong cho báo chí Hong Kong loan tin "Nguyễn Ái Quấc" chết vì bịnh lao! Như vậy Anh không mất lòng với Pháp vì người tù Cộng Sản Quốc Tế nầy. Giấy khai tử Tống Văn Sơ mà học giả Hồ Tuấn Hùng thấy là giấy khai tử thật, nhưng Tống Văn Sơ (Hồ Chí Minh) không chết. Loseby giúp cho ông rời khỏi bịnh viện ngục thất Hong Kong  và chạy sang Aomen (Áo Môn - Ma Cao), rồi ngược lên Shanghai (Thượng Hải) móc nối với đảng Cộng Sản Trung Hoa. Ông được sự sự giúp đỡ của Song Qingling (Tống Khánh Linh), góa phụ của Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên, linh hồn của cách mạng Tân Hợi năm 1911) để ngồi tàu đi Vladivostok (Hải Sâm Uy). Đây là hải cảng quan trọng duy nhất ở phương Đông của Liên Sô. Từ đó ông ngồi xe lửa về Moscow.

Năm 1938 ông được lịnh của Stalin rời Moscow vượt biên giới Sô-Trung để hướng về chiến khu Yenan (Diên An) nơi Wang Ming (Vương Minh) và ông không được sự tiếp đãi ân cần và nồng hậu của Mao Zedong vì cả hai đều là cán bộ Cộng Sản do Moscow đào luyện. Theo ý muốn của Stalin, Wang Ming được Quốc Tế Cộng Sản cử làm chủ tịch đảng Cộng Sản Trung Hoa. Nhưng từ năm 1935 Mao Zedong  đã được các đảng viên Cộng Sản Trung Hoa bầu làm chủ tịch rồi. Đối với Hồ Chí Minh (lúc ấy mang bí danh Hồ Quang – Hu Guang), Mao có thái độ tự tôn. Một mặt ông ta ghét những người do Liên Sô đào tạo. Mặt khác ông có mặc cảm tự tôn đối với Hồ, công dân một nước từng triều cống Trung Hoa. Nhưng lúc ấy Mao chưa đủ mạnh để cưỡng lại sự sắp xếp của Stalin. Mao phải nghe theo Stalin liên hiệp với Quốc Dân Đảng lần thứ hai sau biến cố Tây An (Xian) năm 1936 để chuẩn bị chống Nhật. Cộng Sản Trung Hoa giúp đỡ phương tiện cho Hồ đi về phương Nam để:

– Dụ quân Nhật về phía Nam thay vì tấn công tây bộ Trung Hoa và đe dọa cả Liên Sô.

– Lập chiến khu chuẩn bị cướp chánh quyền sau khi Nhật đầu hàng để cho ra đời một nước Cộng Sản đầu tiên ở Đông Nam Á.

Các tài liệu lịch sử của Cộng Sản Việt Nam không nói rõ thời gian và nguyên nhân tại sao Ông Già Thu, biệt danh của Hồ khi ở hang Pắc Bó, Cao Bằng, đổi sang bí danh Hồ Chí Minh. Không cần mất nhiều thì giờ về chuyện nầy, chúng ta tạm chấp nhận bí danh HỒ CHÍ MNH xuất hiện vào năm 1942 hay 1943, tức là năm ông vượt biên giới Việt-Hoa sang Quảng Tây (Guangxi) và bị quân Quốc Dân Đảng bắt cầm tù. Bí danh Hồ Chí Minh là bí danh của Hồ Học Lãm (1884 - 1942, ông gốc người Nghệ An). Hồ Học Lãm là đại tá trong quân đội Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Vợ ông là người Hoa. Năm 1936 ông thành lập Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội được Hồ Chí Minh dùng và gọi tắt là Mặt Trận Việt Minh năm 1941. Năm 1942 là năm Hồ Học Lãm mất. Rể của ông là Lê Thiết Hùng hợp tác chặt chẽ với Hồ Chí Minh. Cũng có thể bí danh Hồ Chí Minh được dùng vào năm 1943 sau khi tướng Trương Phát Khuê (Zhang Fa Kui) trả tự do cho Hồ Chí Minh để ông lấy tin tức về hoạt động quân sự của Nhật ở Việt Nam cho Quốc Dân Đảng Trung Hoa. Chánh phủ Trùng Khánh (Chonqing) lúc bấy giờ chống Cộng mãnh liệt nên người tù Cộng Sản nầy còn mang bí danh của một đại tá Quốc Dân Đảng gốc người Việt Nam. Vị đại tá nầy từng theo nhà cách mạng Phan Bội Châu. Cháu ông là Hồ Tùng Mậu cùng với Lý Thụy (Hồ Chí Minh) thành lập Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội năm 1925.

*

Bây giờ tôi xin góp ý cùng học giả Hồ Tuấn Hùng:

Nếu Hồ Chí Minh là một sĩ quan cao cấp người Tàu tên là Hồ Tập Chương thì ông nầy đóng vai Nguyễn Ái Quấc từ năm 1932 về sau, tức là sau khi vị lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam nầy được khai tử vì bịnh lao. Ông Hồ Tập Chương là sĩ quan của Cộng Sản hay Quốc Dân Đảng Trung Hoa? Nếu là sĩ quan của Cộng Sản thì hơi lạ vì lúc ấy đảng Cộng Sản Trung Hoa chưa có chánh quyền mặc dù họ có Cộng Hòa Sô-Viết Giang Tây (Jiangxi) năm 1931. Chánh quyền nầy rất bấp bênh vì liên tục bị quân Quốc Dân Đảng tấn công đến nỗi vào năm 1934 Mao Xedong phải quyết định mở cuộc Vạn Lý Trường Chinh, bỏ Jiangxi đi lên Shaanxi (Thiểm Tây). Nếu là sĩ quan Quốc Dân Đảng thì có thể học giả Hồ Tuấn Hùng nhầm với Hồ Học Lãm hay Hồ Ngọc Lãm với bí danh Hồ Chí Minh? Năm 1945 khi Hồ Chí Minh cướp chánh quyền ở Hà Nội, ông Nguyễn Tiến Lãng ngồi trong tù và nghe người ta bàn tán về bí danh Hồ Chí Minh của Hồ Học Lãm, một đại tá Quốc Dân Đảng Trung Hoa.

Nếu Hồ Tập Chương đóng vai Hồ Chí Minh giả thì ông phải:

1- Có hình dạng giống như Nguyễn Tất Thành (Nguyễn Ái Quấc, Lin, Lý Thụy, Tống Văn Sơ, v.v.).

2- Nói rành tiếng Việt bằng giọng Nghệ An vì người đọc bảng Tuyên Ngôn 
Độc Lập ngày 02-09-1945 ở Hà Nội là Hồ Chí Minh. Giọng đọc là giọng Nghệ An. Hai câu đầu của bản Tuyên Ngôn nhấn mạnh đến cách mạng Hoa Kỳ và cách mạng Pháp hơn là cách mạng Tân Hợi hay cách mạng tháng 10 Nga. Do đó người ta nghi ngờ thiếu tá Patti là người soạn Bản Tuyên Ngôn Độc Lập nầy.

3- Nói và viết được tiếng Pháp vì Nguyễn Ái Quấc có viết Le Dragon de Bambou và Le Procès de la Colonisation Française.

4- Biết rành tiếng Việt từ ngôn ngữ nôm na đến từ Hán-Việt.

5- Biết chút tí tiếng Nga, tiếng Anh (vì Hồ Chí Minh từng đến Hoa Kỳ, sống và làm việc ở Anh) và tiếng Thái (năm 1928 Hồ Chí Minh sống ở Thái Lan dưới biệt danh Thầu Chín - Thầu: tiếng Thái có nghĩa là ông già).

Năm 1933 Hồ Chí Minh trở lại Moscow giữa lúc Stalin phát động cuộc Đại Thanh Trừng nhắm vào phe Trotsky và những đảng viên khả dĩ cạnh tranh quyền hành với ông. Nếu Hồ Tập Chương thay thế Lin, bí danh của Hồ Chí Minh ở Liên Sô, thì viên sĩ quan người Hoa nầy quá xuất chúng vì gạt được mật vụ Nga, Maurice Thorez, Dimitrov và cả Stalin! Lúc ấy Maurice Thorez của đảng Cộng Sản Pháp tố cáo với Stalin rằng Hồ Chí Minh thuộc khuynh hướng Trotskyite. Với lời cáo buộc độc hại nầy Hồ Chí Minh dễ bị thủ tiêu nếu không có sự che chở của Dimitrov, một lãnh tụ Cộng Sản Bulgaria và là cố vấn tin cậy của Stalin lúc bấy giờ. Maurice Thorez là lãnh tụ Cộng Sản Pháp. Nguyễn Ái Quấc gia nhập đảng Cộng Sản Pháp và được đảng nầy gởi sang Moscow thụ huấn. Chẳng lẽ Maurice Thorez không phân biệt được Nguyễn Ái Quấc thật với Hồ Tập Chương giả Nguyễn Ái Quấc?

Dimitrov là chủ tịch Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản từ năm 1934 đến 1943. Ông không đến nỗi hồ đồ và liều lĩnh khi bênh vực cho Hồ Chí Minh nếu ông chỉ biết lờ mờ về người nầy với một trọng tội đáng chết trong tâm não nhà độc tài Stalin: khuynh hướng Trotskyite như lời cáo buộc của Maurice Thorez.

Nếu Hồ Tập Chương giả làm Lin (Hồ Chí Minh) ở Moscow vào năm 1933 thì ông phải bị bịnh lao (TB) vì Lin có một thời gian nghỉ bịnh ở Sochi trên bờ Hắc Hải. Năm 1934 Lin được tái huấn luyện ở Học Viện Lenin. Hồ Tập Chương phải qua mặt trơn tru tất cả các mật vụ, đảng viên Cộng Sản Nga để diễn màn kịch giả nầy bằng cách khai chính xác lý lịch như Lin đã khai từ năm 1924? Hay có chữ viết, chữ ký giống như chữ viết của Lin đã có trong hồ sơ đảng viên lưu ở Moscow? Người ta có thể có hình hài và chữ ký giống nhau, nhưng không có chữ viết, lý lịch, năng khiếu ngôn ngữ và chánh trị như nhau.

Ông Nguyễn Lương Bằng và Phạm Văn Đồng là những người gia nhập vào Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội ngay từ ngày mới thành lập, không lẽ không biết gì về Hồ Chí Minh suốt từ năm 1940 đến 1945 và sau đó?

Trong đệ nhị thế chiến lúc lực lượng Pháp Tự Do ở Yunnan (Vân Nam) cho rằng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quấc, là cán bộ Cộng Sản Quốc Tế. Lúc ấy Hồ Chí Minh hợp tác với chánh phủ Chongqing (Zhongqing) dưới bí danh Hồ Chí Minh và với OSS, tiền thân của CIA sau nầy, dưới bí danh Lucius (có nghĩa là "Minh", "Sáng", "Tỏa Sáng"). Vậy chánh phủ Chongqing và Hoa Kỳ đã dùng một người Trung Hoa giả làm cán bộ Cộng Sản Quốc Tế, nghĩa là OSS và chánh phủ Chongqing bị qua mặt dễ dàng? Nếu đó là một người Hoa, tại sao lại đặt tên núi Karl Marx, suối Lenin ở Pắc Bó năm 1941 mà không phải là núi Karl Marx và suối Mao Zedong? Để tránh lộ bí mật?

Nếu Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, thì vào năm 1942 Hồ Tập Chương bị quân Quốc Dân Đảng ở Trung Hoa bắt ở Quảng Tây về tội gì? Tại sao mang bí danh Hồ Chí Minh?

Năm 1946 Hồ Chí Minh sang Pháp. Mật thám Pháp nhận dạng Hồ Chí Minh năm 1946 với Nguyễn Tất Thành năm 1920. Sự cách biệt giữa hình dáng một thanh niên và một người ở tuổi ngũ thập niên có nhiều khác lạ. Nhưng chuyên viên nhận dạng của Pháp xác nhận rằng Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quấc, căn cứ vào hình dáng của vành tai. Mặt, cằm, mũi, mí mắt có thể giải phẫu để thay đổi ngoại hình nhưng tai không thể giải phẫu được vì được cấu tạo bằng sụn.

Hồ Chí Minh là người được Liên Sô huấn luyện. Dù bị Stalin đe dọa tánh mạng vào thập niên 1930 và bị bỏ rơi sau khi cướp chánh quyền ở Hà Nội năm 1945 cũng như những năm đầu kháng chiến từ 1946 đến 1950, ông vẫn kính sợ và trung thành với nhà độc tài nầy. Thi sĩ Tố Hữu nhờ làm thơ xu nịnh, bợ đỡ Stalin mà được trông coi về văn hóa, kiểm soát tư tưởng các văn, thi sĩ, nhạc sĩ, kể cả những người dạy học với những câu thơ:

Tiếng đầu lòng con gọi Xít-ta-lin.
*
Thương cha thương một, thương ông thương mười.
*
Thầy không theo Đảng,
Em không theo thầy.

Nhờ những câu thơ nầy mà ông lên đến chức phó thủ tướng!

Trong chiến tranh Việt-Pháp, Việt Minh nhận trên 80% viện trợ từ Trung Hoa Cộng Sản. Nhưng tại văn phòng làm việc của Hồ Chí Minh chỉ có ảnh của Lenin và Stalin mà thôi. Ảnh hưởng của Cộng Sản Trung Hoa rất nặng đối với Cộng Sản Việt Nam vì Việt Minh nhận võ khí, lương thực, thuốc men, cố vấn quân sự, cố vấn chánh trị và huấn luyện quân sự từ Trung Hoa Cộng Sản. Khi hồi sinh lại đảng Cộng Sản (giải tán năm 1945) dưới tên Đảng Lao Động Việt Nam, Hồ Chí Minh có hai mục tiêu rõ rệt:

a- Che dấu dư luận thế giới về sự hồi sinh của đảng Cộng Sản Đông Dương dưới danh xưng đảng Lao Động Việt Nam làm cho người ta nghĩ đến Đảng Lao Động hiền hòa ở Anh.

b- Ngầm cưỡng lại tư tưởng Mao Zedong. Chủ nghĩa Maoism nhắm vào nông dân, ngược lại với điều mà Lenin và Stalin luôn luôn nhấn mạnh và được Hồ Chí Minh tuân phục: Đảng Cộng Sản là đảng của giai cấp công nhân. Nếu Hồ Chí Minh thực sự là Hồ Tập Chương thì không thể nào dám có ý đối nghịch với Mao như vậy được. Không thể nào có sự hạ bệ Trường Chinh hay không trọng dụng Nguyễn Sơn và Nguyễn Chí Thanh, những đảng viên Cộng Sản được xem là thân Trung Hoa Cộng Sản.

Khrushchev hạ bệ Stalin khi vừa mới lên nắm quyền ở Liên Sô. Mao Zedong không ưa gì Stalin nhưng rất thích hiệu năng của chánh sách độc tài, nhẫn tâm và tôn thờ cá nhân của Stalin trong việc bảo vệ và phát huy quyền lực. Ông không ưa Khrushchev vì không thực tâm giúp đỡ cho Trung Hoa Cộng Sản có võ khí nguyên tử. Hồ Chí Minh phải trung thành vô điều kiện với nhà độc tài gốc Georgia nầy nhưng không dám bộc lộ tư tưởng chống chủ nghĩa xét lại của Khrushchev như Mao. Hồ Chí Minh luôn luôn xem Liên Sô là thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa thế giới và là ngọn hải đăng về khoa học kỹ thuật của khối Cộng Sản. Nếu ông là Hồ Tập Chương thì chắc chắn ông không dám bày tỏ sự trung kiên của mình đối với Moscow. Năm 1954 Hồ Chí Minh phải nghe lời Zhou Enlai (Châu Ân Lai) chấp nhận sự chia cắt đất nước giữa lúc Việt Minh nắm ưu thế quân sự ở miền Bắc và thắng Pháp ở Điện Biên Phủ vì ông tùy thuộc vào viện trợ của Trung Hoa Cộng Sản. Nếu ông cưỡng lại ý muốn của Beijing, liệu Việt Minh có thể tự túc để đánh bại quân Pháp trên khắp chiến trường Đông Dương không? Vả lại sự chia cắt Việt Nam được Liên Sô lẫn Trung Hoa Cộng Sản đồng ý. Liên Sô cần xả hơi sau cái chết của nhà độc tài Stalin. Malenkov rồi Khrushchev không muốn có sự căng thẳng với Hoa Kỳ và các nước dân chủ Tây Phương. Trung Hoa Cộng Sản né tránh sự đụng độ có thể xảy ra giữa Trung Hoa Cộng Sản và Hoa Kỳ thời hậu Điện Biên Phủ nếu không có hiệp ước đình chiến Geneva 1954 chia đôi nước Việt Nam.

Năm 1957 có tin phe thân Trung Hoa Cộng Sản âm mưu lật đổ Hồ Chí Minh. lúc đó  đang đi thăm các nước Cộng Sản Âu Châu. Nhưng chuyện nầy không xảy ra vì không ai dám đứng ra cầm đầu cuộc "đảo chánh". Nếu Hồ Tập Chương là Hồ Chí Minh giả thì nghĩ đến đảo chánh làm gì? Nếu quả tình Hồ Tập Chương là Hồ Chí Minh giả thì Hồ Tập Chương thành công trong việc gạt Stalin, Malenkov, Khrushchev, Brezhnev của Liên Sô; Nehru của Ấn Độ; Sukarno của Indonesia, thiếu tá Patti của OSS Hoa Kỳ; Salan và Sainteny của Pháp; Zhang Fa Kuei của Quốc Dân Đảng Trung Hoa; 5 đời tổng thống Hoa Kỳ trên ba thập niên liên tiếp! Hồ Tập Chương của học giả Hồ Tuấn Hùng còn hơn...Vi Tiểu Bảo của Kim Dung (Kin Yung) gấp vạn lần!

 Nếu Hồ Chí Minh là Hồ Tập Chương, tại sao ông không hưởng ứng Bước Tiến Nhảy Vọt (1958) và Cách Mạng Văn Hóa (1966 - 1976) của Mao Zedong? Không chối cãi được rằng sau năm 1954 miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu đậm của Cộng Sản Trung Hoa từ cách ăn mặc, âm nhạc, vũ điệu, chánh sách đấu tố trong cuộc cải cách ruộng đất, phong trào chỉnh huấn, trăm hoa đua nở, chế độ đại táo, tiểu táo, v.v… Ảnh của Mao Zedong được đặt bên cạnh ảnh của Hồ Chí Minh và Malenkov. Đó là lúc Trường Chinh còn giữ chức tổng bí thơ đảng Lao Động Việt Nam. Giữa làn sóng càn quét của tư tưởng Mao ở miền Bắc người ta lại nghe văng vẳng "Đây Liên Sô ca hát trên đồng quê" như là sự chống chọi gượng gạo của Hồ Chí Minh đối với "thành trì Xã Hội Chủ Nghĩa". Năm 1967 Liên Sô trao huân chương Lenin cho Hồ Chí Minh nhưng ông không dám nhận vì sợ phật lòng Mao Zedong giữa lúc Hà Nội cần viện trợ của Liên Sô và Trung Hoa Cộng Sản láng giềng để đẩy mạnh cuộc chiến tranh "Ai thắng ai" ở miền Nam.

*

Bất cứ họ nào ở Trung Hoa cũng được tìm thấy ở Việt Nam. Dù là họ gì và thuộc chủng tộc nào, người sinh, sống và có quyền lợi lẫn bổn phận ở quốc gia nào thì mang quốc tịch của quốc gia đó. Ông Trần Thượng Xuyên không sinh ra ở Việt Nam nhưng có công khai phá Đồng Nai. Ông được phong tước quí tộc cao quí nhất và là Thượng Đẳng Thần. Các ông Võ Trường Toản, Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tịnh, Lê Quang Định, Phan Thanh Giản, Trần Tiển Thành... đều là những người Minh Hương được kính mến và có danh chức cao quí ở Việt Nam. Tất cả đều có những cống hiến lớn cho Việt Nam và hành sử như công dân Việt Nam. Phan Thanh Giản đi sứ sang Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền đông Nam Kỳ đã mất vào thập niên 1860 với tư cách là một sứ thần Việt Nam. Trần Tiển Thành hành sử như một nhiếp chánh đại thần sau khi vua Tự Đức băng hà.

Từ thế kỷ XVIII đến nay các vua Anh đều có gốc Đức. Có phải vì vậy mà họ phục vụ cho quyền lợi nước Đức? Hai trận thế chiến vừa qua đã trả lời cho câu hỏi trên.

Thống chế Bernadotte trở thành vua Thụy Điển nhưng ông chỉ nói rành tiếng Pháp. Không vì vậy mà ông quên rằng ông là vua Thụy Điển. Ông phục vụ cho quyền lợi của quốc gia mà ông sắp đứng đầu khi cầm quân đánh nhau với quân của Napoléon I.

Tướng Eisenhower mang giòng máu Đức trong người. Ông sinh ra ở Hoa Kỳ, hưởng mọi quyền lợi của Hoa Kỳ. Ông là tướng của Hoa Kỳ. Khi được đề cử chỉ huy quân Đồng Minh để đánh Đức ở Âu Châu, ông làm bổn phận của một công dân Hoa Kỳ.

Trường hợp tương tự như thế được tìm thấy nơi Mendès France, người Pháp gốc Do Thái làm thủ tướng Pháp năm 1954; Sarkozy, người Pháp gốc Hung Gia Lợi và có huyết thống Do Thái được bầu làm tổng thống năm 2007; Hollande mà tổ tiên đến Pháp từ Hòa Lan được bầu làm tổng thống Pháp năm 2012. Các vị ấy là người Pháp và phục vụ cho quyền lợi nước Pháp chớ không phục vụ cho Do Thái, Hung Gia Lợi hay Hòa Lan.

Người Nga và Ukraine đều thuộc giống Slav nhưng không thể nói nước Nga và Ukraine là một được.

75% người Singapore gốc người Hoa, kể cả người lập quốc Singapore: Lee Kuan Yew (Lý Quang Diệu). Nhưng nước Singapore và nước Trung Hoa là hai chớ không thể là một nước!

Trong lịch sử Việt Nam có Hồ Quí Ly sáng lập ra nhà Hồ và tự nhận mình là con cháu nhà Ngu bên Trung Hoa nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Khi nhà Minh đem quân tấn công nước Đại Ngu, Hồ Quí Ly đánh trả mãnh liệt trước khi bị bắt đem về Trung Hoa. Sự đề kháng của Hồ Quí Ly trước quân Minh cho thấy ông muốn minh định câu:

Nam Quốc sơn hà nam đế cư

của Lý Thường Kiệt từ thế kỷ XI.

Có thể tôi sai lầm vì không tin có một Hồ Tập Chương đóng kịch giả Hồ Chí Minh gần 40 năm dài. Lý trí tầm thường của tôi cho thấy một nước lớn, giàu, mạnh chinh phục một quốc gia nhỏ bé bằng nhiều cách, kể cả những chuyện cường điệu hoang đường. Theo sự mô tả Hồ Tập Chương là một người siêu phàm, nhưng siêu phàm cách mấy ông cũng thất bại vì không ai biến GIẢ thành THẬT và biến THẬT thành GIẢ gần 40 năm khắp thiên hạ được. Đó là một hoang tưởng.

Dù Hồ Chí Minh không phải là Hồ Tập Chương, ông mang thân xác Việt nhưng tâm hồn Nga. Ông được Liên Sô huấn luyện và trả lương. Ông phải phục vụ cho nước Nga. Ông phục dịch cho Borodin ở Quảng Châu năm 1925. Năm 1927 ông chạy về Moscow để tránh sự đàn áp của quân Tưởng Giới Thạch. Năm 1933 khi thoát khỏi bịnh viện ngục thất Hong Kong, ông tìm đường chạy về Moscow. Vì lợi ích của đế quốc Liên Sô ông gây đổ vỡ cho đất nước Việt Nam, phân ly và chia rẽ dân tộc bằng chủ nghĩa Cộng Sản, sự triệt tiêu và miệt thị trí thức, chiến tranh tang tóc trên quê hương suốt một phần ba thế kỷ XX. Những người Cộng Sản hậu duệ của ông tôn sùng "tư tưởng Hồ Chí Minh", tiếp nối con đường do ông vạch ra bằng thân xác Việt Nam với hồn ngoại quốc, hay nói rõ hơn, bây giờ là xác Việt nhưng hồn Tàu vì Liên Sô không còn nữa. Hậu quả của sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt Nam là:

– Tượng lớn nhất ở Việt Nam là tượng của Lenin ở Hà Nội.

– Việc bang giao giữa CHXHCNVN với CHNDTQ dựa vào Bốn Tốt và Mười Sáu Chữ Vàng.

– Hồng kỳ Trung Hoa có thêm một ngôi sao thấp thoáng xuất hiện ở Việt Nam.

– Ngày Ngàn Năm Thăng Long năm 2010 là ngày Quốc Khánh của Trung Hoa Cộng Sản (01-10).

– Tướng lãnh điều khiển bộ Quốc Phòng CHXHCNVN không ngớt kêu gọi nhẫn nhục ba la mật trước sự xâm lấn của cường quốc lân phương Bắc, quốc gia đồng châu, đồng chủ nghĩa và đồng màu cờ đỏ.

– Tướng công an lên chức dập dìu nhờ năng nổ trong việc đàn áp, bắt bớ và giam cầm những người còn chút ưu tư đến sự tồn vong của đất nước.

Phạm Đình Lân, F.A.B.I.

____________

Tài liệu xem thêm:

– Một góp ý khác về vấn đề này, cũng của Phạm Ðình Lân: Vài Sự Kiện Lịch Sử và Giả Thuyết Góp Ý Cùng Tác Giả Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo
– Bài tóm tắt tác phẩm “Hồ Chí Minh Sinh Bình Khảo” của Trần Bình Nam: Một nghi án lịch sử: Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh: một hay hai người?



Giải Tỏa Huyền Thoại Hồ Chí Minh

Ls. Nguyễn Hữu Thống


Để xây dựng uy tín và thần thánh hóa Hồ Chí Minh, Đảng Cộng Sản đã sử dụng nhiều chiêu bài và ngụy tạo nhiều huyền thoại:

1) Huyền thoại gia đình cách mạng.

2) Huyền thoại lên đường cứu nước.

3) Tiếm danh Nguyễn Ái Quốc.

4) Giả danh Trần Dân Tiên.

5) Giả đoàn kết quốc gia.

6) Giả hiệp ước quốc tế.

7) Ngụy tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.


1. HUYỀN THOẠI GIA ĐÌNH CÁCH MẠNG.


Các nhà sử học Cộng Sản trình bày rằng Hồ Chí Minh xuất thân từ một gia đình cách mạng. Thân phụ là phó bảng Nguyễn Sinh Sắc hay Nguyễn Sinh Huy là bạn đồng khoa với Phan Chu Trinh và thường giao kết với Phan Bội Châu là người đồng hương. Sau khi được bổ nhiệm tri huyện Bình Khê, Nguyễn Sinh Sắc đã tự ý từ quan để phản kháng chế độ thực dân phong kiến.


Sự thật không phải như vậy. Dầu là một sĩ phu đỗ đại khoa, Nguyễn Sinh Sắc đã không có một đời sống cá nhân đứng đắn. Ông thường say rượu và trong những lúc nóng giận đã có thái độ thô lỗ và đánh đập con cái. Năm 1910, cũng vì say sưa, Nguyễn Sinh Sắc đã quá tay đánh chết một nghi can là Tạ Đức Quang. Cũng vì vậy ông bị triều đình tuyên phạt 100 trượng, giáng 4 cấp, cách chức tri huyện và sa thải khỏi quan trường. Sau này ông được miễn phạt trượng hình. Dầu sao ông đã làm nhục giới nho sĩ vì không biết tu thân trước khi trị quốc. Do sự sỉ nhục này đối với sĩ lâm và bà con lối xóm, ông đã dắt các con rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn, đi tha phương cầu thực làm nghề bốc thuốc tại miền Nam.


Sự thật lịch sử này đã được chứng minh bằng một văn thư do Hồ Chí Minh dưới tên Paul Tất Thành viết từ Nữu Ước ngày 15-12-1912 gửi Khâm Sứ Trung Kỳ, xin cho cha được phục chức và được làm thừa biện, giáo thụ hay huấn đạo để có phương tiện mưu sinh.

Và truyền thống gia đình cách mạng của Hồ Chí Minh chỉ là một huyền thoại (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).


2. HUYỀN THOẠI LÊN ĐƯỜNG CỨU NƯỚC.

Các nhà sử học CS còn trình bày rằng năm 21 tuổi Hồ Chí Minh rời Bến Nhà Rồng Saigon xuất dương lên đường cứu nước. Thời gian này, phong trào kháng thuế tại Quảng Nam và các tỉnh miền Trung đã bị dập tắt. Trường Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội đã bị thâu hồi giấy phép, và tại Nhật Bản, Phan Bội Châu, Cường Để cùng 200 sinh viên Việt Nam du học đã bị trục xuất. Theo gương Phan Chu Trinh, năm 1911 Hồ Chí Minh tìm đường qua Pháp để học hỏi tinh thần tự do dân chủ, hy vọng có ngày trở về giải phóng đồng bào khỏi ách đế quốc tư bản.


Đây cũng chỉ là một huyền thoại. Do đơn ngày 15-9-1911, Nguyễn Tất Thành xin Bộ Thuộc Địa Pháp đặc cách cho theo học Trường Thuộc Địa "để trở nên người hữu ích cho nước Pháp" (utile à la France). Trường Thuộc Địa là trung tâm đào tạo các cán bộ hành chánh và giáo dục của chế độ thuộc địa. Theo quy chế, các sinh viên phải được sự giới thiệu của nhà chức trách Đông Dương. Nhiều vị khoa bảng và trí thức nổi tiếng đã theo học trường này như Bùi Kỷ, Trần Trọng Kim, Thân Trọng Huề, Bùi Quang Chiêu, Bùi Bằng Đòan v.v... Vì không đúng thủ tục, đơn của Nguyễn Tất Thành đã bị bác bỏ.


Và huyền thoại Hồ Chí Minh từ Bến Nhà Rồng xuất dương lên đường cứu nước đã bị giải tỏa.


3. TIẾM DANH NGUYỄN ÁI QUỐC.


Từ 1911 đến 1914, Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp tại các tầu buôn của hãng Les Chargeurs Réunis chạy quanh các nước Âu Châu, Phi Châu và Mỹ Châu. Khi Thế Chiến Thứ Nhất bùng nổ, Nguyễn Tất Thành sang Anh làm phụ bếp tại nhà hàng Carlton và trở về Paris năm 1917. Trong thời gian này LS Phan Văn Trường đã thành lập Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước để đấu tranh công khai đòi tự trị và độc lập cho Việt Nam.


Do lời mời của lãnh tụ Đảng Xã Hội Pháp Jean Jaurès (người đã can thiệp với Thủ Tướng Pháp để ân xá cho Phan Chu Trinh), cùng với cụ Phan, LS Phan Văn Trường đã nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để trình bày quan điểm về chính sách bảo hộ của Pháp tại Việt Nam và đạo đạt nguyện vọng của người dân Việt Nam lên Quốc Hội.


Sau Thế Chiến Thứ Nhất, năm 1919 tại Paris, dưới bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc, bộ ba Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành, nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước đã đệ trình các Chính Phủ Đồng Minh và Chính Phủ Pháp Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam trong tinh thần hợp tác và thương nghị, nguyên văn như sau:


"Từ sau cuộc chiến thắng của Đồng Minh, các dân tộc bị trị vô cùng xúc động trước những triển vọng tương lai, căn cứ vào những cam kết minh thị và trân trọng của các cường quốc Đồng Minh trước dư luận thế giới trong cuộc đấu tranh vừa qua để bảo vệ Văn Minh chống Dã Man.


Chiếu theo các cam kết này, một Kỷ Nguyên mới của Luật Pháp và Công Lý sẽ khai mở đem lại hy vọng chứa chan cho các dân tộc bị trị.


Trong khi chờ đợi Nguyên Tắc Chủ Quyền Quốc Gia được chấp thuận, trong lý tưởng cũng như trên thực tế, do sự thừa nhận và thực thi Quyền Dân Tộc Tự Quyết thiêng liêng, Dân Tộc Việt Nam trân trọng đệ trình các Chính Phủ Đồng Minh cao quý, cũng như Chính Phủ Pháp khả kính, những thỉnh nguyện khiêm tốn sau đây:


1) Ban hành Đại Xá cho tất cả các chính trị phạm bản xứ.

2) Cải thiện chế độ tư pháp Đông Dương bằng cách ban hành những bảo đảm về quyền bình đẳng trước pháp luật giữa người bản xứ và người Âu Châu. Bãi bỏ toàn bộ và vĩnh viễn hệ thống tòa án đặc biệt được dùng làm công cụ khủng bố và đàn áp các thành phần lương thiện nhất của dân tộc Việt Nam.

3) Ban hành Tự Do Báo Chí và Tự Do Ngôn Luận

4) Ban hành Tự Do Lập Hội và Tự Do Hội Họp.

5) Ban hành Tự Do Di Trú và Xuất Ngoại

6) Ban hành Tự Do Giáo Dục và thiết lập tại các tỉnh những trường kỹ thuật và chuyên nghiệp cho người bản xứ.

7) Thay thế chế độ cai trị bằng nghị định bằng chế độ pháp trị.

8) Thành lập Phái Bộ Thường Trực dân cử của người bản xứ bên cạnh Quốc Hội Pháp để đạo đạt tới Quốc Hội những nguyện vọng của người bản xứ.


Khi đệ trình những thỉnh nguyện nêu trên, Dân Tộc Việt Nam kỳ vọng vào nền Công Lý Thế Giới của các Cường Quốc và đặc biệt tin tưởng vào sự hào hiệp của Dân Tộc Pháp cao quý hiện đang nắm giữ vận mệnh của Dân Tộc Việt Nam bằng cách đứng ra bảo hộ Dân Tộc Việt Nam nhân danh Cộng Hòa Pháp. Dân Tộc Việt Nam không hổ thẹn được sự bảo trợ của Dân Tộc Pháp, trái lại còn cảm thấy vinh hạnh.


Vì họ biết rằng Dân Tộc Pháp biểu tượng cho Tự Do và Công Lý, và sẽ không bao giờ từ bỏ lý tưởng cao cả của Nghĩa Bác Ái toàn cầu. Vì những lý do đó, trong khi lắng nghe tiếng nói của kẻ bị trị, Dân Tộc Pháp sẽ hoàn thành nghĩa vụ của mình đối với nước Pháp cũng như đối với nhân loại.


Thay mặt Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước: Nguyễn Ái Quốc".


Luật Sư Phan Văn Trường, tiến sĩ luật, Chủ Tịch Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước là người soạn tài liệu này.


Nguyễn Ái Quốc (Nguyen le Patriote) là bút hiệu chung của bộ ba Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành. Nguyễn là dòng họ đa số tại Việt Nam và Ái Quốc là phỏng theo tên Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước (Groupe des Patriotes Annamites). Với bút hiệu này, họ đã viết những bài bình luận trên các báo của Đảng Xã Hội như Nhân Loại (L'Humanité), Dân Chúng (Le Populaire) v..v...

Mặc dầu vậy, Hồ Chí Minh đã tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Dưới bút hiệu Trần Dân Tiên, trong cuốn "Những Mẩu Chuyện về Đời Hoạt Động của Hồ Chủ Tịch". Hồ Chí Minh viết: "Khi chiến tranh chấm dứt, tại Hội Nghị Hoà Bình Véc-Xây, Tổng Thống Mỹ Wilson nói về 14 điều. Các đại biểu các dân tộc bị áp bức đến để yêu cầu độc lập và tự do. Trong số đó, có Nguyễn Ái Quốc (tức là Anh Ba hay Hồ Chí Minh). Ông Nguyễn tổ chức nhóm người Việt Nam yêu nước tại Paris và ở các tỉnh khác. Với danh nghĩa của tổ chức này, ông đã đưa yêu cầu 8 điều ra trước Hội Nghị Véc-Xây".


Đây chỉ là một sự mạo nhận. Vì những lý do sau đây:


a) Thỉnh Nguyện Thư được soạn thảo nhân danh Hội Những Người Việt Nam Yêu Nước, một tổ chức do Phan Văn Trường thành lập năm 1914 tại Paris, khi Nguyễn Tất Thành còn ở Luân Đôn.

b) Thỉnh Nguyện Thư đề cập đến những nguyên tắc pháp lý mà trong thời gian đó (1919) chỉ các luật gia và chính trị gia mới thấu hiểu như quyền bình đẳng trước pháp luật, chế độ pháp trị, chế độ tòa án đặc biệt, quyền dân tộc tự quyết v.v...

c) Đề nghị thành lập Phái Bộ Thường Trực Dân Cử Việt Nam tại Quốc Hội Pháp là do sáng kiến của Phan Văn Trường. Từ năm 1911, cùng với Phan Chu Trinh, theo lời mời của Jean Jaurès, ông đã nhiều lần đến điều trần tại Quốc Hội Pháp để đạo đạt những nguyện vọng của nhân dân Việt Nam lên Quốc Hội.

d) Nguyễn Tất Thành chỉ là một học sinh vừa qua bậc tiểu học và không có kiến thức chính trị. "Ông rất ít hiểu về chính trị, không biết thế nào là công hội, thế nào là bãi công, và thế nào là chính đảng... Ông không đủ tiếng Pháp để viết và phải khẩn khoản yêu cầu ông Phan Văn Trường viết thay... Ông lắng nghe những buổi thảo luận, nhưng không hiểu rõ về chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa xã hội, giai cấp vô sản v.v... ông nhức đầu vì khó hiểu". Vả lại vốn liếng tiếng Pháp của ông chỉ gồm những chữ thông dụng trong đời sống hằng ngày học từ những cô sen trong giới bình dân (Trần Dân Tiên, sđd).

e) Trần Dân Tiên còn nêu lên yêu cầu bãi bỏ chế độ sưu dịch, thuế đinh, thuế muối và việc bắt ép dân mua muối và thuốc phiện. Các điều khoản này không thấy trong bản Thỉnh Nguyện Thư tiếng Pháp đăng trên báo L'Humanité ngày 18-6-1919. (Chính Đạo: Hồ Chí Minh, con người và huyền thoại).

Nói tóm lại, trái với lời Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh không phải là tác giả Thỉnh Nguyện Thư của Dân Tộc Việt Nam. Và năm 1919 Hồ Chí Minh cũng chưa phải là Nguyễn Ái Quốc. Đây chỉ là một sự mạo nhận tư cách của Nguyễn Tất Thành, một người ít học nhưng nhiều tham vọng.


Năm 1917, khi từ Luân Đôn trở về Paris, Nguyễn Tất Thành tá túc tại nhà Luật sư Phan Văn Trường số 6 Villa des Gobelins. Năm 1914, Phan Chu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt giam về tội phản nghịch (tình nghi liên lạc với Cường Để tại Berlin). Sau 9 tháng điều tra, hai nhà chí sĩ họ Phan đã được miễn tố (Phan Chu Trinh chủ trương hợp tác với Pháp đánh Đức, cũng như Gandhi hô hào thanh niên Ấn Độ tình nguyện gia nhập quân đội Hoàng Gia Anh).


Mặc dầu vậy, hai vị vẫn bị cảnh sát điều tra theo rõi. Mỗi khi có trát đòi Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn Tất Thành đứng ra nhận trát, tự xưng là Nguyễn Ái Quốc. Ông nói: "Nguyễn Ái Quốc chính là tôi, các ông cứ đưa trát cho tôi, đừng làm phiền chú/bác tôi (ý nói Phan Văn Trường hay Phan Chu Trinh)". Năm 1921, Nguyễn Tất Thành bỏ Đảng Xã Hội để gia nhập Đảng CS dưới tên Nguyễn Ái Quốc.



4. GIẢ DANH TRẦN DÂN TIÊN


Các nhà sử học cho rằng Hồ Chí Minh là người thông minh, nhưng là sự thông minh ngoài phố. Sự khôn ngoan giảo quyệt này đã được biểu lộ rõ nét nhất trong cuốn "Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch" của Trần Dân Tiên xuất bản và tái bản nhiều lần từ 1948 đến 1976. Ngày nay ai cũng biết Trần Dân Tiên là Hồ Chí Minh. Trong lịch sử văn học thế giới, không thấy một nhà văn tự trọng nào lại giả danh bằng một bút hiệu để tự đề cao mình. Dùng bút hiệu thật để nói về mình cũng là vạn bất đắc dĩ, vì cái tôi thường đáng ghét. Dùng bút hiệu giả để thần thánh hóa mình thì quả là đáng khinh!


Chúng ta thử đánh giá sự "khiêm tốn" của tác giả:


"Nhiều nhà văn nhà báo Việt Nam và ngoại quốc muốn viết tiểu sử của vị Chủ Tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nhưng mãi đến nay chưa có người nào thành công. Nguyên nhân rất đơn giản: Chủ Tịch Hồ Chí Minh không muốn nhắc lại thân thế của mình (...). Hiện nay còn nhiều việc cần thiết hơn, rất nhiều đồng bào đang đói khổ. Sau 80 năm nô lệ, nước ta bị tàn phá, bây giờ chúng ta phải xây dựng lại. Chúng ta nên làm những công việc hết sức cần kíp đi đã (...). Với đức tính khiêm tốn nhường ấy, và đương lúc bề bộn bao nhiêu công việc làm sao Hồ Chủ Tịch có thể kể lại bình sinh của Người được".


Thế nhưng Hồ Chủ Tịch đã đại ngôn:


"Khi còn là một thiếu niên 15 tuổi, người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ anh đã có chí đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh khâm phục các cụ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Hoàng Hoa Thám, nhưng không hoàn toàn tán thành cách làm của 3 người, vì:


- Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải lương.

- Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp, chẳng khác gì đưa hổ cửa trước rước beo cửa sau.

- Cụ Hoàng Hoa Thám còn nặng cốt cách phong kiến".


Năm 1905, khi Hồ Chí Minh 15 tuổi, cụ Phan Chu Trinh chưa viết Đầu Pháp Chính Phủ Thư (l906), chưa phát động phong trào Duy Tân và Đông Kinh Nghĩa Thục (l907). Vậy mà Hồ Chí Minh đã phê phán chính sách canh tân và giáo dục của cụ là cải lương (mà cải lương thì đã sao?).


Chưa thấy cụ Phan Bội Châu rước cọp vào nhà, chỉ thấy Hồ Chí Minh cõng rắn CS về cắn gà nhà, gây tai hại vô lường cho đất nước và dân tộc.


Năm 1945, khi mới 55 tuổi, Hồ Chí Minh tự phong mình là "cha già của dân tộc". Ông còn tự thần thánh hóa mình, kể rằng "chân dung Hồ Chủ Tịch được treo trên bàn thờ giữa những bình hương hoa đèn nến".


"Hồ Chủ Tịch được nhân dân yêu mến là do lòng hy sinh và lòng nhân từ của Người. Chủ Tịch không bao giờ nghĩ đến mình. Người chỉ nghĩ đến người khác, nghĩ đến nhân dân (...). Đối với nhi đồng, tên Bác Hồ là như một người mẹ hiền. Chỉ nhắc đến tên Bác là các em trở nên ngoan ngoãn".


Vậy mà người cha già (67 tuổi) đã nhẫn tâm để đàn em hạ sát người vợ trẻ đã sinh cho mình đứa con trai là Nguyễn Tất Trung. Năm l957, khi cô Nguyễn Thị Xuân yêu cầu công khai hoá cuộc hôn phối đã kéo dài trên 2 năm, Hồ Chí Minh vẫn ngọt ngào giả lả: "Cô xin như vậy là hợp tình hợp lý, nhưng phải được Bộ Chính Trị đồng ý, nhất là mấy ông Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt đồng ý mới được". Do đó, cô đành phải chờ một thời gian. Trong thời gian này, cô đã biến thành chướng ngại vật làm mất uy tín của lãnh tụ. Theo đúng phương châm hành động, tất cả những chướng ngại vật làm cản trở con đường của lãnh tụ sẽ bị thanh toán và vô hiệu hóa.


Thanh toán trước hết bằng cách hạ nhục đối phương, cho viên tướng công an Trần Quốc Hoàn mặc sức hãm hiếp. Rồi cho thủ hạ chùm chăn lên đầu và dùng búa đánh vỡ sọ nạn nhân (như vụ Staline hạ sát Trotsky tại Mexico).


Một người có những thủ đoạn bất nhân như vậy, mà bộ máy tuyên truyền của CS còn đề cao như một vị anh minh kết tinh "đức tính từ bi của Đức Phật, tính công bằng bác ái của Chúa Ki-Tô, sự minh triết của Khổng Tử, sự siêu thoát của Lão Trang".


Ngoài ra, Trần Dân Tiên còn tự sánh mình với Mặc Tử là người đã mòn trán lỏng gót bôn ba khắp nơi để lo cho thiên hạ. Điều đáng nói là, trong khi Mặc Tử chủ trương hòa bình, thì Hồ Chí Minh cổ võ chiến tranh. Trong khi Mặc Tử theo thuyết kiêm ái, yêu dân tộc, yêu nhân loại, thì Hồ Chí Minh gieo rắc căm hờn, thúc dục thú tính để phát động đấu tranh giai cấp và thủ tiêu những lương dân vô tội và những người quốc gia yêu nước theo chủ nghĩa dân tộc.


5. GIẢ ĐOÀN KẾT QUỐC GIA.


Khi hay biết phe Thế Giới Dân Chủ không chịu trao Đông Dương cho Đảng Cộng Sản Đông Dương vì họ không muốn Staline mở rộng Bức Màn Sắt từ Đông Âu qua Đông Á, ngày 11-11-1945 Hồ Chí Minh giả bộ giải tán Đảng Cộng Sản Đông Dương để thành lập Hội Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Các-Mác. Để có chính nghĩa đoàn kết quốc gia, Hồ Chí Minh mời Nguyễn Hải Thần thuộc Cách Mạng Đồng Minh Hội và Vũ Hồng Khanh, Nguyễn Tường Tam thuộc Việt Nam Quốc Dân Đảng tham gia chính phủ liên hiệp.


Trong Tuyên Cáo Đoàn Kết ngày 24-12-1945, Hồ Chí Minh cam kết tôn trọng sự đoàn kết của các đảng phái quốc gia để tranh thủ độc lập, "Vì độc lập quốc gia là cứu cánh tối hậu cần phải tranh thủ và chỉ có sự hợp tác và hữu nghị chân thành giữa những người Việt Nam mới có thể đạt được độc lập quốc gia". Ông còn lên án mọi hành vi phá hoại tình đoàn kết quốc gia cũng như việc dùng võ lực để tiêu diệt các đảng phái quốc gia.


Vậy mà sau đó Trần Dân Tiên đã vu oan giá họa "bọn phản động Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam được Trung Hoa Quốc Dân Đảng giúp đỡ đã có âm mưu phá hoại và Hồ Chủ Tịch đã phải nhường cho họ 70 ghế quốc hội".


Ngày 6-3-1946, Hồ Chí Minh ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny công nhận Việt Nam là một quốc gia tự trị trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp. 15 ngàn quân Pháp được thay thế quân Trung Hoa, đổ bộ Hải Phòng và đồn trú tại Bắc Việt trong 5 năm.


Tháng 5-1946, Hồ Chí Minh qua Paris thương nghị. Phái đoàn Việt Nam đáng lẽ do ngoại trưởng Nguyễn Tường Tam lãnh đạo, nhưng trước đó: "Bộ Trưởng Tam đã bỏ trốn". Và mùa hè năm đó, Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh cũng bỏ trốn sang Tàu để khỏi bị sát hại như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm v.v...


Sau khi tống xuất quân đội Trung Hoa, CS thẳng tay đàn áp và thủ tiêu các cán binh Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Như vậy, Tuyên Cáo Đoàn Kết 1945 chỉ nhằm thành lập chính phủ liên hiệp để làm bình phong thương nghị với Pháp. Rồi nhờ Pháp tống xuất Tàu cho Đảng CS rảnh tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia để được độc quyền lãnh đạo.


Trong Thế Chiến Thứ Hai, để được Đồng Minh yểm trợ, Staline đưa ra chính sách thân thiện với Anh Pháp. Đảng CS Pháp phối hợp với Đảng Xã Hội trong Mặt Trận Bình Dân. Phe CS Việt Nam cũng hợp tác với phe Tân Tả Phái của Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch để thành lập Mặt Trận Dân Chủ và xuất bản tờ La Lutte (Tranh Đấu).


Trong những cuộc bầu cử Hội Đồng Đô Thành Saigon và Hội Đồng Quản Hạt Nam Kỳ, liên danh Tranh Đấu của Tạ Thu Thâu toàn thắng. Đây là giai đoạn đấu tranh công khai, ôn hòa, hợp pháp và bất bạo động. Chiêu bài đoàn kết quốc gia một lần nữa được áp dụng. Nguyễn An Ninh thuộc phe Trung Hoà, Tạ Thu Thâu thuộc phe Tân Tả Phái và Nguyễn Phan Long thuộc phe Lập Hiến, đã đứng ra tổ chức Đông Dương Đại Hội để đạo đạt thỉnh nguyện của nhân dân Việt Nam tới phái đoàn Quốc Hội từ Paris sang.


Vậy mà ngay sau khi cướp được chính quyền, Đảng CS đã phản bội lời giao ước đoàn kết và đã thủ tiêu Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phạm Quỳnh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Văn Sâm, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo v.v... là những người quốc gia yêu nước thuộc các nhóm Tân Tả Phái và Lập Hiến.


Về việc hạ sát Tạ Thu Thâu, Hồ Chí Minh còn giả nhân nghĩa tiếc Tạ Thu Thâu là người yêu nước. Nhưng ông lại thêm rằng những ai chống lại chính sách của ông đều sẽ bị vô hiệu hoá. Sau khi Staline thủ tiêu người chiến hữu đàn anh của mình là Trotsky năm 1940, tất cả phe tân tả phái Trotskit đều phải bị thanh toán và triệt hạ uy tín.


Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn cho hạ sát Đức Giáo Chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ và các lãnh tụ các đảng phái quốc gia yêu nước như Trương Tử Anh (Đại Việt), Lý Đông A (Duy Dân), Khái Hưng, Nhượng Tống (Quốc Dân Đảng) v...v...


6. GIẢ HIỆP ƯỚC QUỐC TẾ.


Theo sách lược CS ký hiệp ước không phải để thi hành hiệp ước. Vì các hiệp ước ngoại giao chỉ là những phương tiện để thực thi những mục tiêu chính trị:


a. Ký Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny ngày 6-3-1946 nhờ Pháp tống xuất Tàu để rảnh tay thanh toán các đảng phái quốc gia nhằm giữ độc quyền yêu nước, độc quyền lãnh đạo. Sau đó lại phát động chiến tranh ngày 19-12-1946.

b. Ký Hiệp Định Đình Chiến Genève 1954 để tống xuất Pháp và cướp chính quyền tại Miền Bắc. Sau đó lại tái phát động chiến tranh.

c. Ký Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973 để tống xuất Mỹ. Sau đó lại tái phát động chiến tranh để thôn tính Miền Nam.


7. NGỤY TẠO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH.


Sau cuộc Cách Mạng giải thể CS tại Đông Âu, chủ nghĩa CS đã bị nhân dân thế giới vứt vào thùng rác lịch sử. Tại Đức, quê hương của Các-Mác, chủ nghĩa Mác đã bị phủ định và được thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xã Hội. Tại Nga, quê hương của Lênin, chủ nghĩa Lênin cũng đã bị phủ định để thay thế bằng chủ nghĩa Dân Chủ Tự Do và Dân Chủ Xã Hội.


Trước sự phá sản của chủ nghĩa Mác Lê, Đảng CS ngụy tạo cái gọi là "tư tưởng Hồ Chí Minh", một điều mà chính Hồ Chí Minh thời sinh tiền cũng không bao giờ đề cập đến. Ông chỉ nói đến chủ nghĩa Mác Lê, tư tưởng Mao Trạch Đông, và tác phong Hồ Chí Minh. Ông nhìn nhận rằng, về phần tư tưởng, "Bác Mao đã viết cả rồi, tôi không còn gì để viết nữa".


Do đó ông chỉ thực thi trung thành những nguyên lý Mác Lê và tư tưởng Mao Trạch Đông. Ông hết sức tán tụng Staline và Mao Trạch Đông. Ông viết: "Mao Trạch Đông đã đông phương hóa chủ nghĩa Mác Lê và đã đưa cách mạng Trung Quốc đến thành công. Cách mạng Việt Nam phải học tập và thực sự đã học hỏi rất nhiều từ cuộc cách mạng Trung Quốc. Các nhà cách mạng (CS) Việt Nam phải ghi nhớ điều này và phải biết ơn Mao Trạch Đông về sự đóng góp to lớn này".


Thật vậy, Hồ Chí Minh không có tư tưởng gì đặc sắc. Ông chỉ là người sao chép lại.


Những mục tiêu độc lập, tự do, hạnh phúc ghi trong các tiêu đề chánh thức của nhà nước chỉ là phỏng theo 3 cương lĩnh của chủ nghĩa Tam Dân do Tôn Dật Tiên đề xướng trong Cách Mạng 1911: "Dân Tộc Độc Lập, Dân Quyền Tự Do và Dân Sinh Hạnh Phúc".


Bản Tuyên Ngôn Độc Lập do Hồ Chí Minh đọc ngày 2-9-1945 cũng là sự sao chép Tuyên Ngôn Độc Lập Hoa Kỳ theo đó: "mọi người sinh ra bình đẳng và được Tạo Hóa ban cho những quyền bất khả xâm phạm như quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Thêm vào đó là lời mở đầu Tuyên Ngôn Nhân Quyền và Dân Quyền Pháp 1789: "mọi người sinh ra tự do và bình đẳng và luôn luôn được tự do và bình đẳng".



Dùng giả nhân nghĩa là ngụy quân tử. Nhưng khéo ngụy trang Hồ Chí Minh đã viện dẫn các tư tưởng minh triết của Nho Gia trong việc giáo hóa, trị dân và dựng nước như: "Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người; cần kiệm liêm chính, chí công vô tư; lo trước cái lo của dân, vui sau cái vui của dân; không lo nghèo mà lo không đều; mười năm trồng cây, trăm năm trồng người" v.v....


Về mặt kiến thức, Hồ Chí Minh thú nhận ông không am tường chính trị và nhức đầu khi nghe nói về những vấn đề lý thuyết chủ nghĩa. Ông chỉ là người cán bộ thừa hành trung thành và tận tụy của Staline và Mao Trạch Đông. Nhờ Phan Chu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền, ông nổi danh vì bút hiệu chung Nguyễn Ái Quốc. Từ đó, ông được giới thiệu với các lãnh tụ Xã Hội và CS Pháp như Léon Blum, Marcel Cachin v..v... Từ một tiểu trí thức, ông đã bước lên địa vị một cán bộ CS quốc tế, phụ trách vùng Đông Nam Á.


Trong khi các lãnh tụ CS Á Châu khác như Roy tại Ấn Độ hay Malaka tại Nam Dương đều bị thất sủng dưới bàn tay sắt của Staline vì họ có những tư tưởng hướng về chủ nghĩa Dân Tộc và chủ thuyết Hồi Giáo, thì Hồ Chí Minh vẫn một lòng một dạ chung thủy với Quốc Tế CS.

Dầu không có tư tưởng chính trị đặc sắc nhưng Hồ Chí Minh đã thành công trong việc:


Dùng ngụy trang dối trá (ngụy chủ nghĩa Dân Tộc);

Lấy giả nhân giả nghĩa (bằng các chiêu bài độc lập, tự do, hạnh phúc, đoàn kết, hòa giải, hòa hợp);

Để giành chính nghĩa (giải phóng dân tộc, giải phóng lao động);

Và cướp chính quyền (để không chia quyền với bất cứ ai).


L.S. Nguyễn Hữu Thống


  1. Niềm tin của người ái mộ HCM trong nước bị lung lay khi biết chiều cao cuả HCM và Nguyễn tất Thành khác nhau
      

    Niềm tin của tôi bị lung lay


    Thưa các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

    Trong nhiều tháng nay niềm tin trong lòng tôi bị lung lay dữ dội vì trên các trang mạng xuất hiện nhiều bài viết về truy tìm nguồn gốc của “Cha già dân tộc” ((xin lỗi anh Lạc Long Quân ( truyền thuyết), anh Vua Hùng (có thật) nha)), “Bác của chúng em” (xin lỗi chú Nguyễn Sinh Khiêm, cô Nguyễn Thị Thanh nha) khi đưa ra bằng chứng mới: Chỉ cần so chiều cao thì sẽ biết đâu là ông Nguyễn Ái Quốc, đâu là ông Hồ Tập Chương.

    Tôi thật sự hoảng loạn về chi tiết này. “Bác Hồ của chúng em”, từ khi chúng em nhìn thấy, phải cao một mét bảy (ngang ngửa với Tây) trong khi Bác Hồ của chúng em” có nguồn gốc ở Nghệ An mang tên Nguyễn Sinh Cuông, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, các tài liệu nói, chỉ cao có một mét năm nhăm là cùng, vì ở thời điểm năm 1921 Bác đã 31 tuổi, tức là ở độ tuổi không thể cao được nữa.

    Vậy thì tại sao “Bác của chúng em” khi hiện diện “trở lại” Việt Nam lại bất ngờ cao những hơn một mét bảy mươi? Hay là Bác được chăm sóc tốt mà độ cao tiềm năng của Bác lúc này mới phát triển? Không thể, vì người, tuổi càng cao thì độ cao càng ngắn đi, chứ không thể cao hơn lên được.

    Đó là lý do để niềm tin của tôi bị lung lay, rằng bác Hồ Chí Minh kính yêu rất có thể là ông Hồ Tập Chương thật.




    Bác Hồ về thăm quê Nghệ An năm 1961


    Vài năm trước đây, khi giáo sư sử học Đài Loan Hồ Tuấn Hùng công bố quyển sách “Hồ Chí Minh Sinh bình Khảo”, ông ta khẳng định “Bác của chúng em” là ông Hồ Tập Chương, là ông Bác họ với nhà sử học Hồ Tuấn Hùng, người Khách Gia ở Đài Loan, Trung Quốc. Còn “Bác Hồ của chúng em” thì đã bị bệnh lao, chết năm 1932 rồi.

    Ông giáo sư sử học Đài Loan Hồ Tuấn Hùng chứng minh “Bác của chúng em” là Hồ Tập Chương ở một số căn cứ sau:

    - Văn phong của “Bác của chúng em” là văn phong của người Khách Gia;

    - Vì sợ bị lộ là người Khách gia nên năm 1946 khi bà chị Nguyễn Thị Thanh ra Hà nội gặp mặt, “Bác của chúng em” phải tránh mặt, chỉ cử người ra tiếp, rồi giục chị Thanh nhanh chóng trở về quê, vì “Bác chúng em” đang bận việc nước. Năm 1954, giải phỏng Thủ Đô, “ Bác của chúng em” cũng từ Việt Bắc về Thủ Đô, nhưng mãi đến năm 1957 “Bác chúng em” mới về quê “vinh quy bái tổ”, chẳng hay bạn bè cùng lứa có ai còn sống để nhận mặt ra Bác nữa không?.

    Vân vân

    Rôi tôi lại miên man “thắp lửa” cho sự nghi nghờ của mình nữa là, “Bác của chúng em là “con nhà gia giáo”, sao lại ngạo mạn tự xưng mình là “Cha gìa dân tộc”, muốn làm cha cả Vua Hùng (có thật) và cha của Lạc Long Quân ( truyền thuyết), một sự vi phạm đức làm người chưa từng có tiền lệ trong bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.

    Phải chăng “Bác của chúng em” là người Tàu đích thực, mà trong ý thức của bất kỳ người dân nước Việt nào, phàm đã là người Tàu, thì đều bị dân nước Việt gọi bằng chú – “chú khách, chú Ba Tàu”. Có lẽ vì thế mà “Bác của chúng em” bực tức và trả thù bằng sự ngạo mạn với hai danh xưng trên chăng? – “Tao đây không phải là chú mà tao là bác, là cha già dân tộc của Đại Việt chúng bay”.

    Rồi lại miên man nghĩ rằng, trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược, dân tộc ta bao giờ cũng “lấy yếu thắng mạnh”, “lấy ít đich nhiều” để giành chiến thắng, ấy mà trong chống Pháp chín năm, chống Mỹ hai mươi năm, các trận đánh lớn lại được “Bác của chúng em” thường xuyên sử dụng chiến thuật “biển nguời”, một đặc điểm chiến tranh nối bật của người Tàu.

    Phải chăng tiến hành chiến tranh theo kiểu như vậy, là vừa nhằm mục đích chiến thắng kẻ thù, vừa nhằm mục đích tiêu diệt dân lực của Việt Nam ta để cuối cùng đưa Việt Nam ta trở lại vị trí “Giao chỉ quận” mà người Tàu lúc nào cũng muốn?

    Nếu đúng như thế thì đau lắm dân Việt Nam ta ơi!

    Để củng cố niềm tin và để cho phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” tiếp tục bùng cháy, lan rộng, tôi nghĩ, đã đến lúc Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra bằng chứng khoa học hùng hồn để bác bỏ những căn cứ cho rằng Hồ Tập Chương – “Bác của chúng em” là không đúng. Kẻo không, niềm tin bị lung lay ở một người nó sẽ dần dần lây lan ra cả triệu triệu người Việt Nam thì còn đâu là “Bác của chúng em”; còn đâu là gương sáng để học tập nữa.

    Mong nhanh chóng nhận được sự hồi đáp của các đồng chí.

    Trân trọng cảm ơn!

    Blog Bà Đầm Xòe

    (http://www.danchimviet.info/archives...ng-lay/2013/09)
  2. #2
    Join Date
    25-01-2011
    Posts
    4,392

      Đối với loại câu hỏi này, thì đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ giả vờ trở thành điếc và câm nặng . Không thèm trả lời đâu .
      

    Tôi thật sự hoảng loạn về chi tiết này. “Bác Hồ của chúng em”, từ khi chúng em nhìn thấy, phải cao một mét bảy (ngang ngửa với Tây) trong khi Bác Hồ của chúng em” có nguồn gốc ở Nghệ An mang tên Nguyễn Sinh Cuông, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quốc, các tài liệu nói, chỉ cao có một mét năm nhăm là cùng, vì ở thời điểm năm 1921 Bác đã 31 tuổi, tức là ở độ tuổi không thể cao được nữa.

    .............................. .............................. .............................. .............................. .............................. ....................

    Để củng cố niềm tin và để cho phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Bác Hồ” tiếp tục bùng cháy, lan rộng, tôi nghĩ, đã đến lúc Đảng và Nhà nước ta cần đưa ra bằng chứng khoa học hùng hồn để bác bỏ những căn cứ cho rằng Hồ Tập Chương – “Bác của chúng em” là không đúng. Kẻo không, niềm tin bị lung lay ở một người nó sẽ dần dần lây lan ra cả triệu triệu người Việt Nam thì còn đâu là “Bác của chúng em”; còn đâu là gương sáng để học tập nữa.

    Mong nhanh chóng nhận được sự hồi đáp của các đồng chí.
    Last edited by Nhân Dân Tự Vệ; 11-09-2013 at 02:06 AM.
  3. #3
    Join Date
    25-01-2011
    Posts
    4,392

      Thần tượng Hồ chí Minh sẽ bị nhân dân trong nước giật sập
      

    Các cộng đoàn chống cộng tại Hải Ngoại dùng phương tiện Internet toàn cầu để cương quyết đánh sập " thần tượng " Hồ chí Minh của đảng CS VN cho kỳ được bằng cách kiên trì chứng minh các tội ác của Hồ chí Minh đối với Tổ Quốc và dân tộc, mà quan trọng bậc nhất là tội bán nước cho Tàu cộng .
    Nhưng trước đây. Không cộng đoàn chống cộng nào tại Hải Ngoại biết được Hồ chí Minh không phải là Nguyễn tất Thành bỏ nước ra đi tìm đường cứu đói.
    Giờ đây . Khi biết rõ Hồ chí Minh không phải là Nguyễn tất Thành ; mà là một anh chệt nhờ các thông tin qua hệ thống Internet toàn cầu .Chắc chắn thần tượng Hồ chí Minh sẽ bị nhân dân trong nước hạ bệ một cách nhanh chóng cùng với tất cả huyền thoại cuả hắn do đảng Cộng Sản Trung Hoa + Việt Nam bịa đặt; thêu dệt .

    Mưu sự tại nhân; thành sự tại Thiên





Hình 16 Hình 17

Hình 16 và 17: Trong cuộc phỏng vấn của một nữ phóng viên Pháp với Hồ Chí Minh vào tháng 6/1964, hai hình ành 16 và 17 có nét rất nhiều của một Hồ Tập Chương, đặc biệt là vành tai trái nhọn và vết cắt bên vành tai phải trên cao --mà lúc trước mật vụ Pháp có thể lầm tưởng giữa giữa Hồ Tập Chương và Nguyễn Ái Quốc vì lúc bắt Nguyễn Ái Quốc lại có giấy tờ của Hồ Tập Chương trong phòng-- mặc dù gương mặt bấy giờ dường như được tiêm thêm thuốc căng da làm cho no đầy hơn.



Hình 18 Hình 19 Hình 20

Hình 18: Bức hình tuyên truyền lãnh tụ Hồ Chí Minh vào khoảng tháng 9/1963 được tô vẽ thêm từ tóc, chân mày, râu, màu sắc v.v. để trở thành một nhãn hiệu cầu chứng cho đảng Cộng sản Việt Nam. (theo vi.wikipedia, là do nhiếp ảnh gia Lục Văn Tuấn (陸文駿) của "Quảng Đông họa báo")

Hình 19: Bức hình Hồ Tập Chương vào năm 1966

Hình 20: Bức hình Hồ Tập Chương trong sân sau biệt thự Bắc Bộ Phủ vào năm 1969

II. Về bút tích: 

Điều trước tiên phải nhắc đến là lá thư xin được học trường Pháp vào năm 1911 của Nguyễn Ái Quốc trong thời gian theo con tàu buôn Amiral Latouche-Tréville của Pháp làm việc lặt vặt trên đó để được ra nước ngoài.



Hình 01

Hình 01: Cho thấy nét chữ rất cứng và đều đặn, cũng như những chữ nét chữ hoa đầu câu chứng tỏ là một người tài hoa --mặc dù vẫn bị lỗi đôi chút về ngữ Pháp và văn phạm. Vấn đề đặt ra là đó có phải là nét chữ thực sự của Nguyễn Ái Quốc hay anh ta nhờ một ai đó có trình độ hơn trên tàu, viết dùm lá thư? Vì nên nhớ rằng, Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc sau nầy) trải qua không nhiều thời gian để làm quen, nắn nót những mẫu tự La-tinh mà từ lúc bắt đầu đi học là tiếng Hán từ năm 9 tuổi đến 14 tuổi dù chỉ là trong giai đoạn sơ cấp dù có được kèm thêm một ít tiếng Pháp trong những năm về sau trước khi chính thức được xin vào trường Quốc tự Giám, Huế, nhờ danh vị đỗ đạt của người cha, Nguyễn Sinh Sắc, nhưng Nguyễn Tất Thành chưa hẳn là một học sinh thực thụ vì chưa đủ trình độ Pháp ngữ.

Điều đáng chú ý nữa là chữ "Nguyễn" lại viết là "Nguyển" và chữ "quốc ngữ" viết là "quấc ngử"


Hình 02

Hình 02: Đây là bút tích của một thành viên Nguyễn Ái Quốc khác trong nhóm 5 người. Có người cho rằng, có thể là bút tích của Nguyễn An Ninh, người anh đỡ đầu của Nguyễn Tất Thành khi vừa đặt chân lên đất Pháp, cũng là người bị Cộng sản sát hại khi trở về Việt Nam sau nầy. Nhưng xét ra, trong nhóm chỉ có 2 người chưa làm quen nhiều với mẫu tự La-tinh là cụ Phan Chu Trinh và Nguyễn Tất Thành. Trong lối hành văn xưa, kiến thức về tình hình chính trị, và chữ "Nguyễn Ái Quấc" có thể là bút tích của cụ Phan nhiều hơn (ngày xưa chữ "quấc" dùng cho chữ "quốc" như chữ "quấc hồn" trong bài trên. Mặc dù nét chữ rất yếu, nhưng không sai chính tả của tiếng Việt.



Hình 03 Hình 04 Hình 01b

Hình 03: Bức thư ngắn vốn được gởi cho một người bạn nào đó trong nước Pháp - ám chỉ bằng chữ "đồng bào" - nhằm cảm ơn cho việc nhận được bộ sách Tây Du Ký vào năm 1922, chưa hẳn có khả năng là bút tích của Nguyễn Tất Thành vì chữ ký rất khác và có vẻ được dùng thường xuyên qua nét cong tự nhiên.

Hình 04: Có nhiều khả năng chính là bút tích của Nguyễn Tất Thành vào năm 1923 dưới bí danh là Nguyễn Ái Quốc, gởi thư đi để thanh toàn tiền ai đó đặt mua báo "Người cùng Khổ" ("Le Paria") mà anh ta đang hoạt động trong ban biên tập. Điều đáng chú ý là mẫu tự "d" (như trong chữ "du" tiếng Pháp) được viết theo kiểu Tây phương hơn là cách viết bình thường mà trong bức thư xin đi học không có dùng, và cách viết chữ hoa cũng khác biệt.


Hình 05 Hình 06

Hình 05: Bức thư kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh vào năm 1946, cho thấy cách viết rất khác biệt cũng như cách dùng chữ Việt rất lạ như chữ "gi" hoặc "d" viết là "z" (thí dụ: "giờ" viết là "zờ"; "dân" viết là "zân"), chữ "ph" viết là "f" (thí dụ: "phải" viết là "fải") và đây đó có khá nhiều lỗi chính tả của tiếng Việt như thể là do một người không thuần túy là gốc Việt. Từ đó có thể hiểu, chính là bút tích của Hồ Tập Chương, một người quen dùng Hán tự, cũng như cách cầm bút khác biệt hơn khi dùng mẫu tự La-tinh nên nét viết yếu hơn nhiều như trường hợp của cụ Phan.

Hình 06: Bức thư ngắn nầy lại có nét viết cứng hơn nhiều, khác xa hình 05, vào năm 1948. Chữ ký cũng khác dù chỉ cách khoảng 2 năm. Mặc dù vẫn dùng cách viết lạ của hình 05 ("gi" viết là "z," v.v.), một vài nét khác biệt rõ hơn (như mẫu tự "v). Điều đáng chú ý là nét cuối của mẫu tự thường được kéo dài lên cao (như mẫu tự "n," "m" v.v.) mà trong hình 05 không có. Cho thấy là không phải cùng một người viết ra.


Hình 07 Hình 08

Hình 07: Bút tích nầy được cho là của Hồ Chí Minh ghi lại cảm tưởng trong sổ vàng ở điện Kremli trong chuyến thăm Liên Xô vào năm 1955. Cho thấy có nhiều nét gần gũi với hình 05 và 08 hơn là hình 06. Không có những nét cuối đẩy lên cao. Trong phong cách là chủ tịch một nước ghi lại trong sổ vàng nước ngoài thì không bao giờ có chuyện cố tình viết dối (như trường hợp trong hình 05 hoặc 08) để bào chữa cho nét chữ yếu kém, thiếu đều đặn của mình. Điều nầy càng chứng tỏ rằng vì người viết không thuần là người Việt vốn quen sử dụng chữ Việt Nam. Có nghĩa là Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương.

Hình 08: Bức thư nầy vào năm 1964 là một chứng minh khác về thân thế Hồ Chí Minh khi nó được viết để cảm ơn kiều bào Lê Đình Cao trước khi trở về miền Bắc đã gởi đi 92 chiếc xe đạp để biếu nhà cầm quyền, cũng như chi phí để xây ngôi trường 4 lớp học.


Hình 09 Hình 10

Hình 09: Bút tích bằng Hán tự của Hồ Chí Minh có vẻ điêu luyện nhiều hơn so với bút tích Việt ngữ

Hình 10: Ngay cả khi đọc sách, Hồ Chí Minh cũng dùng Hán tự để ghi chú. Điều nầy có thể hiểu qua cách cầm bút "trên cao" để dễ dàng vẽ nét Hán tự hơn là dùng để gò nét viết tiếng Việt.

C. Về câu hát Trung Quốc:

Trong khoảng thời gian trở bệnh của Hồ Chí Minh vào năm 1969, một phần nào do ảnh hưởng của cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 bị thiệt hại nhiều về quân số và vũ khí nhưng hoàn toàn thất bại nặng nề, sau nhiều lần qua Trung cộng để chạy chữa vẫn không bình phục. Phái đoàn Bác sĩ của Trung cộng được cử qua Hà Nội để giúp đỡ, nhưng đến sáng ngày 2/9/1969, Hồ Chí Minh trút hơi thở cuối cùng.

Theo bài viết "Ba lần Bác cười Trước lúc Đi xa" được đăng trên trang mạng qdnd.vn của nhà nước vào ngày 25/01/2010, do Nguyễn Hòa dịch lại từ bài viết của Vương Tinh Minh, là y tá trưởng Bệnh viện Bắc Kinh, thành viên Tổ bác sĩ Trung Quốc sang Việt Nam chữa bệnh cho Bác Hồ, vào tháng 8/1969, trong đó có đoạn:

"Chiều hôm đó sức khỏe của Bác đã có chuyển biến tốt lên một chút, Bác nói muốn nghe một câu hát Trung Quốc. Các đồng chí đề nghị tôi hát. Tôi nói thật là hát cũng không tốt lắm, nhưng để vui lòng Bác, vì tình hữu nghị Trung-Việt, tôi đã hát một bài hát mà nhiều người thuộc và hát được, bài hát có nội dung chính là ra khơi xa phải vững tay chèo."

Tại sao Hồ Chí Minh là người Việt Nam lại muốn nghe "một câu hát Trung Quốc"? Điều nầy càng chứng tỏ rằng Hồ Chí Minh thực chất hoàn toàn không phải là người có gốc Việt dù đã ở miền Bắc Việt Nam hoạt động rất lâu. Chỉ được giải thích một cách thỏa đáng trừ khi Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương.

Trong khi đó, nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, một lần nữa, ra sức tuyên truyền, thêu dệt thêm câu chuyện tưởng tượng để gây xúc động những người dễ tin, những người từng được nhồi sọ về tư tưởng tôn sùng tuyệt đối nhằm khỏa lấp tất cả sự thật trước mắt, hiển hiện trước họ. Một thí dụ điển hình là bài viết "Tình yêu Bác Hồ dành cho những Khúc dân Ca" trên trang mạng lamdong.gov của Phạm Huỳnh Hoa (tự xưng là người sưu tầm, nhưng không biết ai là tác giả) kể lại một câu chuyện "xạo," không đúng như Vương Tinh Minh thuật lại. Và đồng hợp ca tuyên truyền "xạo" thêm là bài hát "Lời Bác dặn Trước lúc Đi xa" của Trần Hoàn bắt đầu bằng câu: "Chuyện kể rằng trước lúc Người ra đi. Bác muốn nghe một câu hò xứ Huế" nhưng không có ai quanh đó, nên "Bác muốn nghe một câu hò xứ Nghệ" mãi đến lần thứ ba "Ôi may sao, bỗng có em gái nhỏ, bước vào gần Bác." Chính bài hát nầy dựa trên là nội dung tuyên truyền "xạo" của bài viết nói trên trong mục đích tiếp tục đánh lừa công chúng Việt Nam cho đến nay.

Cũng như ngày Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) mất cũng từng được nhà cầm quyền Cộng sản miền Bắc lúc bấy giờ tuyên bố trước thế giới là ngày 3/09/1969 thay vì là ngày 2/09. Một thí dụ điển hình là trên trang mạng biography.com trong phần "Ho Chi-Minh" vẫn còn bị lầm lẫn khi ghi nhận ngày mất của ông ta là 3/09/1969: "He declared Vietnam’s independence in 1945 and became the first president of the republic in 1954. He died o­n September 3, 1969, in Hanoi, Vietnam." [Ông ta tuyên bố nền độc lập của Việt Nam vào năm 1945 và trở thành vị Chủ tịch đầu tiên của nền Cộng hòa vào năm 1954. Ông ta mất vào ngày 3 tháng Chín năm 1969, ở Hà Nội, Việt Nam.]

Và nơi trang 171, về "Di chúc" của Hồ Chí Minh có đoạn: "... phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác..." Có phải chăng câu "các vị cách mạng đàn anh khác" là ẩn ý của Hồ Tập Chương muốn trở về cùng với mẫu quốc, Chủ tịch Mao, của ông ta? Mà đáng lý ra, một Hồ Chí Minh gốc Việt sẽ không nghĩ như thế, vì ông ta dù sao cũng không thể nào không biết đến tổ tiên, dòng họ của mình, là điều tối thiểu, hoặc dòng giống Việt Nam. Dù mang nặng tinh thần Cộng sản Quốc tế đến như thế nào, Hồ Tập Chương vẫn yêu mến dân tộc của riêng mình hơn. Đó là điều hiển nhiên mà một Hồ Chí Minh, hay bất kỳ nhân vật Cộng sản nào cũng thừa biết rằng không ai không yêu dân tộc mình hơn bằng chính giống nòi mình. Vì đó là cứu cánh của cuộc sống mình mà trong đó chứa đầy những thâm tình, thân thuộc.

D. Thay lời kết:

Người ta thường nghĩ rằng chỉ có người ngoại tộc mới ra tay tàn ác với người bản xứ. Điều nầy quả không sai. Và càng đúng hơn khi ý niệm đó được thúc đẩy mạnh bạo hơn bởi chủ thuyết Cộng sản: phân biệt giai cấp. Và mục đích phân biệt giai cấp là nhằm tiêu diệt hoàn toàn giai cấp có kiến thức nhưng bất phục Cộng sản. Mặc dù những người Cộng sản luôn hô hào thế giới đại đồng vô sản, vô giai cấp, nhưng ngược lại, họ luôn luôn gây sự phân biệt giai cấp tiềm tàn trong mọi lãnh vực nhằm mục đích thao túng quyền lực độc tài nắm giữ được tất cả mọi người.

Điều nầy được chứng minh qua nhân vật Hồ Chí Minh, một Hồ Tập Chương luôn đặt vấn đề dân tộc của riêng mình trên hết nên ông ta dấn thân mình thực hiện cho bằng được mục đích lợi ích lâu dài cho riêng dân tộc mình là Trung Quốc, mặc dù ông ta là người Đài Loan nhưng vẫn hướng lòng về một Trung Quốc Cộng sản hơn. Ông ta không những thảm sát không nương tay những người đồng chí thân thiết của Hồ Chủ tịch trong công cuộc Cải cách Ruộng đất, kéo dài chiến tranh Bắc-Nam Việt Nam mà không cần thương tiếc sinh linh. Tất cả không ngoài mục đích cuối cùng là dâng lên mẫu quốc một nước An Nam thuần phục và cũng là một nước có nhiều đại thù trong lịch sử với Trung quốc.

Hồ Tập Chương đã thực sự thành công trọn vẹn vai trò được giao phó bởi Trung cộng. Ông ta đáng là một vị anh hùng, chỉ đứng sau họ Mao, trong phần ghi công vinh danh. Và có lẽ, đã đến lúc Trung cộng cần phải tuyên bố công trạng của Hồ Chí Minh và cũng không nhất thiết trả về sự thật của lịch sử. Vì lịch sử có được chính là do mỗi người dân đương thời góp phần tạo nên trong cuộc sống hàng ngày dù là vô tình hay hữu ý. Những kẻ hèn nhát không dám nhìn sâu vào gương lịch sử là những kẻ luôn chối biến vai trò của mình để đùn lại cho kẻ khác, luôn luôn nói rằng: "Hãy để cho lịch sử phán xét. Việc nầy chẳng dính dáng đến tôi." Đây chính là một thái độ của kẻ "thất phu" dù là người có văn hóa cao. Vì theo như câu nói đó, vậy cái gì là lịch sử? Lịch sử dân tộc được tạo nên từ hòn đá, cây cỏ? Và hôm nay, người đang sống trong xã hội, sẽ không trở thành lịch sử? Lịch sử là một cái gì quái dị, cấm kỵ trong chế độ Cộng sản đến nỗi người đương thời nghe nói đến là phải chối bỏ ngay mình đang là một thành phần cũng tạo nên nó? Nói như trên, có nghĩa là tổ tiên của anh ta không có mặt trong lịch sử, và hôm nay anh ta cũng muốn biến mất luôn khỏi nó sau nầy!

Cũng như nơi trang 181, tác giả ghi lại lời nói của một du học sinh Việt Nam có trình độ đại học ở Đài Loan khi được hỏi cảm nghĩ thế nào về tin tức Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương: "... Còn chuyện Hồ Chí Minh là người Trung Quốc hay Đài Loan hãy để cho lịch sử phán xét. Đối với tuổi trẻ chúng tôi việc nầy không phải là quan trọng. Mong muốn của chúng tôi là đất nước phát triển, tiền đồ tươi sáng trong tương lai." Anh chàng đó chỉ thấy cái "tiền đồ" mà không nghĩ rằng cài "tiền đồ" tự nó cũng sẽ trở thành "lịch sử." Anh ta không dám nhìn nhận lịch sử giống như một người xây nhà không dám nện mạnh cho nền đất cứng hơn vì e ngại khoảnh đất đó sẽ bị lún xuống. Nhưng sau khi xây dựng căn nhà trên nền đất "mềm" đó, anh ta có bảo đảm được cái "tiền đồ" tươi sáng nào đó không? Hay bất chợt, nó sẽ chôn vùi chính anh ta trong lúc còn "mê ngủ" theo cái "tiền đồ" hắc ám đó. Hay nên nói thẳng hơn là anh ta cố gắng học để mong chiếm lấy một địa vị nào đó trong xã hội vì cái "tiền đồ tươi sáng của chính mình" hơn là mượn câu nói thuộc lòng là "xây dựng đất nước" mà chẳng cần biết nền móng vững chắc hay không. Anh ta chính là một kẻ thời cơ mà thời đại nào cũng không thiếu!

Cuối cùng, xin mượn câu viết của tác giả Hồ Tuấn Hùng để đúc kết: "Bỏ đi những phán xét của công chúng về ảnh hưởng của Hồ Chí Minh với nhân dân Việt Nam mới chính là cố chấp, làm tổn hại đến danh dự dân tộc và sự tôn nghiêm của ông ta."

Hồ Chí Minh là Tầu Ô tên thật là Hồ Tập Chương - Bùi Tín




Gần đây trên một số mạng tự do ở Việt Nam có truyền đi tin tức, các đoạn trích dịch và một số bài bình luận về một cuốn sách chữ Hán nghiên cứu về cuộc đời của Hồ Chí Minh xuất bản tại Hoa Nam, Trung Quốc, có nhan đề là “Hồ Chí Minh sinh bình khảo‘’.   Mục đích cuốn sách là chứng minh ông Nguyễn Ái Quốc, sanh vào khoảng năm 1890 ở làng Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mang tên khai sinh là Nguyễn Sinh Coong, sau đổi là Nguyễn Tất Thành, xuất dương năm 1910 sang Anh, Pháp, lấy tên Nguyễn Ái Quốc, sau đó sang Nga, Trung Hoa, hoạt động trong phong trào Cộng sản, đã chết vào năm 1932 vì bệnh lao phổi. Thi hài ông được chôn đâu đó ở Hoa Nam.   Về sau có người tự nhận là Nguyễn Ái Quốc rồi lấy tên là Hồ Chí Minh, xuất hiện từ sau năm 1934, thật ra là một người Trung Hoa chính cống, thuộc dân tộc Miêu ở Đài Loan, có tên là Hồ Tập Chương.  

 
Theo báo chí Hoa Nam đây là một thành tích “lịch sử, kỳ diệu, có một không hai” của Cục tình báo Hoa Nam. Nhà tình báo thiên tài Hồ Tập Chương đã đóng trọn vẹn vai trò đội lốt Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh , kể từ khi về hang Pác Bó, rồi dự hội nghị Tân Trào tháng 8/1945, rồi về Hà Nội sau đó, làm Chủ tịch đảng, Chủ tịch Nước suốt 24 năm - từ 1945 đến 1969 - mà sự thật này không hề bị tiết lộ.   Cuốn sách cũng khẳng định trong lăng Hồ Chí Minh là xác của nhà tình báo Trung Hoa Hồ Tập Chương. Báo chí Trung Quốc khoe cuốn sách này là trước tác chân thực của học giả có tên tuổi Hồ Tuấn Hùng, cháu họ của nhà tình báo Hồ Tập Chương. Sách in đẹp, công phu, rất nhiều ảnh và tư liệu, được phát hành rộng rãi khắp Trung Quốc.  
 

Điều rất lạ, lạ đến kỳ quặc là người Việt trong nước xôn xao về cuốn sách giật gân này hơn một năm nay, nhưng cả Bộ Chính trị im re, cả bộ máy tuyên huấn câm như hến, cả bộ máy 4T thông tin tuyên truyền ngậm tăm, bộ máy an ninh đồ sộ đang bận lo đàn áp người yêu nước, coi đây là chuyện vặt.   Mưu đồ bôi xấu chế độ nham hiểm là đây, tuyên truyền chống chế độ là đây chứ còn ở đâu nữa. Xin hỏi ai có thể xúc phạm đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền Việt Nam hơn cuốn sách nhảm nhí đến tột cùng này? Trong Bộ Chính trị có ai cảm thấy nhục không khi họ in trên giấy trắng mực đen rêu rao khắp nơi rằng người từng là lãnh tụ cao nhất của đảng Cộng sản, của chính phủ Việt Nam trong suốt 24 năm trời hóa ra chỉ là một anh Tàu vô danh tiểu tốt mang tên Hồ Tập Chương của hòn đảo nhỏ Đài Loan của họ? Và trong cái lăng đồ sộ giữa thủ đô Hà Nội là cái xác giả Hồ Chí Minh, thật ra là xác một anh Tàu, vậy mà kỳ lễ lớn nào, kỳ họp Quốc hội nào những tai to mặt lớn của Hà Nội cũng phải đến cúi rạp người, lại nuôi cả một đội quân để bảo vệ và ra oai.  
 

 

Đây là sự bịa đặt khổng lồ trong quan hệ giữa cấp quốc gia với quốc gia, vậy mà người phát ngôn bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị vẫn im thin thít. Danh dự quốc gia, quốc thể là đây. Rõ thật là “khôn nhà dại chợ“.   Cũng là điều đáng tiếc khi một số mạng tự do đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền vẫn liên tiếp đăng những đọan dài kèm theo nhiều ảnh từ cuốn ‘’Hồ Chí Minh sinh bình khảo’’, với lời giới thiệu của nhà báo Huỳnh Tâm và dịch giả Thái Văn. Lẽ ra khi giới thiệu cuốn sách ban biên tập của các mạng ấy nên nói rõ quan điểm tỉnh táo của mình để hướng dẫn công luận. Vậy mà không một lời bình luận, phê phán. Hay là vẫn có người tin rằng trong thế giới ngày nay, khoa học tiên tiến có thể tạo và luyện nên những con người tình báo siêu phàm, giả giống y như thật - còn hơn thật - đến mức chị ruột và anh ruột ông Hồ là bà Thanh và ông Cả Khiêm cũng bị lầm, và tất cả cơ quan tình báo sắc sảo của Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nhật, Việt…cũng chỉ là gà mờ hết, bị cơ quan tình báo Hoa Nam cho ăn quả lừa ngoạn mục.

* Blog của Nhà báo Bùi Tín là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.
 
Bùi Tín



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Chúc Mừng Năm Mới 2026 [01.01.2026 19:26]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
FBI truy nã tội phạm ma túy gốc Hoa Việt sát hại hai đồng hương VN [Đã đọc: 319 lần]
Chủ tiệm tạp hóa của người Đại Hàn bị đâm chết tại metro Laurier, Montréal [Đã đọc: 296 lần]
Mỹ se bị sa lầy khi đổ quân vào Iran [Đã đọc: 287 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.