Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ
     Các chuyên mục 

Tin tức - Sự kiện
» Tin quốc tế
» Tin Việt Nam
» Cộng đồng VN hải ngoại
» Cộng đồng VN tại Canada
» Khu phố VN Montréal
» Kinh tế Tài chánh
» Y Khoa, Sinh lý, Dinh Dưỡng
» Canh nông
» Thể thao - Võ thuật
» Rao vặt - Việc làm

Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca
» Cần mời nhiều thương gia VN từ khắp hoàn cầu để phát triễn khu phố VN Montréal

Bản sắc Việt
» Lịch sử - Văn hóa
» Kết bạn, tìm người
» Phụ Nữ, Thẩm Mỹ, Gia Chánh
» Cải thiện dân tộc
» Phong trào Thịnh Vượng, Kinh Doanh
» Du Lịch, Thắng Cảnh
» Du học, Di trú Canada,USA...
» Cứu trợ nhân đạo
» Gỡ rối tơ lòng
» Chat

Văn hóa - Giải trí
» Thơ & Ngâm Thơ
» Nhạc
» Truyện ngắn
» Học Anh Văn phương pháp mới Tân Văn
» TV VN và thế giới
» Tự học khiêu vũ bằng video
» Giáo dục

Khoa học kỹ thuật
» Website VN trên thế giói

Góc thư giãn
» Chuyện vui
» Chuyện lạ bốn phương
» Tử vi - Huyền Bí

Web links

Vietnam News in English
» Tự điển Dictionary
» OREC- Tố Chức Các Quốc Gia Xuất Cảng Gạo

Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng

Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP



     Xem bài theo ngày 
Tháng Bảy 2026
T2T3T4T5T6T7CN
    1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31    
   

     Thống kê website 
 Trực tuyến: 8
 Lượt truy cập: 29728521

 
Văn hóa - Giải trí 29.07.2026 20:46
Nhân đạo là một phần của sức mạnh quốc gia!
29.07.2026 19:45

Một Việt Nam hùng cường sẽ không chỉ được ghi dấu bằng những thành tựu kinh tế, mà còn bởi một xã hội biết bảo vệ con người, trân trọng phẩm giá con người và trao cho mỗi người cơ hội vươn lên.

Phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ 12, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh:

nhandao.jpg

"Một Việt Nam hùng cường phải đồng thời là một Việt Nam nhân ái; một xã hội hiện đại phải biết sẻ chia; một quốc gia phát triển phải trân trọng và bảo vệ phẩm giá, sự an toàn của mỗi con người. Vì vậy, công tác nhân đạo không thể chỉ dừng ở cứu trợ khi thiên tai, dịch bệnh, hoạn nạn xảy ra, mà phải trở thành một bộ phận của chiến lược phát triển con người, bảo đảm an sinh xã hội, quản trị rủi ro và nâng cao khả năng tự cường của cộng đồng. Chúng ta phải chuyển từ ứng phó bị động sang chủ động phòng ngừa; từ cứu trợ sau thiệt hại sang cảnh báo sớm, hành động sớm; từ trao tặng đơn thuần sang hỗ trợ sinh kế, phục hồi năng lực và mở ra cơ hội phát triển; từ các chương trình riêng lẻ sang một hệ sinh thái nhân đạo kết nối Nhà nước, xã hội, doanh nghiệp và người dân. Sự hỗ trợ tốt nhất không chỉ giúp người dân vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn giúp họ tự vươn lên và ổn định cuộc sống lâu dài".

Một Việt Nam hùng cường phải đồng thời là một Việt Nam nhân ái

Phát biểu của Tổng Bí thư đã đặt công tác nhân đạo trong mối quan hệ trực tiếp với khát vọng xây dựng một Việt Nam hùng cường. Thông điệp ấy hàm chứa một luận điểm quan trọng: sức mạnh của một quốc gia không chỉ được tạo nên bằng tăng trưởng kinh tế, mà còn bằng năng lực bảo vệ con người trước mọi rủi ro.

Chúng ta thường đo thành tựu phát triển bằng tốc độ tăng trưởng, quy mô nền kinh tế hay những công trình hiện đại. Đó là những chỉ số cần thiết nhưng chưa đủ. Một quốc gia có thể giàu hơn nhưng chưa chắc vững mạnh hơn nếu người dân vẫn dễ bị tổn thương trước thiên tai, dịch bệnh, tai nạn hay những cú sốc của cuộc sống. Tăng trưởng tạo ra của cải, còn con người tạo ra tăng trưởng. Vì vậy, bảo vệ con người cũng chính là bảo vệ nền tảng của phát triển.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ 12, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra vào ngày 28/7. Ảnh: Phạm Hải
Những trận bão lớn, lũ quét, sạt lở đất diễn ra ngày càng cực đoan. Mỗi biến cố đều để lại những tổn thất về con người, sinh kế và niềm tin xã hội. Điều đó nhắc chúng ta rằng, một nền kinh tế chỉ thực sự bền vững khi con người được bảo vệ tốt hơn trước những rủi ro ngày càng khó lường.

Khẳng định "Một Việt Nam hùng cường phải đồng thời là một Việt Nam nhân ái" không chỉ mang ý nghĩa đạo lý mà còn là một quan điểm phát triển. Một đất nước muốn đi xa phải đầu tư cho con người với tầm nhìn dài hạn như đầu tư cho hạ tầng hay khoa học - công nghệ. An sinh xã hội, khả năng chống chịu của cộng đồng và sự an toàn của mỗi người dân không phải là kết quả đi sau tăng trưởng, mà là điều kiện để tăng trưởng bền vững. Đầu tư cho công tác nhân đạo, vì thế, không phải là chi phí, mà là đầu tư cho nguồn lực quan trọng nhất của quốc gia.

Từ nhận thức ấy, công tác nhân đạo cũng phải được nhìn bằng một tư duy mới. Nếu chỉ chờ đến khi thiên tai xảy ra mới cứu trợ, khi người dân mất sinh kế mới hỗ trợ thì chúng ta vẫn đang chạy theo hậu quả. Một nền quản trị hiện đại phải đi trước rủi ro, không chỉ khắc phục thiệt hại mà còn chủ động giảm thiểu thiệt hại. Đây chính là điểm nhấn quan trọng trong phát biểu của Tổng Bí thư: chuyển công tác nhân đạo từ hoạt động ứng cứu sang một cấu phần của quản trị rủi ro quốc gia.

Thay vì chỉ quan tâm đến việc giúp người dân vượt qua khó khăn sau biến cố, mục tiêu cao hơn là xây dựng một xã hội có đủ năng lực để hạn chế rủi ro và phục hồi nhanh sau rủi ro. Cứu trợ bắt đầu khi thiệt hại đã xảy ra; quản trị rủi ro bắt đầu khi nguy cơ vừa xuất hiện. Cứu trợ khắc phục hậu quả; quản trị rủi ro ngăn hậu quả trở nên nghiêm trọng.

Cứu trợ giúp con người vượt qua khó khăn trước mắt; quản trị rủi ro giúp cộng đồng đứng vững trước những biến cố tiếp theo. Một nền quản trị hiện đại không chỉ ứng phó khi rủi ro xảy ra, mà phải nhận diện nguy cơ, chuẩn bị nguồn lực và hành động từ sớm để giảm thiểu thiệt hại. Đó cũng là nền tảng để nhân đạo trở thành sức mạnh của quốc gia.

Những trận bão, lũ, sạt lở với cường độ ngày càng cực đoan cũng cho thấy thiên tai không còn là sự kiện bất thường mà đã trở thành rủi ro thường trực. Trong bối cảnh ấy, cứu trợ khẩn cấp vẫn rất cần thiết, nhưng sẽ không bao giờ đủ nếu thiếu năng lực phòng ngừa. Điều người dân cần không chỉ là những chuyến hàng cứu trợ sau thiên tai, mà còn là hệ thống cảnh báo sớm, nơi ở an toàn, hạ tầng chống chịu tốt hơn và những kỹ năng để tự bảo vệ mình.

Vì vậy, giá trị của công tác nhân đạo không chỉ được đo bằng số phần quà hay số tiền vận động được. Thước đo quan trọng hơn là có bao nhiêu người được bảo vệ trước khi rủi ro xảy ra, bao nhiêu cộng đồng đủ khả năng tự ứng phó với thiên tai và bao nhiêu gia đình không rơi vào cảnh kiệt quệ sau một biến cố. Thành công lớn nhất của công tác nhân đạo không phải là cứu được nhiều người hơn, mà là để ngày càng có ít người phải chờ đến cứu trợ.

Nếu phòng ngừa là bước chuyển thứ nhất thì chuyển từ "trao tặng" sang "trao năng lực" là bước chuyển thứ hai, có ý nghĩa không kém. Một phần quà chỉ giải quyết khó khăn trước mắt; sinh kế, việc làm và kỹ năng mới tạo ra khả năng tự đứng vững. Hỗ trợ khẩn cấp là cần thiết, nhưng mục tiêu cuối cùng phải là giúp người dân khôi phục cuộc sống và tự chủ tương lai.

Xác lập cách tư duy mới về nhân đạo 

Bởi vậy, sau mỗi thiên tai hay biến cố, điều cần nhất không chỉ là lương thực, thuốc men hay nhu yếu phẩm, mà còn là điều kiện để người dân làm lại từ đầu. Đó có thể là một khoản vốn để khôi phục sản xuất, một nghề mới cho người mất việc, một mô hình sinh kế thích ứng với biến đổi khí hậu hay cơ hội học tập để trẻ em không bị đứt gãy tương lai. Khi sự hỗ trợ mở ra cơ hội phát triển, nhân đạo không chỉ xoa dịu khó khăn mà còn tạo động lực để con người vươn lên.

Cách tiếp cận ấy cũng làm thay đổi cách đánh giá hiệu quả của công tác nhân đạo. Không phải số lượng hàng cứu trợ quyết định thành công, mà là khả năng giúp người dân thoát khỏi sự phụ thuộc vào cứu trợ. Một gia đình tự ổn định cuộc sống sau thiên tai, một hộ nghèo có sinh kế bền vững, một cộng đồng đủ năng lực ứng phó với rủi ro đều là những kết quả có giá trị lâu dài hơn nhiều so với những hỗ trợ mang tính tình thế.

Đó cũng là ý nghĩa sâu xa: nhân đạo không dừng lại ở sự sẻ chia, mà phải tạo dựng năng lực tự cường. Sự hỗ trợ có giá trị nhất không phải là sự hỗ trợ kéo dài nhất, mà là sự hỗ trợ giúp con người đủ sức tự bước tiếp. Khi mỗi người dân mạnh hơn trước rủi ro, mỗi cộng đồng vững vàng hơn trước biến động, đất nước cũng có thêm một nền tảng để phát triển bền vững.

Muốn biến tư duy ấy thành hiện thực, công tác nhân đạo không thể chỉ dựa vào nỗ lực của một tổ chức hay những chiến dịch vận động ngắn hạn. Điều đất nước cần là một hệ sinh thái nhân đạo hiện đại, nơi Nhà nước, Hội Chữ thập đỏ, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và mỗi công dân cùng chia sẻ trách nhiệm, cùng xây dựng một mạng lưới bảo vệ con người từ sớm, từ xa và một cách bền vững. Đó cũng là bước chuyển cuối cùng để lòng nhân ái trở thành sức mạnh của quốc gia.

Thông điệp của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã xác lập cách tư duy mới: Nhân đạo là thành tố góp phần làm nên sức mạnh quốc gia! Lòng nhân ái là một giá trị tốt đẹp, nhưng trong giai đoạn phát triển mới, lòng nhân ái cần được tổ chức bằng thể chế, dẫn dắt bằng chính sách và lan tỏa bằng trách nhiệm của toàn xã hội. Một Việt Nam hùng cường sẽ không chỉ được ghi dấu bằng những thành tựu kinh tế, mà còn bởi một xã hội biết bảo vệ con người, trân trọng phẩm giá con người và trao cho mỗi người cơ hội vươn lên. PGS.TS. Đỗ Chí Nghĩa

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm giữ cương vị Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ
Sáng 28/7, Đại hội đại biểu toàn quốc Hội Chữ thập đỏ Việt Nam lần thứ 12, nhiệm kỳ 2026-2031 diễn ra với sự tham dự của 500 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 5,6 triệu cán bộ, hội viên, tình nguyện viên và thanh thiếu niên Chữ thập đỏ cả nước.

**Một chế độ khoác áo “nhân dân” nhưng để lại sau lưng nó là máu, nước mắt, tang tóc và một di sản sợ hãi kéo dài qua nhiều thế hệ**

Có những chế độ không chỉ cai trị bằng quyền lực, mà còn cai trị bằng dối trá. Chúng không chỉ dùng bạo lực để khuất phục con người, mà còn dùng ngôn ngữ để bóp méo sự thật, dùng khẩu hiệu để che đậy tội ác, dùng hệ tư tưởng để biến áp bức thành “chính nghĩa”, biến cưỡng bức thành “kỷ luật”, biến nhà tù thành “giáo dục”, biến lưu đày thành “ổn định”, và biến nỗi đau của hàng triệu người thành những con số vô cảm trong các bản báo cáo tuyên truyền. Đó là mức độ tha hóa nguy hiểm nhất của quyền lực: khi nó không còn đủ xấu hổ để che giấu tội ác, mà bắt đầu tự phong cho mình quyền định nghĩa đạo đức.

Một chế độ như thế không thể được đánh giá bằng những câu chữ bóng bẩy, càng không thể được xét đoán qua những diễn văn tự ca ngợi. Nó phải bị đặt trước lương tri của lịch sử. Và khi bị đặt trước lương tri ấy, mọi lớp sơn tuyên truyền đều bong tróc, mọi ngôn từ mỹ miều đều rơi xuống, chỉ còn lại sự thật trần trụi: đây là một bộ máy quyền lực đã gây ra đau khổ có hệ thống, đã làm tổn thương chính đồng bào mình, và đã để lại vết thương tinh thần lẫn xã hội sâu đến mức nhiều thế hệ vẫn chưa thoát ra được.

Điều đáng sợ nhất ở những chế độ toàn trị không chỉ nằm ở mức độ tàn bạo, mà nằm ở sự bình thường hóa tàn bạo. Khi đàn áp kéo dài đủ lâu, con người bị buộc phải xem nó như chuyện thường. Khi sự im lặng bị cưỡng bức thành thói quen, xã hội bắt đầu sống chung với nỗi sợ như sống chung với không khí. Khi lời nói dối được lặp lại đủ nhiều, nó được dán nhãn thành chân lý. Và khi ấy, cái ác không còn xuất hiện như một biến cố, mà trở thành hệ thống vận hành của đời sống chính trị.

Không có gì ghê tởm hơn một quyền lực tự xưng là giải phóng nhưng lại tạo ra hàng loạt hình thức nô dịch mới. Không có gì vô liêm sỉ hơn một chế độ tự nhận là nhân đạo nhưng lại giam cầm con người trong nhà tù tư tưởng, trong trại cải tạo, trong cơ chế kiểm duyệt và trong nỗi sợ thường trực. Không có gì đáng khinh hơn việc một chính quyền lấy danh nghĩa cộng đồng để nghiền nát từng cá nhân, lấy danh nghĩa tương lai để hy sinh hiện tại của người dân, và lấy danh nghĩa chính nghĩa để tước đoạt quyền sống, quyền nói, quyền lựa chọn và quyền phản biện của họ.

Nếu một chính quyền thật sự vì dân, thì dân phải được sống trong phẩm giá. Nếu một chính quyền thật sự vì nhân dân, thì nhân dân phải được quyền biết sự thật. Nếu một chính quyền thật sự vì giải phóng, thì sau tiếng súng phải là hòa giải, phục hồi và công lý. Nhưng lịch sử đã chứng kiến điều ngược lại: thay vì hòa giải, họ dựng lên hệ thống thanh trừng; thay vì phục hồi, họ áp đặt kiểm soát; thay vì công lý, họ xây nên cơ chế phục tùng; thay vì bao dung, họ gieo rắc ngờ vực; thay vì nhân đạo, họ duy trì sự hãi hùng bằng bộ máy cưỡng chế. Khi đó, mọi lời lẽ đẹp đẽ đều chỉ là màn khói trước một thực tại đen tối.

Sau chiến tranh, thước đo đạo đức không nằm ở việc ai thắng, mà ở việc ai biết đặt con người lên trên hận thù. Một chính quyền có thể tuyên bố chiến thắng trên chiến trường, nhưng nếu sau chiến thắng ấy là hàng loạt trại giam, những cuộc thanh lọc tư tưởng, những bản án kéo dài không minh bạch, những gia đình bị xé nát, những đời sống bị bóp nghẹt, thì đó không phải là hòa bình. Đó là chiến tranh được chuyển sang hình thức khác, tinh vi hơn, dai dẳng hơn và độc ác hơn. Đó là chiến thắng của quyền lực chứ không phải chiến thắng của đạo đức.

Và rồi lịch sử không thể che giấu một thực tế nhức nhối: hàng triệu con người đã phải liều mạng bỏ nước ra đi. Họ không ra đi vì tò mò. Họ không ra đi vì sung sướng. Họ không ra đi vì lòng phiêu lưu. Họ ra đi vì ở lại đồng nghĩa với một đời sống bị bóp nghẹt, bị kiểm soát, bị tước đoạt tương lai và bị dồn vào sự bế tắc không lối thoát. Khi con người chấp nhận lên những con thuyền mong manh giữa biển cả, đối mặt với sóng lớn, hải tặc, đói khát, bệnh tật và cái chết, thì đó là lời kết tội đanh thép nhất đối với một chế độ. Không có bản tuyên truyền nào mạnh hơn sự thật ấy. Không có khẩu hiệu nào xóa nổi hình ảnh ấy. Không có trường lớp nào xóa nổi ký ức ấy khỏi dân tộc.

Thuyền nhân không chỉ là một chương đau thương trong lịch sử. Nó là biểu tượng của thất bại đạo đức ở quy mô quốc gia. Nó nói rằng khi một chế độ đẩy người dân đến chỗ phải chọn giữa cái chết và lưu vong, thì chế độ ấy đã thất bại không chỉ về quản trị mà còn về nhân tính. Nó nói rằng tự do không phải là đặc ân mà quyền lực ban phát, mà là nhu cầu sống còn của con người. Và khi tự do bị bóp nghẹt đủ lâu, con người sẽ dùng chính sinh mạng mình để tìm đường thoát.

Những chế độ tàn bạo thường rất giỏi trong việc đổi tên cho sự việc. Chúng gọi trại giam là nơi “học tập”. Chúng gọi cưỡng ép là “vận động”. Chúng gọi kiểm soát là “quản lý”. Chúng gọi tuyên truyền là “định hướng”. Chúng gọi thất bại là “thành tựu”. Chúng gọi nỗi sợ của dân là “ổn định xã hội”. Chúng gọi sự phục tùng vì bị ép là “đồng thuận”. Nhưng ngôn ngữ không thể cứu được bản chất. Một cái ác đã được tổ chức thành hệ thống thì dù có gắn bao nhiêu mỹ từ lên nó, nó vẫn là cái ác. Và càng bám chặt vào hệ thống ấy, chế độ càng tự phơi bày nỗi bất an cùng sự vô đạo của chính mình.

Một xã hội muốn sống lành mạnh phải có khả năng nói thật về quá khứ. Nhưng những chế độ toàn trị lại sợ quá khứ bị nhắc lại, vì sự thật là kẻ thù tự nhiên của dối trá. Chúng không muốn người dân nhớ đến tù đày, cải tạo, thanh trừng, bưng bít, vượt biên, mất tích, và những gia đình tan nát. Chúng muốn lịch sử chỉ còn lại một giọng nói, một phiên bản, một kết luận do quyền lực phê chuẩn. Bởi vậy, họ tìm cách biến ký ức tập thể thành ký ức bị điều khiển. Họ biến nạn nhân thành cái bóng. Họ biến phản tỉnh thành phản động. Họ biến đòi hỏi công lý thành chống phá. Đó là một trong những dạng lạm dụng quyền lực hèn hạ nhất: không chỉ làm cho người ta đau, mà còn ép họ không được kể về nỗi đau của mình.

Nhưng sự thật không chết vì bị cấm. Nó chỉ chờ thời điểm để quay trở lại, thường là qua ký ức gia đình, qua hồi ký, qua sự im lặng nghẹn ngào của thế hệ sau, và qua những câu hỏi không bao giờ biến mất trong lòng dân chúng. Một đứa trẻ lớn lên trong gia đình có người mất tích, một người già sống với vết thương của trại giam, một người mẹ chờ con từ biển cả không về, tất cả họ đều là nhân chứng của lịch sử mà tuyên truyền không thể xóa. Và chính vì vậy, sự im lặng mà quyền lực ép buộc không bao giờ đồng nghĩa với sự chấp nhận thật sự.

Đạo đức chính trị chân chính phải bắt đầu bằng sự khiêm nhường trước sự thật. Nó phải thừa nhận rằng quyền lực có thể sai, hệ thống có thể sai, và những gì nhân danh nhân dân chưa chắc đã phục vụ nhân dân. Một chế độ muốn được tôn trọng phải dám nhìn thẳng vào những sai lầm của mình, phải dám sửa chữa, phải dám trả lại công lý, phải dám phục hồi danh dự cho nạn nhân, phải dám chấm dứt cơ chế bưng bít và cưỡng bức. Nếu không làm được điều đó, mọi lời nói về “nhân đạo” chỉ là cái vỏ rỗng của tuyên truyền.

Và ở đây cần nói thật rành rẽ: không có chiến thắng nào đủ lớn để hợp pháp hóa đàn áp. Không có chính nghĩa nào đủ cao để biện minh cho tra tấn, giam cầm, cưỡng bức, trấn áp và làm băng hoại phẩm giá con người. Không có lý tưởng nào đủ đẹp để biến hàng triệu nạn nhân thành “sự hy sinh cần thiết”. Khi quyền lực đòi hỏi người dân phải hy sinh tự do, nhân phẩm và sự thật cho cái gọi là mục tiêu lớn lao, thì mục tiêu ấy đã mất hết giá trị đạo đức. Một tương lai được xây trên xác người và trên nỗi sợ không bao giờ là tương lai chính đáng.

Đó là lý do vì sao những chế độ như vậy phải bị phê phán không chỉ bằng cảm xúc, mà bằng lý luận, bằng lịch sử và bằng lương tri. Chúng không chỉ sai ở một chính sách hay một thời đoạn. Chúng sai từ gốc ở chỗ chúng đặt quyền lực cao hơn con người, đặt ý thức hệ cao hơn sự thật, đặt sự sống còn của bộ máy cao hơn phẩm giá của đồng bào. Và khi một bộ máy cai trị đánh mất tiêu chuẩn đạo đức căn bản như thế, nó đã tự khắc tên mình vào lịch sử như một bài học đắt giá về sự tha hóa của quyền lực.

Dân tộc nào cũng có quyền tự hào về những trang sử tốt đẹp của mình. Nhưng dân tộc nào cũng có nghĩa vụ nhìn thẳng vào những trang sử đen tối. Không có dân tộc trưởng thành nào được xây dựng trên sự lãng quên có chủ ý. Không có tương lai nào bền vững nếu hiện tại được nuôi bằng dối trá. Không có chính nghĩa nào thật sự khi nó sợ sự thật hơn sợ tội ác. Và không có “nhân đạo” nào đáng tin nếu nó chỉ được nhắc tới trong diễn văn, còn ngoài đời sống thì con người vẫn bị đối xử như công cụ, như đối tượng kiểm soát, như nạn nhân của một quyền lực vô cảm.

Tóm lại, một chế độ đã gây ra đau thương có hệ thống, đã dùng bạo lực và dối trá để cai trị, đã đẩy hàng triệu người vào tuyệt vọng, lưu vong và cái chết, thì không thể được ca tụng bằng bất kỳ mỹ từ nào. Nó không phải là hiện thân của nhân đạo. Nó là sự phản bội nhân đạo. Nó không phải biểu tượng của giải phóng. Nó là biểu tượng của áp bức được ngụy trang. Nó không phải là niềm tự hào của dân tộc. Nó là một vết thương lịch sử mà muốn lành lại, trước hết phải được gọi đúng tên.

Và tên đúng của nó không phải là “vinh quang”. Tên đúng của nó là: bạo quyền, lừa bịp, đàn áp và tội ác đối với chính đồng bào mình.

***
**Khi một chế độ nhân danh nhân dân nhưng gieo xuống dân tộc mình máu, nước mắt và nỗi sợ, thì lịch sử sẽ gọi tên nó bằng sự thật, không phải bằng khẩu hiệu**

Có những chế độ từ ngày ra đời đã khoác lên mình tấm áo của chính nghĩa, nhưng càng sống lâu càng để lộ bản chất thật: một cỗ máy quyền lực lạnh lùng, tàn nhẫn, và vô đạo đức. Chúng nói về nhân dân nhưng không hề tin vào nhân dân. Chúng nói về tự do nhưng sợ tự do như sợ ánh sáng. Chúng nói về nhân đạo nhưng lại cai trị bằng nhà tù, đấu tố, cưỡng bức, trấn áp và dối trá. Chúng nói về hạnh phúc chung nhưng lại xây nền móng của mình trên sự đau khổ của hàng triệu con người vô tội.

Đó là bi kịch lớn nhất của lịch sử chính trị: khi một quyền lực tự phong mình là đại diện cho lương tri, nhưng thực chất lại là kẻ chà đạp lương tri. Khi một chế độ tự nhận là “giải phóng”, nhưng cái mà nó giải phóng đầu tiên lại là bạo lực khỏi mọi ràng buộc đạo đức. Khi nó tuyên bố đã mang lại tương lai, nhưng để đổi lấy tương lai ấy, nó buộc cả một dân tộc phải trả bằng máu, bằng nước mắt, bằng chia ly, bằng tù ngục, bằng lưu vong và bằng những thế hệ lớn lên trong sợ hãi.

Không có sự lừa bịp nào nguy hiểm hơn sự lừa bịp được tổ chức thành hệ thống. Một lời nói dối cá nhân có thể bị vạch trần. Nhưng khi một bộ máy quyền lực kiểm soát báo chí, giáo dục, lịch sử, ngôn luận và ký ức tập thể, thì lời nói dối không còn là lời nói dối đơn lẻ nữa. Nó trở thành môi trường sống. Nó trở thành bầu không khí mà con người bị buộc phải hít thở. Và trong bầu không khí ấy, sự thật không còn được xem là giá trị, mà bị xem là mối đe dọa. Đó chính là lúc đạo đức bị đảo ngược hoàn toàn.

Chế độ nào càng sợ sự thật thì chế độ đó càng có tội với nhân dân mình. Chế độ nào càng phải che giấu quá khứ thì chế độ đó càng không đủ tư cách nói về tương lai. Chế độ nào càng cần tuyên truyền để duy trì hình ảnh thì chế độ đó càng yếu về chính danh. Và chế độ nào càng dùng những mỹ từ như “nhân dân”, “giải phóng”, “công bằng”, “nhân đạo” để che đậy một thực tế đàn áp, thì chế độ ấy càng đáng bị lên án gắt gao hơn.

Lịch sử sau chiến tranh là nơi bản chất thật của một chế độ hiện nguyên hình rõ nhất. Khi chiến tranh đã qua, khi tiếng súng đã im, khi cơ hội hòa giải và hàn gắn đã đến, thì một chính quyền có đạo đức phải bảo vệ phẩm giá con người trước tiên. Nhưng nếu thay vào đó, họ dựng lên hệ thống trại giam, trại cải tạo, kiểm soát hộ khẩu, kiểm soát tư tưởng, cưỡng bức lao động, phân loại người dân thành “đúng” và “sai”, “trung thành” và “nguy hiểm”, “được phép sống” và “không đáng tin”, thì đó không phải là hòa bình. Đó là chiến tranh tiếp tục bằng phương tiện hành chính và ý thức hệ.

Không có gì độc ác hơn việc bắt người thua cuộc phải cúi đầu trước kẻ thắng bằng cách nhân danh “giáo dục lại”. Không có gì nhục nhã hơn việc biến cả một tầng lớp người dân thành đối tượng bị nghi ngờ tập thể chỉ vì họ từng sống dưới một thể chế khác. Không có gì đáng khinh hơn việc lấy danh nghĩa xây dựng xã hội mới để nghiền nát cuộc sống cũ của hàng triệu gia đình, tịch thu tương lai của họ, làm họ kiệt quệ, làm họ sợ hãi, và rồi còn bắt họ phải biết ơn. Đó không phải là công lý. Đó là trả thù khoác áo chính trị.

Và kết quả của chính sách ấy không thể bị che giấu. Hàng triệu người đã phải bỏ nước ra đi. Họ không rời bỏ quê hương vì bồng bột. Họ không liều chết trên biển vì ham phiêu lưu. Họ ra đi vì họ đã bị dồn đến chân tường. Họ chọn biển cả vì ở lại dưới một chế độ ngột ngạt còn đáng sợ hơn cái chết. Những chiếc thuyền chở đầy người già, trẻ nhỏ, phụ nữ, con cháu của một dân tộc từng chịu chiến tranh, đã lên đường trong tuyệt vọng để tìm sự sống nơi khác. Và đó là bằng chứng không thể chối cãi rằng chế độ ấy đã làm mất niềm tin sâu sắc đến mức dân của mình thà đánh cược mạng sống còn hơn tiếp tục sống dưới nó.

Thuyền nhân không chỉ là một dòng người di cư. Đó là một bản án lịch sử. Mỗi con thuyền là một câu hỏi lương tri. Mỗi xác người trên biển là một cáo trạng. Mỗi gia đình tan nát là một bằng chứng rằng quyền lực nếu không có đạo đức thì sẽ đẩy con người xuống tận đáy đau khổ. Và khi một chính quyền để cho dân mình phải chọn giữa rủi ro chết trên biển và nỗi sợ sống dưới đất, thì không một bài diễn văn nào có thể cứu nổi danh dự của nó.

Những chế độ tàn bạo thường đặc biệt khéo trong việc đổi tên bản chất. Chúng gọi nhà tù là “học tập”. Chúng gọi đàn áp là “ổn định”. Chúng gọi kiểm duyệt là “định hướng”. Chúng gọi thanh trừng là “sắp xếp lại”. Chúng gọi sự im lặng do sợ hãi là “đồng thuận xã hội”. Chúng gọi những con người bị tước quyền là “đối tượng cần quản lý”. Nhưng bất kể ngôn từ có được bọc đường thế nào, bản chất vẫn không đổi. Một nhà tù vẫn là nhà tù, dù treo biển gì bên ngoài. Một cuộc đàn áp vẫn là đàn áp, dù có được gọi bằng cái tên trang trọng đến đâu.

Bản chất của chế độ toàn trị nằm ở chỗ nó không chấp nhận con người như một chủ thể có phẩm giá, mà chỉ xem con người như một công cụ phục vụ cho bộ máy. Khi con người không còn là mục tiêu cuối cùng mà chỉ là phương tiện, mọi tội ác đều có thể được biện minh. Khi mục tiêu chính trị được đặt cao hơn sinh mạng, công lý, và sự thật, thì không còn ranh giới nào ngăn bạo lực leo thang. Từ đó, nhà nước không còn là nơi bảo vệ dân, mà biến thành cỗ máy cưỡng ép dân.

Một xã hội bị cai trị bằng sợ hãi sẽ mất dần khả năng tự phản tỉnh. Người ta không dám nói thật vì sợ bị trả giá. Người ta không dám nhớ đúng vì sợ bị quy chụp. Người ta không dám kể lại nỗi đau của chính mình vì biết rằng quyền lực luôn muốn độc quyền diễn giải lịch sử. Và khi sự im lặng kéo dài đủ lâu, nó tạo ra một căn bệnh tinh thần tập thể: người dân học cách sống chung với bất công, học cách tự kiểm duyệt, học cách coi điều sai là điều bình thường. Đó là hậu quả sâu xa nhất của bạo quyền: không chỉ làm đau cơ thể, mà còn bẻ cong cả ý thức xã hội.

Một chế độ đích thực có đạo đức phải dám đối diện với sự thật về chính mình. Phải dám thừa nhận rằng có những quyết định đã gây tổn hại cho hàng triệu người. Phải dám xin lỗi nạn nhân. Phải dám phục hồi công lý. Phải dám trả lại danh dự cho những người từng bị bôi nhọ. Phải dám mở không gian cho ký ức, cho tranh luận, cho sự thật đa chiều. Nhưng nếu một chế độ chỉ biết đòi được ca ngợi mà không chấp nhận bị chất vấn, chỉ biết đòi dân tin mà không cho dân được kiểm chứng, chỉ biết muốn được nhớ theo cách có lợi cho mình, thì đó là dấu hiệu của một bộ máy đã mục ruỗng từ bên trong.

Không có khẩu hiệu nào đủ lớn để rửa sạch một lịch sử bị nhuốm máu và nước mắt. Không có tấm biển nào đủ sáng để che đi những hầm tối của trại giam, những căn nhà bị chia cắt, những đoàn người vượt biển và những phận người mất tích. Không có lễ kỷ niệm nào đủ hoành tráng để biến áp bức thành chính nghĩa. Không có cuộc diễu hành nào đủ dài để làm mờ đi ký ức của những người còn sống sót. Lịch sử không quên, chỉ là nó chờ thời điểm để lên tiếng bằng lương tri của nhân loại.

Vì vậy, cần nói thật rõ: một chế độ đã dùng dối trá để chinh phục quyền lực, dùng bạo lực để giữ quyền lực, dùng kiểm soát để duy trì quyền lực, và dùng tuyên truyền để che đậy quyền lực, thì không xứng đáng được xem là biểu tượng của nhân đạo. Nó là phản đề của nhân đạo. Nó là sự sỉ nhục đối với mọi giá trị mà nhân loại đã phải trả giá rất đắt mới gây dựng được: tự do, phẩm giá, công lý và sự thật.

Một dân tộc muốn trưởng thành không thể sống mãi bằng những huyền thoại do quyền lực bịa ra. Dân tộc ấy phải có dũng khí nhìn lại những trang lịch sử đau đớn nhất của mình, gọi đúng tên tội ác, nhận đúng trách nhiệm, và bảo đảm rằng không một thế hệ nào nữa bị đẩy vào tình cảnh phải chọn giữa im lặng, tù đày hay bỏ nước ra đi. Không có sự thật, không có hòa giải. Không có công lý, không có chữa lành. Không có tự do, không có nhân phẩm.

Cho nên, nếu phải kết lại bằng một lời phán xét ngắn gọn và không khoan nhượng, thì đó là: **một chế độ gieo rắc sợ hãi, nghiền nát con người, làm tan nát hàng triệu gia đình, đẩy dân mình vào lưu vong và cái chết, rồi vẫn tự nhận là nhân đạo, thì đó không phải là chính quyền của lương tri; đó là một vết nhơ lịch sử cần bị phơi bày đến tận cùng sự thật.**

***
Và điều nhục nhã nhất của mọi chế độ độc đoán là nó luôn đòi được tôn trọng trong khi chính nó không biết tôn trọng con người. Nó muốn nhân dân cúi đầu trước cờ xí, trước khẩu hiệu, trước những bài diễn văn trống rỗng, nhưng lại không bao giờ cúi đầu trước nỗi đau của nạn nhân, trước tiếng kêu của người bị áp bức, trước hàng triệu số phận bị nghiền nát bởi chính bàn tay mình. Đó là thứ quyền lực vừa hèn hạ vừa kiêu ngạo, vừa tàn ác vừa trơ trẽn, vừa gieo tai họa cho dân mình vừa bắt dân mình phải biết ơn.

Không có sự lừa dối nào bẩn thỉu hơn việc gọi áp bức là “ổn định”, gọi đàn áp là “bảo vệ”, gọi kiểm soát là “phát triển”, gọi cưỡng bức là “giáo dục”, gọi lưu đày là “giải phóng”. Mỗi lần như vậy, ngôn ngữ bị bẻ cong, sự thật bị chà đạp, và lương tri bị xúc phạm. Một khi chế độ đã coi việc bóp méo ngôn từ là bình thường, thì việc bóp méo lịch sử, bóp méo công lý và bóp méo cả con người chỉ còn là bước tiếp theo. Từ đó, mọi tội ác đều có thể được khoác áo đạo đức, mọi đàn áp đều có thể được rửa bằng tuyên truyền, và mọi nạn nhân đều có thể bị biến thành “thành phần cần cải tạo”.

Nhưng sự thật không chịu khuất phục mãi. Lịch sử không phải là bản thảo để kẻ cầm quyền muốn xóa gì thì xóa. Lịch sử là tiếng vọng của máu, của nước mắt, của những người đã mất, của những người sống sót, của những đoàn người vượt biển, của những trại giam, của những gia đình tan nát, của những ký ức mà không một bộ máy tuyên truyền nào có thể nhốt kín vĩnh viễn. Mọi chế độ dựa trên lừa bịp đều có một điểm yếu chết người: nó phải sợ sự thật. Và cái gì phải sợ sự thật thì cái đó tự thú nhận rằng nó có tội.

Chế độ càng lớn tiếng về nhân đạo, càng cần phải bị chất vấn về mức độ nhân đạo thật sự của nó. Chế độ càng tuyên bố vì dân, càng phải bị hỏi dân nào, vì ai, và bằng giá nào. Chế độ càng tự hào về thành tựu, càng phải bị soi vào cái giá mà dân thường đã phải trả. Nếu thành tựu ấy được xây bằng nhà tù, bằng cưỡng bức, bằng im lặng, bằng sợ hãi và bằng sự biến dạng của lương tâm xã hội, thì đó không phải là thành tựu. Đó là một món nợ đạo đức chưa bao giờ được thanh toán.

Và không có lời biện minh nào đủ sức che đậy thực tế rằng hàng triệu người đã buộc phải tìm đường ra đi. Không ai rời bỏ quê hương của mình một cách dễ dàng. Không ai chấp nhận biển cả, bão tố, hải tặc và cái chết nếu trong đất nước ấy họ được sống như một con người. Sự ra đi ấy là bản cáo trạng không thể chối cãi. Nó nói rằng nỗi sợ hãi đã thắng. Nó nói rằng niềm tin đã sụp đổ. Nó nói rằng sự hiện diện của chế độ ấy trong đời sống dân chúng không phải là sự bảo vệ, mà là một sức ép khủng khiếp đến mức người ta thà đánh cược mạng sống còn hơn tiếp tục bị trói buộc.

Cho nên, cần nói thật không vòng vo: một chế độ đã gieo rắc tang tóc mà vẫn tự nhận là nhân đạo, đã đẩy dân mình vào bi kịch mà vẫn tự nhận là giải phóng, đã dựng lên hệ thống đàn áp mà vẫn tự nhận là vì con người, thì không phải là một chính quyền có đạo đức bị hiểu lầm. Nó là một quyền lực đã đánh mất mọi căn cứ đạo đức từ gốc rễ. Nó không chỉ sai lầm. Nó đã trở nên đồi bại. Nó không chỉ cứng rắn. Nó đã trở nên vô nhân. Nó không chỉ thất bại về chính sách. Nó đã thất bại về nhân tính.

Và bởi vậy, sự phán xét dành cho nó phải thật lạnh, thật nặng, và thật không khoan nhượng: một bộ máy cai trị đặt dối trá lên trên sự thật, bạo lực lên trên công lý, sợ hãi lên trên phẩm giá, và tuyên truyền lên trên nỗi đau của con người, thì sớm muộn gì cũng bị lịch sử lột trần như một biểu tượng của sự suy đồi chính trị và đạo đức.

Hồ Thông Minh, tp HXM, VN 
***

Dưới đây là một bài phản biện của một cựu tù nhân học tập

**Phản biện một thứ “đạo đức” giả hiệu**

Có những chế độ luôn miệng nói về nhân đạo, công bằng, giải phóng và hạnh phúc của nhân dân, nhưng lịch sử lại ghi nhận chính họ đã tạo ra những bi kịch lớn nhất cho dân tộc mình. Bi kịch ấy không chỉ nằm ở số người chết, số người bị tù đày hay số phận của những gia đình ly tán. Bi kịch lớn hơn nằm ở chỗ: một khi quyền lực đã khoác áo đạo đức giả, nó không chỉ đàn áp thân xác con người mà còn đầu độc cả sự thật, ký ức và lương tri xã hội.

Một chế độ có thể tự gọi mình là “vì dân”, nhưng nếu trong thực tế nó dùng bạo lực để áp đặt ý chí, dùng tuyên truyền để thay thế sự thật, dùng sợ hãi để kiểm soát xã hội, thì mọi khẩu hiệu đẹp đẽ chỉ còn là lớp sơn che đậy cho bản chất độc đoán. Người dân không sống bằng khẩu hiệu. Họ sống bằng quyền được an toàn, được nói thật, được lựa chọn, được đối xử như con người. Khi những điều đó bị tước đoạt, thì mọi lời nói về đạo đức đều trở nên rỗng tuếch.

Lịch sử nhân loại đã quá nhiều lần chứng minh rằng tội ác lớn nhất không phải lúc nào cũng xuất hiện dưới hình dạng man rợ lộ liễu. Có những tội ác đi kèm diễn văn hùng hồn, cờ xí rực rỡ, những lời ca ngợi tổ quốc, cách mạng, nhân dân, và một viễn cảnh tương lai đầy hứa hẹn. Nhưng đằng sau lớp vỏ ấy là nhà tù, đấu tố, cưỡng bức, thanh trừng, trấn áp và phá hủy con người đến tận gốc rễ. Tội ác càng lớn khi nó không chỉ giết người mà còn buộc nạn nhân phải im lặng, buộc xã hội phải quên, và buộc sự thật phải nhường chỗ cho huyền thoại.

Điều đáng lên án nhất ở những chế độ như vậy là sự lừa dối có hệ thống. Họ không chỉ gây đau khổ; họ còn gọi đau khổ là “hy sinh”. Họ không chỉ áp bức; họ còn gọi áp bức là “kỷ luật cách mạng”. Họ không chỉ tước đoạt tự do; họ còn gọi sự tước đoạt ấy là “ổn định chính trị”. Và họ không chỉ đàn áp đối thủ; họ còn chia xã hội thành những hạng người bị gán nhãn, bị nghi ngờ, bị loại trừ. Khi sự dối trá được tổ chức thành hệ thống, nó trở thành một dạng bạo lực tinh vi và nguy hiểm hơn cả nòng súng.

Sau chiến tranh, thước đo đạo đức của một chính quyền không phải nằm ở lời tuyên bố chiến thắng, mà nằm ở cách họ đối xử với người thua trận, người khác ý thức hệ, và dân thường vô tội. Nếu họ dùng trại giam, lao động cưỡng bức, kiểm soát tư tưởng và cưỡng ép phục tùng để “cải tạo” con người, thì đó không phải là hòa giải dân tộc. Đó là sự tiếp nối của chiến tranh bằng phương tiện khác. Nếu họ khiến hàng triệu người phải bỏ nước ra đi, chấp nhận chết trên biển để tìm tự do, thì đó không phải là một thành tựu lịch sử. Đó là bản cáo trạng nặng nề nhất đối với chính chế độ ấy.

Không ai rời bỏ quê hương, gia đình và mồ mả tổ tiên chỉ vì một lý do nhỏ. Khi người dân liều mạng vượt biển, chấp nhận bão tố, hải tặc và cái chết, điều đó nói lên nhiều hơn mọi bài diễn văn. Nó nói rằng xã hội ấy đã trở nên ngột ngạt đến mức tự do quý hơn sinh mạng. Nó nói rằng nỗi sợ hãi trước chế độ lớn hơn cả nỗi sợ chết. Nó nói rằng lời hứa “hạnh phúc” đã thất bại ngay trong trái tim những người bị buộc phải sống dưới nó.

Một chế độ chân chính không cần phải sợ sự thật. Chỉ có chế độ bất an mới cần bóp méo lịch sử để bảo vệ mình. Chỉ có chế độ yếu kém mới phải nuôi dưỡng thần thoại về sự hoàn hảo của mình. Chỉ có chế độ có mặc cảm tội lỗi mới cố biến mọi phê phán thành “thù địch”, mọi ký ức đau thương thành “xuyên tạc”, mọi tiếng nói phản biện thành “phá hoại”. Nhưng lịch sử không biến mất chỉ vì nó bị cấm nhắc đến. Nỗi đau không tự tan đi chỉ vì được yêu cầu im lặng. Sự thật có thể bị chôn vùi một thời gian, nhưng không thể bị tiêu diệt mãi mãi.

Đạo đức thật sự không nằm ở chỗ nói bao nhiêu về nhân ái, mà ở chỗ có dám bảo vệ con người khi quyền lực đòi nghiền nát họ hay không. Một nhà nước có thể xây trường học, bệnh viện, đường sá, nhưng nếu nó chà đạp phẩm giá con người, bắt xã hội sống trong dối trá, và biến nỗi sợ thành nguyên tắc cai trị, thì nó vẫn không thể gọi là nhân đạo. Hạ tầng vật chất không thể bù đắp cho sự mục ruỗng đạo đức. Tăng trưởng kinh tế cũng không thể xóa đi trách nhiệm lịch sử đối với những đời người đã bị nghiền nát.

Sự nguy hiểm của những chế độ toàn trị nằm ở chỗ chúng luôn tự nhận là đại diện cho chân lý lịch sử. Chúng không cho phép người dân lựa chọn một cách bình thường, bởi vì nếu người dân thật sự được lựa chọn, quyền lực ấy sẽ mất nền tảng. Do đó, họ phải tạo ra một hệ thống trong đó mọi lựa chọn đều được định hướng từ trước, mọi truyền thông đều được kiểm soát, mọi giáo dục đều được rèn theo một khuôn duy nhất, và mọi khác biệt đều bị coi là sai trái. Đây không còn là quản trị quốc gia. Đây là thao túng toàn diện con người.

Một xã hội như vậy không thể sản sinh ra lòng tin thật sự. Nó chỉ có thể sản sinh ra sự phục tùng. Mà phục tùng được cưỡng ép không bao giờ là đồng thuận. Khi con người buộc phải im lặng để sống sót, sự im lặng ấy không phải là sự ủng hộ. Nó chỉ là dấu hiệu của một nỗi sợ đã thấm vào từng ngóc ngách đời sống. Và một chế độ tồn tại chủ yếu bằng sợ hãi thì sớm muộn cũng để lại một di sản cay đắng: con người mất niềm tin vào nhau, mất niềm tin vào lời nói, và mất niềm tin vào tương lai.

Bởi vậy, bản án nặng nề nhất đối với một chế độ không phải là những lời chửi rủa nhất thời, mà là sự thật lịch sử: họ đã làm gì với đồng bào của mình, họ đã đối xử ra sao với những người bất đồng, họ đã gieo bao nhiêu tang thương, và họ đã để lại một xã hội bị tổn thương đến mức nào. Nếu một chế độ phải dựa vào trại giam, kiểm duyệt, cưỡng bức tư tưởng và huyền thoại chính trị để tự duy trì, thì nó đã tự thú nhận rằng nó không đủ chính danh để tồn tại bằng sự đồng thuận tự do.

Cuối cùng, cần nói thẳng rằng: không có khẩu hiệu nào đủ lớn để rửa sạch tội ác, không có chiến thắng nào đủ vang dội để hợp thức hóa đàn áp, và không có lời tuyên truyền nào đủ dày để che kín nỗi đau của hàng triệu con người. Lịch sử luôn có trí nhớ của riêng nó. Những ai đã phải sống qua tù đày, mất mát, chia ly và lưu vong mang trong mình bằng chứng sống động hơn mọi giáo trình tuyên truyền.

Một quốc gia chỉ thực sự mạnh khi nó dám nhìn thẳng vào sự thật, dám nhận lỗi, dám phục hồi công lý và dám đặt phẩm giá con người lên trên quyền lực. Còn khi quyền lực chỉ biết tự tô vẽ mình bằng đạo đức giả, thì dù nó có nói bao nhiêu về nhân dân, nó vẫn chỉ là một chế độ đã đánh mất chính linh hồn của mình 
                                                            Cựu tù nhân Tôn Thất Thanh, USA



"Toi Di Hoc "Hoi Ky" "Trai Cai Tao" 1-4 Toi Di Hoc Tap - Toi Ac Cong San - LamSon719 - VNCH 394K views · 14 years ago
"Toi Di Hoc Tap" "Hoi Ky" i Cai Tao" 3-4 Toi Di Hoc Tap - Toi Ac Cong San … likes101K views14 years ago
Jun 29, 2018 — Ngay buổi học tập chính trị đầu tiên chúng tôi đã bị một cú sốc lớn về văn hóa của “chính uỷ” tiểu đoàn. Đó là một loại “cultural shock” mà tôi ...Read more
Toi Di Hoc Tap - Toi Ac Cong San "Hoi Ky" 142K views14 years ago more Subscribe
May 17, 2017 — - Hồi Ký Kale … trong những cái gọi là “Trại Cải Tạo” của Cộng Sản. lính lê dương và một lính Pháp. ông ta bị bắt nhốt ở trại tù Côn Nôn từ năm ...
May 7, 2019 — I/ HỌC TẬP CẢI TẠO. Khi đồng minh Hoa Kỳ tháo chạy trước đà tiến quân của cộng sản Bắc Việt, họ đã để lại đằng sau 980.000 người lính của ...Read more



 Bản để in  Lưu dạng file  Gửi tin qua email  Thảo luận


Những nội dung khác:
Cải Tạo! [27.04.2025 10:06]




Lên đầu trang

     Tìm kiếm 

     Tin mới nhất 

     Đọc nhiều nhất 
Chủ nghĩa Cộng sản và chủ nghĩa Xã hội trò lừa bịp thế kỷ cho các ngu dân [Đã đọc: 589 lần]
NỖI ĐAU LẶP LẠI CỦA “ĐẠI NGU” – TỪ NHÀ HỒ ĐẾN THỜI HIỆN ĐẠI [Đã đọc: 497 lần]
ĐÒI CÔNG LÝ CHO NẠN NHÂN CHẤT ĐỘC DA CAM/DIOXIN VIỆT NAM [Đã đọc: 426 lần]
Thêm nhận thức về 6 chữ ‘Độc lập-Tự do-Hạnh phúc’ trong Quốc hiệu CHXHCN Việt Nam [Đã đọc: 409 lần]
Việt Nam lên án chủ nghĩa khủng bố dưới mọi hình thức [Đã đọc: 281 lần]
Đau xót những thanh niện VN bị lừa sang Nga chiến đấu và chết tại chiến trường Ukraine [Đã đọc: 164 lần]
Nhân đạo là một phần của sức mạnh quốc gia! [Đã đọc: 7 lần]

Trang chủ :: Tin tức - Sự kiện :: Website tiếng Việt lớn nhất Canada email: vietnamville@sympatico.ca :: Bản sắc Việt :: Văn hóa - Giải trí :: Khoa học kỹ thuật :: Góc thư giãn :: Web links :: Vietnam News in English :: Tài Chánh, Đầu Tư, Bảo Hiểm, Kinh Doanh, Phong Trào Thịnh Vượng :: Trang thơ- Hội Thi Nhân VN Quốc Tế - IAVP :: Liên hệ

Bản quyền: Vietnamville
Chủ Nhiệm kiêm Chủ Bút: Tân Văn.